| 
Tiếng
Việt Chúng Ta Rất Phong Phú
Chấn Võ
Bài
viết nầy nguyên chỉ là năm ba thư tôi viết gửi diễn
đàn của Hội Cựu Học Sinh Chu Văn An miền Bắc California
(“Diễn Đàn”). Một đồng môn CVA đã chép đưa lên Diễn
Đàn một đoạn hồi ký của ông Trần Văn Khê trong đó
có viết chữ "chuyện" 22 lần và người chép
nghĩ là 20 trong số 22 chữ "chuyện" đó
ông Trần Văn Khê có lẽ đã viết sai chính tả, vì
phải là "truyện."(1) Là một người sinh
trưởng tại miền Nam Việt Nam ("người miền Nam")
nên tôi đã mạo muội viết gửi đến Diễn Đàn nói về
việc người miền Nam dùng hai chữ "chuyện"
và "truyện."
Sau đó những gì tôi nghĩ trong đầu mấy chục
năm nay cứ như tuôn tràn ra với những thư kế tiếp
tôi đã gửi đến Diễn Đàn, phần lớn là nhờ sự cổ võ,
khuyến khích của một số thân hữu khắp nơi. Khi tôi
viết gần cạn đề tài thì Ban Biên Tập của đặc san
Chu Văn An Bắc California (“Đặc San”) có nhã ý muốn
đem bài viết của tôi vào Đặc San 2002. Vì thế tôi
xin phép sắp xếp lại các thư viết cho có "trật
tự" hơn như dưới đây, để gửi đến bạn đọc của
Đặc San. Tôi không quên giữ lại (trong phần cước
chú), để cảm tạ, tất cả ý kiến một số bạn đã đóng
góp khi tôi gửi thư (từng phần của bài viết nầy)
đến Diễn Đàn. Tôi có viết thư xin phép từng bạn,
nhưng chỉ nhận được hồi âm của vài ba người thôi.
Sau khi gửi bài cho Đặc San vào gần cuối tháng
6 (sẽ được phát hành vào tháng 8 năm 2002), tôi
đọc lại bài viết và có thêm vào đoạn nói về Hàn
Lâm Viện cũng như sửa chữa, thêm bớt một số câu
văn. Sau đó tôi có gửi bài viết đến các anh Phạm
Văn Bân, Nguyễn Duy Chính và Trần Văn Lương ở California
để xin ý kiến. Nhờ thảo luận với anh Lương, tôi
đã dùng “chữ” thay thế “từ” (2) trong toàn bài viết,
và đưa một thư của anh ấy vào bài (cước chú 8).
Nhờ anh Bân, tôi thêm đoạn nói về chữ Tượng Hình
và Tượng Thanh trong tiếng Việt, và đưa một thư
của anh ấy vào bài (cước chú 2). Nhờ anh Chính,
tôi thêm đoạn về Việt hóa chữ Hán (“Hoa”) vào bài;
và được anh chỉ cho đọc thêm, vào giờ chót, một
bài về “Việt hóa” chữ Hán trên website Giao Điểm
(xin xem tóm lược ở cước chú 19). Tôi cũng không
quên cảm ơn anh Bân và anh Lương đã bỏ công giúp
tôi tìm những lỗi chính tả trong bài, vì hai anh
đều có hảo ý muốn bài viết và người viết sẽ được
bạn đọc chấp nhận hơn. Và tôi cũng thành thật xin
lỗi bạn đọc vì quá nhiều “cái tôi đáng ghét” trong
bài viết nầy.
CHUYỆN hay TRUYỆN?
Tôi nhấn mạnh tôi là một người sinh trưởng tại miền
Nam Việt Nam là tôi có ý muốn nói một cách rất trèo
cao là tôi ngồi chung xuồng với ông Trần Văn Khê
vì ông TVK là người miền Nam. Xin thưa rõ là tôi
chưa hề quen biết ông TVK. Mới đây tôi được biết
nhạc sư Trần Quang Hải là con trưởng của ông TVK.
Tôi chỉ biết tên một người con trai thứ của ông
TVK là anh Trần Quang Minh hiện là một kiến trúc
sư tại VN vì anh Minh là bạn rất thân của một người
cháu họ của tôi.
Qui Luật Chung?
Tôi cố phân tích và đi đến hai qui luật về CHUYỆN
và TRUYỆN như sau:
Thứ nhất,
-- Chuyện: liên quan đến nói, kể, v.v.
-- Truyện: liên quan đến đọc, viết, v.v.
Thứ nhì,
-- Chuyện: ngắn, đơn giản
-- Truyện: dài, tình tiết (phức tạp).
Một số bạn đồng ý với phân-tích nầy của tôi. Có
lẽ từ nay về sau chúng ta nên giản dị hóa vấn đề
nầy với hai nguyên tắc nói trên, dù các từ điển
xuất bản trong nước hiện giờ có vẻ như "thích"
TRUYỆN hơn là CHUYỆN. (3)
Người Miền Nam Thích CHUYỆN Hơn
Tuy nhiên, tôi đã lớn lên trong Nam nên tôi biết
hai qui luật nói trên không luôn luôn đúng với người
miền Nam. Người miền Nam nói là "chuyện cổ
tích" chứ không phải là "truyện cổ tích"
như trong từ điển. Không phải họ nói sai vì họ viết
sai chính tả. Người miền Nam phân biệt rất rõ CH
và TR, chứ không lẫn lộn như khi họ phát âm D, V
và GI. Tôi có nhận xét là người miền Nam dùng chữ
CHUYỆN trong hầu hết các trường hợp; chỉ khi nào
họ muốn nói về quyển sách thì người miền Nam mới
dùng chữ TRUYỆN, thí dụ "đọc truyện Tàu."
Thật vậy, người miền Nam, ít nhất là cho đến năm
1975, nói "Anh có đọc CHUYỆN 'Hương Rừng Cà
Mau' của Sơn Nam chưa?" chứ họ không nói TRUYỆN;
không theo cả hai qui luật nói/đọc và ngắn/dài bên
trên! Họ cũng nói "Chuyện Lục Vân Tiên."
Nếu chúng ta vẫn còn muốn tìm một giải thích, tôi
sẽ mạo muội góp ý là có lẽ vì tính xề xòa của người
miền Nam, có thể nói là lười khi phát âm. (Xin các
bạn đừng nghĩ tôi nói xấu người miền Nam vì tôi
và cha mẹ, ông bà tôi cũng là người miền Nam.) Nếu
chúng ta phát âm chữ "CHA" chẳng hạn,
chúng ta sẽ có thể hầu như không cần phải động đậy
môi và lưỡi [mumbling], nhưng chúng ta không thể
phát âm chữ "TRA" như thế được! Nếu CHUYỆN
và TRUYỆN hoàn toàn khác biệt về ý nghĩa thì chắc
chắn người miền Nam đã phát âm phân biệt rồi (như
TRÒ và CHÒ, TRÍ và CHÍ, TRẢ và CHẢ, v.v.) Đàng nầy
CHUYỆN và TRUYỆN lại có ý nghĩa khá gần nhau, nên
có lẽ vì thế mà người miền Nam thích CHUYỆN hơn
(không tốn nhiều sức để phát âm)?
Và có lẽ vì cùng lý do mà ngừời miền Nam phát âm
"Z" [D] thay vì "GI" và "V."
Một số người miền Nam thuộc lớp cha chú của chúng
ta (và có ít nhiều học vấn) phát âm "BZ"
cho "V;" như phần đông chúng ta từng nghe
Cụ Trần Văn Hương nói chuyện trên đài phát thanh
hay đài truyền hình trước tháng 5/1975. Có lẽ phụ
âm "B" đã bị bỏ rơi (cho đỡ phí sức!)
nên chỉ còn lại âm "Z" thôi.
Sinh Ngữ Phải Sống
Dĩ nhiên tôi hoàn toàn không dám kết luận người
miền Nam nói như thế là đúng hay sai vì ngôn ngữ
luôn luôn là đúng khi đại đa số người tại một địa
phương nào đó dùng như thế. Thí dụ ngày nay tại
Thành Phố New York nầy một số cách nói của người
da đen hoàn toàn sai văn phạm King's English đã
được chấp nhận, kể cả trong các bài viết (essays)
cho trường học. Thí dụ, họ nói "I don't do
nothing to scare him" (thay vì "I don't
do anything to scare him"); hay “He sounds
like he's badly hurt” (thay vì theo đúng văn phạm
phải dùng “as,” “as if” hay “just as,” không được
dùng “like”). Thế nhưng, vẫn có những người dạy
sinh ngữ một cách sai lầm như dạy các công-thức
của toán hay các tóm lược phản ứng hóa học...
Tiếng Việt cũng như Anh ngữ là hai sinh ngữ, tức
ngôn ngữ "sống," nên luôn luôn phải tiến
hóa theo một số lớn người sử dụng, một cách tự do
hay bị ép buộc (như lúc chúng ta còn học quốc văn
ở trung, tiểu học). Có những trường hợp một chữ
đã được dùng sai lâu ngày lại trở thành "đúng"
(được chấp nhận)! Một thí dụ là chữ "Công Giáo."
Hơn một trăm năm trước, đạo Ca Tô La Mã (Thiên Chúa
Giáo) vẫn còn là một "công giáo" (official
religion) ở Âu Châu; các vị vua chúa đăng quang
đều phải xin Đức Giáo Hoàng ở Toà Thánh Vaticant
ban phép lành (công nhận). Vì thế các nhà truyền
giáo Tây Phương và thực dân Pháp nhập nhằng dùng
chữ "Công Giáo" của tiếng Việt để gọi
đạo Ca Tô, dù rất ít người VN là tín đồ của tôn
giáo ấy (ngày nay chỉ có độ 10% dân số Việt Nam
theo Cơ Đốc Giáo, cả Ca Tô lẫn Tin Lành; hơn một
thế kỷ trước đây con số đó chắc chắn còn thấp hơn
nữa)! Thế nhưng, ngày nay chữ "Công Giáo"
đã trở thành chính thức tên gọi của đạo Ca Tô La
Mã. Một thí dụ khác là món ăn "Bò Lúc Lắc"
mà có nhiều người đã dịch sang Anh ngữ là "shaking
beef" khiến cho thực khách ngoại quốc tưởng
lầm thịt bò của món nầy phải được chế biến lắc lư
(shake) một cách đặc biệt nào đó (như một bí quyết
cất rượu)! Đúng ra đó là món "Bò Xúc Xắc"
vì thịt bò được thái ra cở hột xúc xắc (diced beef)...
Một thí dụ nữa là chữ "chất lượng." Ngót
20 năm nay chữ "chất lượng" được dùng
trong nước thay vì "phẩm chất" (quality);
thí dụ "hàng hóa có chất lượng cao cấp"
(thay vì "phẩm chất thượng hạng/thượng đẳng").
Nói đến "lượng" là nói đến quantity, không
phải quality! Tương tự như thế, ở Hoa Kỳ, chữ “entrée”
mượn của tiếng Pháp nhưng lại có nghĩa là “món ăn
chính trong bữa ăn” (main course), trong khi đó
bên Pháp “entrée” chỉ là món ăn phụ của bữa ăn,
trước món ăn chính! (4)
Kỳ Vọng Vào Một Hàn Lâm Viện Việt Nam?
Nhiều bạn nghĩ rằng một khi nước Việt Nam chúng
ta có một Hàn Lâm Viện đứng đắn và đúng đắn thì
những vấn đề như “Truyện” và “Chuyện” sẽ “đâu vào
đó” một cách dễ dàng, không thành vấn đề nữa. Tôi
không tin như thế. Tại sao? Chúng ta đang sống trong
thời đại tự do dân chủ, trong đó quyền tự do ngôn
luận rất được mọi người tận dụng. Hàn Lâm Viện không
còn có thể “ra lệnh” như năm, bảy chục năm trước
đây nữa. Hàn Lâm Viện Việt Nam sẽ chỉ là một tổ
chức thiết lập, san định các qui tắc về chính tả,
ngữ vựng và văn phạm rồi KHUYẾN KHÍCH người Việt
nói và viết như thế, và đóng vai trò trọng tài trong
các bàn cãi về tiếng Việt mà thôi. “Khuyến khích”
chứ không còn có thể “bắt buộc” nữa. Nếu tôi thấy
qui tắc nào của Hàn Lâm Viện hợp tình hợp lý thì
tôi theo; bằng không thì tôi cứ viết và nói theo
ý tôi! Hàn Lâm Viện có thể bỏ tù tôi à? Lấy thí
dụ nếu Hàn Lâm Viện cho rằng “liên hệ với ông giáo
sư để lấy bài giảng” là đúng, mà tôi thì nghĩ trong
trường hợp đó tôi “liên lạc” chứ không phải “liên
hệ” thì tôi vẫn cứ dùng chữ “liên lạc,” ai làm gì
được tôi?
Chính vì thế các bạn thấy Hoa Kỳ không có một Hàn
Lâm Viện Quốc Gia (Liên Bang?!), và không mấy khi
chúng ta nghe nói đến các Hàn Lâm Viện của các bộ
môn (khoa học, văn chương, điện ảnh và nghệ thuật,
v.v.) vì các tổ chức nầy không có thực quyền gì
lớn lao cả! Nước Pháp có Hàn Lâm Viện Quốc Gia với
các ông hàn lâm bất tử (Immortels) và nhiều Hàn
Lâm Viện của các bộ môn rất đuợc trọng vọng. Nhưng
trong thập niên 1960, chính phủ và nhiều tổ chức
có uy tín, kể các các ông hàn lâm, đã tung ra chiến
dịch chống sự tàn sát tiếng Pháp (contre le massacre
de la langue francaise), nhầm loại bỏ các chữ ngoại
lai (như sandwich, weekend, v.v.) ra khỏi ngữ vựng
tiếng Pháp. Kết quả cũng chỉ là một thành công quá
khiêm tốn và tiếng Pháp ngày càng mất tính cách
quan trọng trên diễn đàn quốc tế...
TIẾNG VIỆT CHÚNG TA
Tôi vốn là một tên "dốt mà hay nói chữ"
nên xin làm phiền thêm các bạn nữa với đề mục nầy.
Xin thưa trước là tôi chưa bao giờ nghiên cứu nghiêm
túc về ngôn ngữ cả; vì thế tôi rất cần sự chỉ dạy
của các bạn đã từng học hỏi nhiều về lãnh vực nầy.
Tiếng Việt Của Dân Sàigòn Trước 5/1975
Tho tôi, tiếng Việt của dân Sàigòn trước tháng
5/1975 đáng được chúng ta dùng làm điểm tựa để phát
triển thêm từ đấy. Tại sao? Bởi vì nó đã kết hợp
được (melting pot) những cái hay của tiếng Việt
cả ba miền Bắc, Trung, và Nam, một cách rất tự do
dân chủ. Dù người miền Nam đông đảo hơn thật rõ
rệt, và dù những người lãnh đạo quốc gia thời đệ
nhất Cộng Hòa sinh trưởng tại miền Trung, nhưng
người Việt sinh trưởng tại miền Bắc ("người
miền Bắc") di cư vào Nam năm 1955 cũng có diễn
đàn văn hóa, thương mại và báo chí rộng lớn. Do
đó từ ngữ VN địa phương nào cũng đã có cơ hội để
giành ưu thế. Nếu cái "ô" và "chả
bánh đa" của người miền Bắc nhường bước cho
cái "dù" và "chả giò," thì "thương"
và "lịch sự" không còn nghĩa "yêu"
và "đẹp" trong Nam nữa. Nhiều chữ của
miền Bắc cũng trở thành rất thông dụng như "dí
dởm," "tiêu pha," v.v.
Mới đây một anh bạn người miền Bắc di cư vào Nam
năm 1955 (khi anh ngoài 20 tuổi) đã "e lệ"
thú thực với tôi là khi anh nói "đi chợ mua
ít thịt lợn" nghe nó làm sao đó, không tự nhiên
như anh nói "thịt heo"! Nhờ tiếp xúc với
đồng bào di cư, anh chàng "Nam kỳ cuốc"
như tôi cũng được "trau chuốt" (refined)
hơn xưa khá nhiều; thí dụ tôi nói "thối"
nhiều hơn "thúi" (và chỉ dùng "thúi"
cho mùi hôi thối quá độ mà thôi). Tôi cũng biết
phân biệt "Gọi 'dạ,' bảo 'vâng'" (và để
cho dễ nhớ hơn, tôi ghép "dạ" với "gì
ạ?") Tôi cũng ít nói "mời ăn một chút
đồ" vì biết "đồ" còn có một nghĩa
không thanh lắm.(5) Tôi xin kể thêm một chuyện tương
tự: Một anh bạn di cư vào Nam năm 1955 và tham dự
cuộc hành quân tảo trừ lực lượng Bình Xuyên tại
Rừng Sát. Anh thuộc ban truyền tin. Anh nói khi
anh nhận được báo cáo "bắt được ba cái 'ghe'
của địch," anh phải đánh điện hỏi đi hỏi lại
mấy lần, mà vẫn không biết tại sao đi đánh giặc
lại báo cáo bắt được 'ghe' (mà lúc ấy anh chỉ hiểu
là chỗ kín của phụ nữ).
Một thí dụ về cái hay cửa tiếng Việt Sàigòn là
trái thơm. Người miền Bắc gọi là trái dứa hay trái
dứa tây, người miền Nam gọi là trái thơm, người
VN ở một số địa phuong khác gọi là trái khóm. Về
sau (trước năm 1975), chúng ta dùng cả ba chữ đó
để phân biệt ba loại thơm hơi khác nhau một tí.
Trái dứa to hơn trái thơm và có nhiều nước hơn;
mắt của trái dứa cũng to hơn nhưng cạn hơn mắt trái
thơm; trong Nam có nơi gọi trái dứa là trái tho
(thơm tho). Trái khóm trông giống trái thơm hơn
nhưng trái khóm là giống ở VN trong khi trái thơm
là giống ở nước ngoài du nhập vào VN (từ lâu rồi);
khi chín thì trái khóm màu vàng (trái thơm màu vàng
xanh); mắt trái khóm nhỏ và vàng (mắt trái thơm
to hơn); những lá nhỏ chung quanh mắt trái khóm
lớn hơn, nhiều hơn (lá ở mắt trái thơm nhỏ hơn và
thưa hơn); trái khóm ăn bị rát lưỡi (hơn trái thơm)
vì mắt sâu hơn. Đúng là sống chung hòa bình phải
không các bạn?
Đấy là một "tiến bộ" vô cùng to lớn của
tiếng Việt. Người VN của thế hệ ông cha của chúng
ta gặp khá nhiều khó khăn về ngôn ngữ khi đi từ
nơi nầy đến nơi khác. Tôi xin kể lại một chuyện
vui có thật như sau: Khoảng 80 năm trước có một
ông từ miền Trung vào định cư tại quê ngoại tôi,
làng Tân Sơn Nhì (Gia Định). Ông ta mở tiệm thuốc
bắc. Người địa phương gọi ông là Thầy Bảy Huế. Không
hiểu ông có phải thật sự là người Huế hoặc đã từ
Quảng Trị, Quảng Tín, hay xa hơn nữa, vào Nam; nhưng
đối với người dân chất phác địa phương, người ngoài
đó vô, nói tiếng khó nghe thì cứ cho là từ Huế vào...
Sau đó Thầy Bảy Huế mở trường dạy chữ Nho và dạy
võ nữa. Mẹ tôi là một trong các học trò đầu tiên
của Thầy. Mẹ tôi (hiện còn sống ở VN) kể lại là
ngày đầu tiên Thầy dạy "Thiễn lạ Trỡi; Đĩa
lạ Đạch." Mẹ tôi chẳng biết Thầy nói cái gì.
Nhưng khi Thầy lặp đi lặp lại nhiều lần và ra dấu
hiệu, mẹ tôi rất vui mừng, cười tươi vì đã hiểu
được lời Thầy dạy. Ngày sau hôm Thầy chỉ ngay mẹ
tôi và hỏi "Đĩa lạ gị?" Mẹ tôi liến thoáng,
rất tự tin, trả lời, "Dạ, Đĩa là Bãi Cứt Gà!"
vì ngày hôm trước lúc Thầy dạy chữ "Địa,"
ngón tay Thầy chỉ về phía bãi kít gà trong nhà Thầy!
Thế là mẹ tôi bị một trận đòn khó quên!
Tiếng Việt Ở Miền Bắc Sông Bến Hải Từ 1954 Đến
1975
Trước năm 1975, nhiều người trong Nam từng nghe
lén đài phát thanh Hànội nói với tôi là "người
ngoài đó" thay thế chữ Hán Việt bằng chữ Việt
thuần túy; thí dụ "phi cơ trực thăng"
được gọi là "máy bay lên thẳng," "hỏa
tiễn" là "tên lửa" (vậy làm sao phân
biệt "tên lửa" có thể bắn xuyên lục địa
với các mũi tên ngày xưa cột vải tẩm rượu đốt lên
để bắn cháy lều của quân địch?), hòm thư (nghe ớn
bỏ mạng!), v.v.
Một mặt nhà cầm quyền Hànội dùng các chữ tiếng
Việt như trên, nhưng mặt khác họ lại dùng nhiều
chữ Hán Việt khác như "đột xuất" (thình
lình, bất ngờ), "nhất trí" (đồng lòng),
"tranh thủ" (cố gắng, như "tranh
thủ viết thư thăm"), v.v. Theo tôi, thì nhà
cầm quyền Hànội thời đó chỉ bắt buộc người dân nói
khác đi những gì người trong Nam nói để dân chúng
ở phía bắc sông Bến Hải không còn có thể hiểu được
những tuyên truyền của các đài phát thanh miền Nam.
Có lẽ vì thế mà trong quyển “Từ Điển Tiếng Việt”
do Viện Ngôn Ngữ Học (thuộc Viện Khoa Học Xã Hội
Việt Nam) xuất bản năm 1992, “chả giò” và “chả lụa”
đều được giải thích là “giò lụa”! Nói tóm lại, đấy
chỉ là một chính sách ngu dân không hơn không kém!
(6)
Tiếng Việt Tại Quốc Nội Từ Năm 1975 Đến Nay
Sau năm 1975, kẻ chiến thắng đã đem cái tiếng Việt
đầy màu sắc chính trị, ngu dân của những năm 1954-1975
tại miền Bắc đó áp đặt tại miền Nam. Một mặt họ
dùng chữ Việt thuần túy, nhiều khi thật lố bich
như "xưởng đẻ" (nhà bảo sanh), "cái
nồi ngồi trên cái cốc" (cái lọc cà phê), "đồng
hồ hai cửa sổ không người lái," v.v. (chu cha,
"tự động, automatic," là "không người
lái"!), “tốp ca” (hoặc “cụm ca” để chỉ hợp
ca/đồng ca, nhóm nghệ sĩ phối hợp trình bày), v.v.
Các sĩ quan phi hành của Không Quân Việt Nam Cộng
Hòa trở thành "giặc lái" (có nhiều bạn
hiện còn ở VN đã cười mỉa nói với tôi "Vậy
phi công của chế độ Hànội phải gọi là gì nhỉ?"
Bạn lái?)
Mặt khác, hàng trăm chữ Hán Việt đã được phổ biến
như "biên chế," “danh thắng” (danh lam
thắng cảnh), "đạo cụ," (dụng cụ dùng trong
việc quay film), “đăng ký” (ghi danh), "hạch
toán," “khẩu trang” (khăn che miệng cho đỡ
bị bụi bậm, trông giống những người sắp đi ăn cướp
nhà băng trong các film cao bồi Hoa Kỳ), "kiều
hối" (không phải Việt kiều hối hận hay hối
lộ đâu nhé, đấy là hối suất dành cho Việt kiều),
“lưu dung” (không phải “lưu dụng”), “liệu pháp”
(phương pháp trị liệu), "phức cẩm" (phức
tạp), "quy hoạch," "tham quan,” v.v.;
ngoài ra, còn có nhiều chữ Hán Việt được dùng khác
với tiếng Việt Sàigòn trước tháng 5/1975 như “báo
cáo” (cái gì cũng “báo cáo” nghe ớn bỏ mạng!), "bố
trí" (chuẩn bị, an bài, như "bố trí bữa
cơm trưa"), "bồi dưỡng" (tiền bồi
dưỡng), "trợ lý,” “tuyến” (như lộ trình xe
đò Sàigòn – Cầnthơ), "xử lí" (xử lí vết
thương trước khi đưa đến bệnh viện), v.v. (7) (8)
Tôi xin kể một thí dụ điển hình về sự áp đặt ngôn
ngữ. Cách đây 7, 8 năm, con trai tôi ghi tên học
vài môn Việt ngữ (tại một trường đại học khá có
tiếng tại Hoa Kỳ). Giáo sư phụ trách môn Việt ngữ
đó đã đươc mời từ Trường Đại Học Hànội sang. Học
được hơn tháng, cháu về nhà than thở: "Con
có problem với môn Vietnamese vì Bố Mẹ nói tiếng
Việt sai hết!" Tôi bảo cháu cho tôi vài thí
dụ, cháu nói cháu dịch "umbrella" là cái
"dù" thì thầy nói sai, phải là cái "ô"!
"Turn left" phải là "rẽ trái"
(không phải "quẹo trái")! "Train"
phải là "tàu hỏa" (chứ "xe lửa"
là quá xưa rồi!) Vị giáo sư đó là một giáo sư Việt
ngữ (ngôn ngữ) của trường đại học Hànội được chính
thức cử sang dạy tại Hoa Kỳ!
Theo tôi, nếu ông giáo sư đó hiểu biết một tí căn
bản sư phạm hay ngôn ngữ, ông đã phải nói "umbrella"
là cái "ô" theo đại đa số người VN hiên
nay [??], chỉ có một số rất ít [??] còn nói cái
"dù..." (Đúng đại đa số hay không là chuyện
khác!) Chưa hết đâu các bạn, chữ "handbag"
dịch là "cái túi" cũng sai, phải là "cái
xắc;" và "backpack" dịch "túi
đeo lưng" cũng sai, phải là "cái ba lô"!
Các bạn thấy rõ đó là những chữ xưa kia phiên âm
theo hai chữ Pháp ("sac" và "ballot")!!!
(9) Việc nầy đã làm tôi rất ngạc nhiên nên tôi có
tìm hiểu thì được biết tiếng Việt ở miền Bắc trước
1975 (nay trở thành như “tiếng quan thoại” của Việt
Nam) vẫn còn quá nhiều chữ phiên âm từ tiếng ngoại
quốc mà người miền Nam đã hầu như quên lãng đi rồi.
Thí dụ phiên âm từ tiếng Pháp như bốt (poste), ca
ra te (karaté), côm lê (complet), cồn (alcool, như
đèn cồn, rượu cồn để thoa bóp, v.v.), công tơ (compteur),
ê líp (ellipse), ê ke (équerre), ê kíp (équipe),
gác diêng (gardien), ga tô (gâteau), gi lê (gilet),
ghi đông (guidon), hê rô in (héroine), li xen sơ
(licence), ma cà bông (vagabond), mác (marque),
ma ga zin (magazine), ma nơ canh (mannequin), mát
xa (massage), may ô (maillot), măng đa (mandat),
măng tô (manteau), me xừ (monsieur), mô típ (motif),
mô tô (motorcylette), mô tơ (moteur), mù soa (mouchoir),
phi dê (frisé), phu la (foulard), tạp dề (tablier),
v.v.; và tiếng Anh như boong ke (bunker), gangxte
(gangster), mít tinh (meeting), cú sút (shoot),
bị sốc (shock), v.v.
TIẾNG VIỆT VÀ MẪU TỰ LA TINH
Cúng ta đều phải đồng ý là mẫu tự La tinh (Roman
Alphabet) đã làm thay đổi hoàn toàn chữ viết của
tiếng Việt chúng ta. Điều tôi muốn nói là tôi nghĩ
mẫu tự La tinh cũng đã làm thay đổi sự phát âm của
Tiếng Việt chúng ta nữa. Nói khác đi, 200 năm về
trước có lẽ ông bà chúng ta không phát âm tiếng
Việt như chúng ta ngày nay; chúng ta bị mẫu tự La
tinh lèo lái xa dần lối phát âm của tổ tiên ta.
Trong phạm vi bài nầy, tôi xin không đề cập đến
các nguyên âm (vowels) vì lãnh vực nầy quá phức
tạp ("khó ăn" nên tôi không dám rờ tới!)
Phức tạp vì trước khi mượn mẫu tự La tinh, ông bà
chúng ta cũng đã thường xuyên thay đổi phát âm của
các nguyên âm vì húy/úy kỵ tên Vua Chúa hay tên
các vị trưởng bối trong gia tộc. Thí dụ Lê Lỵ trở
thành Lê Lợi; "can đảm" thành "can
đởm" vì Vua Minh Mệnh tên Đảm; "nhậm vụ"
thành "nhiệm vụ" vì Vua Tự Đức tên Hồng
Nhậm; v.v. Ông Nội tôi họ Nguyễn làm con nuôi nhà
họ Võ ở Gò Công, hậu duệ của ông Võ Nhân (anh của
ông Võ Tánh). Trong gia tộc họ Võ nầy, hai chữ "Tín"
và "Minh" phải đọc là "Tiến"
(tiến đồ một tôn giáo) và "Miêng" (văn
miêng) để tránh tên của các vị trưởng bối đã quá
vãng.(10)
Tôi chỉ xin viết về các phụ âm. Và cũng chỉ xin
giới hạn với một số thí dụ để vấn đề đỡ phức tạp.
Phụ Âm "R"
Tôi có tiếp xúc với vài người quen biết gốc Bồ
Đào Nha để tìm hiểu về cách phát âm của tiếng Bồ
Đào Nha (Portugese). Tôi được biết âm "R"
của của họ (ít nhất là tiếng Bồ Đào Nha hiện nay)
giống như âm "R" của người Pháp, chứ không
"rung" (roll/vibrate) rất mạnh như người
Tây Ban Nha, nhưng cũng không bị "nuốt mất"
như người Hoa Kỳ. Người Hoa Kỳ thường dùng lưỡi
đưa hoặc ép hơi thay thế mẫu tự "R;" chẳng
hạn như trong chữ "iron," họ phái âm như
"ai ân" chứ không phải "ai rân."
Ngoài ra, một số người sinh trưởng tại miền Bắc
VN phát âm Z thay vì R, như "thể dắn,"
(trong "thể rắn," thể lỏng và thể khí).(11)
Hồi tôi mới hơn 10 tuổi, tôi hay trêu chọc cách
phát âm của mấy cô em họ tôi ở Lục Tỉnh lên Sàigòn
chơi vì họ phát âm "G" cho "R."
Tôi nhớ tôi hay nhại lời họ và nói: "Bắt con
cá gô bỏ dzô gổ" (thay vì "con cá rô,"
và "rổ"). Sau nầy tôi mới biết không phải
các cô nói ngọng, mà nhiều người ở Lục Tỉnh nói
như thế. Các cô nay đã ngoài 70, ở Sàigòn lâu năm,
nên không còn phát âm "R" như ngày xưa,
nhưng mỗi khi gặp lại tôi các cô vẫn nhắc đến chuyện
nầy để cùng cười...
Phụ Âm Kép "TR"
Tôi từng thấy một quyển thánh kinh xưa ghi là "Đức
Chúa Blời." Tại sao BLỜI mà không phải là TRỜI?
Các nhà truyền giáo Tây phương chắc chắn không thể
nào lầm lẫn âm "TR" và âm "BL."
Như thế có phải người VN chúng ta, ít nhất là tại
một vùng nào đó, ngày xưa đã phát âm "BL"
thay vì "TR"?
Ngoài ra, một số không nhỏ người miền Bắc đã phát
âm "GI" thay vì "TR" như "Giời
ơi!" Lúc đầu tôi nghĩ có thể họ phát âm chữ
"TRỜI" hơi khác đi để tránh phạm thượng,
giông giống như người Mỹ nói "Oh, my goodness!"
thay cho "Oh, my God!" Nhưng không đúng,
vì người miền Bắc cũng nói "giối giăng"
[trối trăng], "con giai" [con trai], "giải
chiếu" [trải chiếu], v.v. (12)
Phụ Âm "V"
Tự điển xưa có những chữ bây giờ bắt đầu với mẫu
tự "V" đã viết với mầu tự "B,"
như "Ông Bua" [Vua]. Tôi có tìm hiểu và
được biết người Bồ Đào Nha không lẫn lộn "B"
và "V" như người Tây Ban Nha; điển hình
cho sự lẫn lộn nầy là người Hispanic (Trung và Nam
Mỹ) bây giờ viết tên "Bernadette" nhưng
đọc là "Vernadette,"... (giông giống như
người Mỹ phát âm hầu hết "T" không nhấn
mạnh là "D;" thí dụ, water, atom, v.v.)
Tuy nhiên, như tôi đã viết trong một đoạn trước,
nhiều người miền Nam VN phát âm "V" là
"BZ," như "Vua" được phát âm
là "Bzua,"... Như thế có thể một số người
VN khi xưa đã phát âm "V" như thế ("BZ")
chăng?
Phụ Âm "Đ"
Ngày nay chúng ta phát âm "Đ" (thí dụ,
đỏ đen) y hệt như người Âu, Mỹ phát âm "D"
[David, down,...] Vậy tại sao các nhà truyền giáo
lại phải thêm một cái gạch ngang trên đầu mẫu tự
"D" của tiếng Việt? Tôi chắc chắn rằng
ông bà chúng ta xưa kia đã phát âm "Đ"
không hẳn y hệt phụ âm "D" như người Tây
phương.
Phụ Âm "D"
Chúng ta phát âm "D" như Z (zipper, zoom)
hay Y (yes, yellow). Tôi không hiểu tại sao các
nhà truyền giáo lại dùng mẫu tự "D" cho
các âm tiếng Việt đó! Tại một vài nơi ở miền Bắc
VN, "D" và "R" đã được dùng
lẫn lộn (như "Ruyệt" thay vì "Duyệt"
nhưng "Dắn" thay vì "Rắn").
Vài Phụ Âm Khác
Người miền Bắc VN thường phát âm "X"
thay vì "S." Có lẽ vì thế mà chúng ta
viết "Ông Đại Sứ Pháp" (S), nhưng "ông
ta đại diện xứ Pháp" (X)? Ngoài ra, Sờ (Rờ),
Sẹo (Thẹo), v.v. cũng là dấu vết của những chuyển
biến của sự phát âm.
TIẾNG VIỆT CHÚNG TA RẤT PHONG PHÚ
gười Nói/Viết Kém Chứ Không Phải Tiếng Việt Kém
Phong Phú
Đọc cái tiểu đề "Tiếng Việt Chúng Ta Rất Phong
Phú" của bài nầy chắc có nhiều bạn đã quen
biết tôi lâu nay sẽ phì cười nghĩ là "ông nói
tiếng Việt rất phong phú nhưng sao nhiều khi ông
viết thư cứ phải tương tiếng Anh, tiếng Pháp vào
nhỉ?" Xin thưa là vì tôi dốt chứ không phải
tiếng Việt chúng ta không đủ ngữ vựng! Tôi vốn là
một người sinh trưởng tại miền Nam VN nên tôi viết
tiếng Việt thường sai lỗi chính tả về dấu hỏi/dấu
ngã và vần N/NG cuối chữ; vì thế khi tôi viết, để
khỏi lòi cái dốt của mình ra, tôi thay thế một chữ
tiếng Việt mà tôi không chắc mình viết đúng chính
tả hay không bằng một chữ Anh hoặc Pháp cho "chắc
ăn" (và có thể làm người đọc có ấn tượng tôi
là một người "trí thức (giả)" chăng?!)
Tôi xin nêu ra một thí dụ. Tôi còn nhớ gần 50 năm
trước đây, một hôm Ba tôi đọc hai câu thơ và bảo
tôi viết xuống. Cho đến ngày nay tôi vẫn không biết
đấy là thơ Ba tôi nghĩ ra hay Ba tôi đọc được từ
đâu. Hai câu thơ như sau:
Chia ngọt sẻ bùi tình cố cựu
Chia năm xẻ bảy mộng công hầu
Tôi đã viết đúng hai chữ CHIA SẺ và CHIA XẺ, vì
Ba tôi đọc phân biệt rất rõ ràng "S" và
"X." Tôi còn nhớ Ba tôi giải thích là
nếu mình CHIA SẺ một thứ gì thì thứ đó vẫn còn nguyên,
còn nếu mình CHIA XẺ nó thì nó bị chia ra thành
những phần nhỏ hơn.
Tôi lấy một thí-dụ là tôi sẽ CHIA SẺ với các bạn
một cảm nghĩ ngộ nghĩnh trong dịp tôi mừng sinh
nhật thứ 60 và cũng CHIA XẺ bánh sinh nhật với các
bạn có mặt ngày hôm đó. Tôi CHIA SẺ cái cảm nghĩ
của tôi thì cái cảm nghĩ đó vẫn nguyên vẹn, không
mất mát tí nào cả (trừ khi các bạn cười rằng cảm
nghĩ đó "quê" quá, khiến tôi cố quên nó
đi --mất mát phần nào--); khi tôi CHIA XẺ bánh sinh
nhật thì dĩ nhiên tôi phải cắt bánh ra từng miếng
nhỏ...
Vì thế có những lúc tôi phải viết CHIA SẺ hay CHIA
XẺ, tôi lười không muốn bỏ thời giờ để nhớ lại lời
Ba tôi dạy khi xưa và viết cho đúng, tôi thay thế
CHIA SẺ với SHARE, và CHIA XẺ với DIVIDE UP, SLIT
UP cho tiện việc sổ sách!
Một thí dụ nữa là khi tôi còn học trung học, tôi
thấy các thầy dạy môn toán thường không phân biệt
được hai chữ GIẢ THUYẾT và GIẢ THIẾT. Có lẽ vì họ
học chương trình Pháp, hai chữ đó đều là HYPOTHÈSE
trong tiếng Pháp. Trong khi đó tôi đã biết rõ hai
chữ nầy hoàn toàn khác nhau trong tiếng Việt.
GIẢ THUYẾT nói nôm na là một cố gắng để giải thích
một thứ gì đó, một sự kiện nào đó. Khi một giả thuyết
được chứng minh là đúng thì nó trở thành sự thực,
và các giả thuyết khác của cùng một đề tài sẽ bị
đào thãi. Thí dụ giả thuyết về nguồn gốc dân tộc
Việt chẳng hạn. Ngày còn học lớp đệ nhị, tôi vẫn
nhớ vị giáo sư dạy môn Vạn Vật nói người ta chưa
biết rõ làm sao nhựa luyện có thể luân lưu từ rễ
cây lên tận các nhánh nhỏ trên cao của cây; Thầy
có nói đến một giả thuyết về sự luân lưu của nhựa
luyện. Tôi không biết ngày nay giả thuyết đó đã
được chứng minh thành sự thực hay đã bị đào thãi
rồi... Từ ngót 40 năm nay Chính Phủ và Quốc Hội
Hoa Kỳ đã có một kết luận chính thức về cái chết
của Tổng Thống John F. Kennedy năm 1963 do chỉ một
mình tên Lee Oswald gây ra, nhưng dân chúng vẫn
còn tin vào vài giả thuyết có âm mưu khác.
GIẢ THIẾT là giả sử ta đã thiết lập được (những)
điều nào đó (A) rồi từ đó ta phải chứng tỏ một hệ
quả nào khác (B). Những điều giả thiết (A) có thể
hoàn toàn không thể có được (không đúng sự thực),
nhưng ta vẫn được phép giả sử đã thiết lập được.
Một thí dụ giả thiết có thể đúng: Sau khi vòng đầu
của giải Vô Địch Túc Cầu Thế Giới 2002 vừa xong,
Đại Hàn và Nhật Bản dẫn đầu hai toán, chúng ta có
thể giả thiết Đại Hàn và Nhật Bản được vào chung
kết thì không khác gì bom nguyên tử đã nổ trong
thế giới túc cầu. Lúc đó, giả thiết đó vẫn có thể
đúng (dù chỉ 1% thôi); bây giờ chúng ta biết cả
hai đội đều bị loại (và Ba Tây đoạt chức vô địch
lần thứ năm sau khi thắng Đức trong trận chung kết)
thì giả thiết đó vẫn có thể nêu lên, nhưng không
bao giờ đúng sự thực (không có thể xảy ra năm 2002
nầy). Vài thí dụ về giả thiết không bao giờ có thể
có như: Giả thiết Vua Quang Trung không chết quá
sớm, sống thêm được 20 năm nữa thì...; hoặc giả
thiết Pháp không xâm chiếm nước ta non 150 năm trước
đây thì ngày nay cả nước Cao Miên có thể đã trở
thành một số tỉnh của VN
Một thí dụ khác là Mại Dâm và Mãi Dâm. Hầu hết
các từ điển và báo chí xưa nay đều cho là hai chữ
nầy đồng nghĩa! và một số lớn các tự điển ngày nay
không còn có chữ "Mại" nữa! Thật ra "Mại"
là bán và "Mãi" là mua . Mại Dâm là bán
thân; trước kia chỉ có phụ nữ mại dâm, ngày nay
cả đàn ông cũng mại dâm. Mãi dâm là "mua thú
vui xác thịt;" trước kia chỉ có đàn ông mãi
dâm, ngày nay một số nhỏ phụ nữ cũng bỏ tiền ra
mua thú vui xác thịt. Cũng thế, báo chí thường viết
sai là "Mãi quốc cầu vinh;" thật ra phảI
là "Mại quốc cầu vinh," chỉ những tên
vinh thân phì gia nhờ bán nước (bán đứng Tổ Quốc
của mình)....
Tôi xin mở một dấu ngoặc tại đây. Có bạn viết thư
hỏi đùa tôi là dân "Nam kỳ cuốc" mà sao
cũng rào trước đón sau dữ quá, đâu có thua gì dân
"Bắc kỳ cuốc" đâu! Xin thưa là tôi đã
"lai" Bắc kỳ cuốc từ trước khi học ở Chu
Văn An.
Vào giữa thập niên 1950, lúc hàng triệu đồng bào
từ miền Bắc di cư vào Nam, tôi học lớp nhất tại
trường tiểu học Bàn Cờ Vườn Chuối; thầy của lớp
tôi có cho học trò viết một bài "Tập Làm Văn"
về cảm nghĩ về cuộc di cư đó. Tôi còn nhớ tôi đã
viết một bài khá dài. Tôi không quên nêu ra câu
ca dao
Nhiễu điều phủ lấy giá gương.
Người trong một nước phải thương nhau cùng
để cổ võ mọi người cố gắng giúp đồng bào di cư
tìm lại được một cuộc sống mới tại miền Nam. Tôi
cũng không quên nhấn mạnh người miền Bắc và người
miền Nam đều là người Việt, không phải là "bầu"
và "bí" khác giống nhưng chung một giàn.
Bài đó của tôi đáng lẽ đã được tuyên dương toàn
trường, nhưng lại bị thầy cho treo lên bảng trong
lớp để làm gương cho các bạn phải tránh phạm vào
lỗi lầm như tôi: Tôi đã viết sai một chữ trong bài!
Thay vì kêu gọi mọi người "lạc quyên,"
đóng góp giúp đồng bào di cư, tôi lại viết là "quyên
sinh"!!! Đấy là chuyện có thật đã xảy với tôi...
Có lẽ vì quá hăng say cổ võ giúp cho người miền
Bắc di cư vào Nam như thế nên sau nầy tôi là người
duy nhất trong số 10 anh chị em lập gia đình với
con gái của một gia đình người miền Bắc.
Khoảng một năm sau đó, tôi học trung học, vị giáo
sư dạy quốc văn (người miền Bắc) có kể một câu chuyện
tương tự (nhưng xét ra ít lỗi lầm hơn tôi): Một
hôm ông đi ngang qua một bến xe đò thì thấy một
người đạp xe cyclo đụng nhẹ vào một phu nữ trẻ.
Cô nầy té ngồi xuống đất. Cô đứng bật dậy, và nói
to "Đụng đi! Đụng nữa đi cho 'dĩ dzãng' đời
tôi đi!" Cô nầy (theo giọng nói thì chắc chắn
là người miền Nam) đã hiểu lầm "dĩ vãng"
là "kết liễu" như người ta nói "vãn
tuồng, vãn hát"!
Tiếng Việt Có Hai Ngữ Vựng Sống Chung Rất Hòa Bình.
Trở lại vấn đề tiếng Việt phong phú, chúng ta cũng
biết là tiếng Việt cũng như mọi sinh ngữ khác, phải
không ngừng thêm chữ vào ngữ vựng của mình theo
đà tiến hóa của nhân loại (như sự lớn mạnh của ngành
microcomputer trong 20 năm qua). (13)
Tôi nghĩ ngay đến một yếu tố giúp cho tiếng Việt
phong phú là tiếng Việt có hai ngữ vựng hòa đồng
thành một: Một là ngữ vựng tiếng Việt thuần túy
(như gió, mây, mưa, đá, v.v.); và một là tiếng Hán
Việt (như phong, vân, vũ, thạch, v.v.). Thí dụ ta
có chữ GIÓ và chữ PHONG đồng nghĩa nhau, chữ TRÊN
và chữ THƯỢNG cũng thế; nhưng ở TRÊN GIÓ không phải
là ở thế THƯỢNG PHONG!
Tiếng Pháp và tiếng Anh cũng dùng nhiều chữ gốc
La tinh để làm cho mỗi ngôn ngữ được phong phú hơn,
thí dụ bên cạnh BLEEDING có HEMORRHAGE (có nghĩa
là "heavy bleeding" chứ không hoàn toàn
đồng nghĩa như "gió" và "phong").
Tuy nhiên, các ngôn ngữ nầy không có hai ngữ vựng
như tiếng Việt.
Nếu tôi hiểu không sai, người VN và người Nhật
đã vay mượn Hoa ngữ (14) hai cách khác nhau: Người
VN làm cho ngữ vựng mình có thêm từ ngữ; người Nhật
thì không. Lấy thí dụ, người VN có chữ "núi,"
chữ "sông" của riêng mình, khi tiếp xúc
với Hoa văn, họ lấy thêm chữ "san" [hay
"sơn"], và chữ "hà," chữ "giang"
để xài cho thỏa thích. Người Nhật có ngôn ngữ đa
âm, họ gọi núi là "yama" và sông là "kawa,"
khi tiếp xúc với Hoa văn, họ dùng chữ "san"
và chữ "hà" để làm chữ viết của "yama"
và "kawa." Nghĩa là khi họ viết chữ "san"
của Hoa ngữ, họ đọc là "yama," và như
thế họ chỉ có một chữ mà thôi, không phải hai chữ
như tiếng Việt chúng ta. Vài trăm năm nay người
Nhật cố gắng phổ biến vài lối viết chữ mới để ít
lệ thuộc vào Hoa văn, nhưng tất cả cũng chỉ là một
ngữ vựng; y như người VN ta viết chữ "núi"
theo mẫu tự La tinh hay theo chữ nôm, hay theo một
lối phiên âm quốc tế nào đó thì chung qui cũng chỉ
có một chữ NÚI mà thôi...
Hai ngữ vựng giúp cho chúng ta có thể viết có câu
thơ "Duyên thiên chưa dễ nhô đầu dọc"
(Hồ Xuân Hương), chữ "thiên" lú đầu lên
là chữ "phu" (người chồng); hoặc "Thế
Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thì phải
thế!" Hoặc hai chữ "đế vương" trong
hai thơ sau đây của ông Cao Bá Quát (tôi không nhớ
rõ tôi chép lại có đúng 100% hay không)
Một chiếc cùm gông chân có ĐẾ,
Ba vòng xích sắt bước thì VƯƠNG"
Nói Lái Trong Tiếng Việt (Một Bằng Chứng Của Sự
Phong Phú)
Chắc chắn không ai trong chúng ta chưa từng nghe
nói đến nói lái. Tôi không nghĩ là một ngôn ngữ
nào phong phú hơn tiếng Việt về mặt nói lái. Từ
cách nói lái rất giản dị như anh bạn tôi ở California;
hai vợ chồng từ VN sang, ghi danh học đại học suốt
mười mấy năm. Khi tôi gặp lại anh ta, tôi hỏi đùa
"Ông sang đây trở lại trường học cả chục năm
rồi, thầy nào còn chữ nghĩa để dạy cho ông nữa!?"
Anh ta ghé tai tôi, nói nhỏ "'Đại học' là 'học
đại,' nếu không thì nó cúp trợ cấp xã hội bố ơi..."
Tôi còn nhớ ngày xưa đi dạy trường tư, ai cũng xin
dạy số giờ tối đa, ngoài ra một số giáo sư lại bài
bạc như điên, còn thời giờ đâu để soạn bài, thôi
thì cứ dạy "đại cương" (cương đại) cho
xong! Tương tự, có ông bị “vợ bỏ” thì có thể chửa
thẹn bằng cách nói với bạn bè là chính mình “bỏ
vợ” một cách rất le lói. Ông nào là hội viên của
hội “sợ vợ” thì có thể ưỡn ngực (nhưng thì thầm
với bạn bè) như mình được “vợ sợ” lắm vậy. Cũng
vậy, nhiều ông “nhà nước” (chính quyền địa phương)
bị ai chỉ trích thì họ nhảy dựng lên, chụp mũ người
đó nói xấu “nước nhà.”
Nói lái hơi phức tạp hơn một tí như câu chuyện
mà một người bạn vừa nhắc cho tôi nhớ lại như sau.
Hồi tôi học lớp ba trường tiểu học Bàn Cờ, Thầy
Lê Văn Phụng rất thương học trò nhưng lúc nào Thầy
cũng giữ nét mặt thật nghiêm trang. Một hôm có anh
bạn bị một bạn khác (Đ. C. M., bà con một danh tướng
VNCH) chọc tức nên anh ta cầm bình mực của mình
ném ĐCM, mực văng tung toé nhưng may mắn là chỉ
vài người bị những vết mực nho nhỏ trên quần áo.
Thầy Phụng bắt anh chàng ném bình mực lên hỏi tội.
Thầy hỏi, "Tại sao trò liệng bình mực làm dơ
áo các bạn vậy?" Anh bạn ú ớ, "Dạ, tại
thằng M. làm con bực mình..." Bỗng Thầy Phụng
mỉm cười. Tôi ngồi gần bàn viết của Thầy nên nghe
Thầy lẩm bẩm, "Bình mực, bực mình ..."
mấy lần rồi đại xá, tha tội cho anh bạn... Tương
tự như thế, khoảng hơn 10 năm trước, người Sàigòn
thường hay chế nhạo sự tham nhũng quá lan rộng trong
nước với lời ví von: “Bạn có biết ‘thủ tục đầu tiên'
là gì không?” “Đầu tiên” là “tiền đâu?”
Phức tạp hơn như chuyện ông đồ nho nào đó đã tặêng
cho Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm bốn chữ "Đại Điểm
Quần Thần." Nếu viết theo tiếng Việt thì bốn
chữ ấy là "Chấm To Bầy Tôi" cũng cùng
một ý nghĩa; nhưng bốn chữ nầy nói lái lại là "CHÓ
TÂM BỒI TÂY"! Non hai năm trước, tôi có viết
về câu thách đối "Gái Củ Chi chỉ cu anh hỏi
củ chi?" Tôi không tin bất cứ một ngôn ngữ
nào khác có thể có một câu tương tự như thế được...
(Đấy là chưa kể các câu thách đối khác đố ai đối
cho chỉnh như "Đóng cửa ngủ thả cửa!"
hoặc "Da trắng vỗ bì bạch.")
Các bạn đọc đến đây đã chán chưa? Chưa chán? Vậy
xin đố các bạn "chứa chan" và "chan
chứa" khác nhau ở điểm nào? (15)
Tiếng Việt Rất Phong Phú Về Tượng Hình Và Tượng
Thanh
Sau khi viết xong, tôi có chuyển bài viết nầy đến
vài ba người bạn để xin ý kiến, anh Phạm Văn Bân
ở Orange County, California, có đề nghị tôi viết
thêm "một đoạn về đặc tính tượng thanh và tượng
hình trong tiếng Việt.... Đây là một đặc điểm của
tiếng Việt mà các ngôn ngữ khác không thể có nhiều
như vậy được."
Rất tiếc hiện nay anh Bân quá bận nên không thể
cung cấp cho bài viết nầy một danh sách các tiếng
tượng thanh, tượng hình! Anh chỉ đưa ra các thí
dụ sau đây: Tiếng nước suối chảy róc rách, mưa rơi
tí tách, gió thổi ào ào (tượng thanh); đi lững thững,
lom khom dưới núi, lồm cồm đứng lên (tượng hình).
Tôi rất mong anh Bân sẽ sớm viết thêm về đề tài
lý thú nầy. Tôi còn nhớ khoảng 40 năm trước tôi
có một người bạn gốc người miền Bắc; mỗi khi anh
ta nói các chữ kép bắt đầu với mẫu tự "R"
như "rùm rụp," "rờm rợp," "rầm
rầm," v.v. tôi nghe như tiếng ngựa đang phi
vậy! Từ đó tôi có để ý đến hai khía cạnh nầy. Tôi
có thể liệt kê vào một số chữ tượng hình, tượng
thanh như sau:
Tượng hình
ấm ớ, ấp úng, bảnh chọe, bập bềnh, (run) bây bẩy,
bệ vệ, bí sị, bồng bềnh, (lửa cháy) bùng/bừng, cà
nhắc, câng câng (vênh váo), chàng hảng, chằm chằm,
chăm bẳm, chèo queo, chễm chệ, chuệnh choạng, chi
chít, chòng chọc, chồm (c)hỗm, chúm chím, chừ bự,
co ro cò rò, cong cớn, cồm cộm, cúm rúm, cũn cỡn,
cuồn cuộn, cuống cuồng, dáo dác, dập dìu, dềnh dàng,
dong dỏng, dớn dác, đăm đăm, đỏng đảnh, đủng đỉnh
(bước đi), ẻo lả, (cúi) gằm, hầm hầm, hớt hải, im
ỉm, im lìm, khinh khỉnh, khập khiễng, khật khưỡng,
khật khừ, khúm núm, lấc cấc, lấc xấc, (đứng) lấp
ló (sau nhà), lấp liếm, lầm lầm, len lén, leo lét,
lèo tèo, lẽo đẽo, lép xẹp, lễ mễ, li bì, loạng choạng,
lóc ngóc, lóc nhóc, lòm khòm, lọm khọm, lon ton
(chạy theo), lòng thòng, lỏng khỏng, lóp ngóp, lô
nhô, lố nhố, lồm cồm, lù đù, lụ khụ, lui lủi, lùi
lũi, lúi húi, lủi thủi, lum khum, lụm cụm, lún phún,
lung linh, lúp xúp, lững thững, mon men (đến nhìn),
mũm mĩm, nem nép, ngả nghiêng, ngả ngớn, nghênh
ngang, nghễnh ngãng, nghều nghệu, nghễu nghện, nguây
nguẩy, ngúng nguẩy, ngượng nghịu, nhởn nhơ, nhỏng
nhảnh, nhõng nhẽo (hoặc nhỏng nhẻo: dấu hỏi hoặc
ngã đều được), nhộn nhịp, õng ẹo, phì phà, phì phèo,
(nhảy) phóc/phốc (qua), phôm phốp, phục phịch, phúng
phính, quềnh quàng, quều quào, quýnh quáng, quýnh
quýu, rã rượi, rải rác, rầm rộ, rì rì, riu ríu,
rón rén, rùng rùng (tiến lên), sì sụp (vái lạy),
sóng soải, sóng sượt, sồ sề, sừng sững, sững sờ,
tanh bành, tần mần, tần ngần, tập tễnh, tất tả/tất
tưởi, tè he, tênh hênh, thẫn thờ, thất thểu, thoăn
thoắt, thù lù, ton ton, tong tả, toòng teng, tốc
tả, trao tráo, tréo ngoảy, trệu trạo, tua tủa, (nhảy)
tưng tưng/tâng tâng, trùng trục, tủm tỉm, ùn ùn,
ưỡn ẹo, vành vạch, vẹo vọ, xăm xăm, xốc xếch, xôn
xao, xồng xộc, xum xoe, xúng xính,...
Tượng thanh
ào ào, ăng ẳng, ầm ầm, ầm ì, ầm ừ, ấm oé, ậm ọe,
bành bạch, (súng bắn) bằn bằn, bần bật, bập bẹ,
be be, bì bõm, bình bịch, boong boong, bô bô, bôm
bốp, (rét run) cầm cập, cheo chéo, chí chát, chí
choé, chíu chít, choang choác, choang choang, choang
choảng, choe choé, chóp chép, (hôn cái) chụt, cóc
cách, cót két, cọt kẹt, cốc cốc, cồm cộp, cúc cụ
cục tác, cút kít, đành dạch, đen đét, đì đẹt, đì
đùng, đồm độp, đớt đát, đùi đùi, đùng đùng, è è,
éc éc, eng éc, eo éo, eo sèo/eo xèo, ẽo ẹt, ề à,
ha hả, hà hà, hề hề, hềnh hệch, hi hi, hì hì, hô
hố, hu hu, hùi hụi, huỳnh huỵch, hừ hừ, ì ạch, ì
ầm, ì oạp, í a, ỉ eo, inh ỏi, ình oàng, kẽo kẹt,
khằng khặc, khò khè, khù khụ, khúc khích, khúng
khắng, khụt khịt, khừ khừ, kĩu kịt, lách cách, lách
chách, lách tách, lạch bạch, lạch cạch, lạch tạch,
lạch xạch, lao xao, lào xào, lạo xạo, lắc cắc, lâm
râm, lầm bầm, lầm rầm, lem lẻm, leng keng, lẻng
xẻng, lèo nhèo, léo nhéo, lép bép, lép nhép, lịch
bịch, lịch kịch, loảng xoảng, loạt soạt/xoạt, lóc
cóc, lọc cọc, lọc xọc, lõm bõm (bơi), lốc cốc, lộc
cộc, lúc nhúc, lục cục, lụp bụp, meo meo, múm mím,
nắc nẻ, ngặt nghẽo, nheo nhéo, nhèo nhẹo, nhóp nhép,
ọ ẹ, oa oa, oà, oai oái, oang oang, oành oạch, oe
oe, óc ách ọc ạch, ỏn ẻn, ồ ề, ồ ồ, ồm ồm, ồng ộc,
ơi ới, phành phạch, phầm phập, phần phật, phì phò,
(ngồi) phịch (xuống), quang quác, quàng quạc, ra
rả, rả rích, ràn rạt, rào rào, rào rạo, (nhai) rau
ráu, rầm rật, rần rật, rập rình, réo rắt, rì rào,
rì rầm, rỉ rả, rí rách, ríu rít, rổn rảng, rộn rã,
rộn ràng, rúc rích, rủng rẻng, rủng rỉnh, (khóc)
rưng rức, (mắng) sa sả, (nói) san sát, sằng sặc,
(đóng) sầm, sầm sập, sin sít soạt/soàn soạt, sòng
sọc, sồn sột, sột soạt, sù sụ, sụt sịt, sụt sùi,
tầm tã, thao thao, thì thào, thì thùng, thình thịch,
thỏ thẻ, thùnh thùng, thút thít, tí tách, tỉ tê,
tích tắc, tíu tít, toang toác, toang toang, toe
toe, toẹt/toèn toẹt, tòm/tõm, tong tong, tỏng tỏng,
tóp tép, trèo trẹo, tùm, tũm, tức tưởi, ú ớ, ùm,
ùng ục, ủn ỉn, ụt ịt, uỵch, uỳnh uỵch, ực, ừng ực,
ve ve, veo, veo veo, vi vu, vi vút, vo ve, vo vo,
vù, vu vu, vun vít, vùn vịt, xào xạc, xào xạo, xập
xình, xèn xẹt, xèo, xèo xèo, xì xào, xì xồ, xì xụp
(húp cháo), xoen xoét, xoèn xoẹt, xôn xao, xụt xịt,...
Và tưởng cũng nên viết thêm một câu thách đối rất
tượng thanh (tương truyền của bà Đoàn Thị Điểm)
đến nay vẫn còn "treo giá ngọc," chưa
ai đối được chỉnh: Da trắng vỗ bì bạch.
Cả tượng hình lẫn tượng thanh
Ngoài ra, một số chữ tượng hình lẫn tượng thanh
cùng một lúc như bập bùng (ánh lửa bập bùng, tiếng
trống bập bùng), bỏm bẻm, (khi một người ăn trầu
nhai bỏm bẻm, ta thấy cả hình ảnh lẫn nghe tiếng
nhai), cọc cạch (tiếng bánh xe cây hay niền sắt
lăn trên lộ đá cọc cạch, nhưng đôi giầy chiếc đực
chiếc cái cũng là đôi giày cọc cạch), lắp bắp (cũng
như bỏm bẻm, cả hình lẫn thanh), lẹt đẹt (lẹt đẹt
theo sau, pháo nổ lẹt đẹt), lóc cóc (tiếng mõ lóc
cóc, và đứa bé lóc cóc chạy theo mẹ), trèo trẹo
(giận nghiến răng trèo trẹo cũng có cả hình lẫn
thanh), ủn ỉn (cả hình lẫn thanh), sùng sục (nước
sôi sùng sục, và đám đông sùng sục đi tìm), sướt
mướt (khóc sướt mướt cũng gợi cả hình lẫn thanh),
sượt/sườn sượt (thở dài sườn sượt, và nằm dài sườn
sượt trong lúc chán chường), te te (gà gáy te te,
và chạy te te theo năn nỉ), v.v.
Một cái hay độc đáo
Đó là nhiều chữ rất gần giống nhau nhưng diễn tả
một hình ảnh hoặc âm thânh khác nhau. Thí dụ "lom
khom" (chỉ tư thế còng lưng xuống thôi), "lòm
khòm" (có cả di động), và “lọm khọm” (di động
một cách khó khăn, không bình thường). Một thí dụ
khác là "lốp bốp," "lộp bộp,"
"lốp cốp," "lộp cộp," "lốp
đốp," "lộp độp" chỉ chung nhau âm
thanh thưa và không đều, nhưng các chữ có dấu nặng
âm trầm và nặng hơn các chữ có dấu sắc (ngắn và
dòn).
DANH XƯNG TRONG TIẾNG VIỆT
Danh Xưng Trong Tiếng Việt Hay Hơn Trong Tiếng
Hoa
Tôi còn nhớ khoảng 5, 6 năm trước, tôi ghé thăm
gia đình của một bà (người Việt gốc Hoa) bạn tu
của nhạc mẫu tôi. Tôi thấy bà đang mướn film bộ
Hongkong để xem. Cái lạ là bà mướn cả tapes tiếng
Hoa lẫn tapes tiếng Việt của cùng một bộ film. Tôi
hỏi thì bà nói, "Bộ nói tiếng Quảng Đông thì
tôi mướn cho cô con dâu không biết tiếng Việt xem,
còn bộ tiếng Việt thì tôi xem." Tôi lại tò
mò hỏi, "Thế, Bác quên hết tiếng Quảng Đông
rồi à?" Bà đáp, "Tôi làm sao quên được
tiếng mẹ đẻ; nhưng xem film nói tiếng Hoa chán lắm
anh ạ! Cứ 'ngộ ngộ, nị nị,' không hay bằng tiếng
Việt..."
Tôi xin mở ngoặc nói thêm: Hoa ngữ có nhiều điểm
giống Anh ngữ như các đại danh từ chỉ gồm có mấy
chữ "I, Me, You, He, Him, She, Her;" như
hình dung từ (tĩnh từ) luôn luôn đứng trước danh
từ (TÂN Thế Giới, The NEW World); như possessive
case, nếu ta nghĩ chữ "CHI" của Hoa ngữ
là "'S" của Anh ngữ (thí dụ, Dân Chi Phụ
Mẫu, People's Parents);... Ngoài ra, người Trung
Hoa cũng gọi nhau bằng họ như Đặng Tiên Sinh hay
Tống Nữ Sĩ (Mr. Deng, Ms. Song). Người VN thì dùng
tĩnh từ sau danh từ (thí dụ, thế giới mới), và gọi
nhau bằng tên (không phải họ, thí dụ Tổng Thống
Thiệu, ông Bình, v.v.), trừ những trường hợp quá
long trọng của các thế hệ ngày xưa (thí dụ: "Trần
đại huynh nhã giám," hay "Ngô Tổng Thống,"...)
Tưởng cũng nên nói thêm nơi đây là tuy trong câu
văn tiếng Việt ta có thể đổi “anh” ra “em,” và ngược
lại; nhưng thật ra không dễ dàng như "You,
Me" trong Anh ngữ. Thí dụ nhiều ca sĩ đã đổi
lời bài hát bằng cách hoán vị "Anh" và
"Em," cho thích nghi với người hát nam
hay nữ. Nhưng câu hát "Em ơi, nép vào lòng
anh..." nghe mùi như ri, mà vài nữ danh ca
VN đã sửa lại là "Anh ơi, nép vào lòng em..."
làm tôi bỗng liên tưởng "em" nầy với hai
câu Kiều sau đây:
Thoát trông nhờn nhợt màu da
Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao?
Danh Xưng Không Thể Dùng Bừa Bãi
Tong khía cạnh xưng hô của Tiếng Việt tôi chỉ xin
bàn một cách vắn tắt về những chữ có tính cách xưng
tụng hoặc khiêm nhường. Thí dụ trong câu "Tâu
Bệ Hạ, hạ thần tuyên bố hạ bệ Ngài" chữ "Hạ
Thần" là một chữ khiêm nhường (?) chỉ dùng
cho ngôi thứ nhất (người nói); chữ "Bệ Hạ"
và "Ngài" là hai chữ xưng tụng chỉ dành
cho hai ngôi thứ nhì (người nghe nói trực tiếp)
hay ngôi thứ ba (người được nói đến), không thể
dùng được cho ngôi thứ nhất. Ông Vua trả lời, "Giỏi
cho nhà ngươi dám phản bội Trẫm..." chữ "Trẫm"
chỉ dùng được cho ngôi thứ nhất, nhưng chữ "nhà
ngươi" thì không thể dùng cho ngôi thứ nhất.
Tương tự như thế, chúng ta có những chữ như Bác
Học, Học Giả, Bác Sĩ, Bác Vật, Nhân Sĩ, Chí Sĩ,...
là những chữ xưng tụng, không thể dùng để tự xưng.
Tôi còn nhớ trước năm 1975 báo chí Sàigòn đã từng
viết chế diễu một anh chàng in danh thiếp tự xưng
mình là "Học Giả"! Theo báo-chí thì anh
ta chỉ là một "học giả" giả chưa hề đậu
Tú Tài, chỉ là con rể của một học giả thật... Chữ
"Bác Vật" bây giờ ít nghe nói đến, xưa
kia để gọi tâng các ông kỹ sư (nhất là kỹ sư hóa
học).
Về chữ "Bác Sĩ," trước năm 1975, chúng
ta có "Y Sĩ Đoàn Quốc Gia Việt Nam," có
"Y Sĩ Thiếu Tướng Cục Trưởng Cục Quân Y,"
v.v. chứ không phải là Bác Sĩ; tuy nhiên hầu hết
các quan đốc tờ VN có lẽ không biết đó là một chữ
xưng tụng nên in danh thiếp "Bác Sĩ" (tương
tự như sự lạm dụng của chữ "Giáo Sư" mà
nhiều bạn đã đề cập đến). Ngày nay Bác Sĩ đã trở
thành một bằng cấp ở VN: Bạn học xong Trung Học,
thi vào trường y khoa học 5 năm tốt nghiệp Bác Sĩ
(6 năm nếu là Bác Sĩ đa khoa); một thời gian sau
đi học thêm chương trình Cao Học Y Khoa (2 năm nữa)
để trở thành Thạc Sĩ; sau đó có thể đi học thêm
3 năm nữa để lấy bằng Tiến Sĩ Y Khoa!!!
Các chữ chỉ có thể dùng cho ngôi thứ nhất:
Bần đạo, bần tăng, bần ni, bỉ nhân,
Hạ thần, thần
Qua
Quả nhân, trẫm,
Ta, tại hạ,
Tiện thiếp,
Thiểm chức, ti chức.
Các chữ KHÔNG thể dùng cho ngôi thứ nhất:
Ái khanh, Hiền khanh,
Bậu,
Bệ hạ, Hoàng thượng, Thánh thượng,
Ngài, ngươi, người, Nương nương,
Túc hạ, các hạ.
Một Thí Dụ Dịch Chữ Prince/Princess Sang Tiếng
Việt
Tôi xin nêu lên thêm một thí dụ về sự phong phú
của Tiếng Việt chúng ta. Mấy năm trước báo chí Việt
ngữ thường viết về Princess Diana, và hầu hết đều
dịch sai chữ Princess! Hai chữ Prince và Princess
có thể dịch sang tiếng Việt bằng ba cách chính và
một cách phụ sau đây:
1-
Prince/Princess thông thường chỉ là một danh xưng
(như Mr., Mrs.) dành cho những nhà quý tộc, và có
thể dịch sang tiếng Việt là hoàng thân, vương tôn,
công tử, công nương, nhà quý phái, mệ (triều Nguyễn
ở VN), v.v. (Chữ "Công Tử" sau nầy cũng
được dùng để gọi tâng con trai của các nhà giàu
hoặc không giàu nhưng được nể trọng hay thuộc loại
cường hào ác bá.)
Thí dụ trong đầu thập-niên 1950, ông Bửu Lộc đã
trở thành Thủ Tướng VN một thời gian ngắn. Báo chí
gọi ông ta Hoàng Thân (Prince) Bửu Lộc dù lúc đó
hoàng triều nhà Nguyễn đã cáo chung khi vị vua cuối
cùng là Bảo Đại đã tuyên bố thoái vị năm 1945. Cuối
thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, vương quốc
Lào cũng có Hoàng Thân Buon Oum là Thủ Tướng. Hoàng
Thân Buon Oum không có bà con gì với Vua của vương
quốc Lào lúc bấy giờ cả; ông ta thuộc dòng tộc của
một tiểu vương một xứ trước đấy đã trở thành một
phần của vương quốc Lào. Một nhân vật quan trọng
trong các nội các của Thủ Tướng Boun Oum là ông
Na Champasak cũng là hoàng thân thuộc một tiểu quốc
khác xưa kia.
Bên trời Âu cũng vậy, khoảng trước và sau Thế Chiến
Thứ Hai, nhiều hoàng triều đã bị lật đỗ (Ý, Lỗ Ma
Ni, v.v.) nên hiện nay cũng có hàng ngàn princes
và princesses. Một vị prince ngưòi Pháp rất nỗi
tiếng trong giới khoa học là Prince Louis (Victor)
de Broglie (1892-1987), cha đẻ của ngành Mecanique
Ondulatoire (được giải Nobel Vật Lý đầu thập niên
1930). Anh của của ông là Duc (Louis César Victor)
Maurice de Broglie (1875-1960) cũng là một khoa
học gia tên tuổi. Tôi được biết hơn 200 trước đây
ông nội của họ cũng chỉ là một nhà quý tộc quan
lớn của triều đình Pháp thôi (không phải Vua Chúa
gì cả, như vậy tổ tiên của họ có lẽ đã làm Vua mấy
trăm năm về trước, tương tự như các Vua Lê của VN
chúng ta vậy).
2-
Prince/Princess là một chức vụ có ít nhiều thực
quyền, và phải dịch sang Việt ngữ là (nữ) tiểu vương,
(nữ) quận vương.
Thí-dụ Prince Rainier xứ Monaco chẳng hạn. Ông
là một Quận Vương. Monaco là một quốc gia đã có
thỏa ước với nước Pháp, giao hết quyền ngoại giao
và quốc phòng cho Pháp. Monaco sẽ trở thành một
thành phố của Pháp nếu không có người (phái nam)
kế vị ngai vàng (nhưng vị quận vương Monaco có quyền
lập con nuôi và truyền ngôi cho người con nuôi).
Princess Grace của xứ Monaco (nay đã quá cố) đã
từng là một nữ tài tử điện ảnh của Hollywood trước
khi sánh duyên cùng Prince Rainier. Princess Grace
phải được dịch là Vương Phi Grace (của xứ Monaco).
Prince Charles của The United Kingdom (“UK”) cũng
là Prince Charles of Wales, trong trường hợp nầy
ta phải gọi ông là Quận Vương hay Tiểu Vương xứ
Wales (với dân số trên 3 triệu người). Princess
Diana lúc là vợ của Prince Charles of Wales phải
là Vương Phi xứ Wales. Chức vụ Prince of Wales thường
được phong cho người sẽ thừa kế ngai vàng của UK.
Thực vậy, trước khi Nữ Hoàng Elizabeth II ngày nay
thừa kế ngai vàng vào năm 1952, bà đã là Princess
Elizabeth of Wales; dĩ nhiên lúc đó bà không phải
là một vương phi xứ Wales, mà là nữ quận vương xứ
đó.
Vua Gia Long khi mới lên ngôi đã hạ sắc lệnh "Tứ
Không" (trong cung không lập Hoàng Hậu, không
lập Hoàng Thái Tử; ngoài triều không phong Tể Tướng,
không chấm đậu Trạng Nguyên), vì thế các bà vợ của
các vua triều Nguyễn chỉ là Hoàng Phi (Princesses);
khi con của họ lên ngôi vua thì họ được phong Hoàng
Thái Hậu. Vua Bảo Đại đi ngược lại sắc lênh đó nên
đã có Hoàng Hậu Nam Phương và Hoàng Thái Tử Bảo
Long; ông là vị vua cuối cùng của triều Nguyễn.
Vua cha Hussein (vừa quá cố hơn năm nay) của xứ
Jordan lúc trẻ có một bà Hoàng Hậu (Queen, mẹ của
Vua Abdullah II hiện nay). Sau khi bà nầy chết,
ông quá thương tiếc nên lúc ông cưới người vợ thứ
nhì ông chỉ phong bà vợ đó là Princess (Hoàng Phi)
thôi. Sau khi bà Hoàng Phi nầy tử nạn trực thăng,
ông cưới một cô gái Hoa Kỳ và phong là Queen Noor
(Hoàng Hậu Noor).
3-
Prince/Princess gọi theo một vị Vua (Nữ Hoàng,
hay Quận Vương) đương nhiệm.
a- Con cái
Con trai Vua là Hoàng Tử. Tiếc thay từ xưa chữ
"Tử" chỉ dành cho con trai nên con gái
phải là Hoàng Nữ. Thí dụ bốn người con của Nữ Hoàng
Elizabeth II là Hoàng nữ Ann, Hoàng tử Charles,
Hoàng tử Andrew và Hoàng tử Edward. Con trai Ông
Hoàng Rainier xứ Monaco là Prince Albert (Vương
Tử); con gái, Princess Stephanie (Vương Nữ). Con
dâu là Hoàng/Vương Tức như Princess Diana ngày xưa
đối với Nữ Hoàng Elizabeth II. Con rể là ngoại tộc,
nên chỉ có thể là Phò Mã (trừ khi chồng của một
vị Công Chúa sẽ nối ngôi vua thì được gọi là Hoàng
Tế).
Thường thì khi con cái trưởng thành (hay lập gia
đình), nhà Vua phong cho con một lãnh địa hoặc lớn
hoặc nhỏ. Thí dụ Prince Charles được phong là Prince
of Wales, Prince Andrew được phong là Duke of York
(Quận Công xứ York), v.v. Hoàng Nữ nào được Vua
thương yêu và phong tước mới trở thành một Công
Chúa. Nhiều khi một vị Vua có mấy chục hoàng nữ
nhưng chỉ vài ba người được phong Công Chúa mà thôi.
Con gái của một Quận Vương (Prince) chỉ có thể là
Quận Chúa.
Nên nhớ Hoàng Tức (con dâu của Vua) có thể không
phải là một Princess (như Diana). Thí dụ vợ của
Prince Andrew ngày xưa (nay đã ly dị) là Fergie,
chỉ là một Duchess (vợ của một Quận Công), nhưng
cũng là một hoàng tức. Do đó, ta thấy rõ Diana có
danh xưng "Princess" chỉ vì bà là Vương
Phi xứ Wales, không thể dịch bằng một chữ nào khác
hơn được.
Trong thí dụ hai anh em ông hoàng de Broglie nói
trên. Cả hai đều là Prince, nhưng ông anh cả (Prince
Maurice) mới là người thừa kế của dòng họ nên đã
trở thành Duc (Quận Công) Maurice de Broglie (như
Prince Andrew là Duke of York vậy).
b-Cháu nội
Hoàng/Vương Tôn (Hoàng/Vương Tôn Nữ)
Prince William và Prince Harry là con của Prince
Charles of Wales nên họ là Vương Tử xứ Wales; nhưng
họ cũng là cháu nội của Nữ Hoàng Elizabeth II nên
họ cũng là hai Hoàng Tôn của Nữ Hoàng. Các con của
Princess Ann không phải là Princes hay Princesses
nhưng cũng là hoàng tôn của Nữ Hoàng.
c-Anh, chị, em
Có thể gọi như lúc họ còn là con vua; ruột thịt
là Hoàng/Vương Huynh/Đệ Tỉ/Muội; anh chị em họ thì
thêm "Biểu" trước Huynh/Đệ Tỉ/Muội. Tuy
nhiên, nếu anh chị em đã lớn (thường đã lập gia-đình)
thì có thể được gọi tâng là "Hoàng Bá,"
"Hoàng Thúc," hay "Hoàng Cô"
như ta vẫn gọi các em trong nhà đã thành niên là
"cô" hay "chú" vậy.
Sau khi phế Vua Thành Thái (Bửu Lân), Pháp đưa
Hoàng Tử Vĩnh San, một người con trai nhỏ của Vua
Thành Thái, lên thay thế; đó là Vua Duy Tân. Vua
Duy Tân có các anh lớn tuổi hơn, họ là Hoàng Huynh
của vua Duy Tân. Nữ Hoàng Elizabeth II có một người
Chú ruột (Hoàng Thúc, nay đã quá cố) có con trai
là Prince Michael, vị nầy là Hoàng Biểu Đệ của Nữ
Hoàng.
d-Chú, Bác (Hoàng/Vương Thúc, Bá, Cô)
Thí dụ Hoàng Thân Bửu Lộc lót chữ "Bửu"
nên, theo Kim Sách triều Nguyễn, thuộc vai Chú của
hai Cựu Hoàng Duy Tân (Vĩnh San, lót chữ "Vĩnh")
và Bảo Đại (Vĩnh Thụy). Lúc Duy Tân hay Bảo Đại
là Vua thì Hoàng Thân Bửu Lộc là Hoàng Biểu Thúc
[Chú họ] của ông.
e-Cháu họ (Hoàng/Vương Điệt/Điệt Nữ)
Dĩ nhiên các người cháu Vua không cần phải là Prince
hay Princess cũng được gọi Hoàng Điệt hay Hoàng
Điệt Nữ (như Hoàng Tức đã viết bên trên), hoặc “(nữ)
ngự điệt.”
f-Cha Mẹ Của Vua (Hoàng/Vương Phụ và Hoàng/Vương
Mẫu)
Có bạn sẽ lấy làm lạ, nhưng điều nầy cũng đã xảy
ra. Thí dụ, Vương quốc Cambodia xưa kia có hai giòng
họ lớn thay phiên nhau làm Vua. Hơn 60 năm về trước,
Pháp đưa Ông Hoàng trẻ tuổi Norodom Sihanouk lên
ngôi Vua (để dễ bề thao túng?) Thân phụ của ông
vua con nầy đương nhiên trở thành Hoàng Phụ. Ít
năm sau, Vua Sihanouk nhường ngôi cho cha; và khi
Vua Cha chết, Sihanouk lại lên ngôi Vua lần thứ
nhì (và mấy năm trước đây, ông ta lại lên ngôi Vua
lần thứ ba).
Nếu Prince Charles kết hôn cùng người bạn gái đã
ly dị chồng hiện giờ, ông sẽ phải từ bỏ quyền thừa
kế ngai vàng và con trai lớn của ông (Prince William)
có thể trở thành Vua trong khi ông chỉ là một Hoàng
Phụ thôi.
Dĩ nhiên, nếu Vua cha nhường ngôi cho con thì Vua
cha trở thành Thái Thượng Hoàng; và Hoàng Hậu sẽ
trở thành Hoàng Thái Hậu hoặc Thái Hậu. (Thái Thượng
Vương, nếu Quận Vương nhường ngôi cho con.)
g-Chồng của Nữ Hoàng (Hoàng/Vương Tế, Hoàng/Vương
Phu Quân)
Chữ "Tế" đúng ra để chỉ "con rể"
nhưng từ hơn 50 năm nay cũng được dùng cho Prince
Phillip, chồng của Nữ Hoàng Elizabeth II từ hồi
bà còn là Princess Elizabeth of Wales, nên đã trở
thành thông dụng. Khi Võ Tắc Thiên trở thành Nữ
Hoàng của nhà Đại Chu, bà ta cũng đã có "Hoàng
Hậu" (dĩ nhiên là nam nhân). Vì thế "Hoàng
Hậu" không nhất thiết phải là một phụ nữ, cũng
như "Hoàng Đế" không nhất thiết phải là
một nam nhân. Vợ cuả một vị Vua (Hoàng Đế) hay một
Quận Vương thì đã được nói đến bên trên.
4-Crown Prince/Princess (người thừa kế ngai vàng)
Vua Chúa thường lập một người thừa kế. Ta phải
theo liên hệ của vị đó với nhà Vua đương nhiệm để
gọi.
Thí dụ Hoàng Tử Charles của UK là Hoàng Thái Tử.
Chữ "Thái" ở đây còn đọc là "Thế"
(thay thế), khác hẳn chữ "Thái" của (Hoàng)
Thái Hậu, có nghĩa là "quá to." Ở xứ Saudi
Arabia hiện nay, em trai thừa kế ngai vàng nên Crown
Prince là Hoàng Thái Đệ. Nếu Prince Charles chết
trước khi Nữ Hoàng Elizabeth II băng hà hay nhường
ngôi, hoặc ông từ bỏ quyền thừa kế ngai vàng, thì
con trai trưởng của ông (Prince Williams) sẽ là
Hoàng Thái Tôn.
Prince Albert cũng là Crown Prince của xứ Monaco,
nhưng ông chỉ là Thái Tử vì ông chỉ sẽ nối ngôi
một Quận Vương chứ không phải một Hoàng Đế (Vua).
Xin mở một dấu ngoặc ở đây, người Trung Hoa phát
âm hai chữ "Hoàng" và "Vương"
khá giống nhau ("Wang" và "Wong")
nên có nhiều trường hợp người ta đã dịch sai khi
chuyển âm film bộ Hongkong sang tiếng Việt. Thí
dụ trong bộ film "Ỷ Thiên Kiếm, Đồ Long Đao"
đầu tiên, Triệu Minh cứ gọi cha mình là "Phụ
Hoàng"! Nếu nhà vua (Nguyên Đế) biết được thì
mười cái đầu của cô ta cũng không còn...
Ở Trung Hoa, trong các triều đại Hạ, Thương, Châu,
v.v. nhà vua chỉ xưng mình là "Vương."
Ở Việt Nam, chúng ta cũng có Vua Hùng (Hùng Vương).
Danh từ "Đế" được dành cho các vị thượng
tiên (gods) như Ông Trời, do chữ "Deva"
của Ấn Độ. Đến khi vua nước Tần thống nhất Trung
Hoa, ông ta là người đầu tiên xưng "Đế"
tức "Thủy Hoàng Đế." Chữ Thủy, còn đọc
là Thỉ, có nghĩa là đầu tiên, như trong các danh
từ kép Nguyên Thủy, Thủy Chung, Thoạt Kỳ Thủy, v.v.)
Tần Thủy Hoàng muốn tỏ cho mọi người biết ông ta
cao hơn hẳn các vị Vua (Vương) của các nước khác
(Triệu, Yên, Tề, Hàn, v.v.) đã bị ông tiêu diệt
trước đó, và cho thiên hạ thấy cái uy vũ thần thánh
và vĩ đại của ông! Và vì thế, Ông Trời (Ngọc Đế)
đã được nâng lên cao hơn xưa một bậc bằng cách thêm
chữ "Thượng" trước chữ "Đế;"
từ đó Ông Trời mới được gọi là "Thượng Đế."
TIẾNG VIỆT MƯỢN TỪ TIẾNG HOA
Vay Mượn Cả Chữ "Cha"?
Bên họ ngoại tôi, con cái gọi cha là "Tía."
Thú thực trước năm 1975, tôi cứ tưởng "Tía"
là một chữ đồng nghĩa với "ba" hay "cha"
dùng tại một số địa phương nào đó, nhất là miền
rẫy tại Nam Việt Nam. Ở miền Bắc, nhiều người gọi
cha mẹ là "Thầy U;" ở miền Nam, "Cậu
Mợ." Tôi có một ông anh họ (nay đã ngoài 90
và đã quá cố), con cái gọi anh là "Bảy"
(trong khi anh ấy thứ năm và chị ấy thứ ba, không
liên quan gì đến "bảy" cả)!
Mãi đến khoảng 20 năm trước đây, tôi có dịp đọc
một bài viết của học giả Hoàng Văn Chí (nay đã quá
cố) mới biết chữ "Tía" là tiếng Quảng
Đông! Không biết tại sao trước kia tôi đã không
nghĩ ra điều đó vì tôi biết bên ngoại tôi là người
Minh Hương. Hậu Quân Võ Tánh, gốc người Minh Hương,
là ông cố của ông cố của mẹ tôi. Xin mở dấu ngoặc
nơi đây để giải thích cho một số bạn rời VN lúc
còn khá trẻ: Vào hậu bán thế kỷ thứ 17, tộc Mãn
Châu từ phía bắc kéo binh xuống chiếm nước Trung
Hoa. Một số người Hoa đã vùng lên chống giặc "ngoại
xâm," tự xem mình là con cháu nhà Minh (triều
đại liền trước đó), nhưng họ đều thất bại. Một số
đã theo đường biển chạy vào Thuận Hóa (Huế) xin
Chúa Nguyễn cho họ tị nạn. Chúa Nguyễn đã ra lệnh
lập một làng ở vùng Gia Định (tức cả miền Nam VN
lúc bấy giờ) cho họ định cư, gọi là làng Minh Hương
(làng của con cháu người Minh), thuộc vùng Biên
Hòa sau nầy (nay là tỉnh Đồng Nai).
Vấn đề làm cho tôi khó chịu suốt 20 năm nay là
học giả Hoàng Văn Chí viết trong bài khảo cứu đó
rằng chữ "Cha" của người Việt chúng ta
đã vay mượn từ chữ "Tía" của người Quảng
Đông! Tôi không thể nào tin như thế vì tiếng Việt
chúng ta chỉ bắt đầu vay mượn Hoa ngữ (dĩ nhiên
chỉ sau khi chịu ảnh hưởng của Hoa ngữ) cho những
sự việc và khái niệm mới, theo đà tiến hóa của đời
sống con người mà thôi. Riêng chữ "cha"
là một chữ rất căn bản của con người từ thủa hoang
dại, không lý nào người Việt chúng ta không có chữ
đó; dù rằng sử chép tổ tiên chúng ta có các chữ
"bố" và "cái" để chỉ cha mẹ.
Nếu quả thật như thế thì có lẽ chúng ta cũng đã
mượn các chữ "xốp" và "cắt"
của Anh ngữ ("soft" và "to cut")
cũng không chừng!? Bạn nào có nghiên cứu về vấn
đề nầy xin chia sẻ với tôi; tôi xin thành thật cảm
ơn trước.
Gà Có Trước Trứng Hay Trứng Có Trước Gà?
Gần đây nhờ xem phim bộ Hongkong, có film có phụ
đề Hoa ngữ nên tôi mới thấy chữ "Tía"
được viết "Phụ" trên "Đa" dưới.
Đúng là một nguyên tắc căn bản của chữ Nôm của chúng
ta: Dùng hai chữ Hoa ghép lại để viết một chữ Việt
thuần túy; một chữ Hoa biểu ý (nghĩa), một chữ Hoa
biểu thanh (âm). Thí dụ chữ "Bé" gồm chữ
"Tiểu" (nhỏ) biểu ý, và chữ "Bế"
(đóng lại, như "bế quan tỏa cảng") biểu
âm.
Tôi nhớ lại các bài học lịch sử của các lớp trung,
tiểu học, người VN chúng ta xưa kia (thời Triệu
Đà) bao gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây. Như vậy
người VN "chôm" chữ "Cha" của
người Quảng Đông, hay người Quảng Đông "chôm"
chữ "Tía" của người VN?
Chữ Hán Việt
Tôi còn nhớ ngót 20 năm về trước, tôi đang làm
việc ở sở thì một anh bạn điện thoại hỏi tôi về
một bài thơ Đường của Thôi Hộ. Tôi chậm rãi đọc
trọn bài thơ tứ tuyệt (chỉ bốn câu) đó qua điên
thoại cho anh bạn chép lại. Sau đó thì một người
phụ nữ gốc Đài Loan làm việc chung với tôi ở phòng
kế bên bước sang đưa tôi tờ giấy và hỏi có phải
tôi vừa đọc bài thơ đó không. Tôi nhìn tờ giấy bà
đưa, tôi đọc được 80% chữ bà ta mới viết trên đó,
và nhận ra đúng là bài thơ tôi mới đọc cho người
bạn nghe. Bà nói tôi phát âm bài thơ rất gần với
Quan Thoại, không giống như người Quảng Đông. (16)
Trước đó tôi cứ tưởng là âm Hán Việt rất gần với
âm Quảng Đông. Nhờ câu chuyện đó, tôi suy luận là
ngày xưa người VN chúng ta học Hoa ngữ theo lối
Quan Thoại để tiện việc giao dịch với quan lại Trung
Hoa. Do đó chúng ta phát âm Hán Việt rất gần gũi
với Quan Thoại. Có lẽ lúc đầu ông bà chúng ta học
đúng âm Quan Thoại, nhưng một thời gian dài sau
đó vì đường xá xa xôi nên người VN không còn theo
kịp những thay đổi của Quan Thoại nữa và sau cùng
người VN chúng ta có tiếng Hán Việt phát âm khá
khác biệt tiếng Quan Thoại chăng?(17) Tương tự như
thế, khi nước VN chúng ta chịu sự đô hộ của Pháp,
ông cha chúng ta học tiếng Pháp trực tiếp của người
Pháp chính cống nhưng hầu hết vẫn không thể phát
âm hoàn toàn y hệt như các ông tây bà đầm được.
Thí dụ chữ Pháp "un" (1, một) nhiều người
VN phát âm "on" (như chữ "con");
chữ "moderne" (tân thời), mô đéc; chữ
"matin" (buổi sáng), ma tanh; chữ "bien"
(tốt, giỏi,...), biên, biển;...
Và cũng vì học theo Quan Thoại (quan liêu) nên
người VN không hề biết những chữ quá bình dân của
Trung Hoa như "Tía" và "Má"
(chúng ta chỉ học các chữ "Phụ" và "Mẫu"
hay "Nương" của Quan Thoại thôi)!
Việt Hóa Chữ Hán?
Anh Nguyễn Duy Chính ở California nhấn mạnh rằng
ông cha chúng ta có tư tưởng độc lập về ngôn ngữ;
khi dịch hay tạo những chữ mới, thường ông cha chúng
ta chỉ dùng chữ Hán như một thứ từ nguyên (radical)
để ghép lại thành chữ (ý) mới. Không như ngày nay
những người lãnh đạo chính trị, văn hóa, thông tin,
v.v. ở Hànội cứ bợ nguyên con các “đặc sản” của
Trung Cọng về xài ! Nhiều chữ ông cha chúng ta đã
sáng tạo ra theo lối tự lập đó nay đã bị họ bỏ đi
để dùng chữ “mới” y chang người Hoa ở Bắc Kinh;
thí dụ phấn khởi (hồ hởi), quản trị (quản lý), phụ
tá (trợ lý), y tá (hộ sĩ, hộ lý), v.v. Ông cha chúng
ta dùng chữ Hán để làm giàu ngôn ngữ của mình, chứ
không phải vay mượn một cách nô lệ như thế! May
mắn là những người lãnh đạo chính trị, văn hóa,
thông tin, v.v. ở Hànội không thể thay thế tất cả
những chữ Hán Việt; nếu không thì chúng ta đã thấy
chữ “yên sĩ phi lý thuần” (phiên âm chữ “inspiration”)
của người Hoa thay thế chữ “cảm hứng” của tiếng
Việt, hoặc chữ “u mặc” (phiên âm chữ “humor”) của
người Hoa thay thế chữ “hài hước” của chúng ta...
(18)
TIẾNG VIỆT CHÚNG TA SẼ RA SAO TRONG TƯƠNG LAI?
Ngôn Ngữ Địa Phương Xa Dần Chính Quốc
Cách đây khoảng 10 năm, nhiều nhà ngôn ngữ học
đã có nhận xét là Anh ngữ dùng ở Hoa Kỳ gần với
Anh ngữ thời Shakespeare (William Shakespeare, 1564-1616)
hơn Anh ngữ ở UK hiện giờ. Điều nầy rất dễ hiểu,
vì sau khi sang Hoa Kỳ định cư (lúc các tác phẩm
của Shakespeare rất được phổ biến tại UK), xa xôi
cách trở, người bên đây Bán Cầu bị cách biệt với
người ở UK, không theo kịp những tiến hóa của Anh
ngữ ở chính quốc.
Tương tự như thế, một số người Pháp đã di cư sang
Québec, Canada, cũng bị cô lập nên tiếng Pháp của
người Québec khác xa tiếng Pháp chính quốc. Thí
dụ, họ học chữ "mail" (thư tín) của người
nói Anh ngữ láng giềng, rồi tạo nên động từ "mailler."
Tôi nhớ một lần tôi sang Montréal (Canada), tôi
nghe một cặp vợ chồng hàng xóm của cháu tôi, trên
đường ra cửa, người vợ quay lại hỏi người chồng
"Avez-vous barré la porte?" Tôi phải suy
nghĩ một lúc mới vỡ lẽ đa số người Pháp di dân sang
Québec gốc người miền quê. Ở bên Pháp thời đó, nhà
họ làm gì có khóa, chỉ dùng "song hồng"
(barre) chận cửa (barrer), nên bây giờ con cháu
của họ vẫn nói "barrer la porte" dù thật
sự họ cũng khóa cửa.
Tiếng Việt Ở Hải Ngoại Cũng Đang Tách Rời Như Thế
Tiếng Việt của người gốc Việt ở hải ngoại cũng
đã và đang trải qua giai đoạn cô lập đó. Chúng ta
ở vào thời đại điện tử, cái xa xôi cách trở không
gian không còn là một khó khăn cho sự truyền thông
nữa. Nhưng sự chia cách với tiếng Việt trong nước
do chính chúng ta chọn lựa, vì chúng ta đang chống
lại sự áp đặt của nhà cầm quyền Hànội. Tôi còn nhớ
trong những lần tôi về VN thăm thân nhân, có khi
tôi đọc một bài báo, tôi phải hỏi anh chị em bên
nhà ý nghĩa của một số chữ quá mới lạ đối với tôi.
Theo các em tôi hiện ở VN, các cháu tôi ở tuổi đang
học đại học, nhiều khi phải nhờ cha mẹ giải thích
một số câu trong các thư của tôi. Một người em họ
tôi đã rất chí lý khi nói rằng người Việt chúng
ta ở hải ngoại đã hoàn toàn "trật khớp"
với bà con ở trong nước rồi...
Thế hệ chúng ta chỉ còn vài ba thập niên để "tử
thủ." Thế hệ con em chúng ta ở hải ngoại sẽ
chịu hai yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến tiếng Việt
của họ: Các cố gắng kiều vận của nhà cầm quyền Hànội
nhằm lôi kéo người Việt ở hải ngoại chấp nhận chế
độ, kể cả hàng vạn thanh niên nam nữ được đưa ra
ngoại quốc du học (và tuyên truyền, trực tiếp hay
gián tiếp); và sự tuột dốc về sự hiểu biết và thông
thạo tiếng Việt của con em chúng ta ở hải ngoại.
Gần đây nhiều báo chí Việt ngữ tại Hoa Kỳ đã báo
động về các nỗ lực kiều vận của nhà cầm quyền Hànội;
kể cả video tapes và sách báo, với giá bán thật
thấp (nhờ nhân công rẻ ở VN), tràn ngập các nơi
tại Hoa Kỳ.
Tiếng Việt Của Thế Hệ Con Em Chúng Ta (Tại Hải
Ngoại)
Về việc con em chúng ta càng ngày càng bớt thông
thạo tiếng Việt là điều rất dễ hiểu. Tôi có hai
con, cả hai đều chào đời tại Hoa Kỳ; một trai sinh
cuối năm 1975 và một gái sinh năm 1978. Vợ chồng
tôi ở nhà đều nói tiếng Việt với nhau và với các
cháu; nhờ đó các cháu hiểu được tiếng Việt khá nhiều
(khoảng 70% những gì chúng tôi nói), nhất là nếu
chúng tôi nói chậm rãi, không nói quá nhanh. Nhưng
các cháu chỉ có được độ 50% số chữ tiếng Việt cần
thiết để nói chuyện (trả lời); và đọc được khoảng
15% (cháu trai) hoặc 5% (cháu gái) bài viết bằng
tiếng Việt! Một trong những khó khăn cho việc con
em chúng ta học tiếng Việt thông thạo là các dấu
(sắc, huyền, hỏi, ngã và nặng). Lúc các con tôi
còn nhỏ, mỗi khi có ai điện thoại đến muốn nói chuyện
với "ba" thì các cháu đưa điện thoại cho
"bà" ngoại (vì các cháu gọi tôi là "bố")!
Nếu viết tiếng Việt mà không bỏ dấu thì lắm khi
khá tai hại. Tôi còn nhớ có một lần tôi nhận được
điện thư (email) của anh QT ở Dallas, TX, có hai
chữ "cho de." Tôi đọc đi đọc lại cả câu,
và cả đoạn, nhưng không hiểu tại sao anh ấy muốn
nói "chó đẻ" (nhưng không dám viết thư
hỏi lại cho rõ)? Phải mất ngót hai hôm, tôi mới
vỡ lẽ ra là anh ấy viết "cho dễ"! (19)
Cách đây 6, 7 năm, một hôm cháu trai thỏ thẻ với
mẹ, "Mẹ ơi, mẹ đừng có gả con cho con gái bác
X nghe Mẹ!" Bà xã tôi ôm bụng cười và trả lời,
"Đừng sợ! Con không thương thì mẹ không 'gả'
con cho con gái của bác đâu!" Xét cho cùng
cháu nói được câu tiếng Việt đó cũng là hay lắm
rồi! Cháu không bao giờ xem phim bộ Hongkong, nên
tôi không hiểu cháu đã học được chữ "gả (bán)"
từ đâu?! Các cháu thường tự "chế" ra nhiều
chữ mới theo nhu cầu nói chuyện. Thí dụ, có khi
các cháu nói "bạn con ngồi 'vòng vòng' chờ"
("Ngồi vòng vòng" là các cháu dịch chữ
"Sit around") hoặc "Hết người bỏ
đi!" (Everyone left)...
Ngoài ra, con em chúng ta còn bị lẫn lộn vì "người
chột dạy người mù" (xin lỗi các bạn bị thương
tật về mắt, tôi chỉ muốn dùng một thành ngữ thật
ví von thôi), như trường hợp ông giáo sư dạy Việt
ngữ từ Hànội sang đã nói bên trên; hay một nhạc
sĩ nào đó đã viết bài "Sao Nỡ Đành..."
(gì gì đó), vì tôi chưa từng nghe hai chữ "nỡ"
và "đành" đi chung với nhau!... Với những
“thầy dạy” như thế thì thế hệ con cháu chúng ta
sẽ làm sao hiểu những cái hay như “đóng cửa ngủ
thả cửa,” hay “mai ăn khỏi trả tiền” (ngày nào đến
tiệm cũng thấy “ngày mai” chứ không phải “hôm nay”),
hay “nhổ răng không đau” (nhổ răng mát tay đến độ
bệnh nhân không cảm thấy đau, hay là nhổ lộn răng
không đau, răng đau vẫn còn nguyên đó?)…
Gần đây một bạn viết thư cho tôi, bày tỏ sự lo
lắng việc các trung tâm dạy tiếng Việt ở Hoa Kỳ
không có học trò. Nhưng khi tôi phổ biến sự lo âu
nầy thì nhiều bạn ở khắp nơi cho biết các trung
tâm dạy tiếng Việt ở địa phương của họ hoạt động
rất mạnh; chẳng những không cắt giảm mà còn mở thêm
một số lớp dạy tiếng Việt. Đấy là một tin mừng cho
cộng đồng người Việt chúng ta. Chúng ta cũng phải
ghi nhận công lao của các phụ huynh đã giúp đỡ (khuyến
khích, lo phương tiện chuyên chở, tài chính, v.v.)
cho con em đến học tiếng Việt. tại các trung tâm
đó. Hy vọng nhờ đó, tiếng Việt sẽ sống mãi với các
thế hệ con cháu chúng ta ở hải ngoại...
KẾT LUẬN
Để thay lời kết thúc bài viết nầy, tôi xin chép
lại một một mẫu chuyện do hai anh Lê Văn Ninh và
Nguyễn Lương Bình ở Dallas, Texas, đã gửi đến tôi
gần đây, liên quan mật thiết với đề tài tôi mới
trình bày bên trên.
Máy vi tính cần thần dược Viagara.
(Hai anh LV Ninh và NL Bình chôm được trên mạng.)
-----------------------------------------------
THUẬT NGỮ TIN HỌC
Chuyện này xảy ra ở một tiệm bán computer ở Việt
Nam, giữa khách hàng và người bán. Một ông khách
bước vào tiệm vi tính nói với cô bán hàng:
- Cô ạ, tôi thấy hình như phần mềm của cô không
tương thích với cấu hình phần cứng của tôi ở nhà.
Khi vừa cài đặt phần mềm của cô vào ổ đĩa cứng của
tôi thì sự cố đã xảy ra. Bộ xử lý trung ương của
tôi đột nhiên yếu hẳn đi rồi lịm luôn. Tôi nghĩ
là cô có sẵn mầm bệnh nội trú âm thầm.
- Ấy chết, anh đừng nói vậy. Phần mềm của em tốt
lắm mà. Bảo đảm sạch sẽ, mọi người ai dùng qua cũng
hài lòng.
- Không đâu, thực sự là có vấn đề.
- Thế thì lúc cài đặt anh đã kích hoạt đúng mức
chưa? Anh có điều chỉnh cổng vào cho cân đối không?
- Có chứ. Tôi đã làm đầy đủ các thao tác theo trình
tự bài bản hẳn hòi.
- Thế anh có thể nào cho em xem công cụ của anh
được không?
Anh chàng vội đưa cái còm lên. Cô bán hàng săm
soi một hồi rồi nói :
- Em thấy công cụ phần cứng của anh đã cũ và yếu
lắm rồi. Thế hệ của anh như thế này thì làm sao
mà xử lý phần mềm đời mới như của chúng em. Phải
nâng cấp thôi anh ạ. Anh có muốn sử dụng thêm loại
công cụ tiện ích bổ sung không? Hàng Trung Quốc
mới về, tốt lắm !
- Thế nó có phục hồi và tăng cường chức năng cho
tôi không cô?
- Có chứ anh. Nó giúp tái hồi bộ vi xử lý, tăng
kích thước bộ mạch chính và làm tăng tốc xung nhịp
của anh nữa.
- Được rồi, cô cho tôi cái ấy ngay đi.
- Vậy xin anh đặt phần cứng lên đây ngay để em
truyền vào nhá. Tiếc cái là bây giờ băng thông của
em quá hẹp nên anh chịu khó dẫn truyền chậm chạp
từng ít một. Đừng tham mà tiếp thu nhanh nhé, kẻo
làm chúng em nghẽn mạch, còn bao nhiêu khách hàng
sau đang chờ kia kìa.
__________________
Chấn Võ (7/2002)
__________________________________________________
Cước Chu
(1)Người viết xin nói rõ là đoạn hồi ký được chép
lại dưới đây chỉ để làm tài liệu. Người chép lại
không phải là sai khi có nhận xét phần lớn chữ “chuyện”
trong đoạn hồi ký đáng lẽ phải là “truyện.” Vấn
đề là mỗi địa phương có một ý thích khác nhau. (Như
đã trình bày bên trên, đoạn hồi ký nầy đã được gửi
đến Diễn Đàn CVA Bắc California, giúp người viết
có hứng viết bài nầy.)
Hồi Ký Trần Văn Khê
Qua tới tháng ba 1985, không định trước mà tình
cờ tôi (Trần Văn Khê) phải làm một chuyện mà cả
đời tôi chưa làm bao giờ. Khi trở về trường đại
học Sorbonne, tôi nhìn thấy một biêủ ngữ giới thiệu
đang có "Hội nghị Quốc Tế cuả những người thuật
chuyện (truyện) đời xưa" tại Paris...
".....chẳng hay ở Việt Nam có những người
chuyên môn đi thuật chuyện (truyện) đời xưa không?"
Tôi trả lời : "Nước tôi không có người chuyên
hành nghề đó, nhưng trong gia đình ông bà thường
hay thuật chuyện (truyện) đời xưa cho con cháu nghe.
- Ông có biết thuật chuyện ( truyện) không?
- Có chớ.
- Vậy sao ông không tham dự hội nghị để cho Việt
Nam có mặt và chúng tôi có dịp nghe chuyện (truyện)
đời xưa Việt Nam?.....
... Nêú ông đồng ý, chúng tôi xin phép được ghi
tên ông trên danh sách những người thuật chuyện
(truyện) cổ tích và sẽ có một buổi dành cho chuyện
(truyện) đời xưa Việt Nam.
..... Trong hội nghị nầy, tôi thuật lại các chuyện
(truyện) cổ tích như Tấm Cám, Sọ Dừa, chuyện (truyện)
Trương Chi Mỵ Nương, Trọng Thuỷ Mỵ Châu, chuyện
(truyện) liên quan đến âm nhạc như sự tích cây đờn
đáy, đờn độc. huyền (đờn bầu). Thật quá bất ngờ,
những câu chuyện tôi kể được nhiều người ưa thích,
được đài phát thanh France Culture thâu chuyện (truyện)
Trương Chi Mỵ Nương rồi phát đi phát lại nhiều lần.....
.... Tôi nhắc lại những truyền thuyết liên quan
đến việc hình thành dân tộc. như chuyện (truyện)
Lạc Long Quân và Âu Cơ, chiến đấu với thiên tai
như Sơn Tinh Thuỷ Tinh, rồi nguy cơ vì bị gián điệp
nước ngoài như Trọng Thuỷ Mỵ Châu, việc chống ngoại
xâm thì có chuyện (truyện) Thánh Gióng. Tôi kết
luận nói chung truyền thuyết của Việt Nam xoay quanh
việc dựng nước, giữ nước, giữ giềng môí xã hôị,
đúng thưởng sai phạt. Ngoài ra còn có những truyền
thuyết về âm nhạc hay chuyện (truyện) tiếu lâm chế
diễu những tật xấu của con người, những tệ đoan
trong xã hội... Bỗng nhiên tôi trở thành "Người
thuật chuyện (truyện) đời xưa quốc tế "...
.... Có lần nhà Văn Hoá Thế Giới ở Paris tổ chức
thuật chuyện (truyện) cho trẻ nhỏ từ 7 đến 10 tuổi,
một bà trong ban tổ chức nói với tôi :
- Giáo sư thuật chuyện (truyện) Trương Chi Mỵ Nương
người lớn nghe mê lắm, nhưng bữa nay, toàn con nít
nhỏ, e rằng giáo sư thuật chuyện (truyện) đó, chúng
nó không hiểu đâu.
- Không sao, tôi sẽ thuật chuyện (truyện) Tấm Cám.
Để cho lũ trẻ cùng tham dự, tới đoạn Cám muốn
dụ cá bống lên nên bắt chước hát bài cuả Tấm, tôi
dạy cho chúng cùng hát theo “bống bống bang bang",
tới đoạn Tấm gặp cảnh khó khăn ngồi khóc, tôi hỏi
: "Rồi ai hiện ra?" Các cháu đồng thanh
trả lời : "Bouddha ! Bouddha!" (Bụt) Nhờ
vậy tạo được bầu không khí rất sôi động và vui nhộn...
Do vậy trong mấy tháng trời tôi biến thành một
người kể chuyện (truyện) đời xưa.. chuyên nghiệp
Trích từ Hồi ký Trần văn Khê Ghi chú - Các chữ
"truyện" trong ngoặc đơn là cuả người
chép,vì người chép có cảm tưởng ô T V K viết nhầm
về chính tả.
nhdokhac
Bởi không chắc chắn, tôi mới để trong ngoặc.
Nhưng tôi biết rõ là khi viết "truyện Tấm
Cám "chẳng hạn thì viết "tr". Còn
như "nói câu chuyện" thì viết "ch".
Kính
nhdokha
(2)Trong những lá thư viết gửi Diễn Đàn tôi dùng
“từ” thay vì “chữ.” Khi sắp xếp lại bài viết nầy,
tôi cũng giữ nguyên như thế. Nhưng vào phút chót,
tôi đổi lại “chữ” vì khi đọc lại bài viết, tôi phải
ngừng lại nhiều lần tại các chữ “từ” để phân biệt
“từ” là “chữ” (word) hay “từ” dùng để chỉ chiều
hướng (from). Đó là chưa kể có vài nơi trong bài,
tôi viết hai chữ “từ” hoàn toàn khác biệt nầy sát
bên nhau, khiến cho người đọc dễ lầm là “thong thả”
(từ từ). Dù chỉ ngừng trong tích tắc, dòng tư tưởng
của người đọc cũng bị gián đoạn; như thế là lỗi
của người viết (theo Style Book của báo The New
York Times).
Từ cuối thập niên 1960, tôi vẫn dùng “từ” thay
vì “chữ” (word) vì tôi nghĩ “từ” chỉnh hơn “chữ.”
“Chữ” còn có thể là mẫu tự hay tiếng (của một sắc
dân, quốc gia, v.v.); thí dụ khi ta nói “chữ u,”
người nghe chưa hiểu ta muốn nói mẫu tự “u” hay
từ “u” (xưa kia được dùng đồng nghĩa với “mẹ,” ngày
nay thường được dùng thay thế “bướu”). Hiện nay,
“từ” rất thông dụng ở VN; tuy nhiên, nhiều người
lầm lẫn “tự” (một chữ đơn âm như “cha,” “mẹ,” v.v.)
và “từ” (có thể gồm hơn một “tự” đi chung nhau,
như “trái chuối,” “văn sĩ,” v.v.) Do đó người ta
mới dùng “cụm từ” để chỉ các “từ” gồm nhiều “tự”
họp thành; chữ “cụm” thật là thừa thãi trong trường
hợp nầy.
Bạn Phạm Văn Bân ở Nam California có góp ý thật
rõ ràng như sau:
Chữ "tự" và "từ" hay bị dùng
lẫn lộn trong tiếng Việt đến nỗi nếu không viết
thành tiếng Hán thì không sao phân biệt được! Ngay
cả Paulus Huình Tịnh Của làm cuốn Quấc Âm Tự Vị
cũng bối rối, dùng lộn trong lời tựa cuốn tự vị
này. Thực ra, nghĩa của chữ "tự" không
lầm được nhưng khi xét đến chữ "từ" thì
khá rắc rối. Văn pháp lấy "từ" làm đơn
vị phân tích, không cứ một chữ hay mấy chữ; cứ hễ
đủ một khái niệm thì gọi là một "từ".
Từ là một lời nói để bày tỏ khái niệm nào đó. Trong
định nghĩa này thì có khi một "tự" đã
là một "từ". Thí dụ: nhà, xe, bánh, kẹo,
khóc, cười. Có khi phải hai "tự" mới thành
từ. Thí dụ: thú vật, loài người, giống bò sát.
Nói theo kiểu lung tung nghĩa chữ của người Việt
thì cuốn từ điển nào mà chỉ kê chữ và nghĩa chữ
thì gọi đúng là "tự điển"; còn cuốn từ
điển nào có thêm phần thí dụ thành ngữ, điển tích,
điển cố thì gọi là "từ điển" (Pinyin:
cidian, đọc là xửa điển)
Vì là tiếng độc âm nên cả hai tiếng Việt và Hán
rất thường phải có thêm một chữ đi kèm để làm rõ
nghĩa. Hiếm khi một chữ đứng một mình được; vì vậy,
có người cho rằng thực ra, tiếng Việt và Hán là
thứ tiếng đa âm trong ý nghĩa đó. Thí dụ: “từ” không
rõ nghĩa khi đứng một mình; phải có thêm chữ nữa
mới rõ. Thí dụ: từ biệt, từ bi, từ chối, từ chức,
từ đường, từ loại, từ mẫu, từ nguyên, từ giã, từ
ngữ, từ vựng, từ tạ, từ tốn, từ tạ, từ tuyệt, từ
thạch, từ trần, từ trường. (Các chữ "từ"
trên viết khác nhau trong Hán tự nhưng khi viết
kiểu biểu âm (kiểu chữ đang viết) thì khó phân biệt
nghĩa).
Phạm Văn Bâ
(3)Chuyện hay Truyện?
(3a)Ý kiến của bạn Nguyễn Đ. Phương (đã được gửi
đến Diễn Đàn.)
Cho tới hiện tại chưa ai xác định được rõ rệt
sự khác biệt trong việc sử dụng hai chữ nầy. Riêng
tôi xin có ý kiến như sau.
Chữ Chuyện thường được dùng trong văn nói, thuật
ngữ, thí dụ: nói chuyện, kể chuyện, thuật chuyện,...
như nói một câu chuyện, kể một câu chuyện hoăc là
"đồ lắm chuyện". Chuyện có tính cách ngắn
ngũi và trực diện giữa người với người.
Chữ Truyện thường được dùng trong văn viết hoặc
là đọc, hay là nói về, thí dụ: viết truyện, đọc
truyện, nói về một quyển truyện... như viết một
quyển truyện, đọc một quyển truyện, nói về một quyển
truyện,... Truyện có tính cách dài hơn, trực tiếp
giữa người và vật nhưng gián tiếp giữa người với
người.
Vài ý kiến gửi Quí vị.
NDPHUONG
(3b)Anh Nguyễn Lương Bình, TX, (CVA63) góp ý kiến
(gửi về Diễn Đàn):Thày Phụng (tôi không nhớ rõ,
hình như là Lê Hữu Phụng) dạy Việt văn CVA lớp lục
hay ngũ năm 57-58 có giải thích về sự khác biệt
giữa chuyện và truyện, cũng giống như anh Chấn viết.
Chữ "chuyện" dùng liên quan đến ngôn
từ, như kể chuyện, nói chuyện (trong lớp), lắm chuyện.
Chữ "truyện" dùng liên quan đến sách
vở, như quyển truyện, đọc truyện. Bởi khi ta thấy
2 chữ "câu chuyện" và "câu truyện",
thì chữ thứ nhất (câu chuyện) ý chỉ do ai kể lại,
còn câu truyện thì đọc từ sách.
(3c)Anh Hoàng Cơ Long góp ý kiến (gửi về Diễn Đàn):
Xin được góp ý như sau: Hồi theo học bậc tiểu học
(từ thập niên 40) tại Hà Nội, hầu như hàng tuần
học sinh phải viết một bài Chính tả Việt ngữ (hồi
đó gọi là Ám tả). Viết xong bài Chính tả, học sinh
được chuyển vở (tập) cho nhau để bắt lỗi. Bài chính
tả có chữ Chuyện hay Truyện được thầy giáo dậy rằng
học sinh viết là Chuyện hay Truyện đều đúng cả,
không bị bắt lỗi.
Từ thủa nhỏ tôi được đọc những sách truyện với
những tựa đề Chuyện Thiếu nhi, Truyện Cổ nước Nam,
Chuyện Phù Đổng Thiên Vương, Truyện Tấm Cám, Truyện
Kiều. Chữ Chuyện hay Truyện được xử dụng theo ý
thích hay thói quen của từng người xử dụng mà không
phân biệt như Chuyện Tử Tế, Chuyện Chúng Mình, Tập
Truyện Ký chọn lọc, Chuyện Một Chiếc Ải Đã Mất...
Đọc phần cước chú của Chị Nhuận sau chữ CHuyện,
Chịghi trong dấu ngoặc chữ TRuyện, thì tôi hiểu
theo hai lối. Một là ý Chị muốn nói là phải dùng
chữ TRuyện mới đúng, hai là cũng giống như chữ TRuyện.
Không biết còn có thể hiểu theo ý nào khác nữa không.
Tôi lật cuốn Việt Nam Tự điển để xem lối viết và
nghĩa của hai chữ Chuyện và Truyện. Tôi thấy chỉ
có một chữ CHUYỆN, chữ này là tiếng Việt (còn gọi
là chữ Nôm) tự điển không chua thêm lối viết chữ
nho, và được giải nghĩa là những trao đổi khi bàn
bạc cùng nhau, thí dụ nói chuyện, câu chuyện. Còn
chữ TRUYỆN được chua thêm chữ nho, chỉ có một chữ
và được giải nghĩa là "sự tích cổ hay sách
chép những sự tích cổ" Thí dụ Truyện cổ tích,
Kể truyện Kiều.
Có ý kiến của anh Chấn Võ về phát âm giọng miền
Nam, CH hay TR chính xác. Điều này thì quả nhiên
là đúng. Khi nghe một âm giọng miền Nam nói học
TRò, CHuyên TRị, CHăm sóc, TRáng kiện... là chúng
ta biết là các chữ sẽ được viết như thế nào. Tuy
nhiên khi Anh Chấn Võ đưa ra ví dụ giọng Nam nói
CHuyện cổ tích mà không nói TRuyện cổ tích thì tôi
lại thấy là tiếng Viêt có hai chữ CHuyện và TRuyện
đồng nghĩa, phát ââm khác vì cái đánh lưỡi và viết
cũng hơi khác nhau.
Tôi lại trở về thời ấu thơ là dùng chữ nào cũng
đúng và không bị bắt lỗi.
(3d)
Anh Quang Tô góp ý kiến (gửi về Diễn Đàn). Rất
tiếc người viết bài nầy không nhận được thư góp
ý của anh Phạn Hữu Độ như anh Quang Tô nói đến.
Tôi đồng ý với dẫn giải của anh Độ,và một số đồng
môn khác. Từ khi đi học từ nhỏ cho tới lớn, tôi
được biết và vẫn áp dụng như sau: chữ "truyện"
để chỉ những điều được viết thành văn, thành một
tác phẩm; còn chữ "chuyện" để chỉ những
điều được nói ra, bất thành văn. Đơn giản thế thôi.
Quang To
(3e)Anh Phạm Văn Bân góp ý kiến trên “Quán Không
Cửa” như sau:
Xin hoan hô bài các bài viết về chữ Việt; xin tiếp
tục giùm.
Tôi xin bàn góp chút xíu về tiếng "chuyện
và truyện" cho vui.
Chuyện: là tiếng Việt thuần túy, nghĩa:
§ sự việc được kể lại: chuyện cổ tích, chuyện đời
xưa
§ công việc: gây chuyện - nó chưa làm nên chuyện
gì hết - không phải chuyện đơn giản - tán chuyện
§ hàn huyên, nói chuyện, trò chuyện, chuyện vãn.
Truyện: là tiếng Hán Việt, nghĩa: việc có lớp lang,
thứ tự: truyện phim, truyện thơ, truyện ký, truyện
ngắn, truyện dài, truyện cổ tích. Người Trung quốc
phát âm tiếng truyện giữa âm CH và TR, người Việt
nói trại ra tiếng "chuyện" và dùng lẫn
lộn, rất khó phân biệt trúng trật. Thí dụ:
Đúng: chuyện cổ tích, truyện cổ tích, truyện ký
Phân biệt: không nói: gây truyện, trò truyện, truyện
vãn.Có vài tự điển phân loại hai chữ này bằng cách
định nghĩa rằng chuyện là việc kể, thuật lại bằng
lời nói và truyện là việc kể, thuật lại bằng chữ
viết thành sách.
Xin lưu ý các âm khởi đầu CH và TR dưới đây:
cha và tra, chà và trà, chác, chát, trác và trát,
chách và trách, chạch và trạch, chay, tray và trai,
chài và chày, chải, chãi, chảy, trải, và trảy, chái,
trái và cháy, chàm và tràm, chạm và trạm, chan,
tran và trang, chàng, tràn và tràng, chán và trán,
chanh và tranh, chánh và tránh, chào và trào, chảo
và trảo, cháo và tráo, chắc, chắt và trắc, châm
và trâm, chầm và trầm, trăn và trăng, chằn, chằng
và trằn, chắn và trắng, chận và trận, chật và trật,
châu và trâu, v.v...
Nhiều quá, kể không hết. Xin ngưng vì thấy... khô
khan quá, không biết có ai quan tâm chơi chữ cho
vui không. Nếu quý bạn nào quan tâm, xin cho biết,
tôi sẽ ráng gõ máy tiếp.Bân
(4)Chị Phạm Ngọc Mỹ Lan, CA, chia sẻ một kinh nghiệm
như sau (gửi thẳng đến người viết):
Đọc mục "Tiếng Việt của thế hệ con em chúng
ta (tại hải ngoại)" tôi nhớ lại một kỹ niệm
ngộ nghĩnh.
Hồi nhỏ tôi sống ở Đàlạt và chỉ biết con đường
từ nhà đến trường và từ trường về nhà, ít khi đi
đâu nên sau khi lập gia đình về SàiGòn sống mới
thấy nhiều quán, tiệm, trong đó tôi nhớ mỗi lần
đi ngang qua tiệm đó tôi lại thắc mắc: “Tiệm Sửa
Xe, Làm Đồng, Vô Dầu Mỡ.” Tôi hiểu sưả xe là người
ta sưả lại xe bị hỏng, nhưng không hiểu làm đồng
là gì vì muốn làm được ra đồng phải có nhà máy kinh
khủng lắm chứ một tiệm nhỏ xiú, nhem nhếch thế mà
làm ra đồng được thì lạ quá. Chưa hết người ta còn
làm tất cả những thứ đó mà chẳng cần dầu mỡ gì cả.
Thế mới tài chứ!Cũng tại Sài Gòn tôi hay đến làm
tóc tại một "Viện Uốn Tóc" gần nhà mà
mỗi lần đến, nhìn thấy tên "Viện" tôi
lại "lấn cấn" trong lòng mặc dù chú Há
Viện Chủ (hay Viện Trưởng?) chải tóc rất đẹp!Thế
mới biết việc "người ta cứ dùng hoài thì đúng
thôi“ cần phải xét lại một tý đấy anh Chấn ạ.
Thân kính, Mỹ L
(5)Anh Hoàng Cơ Long cũng góp ý (gửi về Diễn Đàn):Tôi
là dân Bắc kỳ 'răng đen, ăn thịt chó' (không phải
nay đâu), từ ngày vô Nam, học được nhiều lối nói,
cũng như phát âm của bà con miền Nam, cả bà con
phát âm giọng miền Trung nữa, nghe sao mà 'dễ thương
chi lạ'
(6)Anh Đặng Gia Thoại hiện ở Úc góp ý (gửi về Diễn
Đàn):
Tôi đồng ý với bạn về cái điểm chọn Việt ngữ trước
1975 để làm "căn bản" mà bàn luận. Nhưng
bạn lý luận rằng ngụy quyền Hànội thay đổi các từ
Hán Việt thành Việt nhằm cho đồng bào ở ngoài Bắc
không hiểu những lời tuyên truyền ở miền Nam thì
không hoàn toàn đúng đâu! Nếu có ý đó thì đó chỉ
là một khía cạnh nhỏ của mục đích của chúng mà thôi.
Mục đích chính của chúng là tạo cho người miền Bắc
dưới sự kiểm soát của chúng có lối "ăn nói"
khác hẳn với người ở miền Nam, nếu miền Nam gửi
biệt kích ra Bắc thì vì "nói" kiểu khác
lập tức người miền Bắc phát hiện ra ngay không phải
là "đồng chí" của họ, phải báo công an
ngay! Đó chính là lý do mà hầu hết các biệt kích
quân của miền Nam gửi ra Bắc trong thời gian đầu
sau năm 1956 đều bị bắt trọn gói chỉ sau khi tiếp
xúc với dân chúng ngay những phút đầu tiên. Sau
đó trước khi gửi biệt kích ra Bắc, các biệt kích
quân đã được huấn luyện một khóa đặc biệt tại Nha
Trang hoàn toàn cô lập với người ngoài và chuyên
học cách "nói" kiểu ngoài Bắc để khi ra
Bắc không bị "lộ" đấy bạn. Tóm lại là
ngụy quyền Hànội vô cùng thâm độc, và mưu mẹo chứ
chúng không "đơn giản" và ngây thơ như
nhiều người tưởng đâu!
(7)Tiếng Việt ở VN ngày nay.
(7a)Chị Hoàng Lệ Yến ở California góp ý kiến (gửi
riêng đến người viết)
Già Chấn ơi,
Tôi có dự vào lớp huấn luyện dậy Việt ngữ ở đây
(Cali), ông có tin rằng nhiều đôỉ thay phát khóc
lên được, tôi được học chữ TRUYỆN và CHUYỆN, và
nhiều chữ khác nữa, như chữ i = y, "lí do chýnh
đáng" how's that?!!! Tôi ngậm nguì không nổi
mà phaỉ khóc ré lên và ráng hoc tiếng Mỹ cho dễ
bề đả thông tư tưởng vậy.
Người miền Bắc bây giờ không còn thuần túy nữa,
tôi có về Bắc cách đây 7 năm, họ dùng ngôn ngữ gốc
gác của bác Hồ, pha trộn vào thành một thổ ngữ đặc
biệt cách mạng cho nên muốn bàn về tiếng Việt mến
yêu năm xưa thì còn có đường, chứ mà động đến văn
hoá ngày nay ông nhớ uống 1 lọ thuốc an thần rồi
hãy tính!!
(7b)Anh Bùi Vi Thiện góp ý kiến (gửi về Quán Không
Cửa)
Tôi không rành lắm về ngôn ngữ học, và cũng không
biết rõ lắm những thay đổi về các chữ hán việt sau
và trước năm 1954 ở ngoài Bắc. Vì thế tôi xin chỉ
được mạn phép được nêu vài nhận xét theo kiểu mắt
thấy tai nghe mà thôi. Nếu có chi lầm lẫn xin quí
bác tha tào cho. Đa tạ.
Sau năm 1975 tôi gặp lại họ hàng ở ngoài Bắc vào
Nam tôi nhận thấy những người lớn tuổi tuy có dùng
vài danh từ lạ tai, nhưng giọng nói vẫn y như giọng
của người Bắc di cư năm 1954, nhưng những người
trẻ tuổi thì the thé rất khó nghe.
Cho đến sau cuộc di cư tìm tự do sang Mỹ, tôi có
gặp vài cháu nhỏ mới sang Mỹ theo diện HO chừng
vài năm thì thấy giọng nói khác hẳn giọng của cha
mẹ cuả các cháu và đồng thời dùng khá nhiều danh
từ lạ tai
(7b)Chị Hương Kiều Loan ở Kansas góp ý kiến (gửi
về Quán Không Cửa)
Bác (Bùi Vi Thiện) nói đúng, gia đình chúng tôi
về VN 97 thăm thân nhân, thì gia đình người em họ
phía của ông xã, những người lớn tuổi tức là trên
50, nói thuần túy giọng bắc kỳ, giọng nghe sang,
có con gái học giỏi, chơi dương cầm, mà giọng thì...
đặc biệt nhà quê, nghe rất khó chịu, mặc dù cháu
mới 17 tuổi. Nhưng một gia đình khác, thì các cháu
tuổi từ 40 đến gần 60, vẫn giọng nói cũ của VN miền
bắc, nghĩa là nghe không có... kỳ kỳ...
Nhà văn Duyên Anh cũng đã có lần nói với tôi về
nhận xét giọng nói miền bắc bây giờ khác xưạ Nhất
là không còn cái về thanh lịch của thời 54, mà các
bà, các cô sẵn sàng xổ tiếng Đức nghe rất... tiếc
thay!
Nhưng chắc họ thành phần mới di tản từ miền nào
vào HàNội, chắc chắn không phải thành phần thanh
lịch của HN trước 54.
Tôi gõ với bằng hai ngón tay, nên có nhiều lỗi
chính tả xin quý vị ráng đọc, vì thời gian vào máy
không thoải mái.
(7a)Anh Nguyễn Lương Bình góp ý kiến (gửi riêng
đến người viết):
Ngoài việc CS miền bắc cố tình ngu dân, chính cán
bộ CS cũng không đủ trình độ cho nên khi họ vô miền
Nam, gặp quá nhiều kỹ thuật tiến bộ tân kỳ cho nên
mới có những từ ngữ sáng lập vội vã để gọi những
thứ mình thấy thường ngày nhưng là 1 khám phá mới
cuả những "người rừng": cái nồi ngồi trên
cái cốc, đồng hồ hai cửa sổ không người lái, v.v...
Ngoài bắc hình như phân biệt 2 chữ ô & dù.
Ô để che mưa, dù để che nắng
(8)Anh Trần Văn Lương góp ý kiến như sau:
Tôi rất sung sướng khi thấy anh cũng có ý kiến
giống tôi về những chữ do Cộng sản VN chế biến tại
miền Bắc trước 75 và tại toàn thể VN sau 1975. Thú
thật với anh tôi bị dị ứng với những "sáng
chế"quái đản này.
Khi đọc một bài mà gặp những chữ như "cụm
từ" (chữ này quả là 1 quái thai), "tản
mạn" (dùng sai nghĩa), "tham quan",
"đứa bé 6 tháng tuổi" (than ôi văn phạm!)...
thì bao nhiêuhứng thú đều bay lên mây xanh hết.
Điều đáng buồn là báo chí Việt ngữ tại hải ngoại
không biết vì lười biếng hay dốt nát mà cứ bình
tĩnh dùng các chữ quái đản này, mặc dầu lúc nào
cũng vỗ ngực chống Cộng và cảnh tỉnh mọi người về
sự xâm nhập văn hóa của Cộng sản.
Tôi rất đồng ý với anh là mình nên dùng tiêu chuẩn
tiếng Việt tại miền nam VN trước 1975 để làm căn
bản, từ đó phát triển thêm tiếng Việt một cách hợp
lý.
Xin bổ túc với anh thêm về 1 điều lố bịch của
cách chế chữ của CS: họ lấy 1 chữ kép (thường là
2 chữ) Hán Việt và bỏ đi 1 chữ, chỉ giữ lại một
chữ. Tôi xin đề ra ít thí dụ:
Đồ ngoại (thay vì đồ ngoại quốc)
Bang Texas (thay vì Tiểu bang Texas)
Tăng tốc (thay vì tăng tốc độ)
Xe tải (thay vì xe vận tải)
(9)Ông Giáo Sư từ Hànội sang
(9a)Chị Phạm Ngọc Mỹ Lan góp ý như sau (gửi về
Diễn Đàn nhưng không được posted vì không phải là
hội viên):
Trước hết tôi muốn nói đến ông "giáo sư Hà
Nội" nào đó thật là kém vì ông ấy chỉ biết
một thứ ngôn ngữ -- có thể nói là địa phương, thường
dùng ở miền Bắc -- lại đi áp đặt cho những địa phương
khác là miền Nam hay miền Trung! Ông ấy dở tôi không
ngạc nhiên vì trong system ấy thì họ như vậy mà
thôi (vì thế dân ta chưa khá được!!!). Chỉ phiền
một nỗi là làm cho con em chúng ta khi chưa nắm
vững tiếng mẹ đẻ các cháu dễ bị hoang mang (confused),
không biết phải nghe ai.
Nói đến chuyện nầy tôi lại nhớ ngay trong gia
đình tôi vì chúng tôi là gốc người Bắc nên khi nói
không phân biệt CH-TR, D-GI, S-X, I-Y v. v... mà
khi còn ở VN trong nhà người giúp việc là người
miền Nam nên các cháu bị lẫn lộn khi viết. Chúng
tôi liên lạc với nhau ngoài việc gọi phone thường
muốn các cháu viết tiếng Việt qua thư từ hoặc e-mail.
Trong một e-mail mới đây cháu viết: "Me oi,
mat chời sap lan sau đồi nha Be dep lam. Cac Gì
cac Cậu xang Be xẽ rắt các Gì các Cậu di xem!".
Đọc đến đây thì cả hai vợ chồng tôi vừa buồn cười
vừa thương con quá. Trong thư sau cháu phân trần
rằng vì Mẹ nói chữ gì Bé cứ viết ngược lại may ra
đúng! "Vi Me noi tieng Bac ma!" đó là
cách đơn giản nhất qua lý luận của cháu!
Trở lại chữ "chuyện" và "truyện"
thì (tôi là người Hà Nội xưa) nên khi đọc thì chẳng
phân biệt gì cả, đọc âm CH và TR như nhau. Nhưng
khi viết thì tôi phân biệt rất rõ. Ví dụ tôi có
thể viết mà không phải đắn đo suy nghĩ gì cả câu
sau đây: "Ô hay quá, với một câu chuyện đơn
giản như thế mà ông ấy viết thành một truyện dài
rất đặc sắc, anh Chấn đã đọc chưa?".
(9b)Anh Nguyễn Thạch Lục, VA, góp ýkiến như sau
(gửi về Diễn Đàn)
Nước Mỹ này có nhiều cái kỳ cục. Như Trường William
Joyner mướn mấy tên từ Hànội qua để làm research
về dân tị nạn VN. Nghe khôi hài. Cháu anh bị tên
giáo VC kỳ thị nam, bắc. Chúng ta nhìn vào tiếng
Mỹ và tiếng Anh có nhiều từ khác nhau. Tiếng Pháp
và Canada cũng vẫn có từ khác nhau... Hồi năm 54,
dân Hànội nói: “thằng đó càn quá." Vào trong
nam thì nói “thằng đó du đãng quá.” Yankee nói tiếng
Anh khác dân Red Neck. Nhiều khi không ai sai ai
trái. VC nói cái gì cũng đúng, chúng ta nói gì cũng
sai. Có thời VC muốn dùng toàn tiếng Việt như “máy
bay lên thẳng” thay vì trực thăng, “lính thủy đánh
bộ” (thay vì thủy quân lục chiến) nhưng nghe nó
kỳ quái lắm
(10)Cuối tháng 3/2002, anh Trần Kim Sa, NY, trước
kia là hiệu trưởng trường trung học Châu Văn Tiếp
tại tỉnh lỵ Phước Tuy, đã gửi tôi thư dưới đây,
cho thấy một thí dụ về sự thay đổi của Tiếng Việt:
từ "Quốc" đã được viết là "Quấc"
("Ấ").
Tôi vừa tình cờ đọc được tin nầy hôm nay, sao lại
gởi anh xem chơi.
"Đại Nam Quốc âm tự vị” của Huỳnh Tịnh Của
đọat giải nhất cuộc thi “Những cuốn sách vàng”
210 tựa sách quý của 52 cá nhân và đơn vị trong
cả nước đã được thẩm định và tuyển chọn trong cuộc
thi “Những cuốn sách vàng” tại TP Hồ Chí Minh. Phần
lớn các sách giới thiệu văn hóa, lịch sử, ca dao
tục ngữ, thơ văn, nghệ thuật, con người và đất nước
Việt Nam. Kết quả, 23 quyển sách đoạt giải. Giải
nhất thuộc về bộ sách “Đại Nam Quốc âm tự vị” của
Huỳnh Tịnh Của, bản in đầu tiên năm 1895, do ông
Bùi Thanh Danh lưu giữ và bộ từ điển Quốc ngữ -
la-tinh "Dictionarium Annamiticum - Latin"
của J.L.Taberd, in năm 1838 được ông Hoàng Minh
lưu giữ.Trở lại chữ của Huỳnh Tịnh Của thì tôi nhớ
lại sách của ông HTC "Đại Nam QUẤC Âm Tự Vị"
(chữ Quốc viết với "Ấ" thay vì chữ "Ố"
như người Bắc viết). Ông Huỳnh Tịnh Của tên là Paulus
Của, người Bà Rịa, Phước Tuy. Anh em giáo sư chúng
tôi đã xây dựng một trường Trung Học Bán Công Đệ
Nhị Cấp tại BR, và dùng tên ông đặt cho trường.
Ở Bà Rịa có 3 nhân vật nổi tiếng là Châu Văn Tiếp
trong Gia Định tam hùng của vua Gia Long, đặt tên
cho trường Trung Hoc ở Tỉnh, nơi tôi dạy nhiều năm
trước khi sập tiệm. Thứ đến là BS Phạm Hữu Chí,
người BS nổi tiếng Tây phải nể, đã có tên đường
cạnh bên BV Chợ Rẫy Saigon; tên ông dược đặt cho
trường Trung Hoc ở quận Long Điền cách BR độ 6km.
Người thứ ba là ông HTC. Sau 1975, tất cả đều mất
tên vì VC cho là họ có tội theo Tây.
Sau 1975, VC bỏ tên trường Huỳnh Tịnh Của, vì cho
rằng ông HTC theo Tây. Cơ sở trường nầy do anh em
chúng tôi đầu tư xây cất bị sát nhập vào cơ sở trường
Sư Phạm
(11)Các ý kiến của cước chú #11 nầy đã được gửi
về Diễn Đàn.)
Bạn Nguyễn Thanh Bình có viết là tiếng Việt không
có âm "R;" và anh Hoàng Cơ Long cho rằng
anh Bình sai với dẫn chứng "rồng, rắn"
đã có từ xưa... Đúng là "rồng, rắn" đã
có trong tiếng Việt từ ngàn xưa, nhưng có thể không
phát âm là "R" như chúng ta phát âm ngày
nay.
Anh Hoàng Cơ Long rất có lý khi viết là "R"
đã có sẳn trong mẫu tự La tinh, các nhà truyền giáo
nghe người VN phát âm "R" nên mới dùng
mẫu tự "R" để ký âm. Tôi cũng xin nói
rõ các vấn đề trong bài nầy tôi đã ấp ủ trong đầu
từ trên 20 năm nay, nhưng không có cơ hội để viết
ra, trước khi tôi đọc bài viết của hai anh Nguyễn
Thanh Bình, Hoàng Cơ Long và Đặng Gia Thoại.
(11a)Anh Nguyễn Thanh Bình góp ý như sau (theo
anh Nguyễn Thọ Chấn thì ông Nguyễn Chấn, tức Charlie
Nguyễn, của nhóm Giao Điểm mà anh Bình viết dưới
đây nguyên là Cục Trưởng Cục Quân Cụ của QLVNCH;
không phải là anh Nguyễn Ngọc Chấn tức CNN ở California
hoặc anh Nguyễn Thọ Chấn tức Sầu Đông ở Canada):
Về vấn đề "CHuyện" hay "TRuyện",
theo thiển ý chỉ có chữ "CHuyện" mà hoàn
toàn không có chữ "TRuyện" trong ngôn
ngữ Việt Nam trước thời nước ta tiếp xúc với Tây
Phương. Thực thế, trong tiếng Việt ngày xưa hoàn
toàn không có các chữ phát âm với vần R. Vần R chỉ
thấy có trong chữ Quốc Ngữ, tức thứ chữ do bọn cha
cố áo đen sáng tạo ra khi đến VN với mục đích truyền
đạo và cướp nước ! Chứng minh??
1- Nếu xét về gốc Hán tự của các dòng họ VN và
Trung Hoa ta sẽ thấy chữ "Chan" (hay "Chen")
của Tàu chính là chữ "Trần" của VN. Thế
thì tại sao khi transcribe bằng mẫu tự La Tinh,
thì người Tàu lại viết CH, còn VN ta thì viết TR??
Về các họ TRương và TRang cũng tương tự như vậỵ
2-Theo CVA Nguyễn Chấn (tức Charlie Nguyễn), tác
giả 2 cuốn sách nổi tiếng "Công Giáo: Huyền
Thoại và Tội Ác" và "Công Giáo bên bờ
vực thẳm" (có thể xem trên http://www.giaodiem.com),
các cha cố Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và Phú Lang
Sa đã đến VN truyền đạo khởi đầu là ở Bùi Chu và
vùng phụ cận vào năm 1430 (và gia đình tổ tiên anh
là những người đầu tiên "rửa tội"!). Và
như phần lớn chúng ta đều biết, vùng Công Giáo Bùi
Chu /Phát Diệm là nơi tập trung phần lớn các người
nói ngọng và nói uốn lưỡi.
Các cha cố Tây Phương này tìm cách ghi âm tiếng
Việt (mà họ phải nghe từ những người ngọng và người
nói uốn lưỡi này) bằng mẫu tự La Tinh, và coi đó
là “tiêu chuẩn” của ngôn ngữ VN. Do đó, mấy thế
kỷ sau, khi người Pháp đã chiếm trọn nước ta – nhờ
sự trợ giúp đắc lực của bọn cha cố áo đen và đám
tay sai VN -- thứ chữ này trở thành Quốc Ngữ thì
tự nhiên ngôn ngữ VN bị biến đổi theo kiểu nói uốn
lưỡi, và do đó chúng ta mới có vần R trong mẫu tự.
Trên đây chỉ là vài suy luận (và speculation) thô
thiển của riêng tôi chứ không có trong sách vở nào
khác. Nhưng tôi cũng xin đa tạ quý vị nào có thể
chứng minh ngược lại là tôi sai!
(11b)Chị Nhuận góp ý như sau:
Tôi xin bàn góp :
Vùng Bùi Chu, Phát Diệm vốn thuộc huyện Kim Sơn,
do ông Nguyễn Công Trứ đắp đê ngăn nước mà tạo nên.
Ông Nguyễn Công Trứ làm quan nhiều nhất với vua
Tự Đức tức là quãng giữa thế kỷ 19 (vua Gia Long
lên ngôi năm 1802).
Vậy thì Bùi Chu Phát Diệm có sau khi các cố đạo
Gia Tô La Mã tập viết tiếng ta theo mẫu tự la- tinh
(11c)Anh Hoàng Cơ Long góp ý như sau:
Mới đây, được đọc một số ý kiến của Đồng môn NTBình,
tôi thấy anh Bình đã dùng cái gọi là 'Chuyện hay
Truyện' như một nhịp cầu để đưa ra một đề tài mà
tôi tạm gọi là 'R và TR', hay 'Phát Riệm và Con
Tâu Tắng'
Trước khi vào đề, tôi xin có điều thưa cùng Chị
Nhuận. Số là khi thấy Chị nhắc lại rằng G.S. Nghiêm
Toản đã dậy là nói một câu chuyện và đọc một truyện.
Chỉ mấy chữ Chị nhắc lại làm cho tôi bừng nhớ những
ngày học lớp Việt văn Thầy Toản. Tôi cũng là một
môn đồ của thầy Toản. Tôi đã vắng mặt giờ Thầy giảng
về 2 chữ này, trốn học Chị ạ. Ngày xưa ở Hà Nội,
vào những năm Một Nghìn Chín Trăm 'lâu lắm rồi’,
còn có thể nói là vào những năm thuộc tiền bán thế
kỷ trước, lớp Việt văn của G.S. Nghiêm Toản được
đông đảo học sinh theo học. Lớp được mở tại tư gia
của các G.S. Bùi Hữu Đột, dậy Toán, và Bùi Hữu Sủng,
dậy Pháp văn, tại Phố Hàng Bè. Có tới 70 trò chen
nhau trong một phòng học hẹp, giới quần hồng chỉ
có 4 Chị và các Chị độc chiếm bàn đầu. Chúng tôi
biết qúy danh các Chị, Chị Nhuận, Chị Ly không phải
vì các Chị cho tên mà do Thầy Toản khi diễn giảng
thường hô tên qúy Chị, không để thêm mắm thêm muối
vào lời dậy mà để thêm hương thêm sắc cho học trò
dễ nhập tâm. Vậy mà lời Thầy dậy thì mau quên còn
tên qúy Chị thì lại dễ nhớ.
Sau khi một chút 'lung khởi’ tôi xin được thưa
chuyện cùng Anh NTBình về R và TR. Anh cho rằng
trong ngôn ngữ Việt Nam, trước thời nước ta tiếp
xúc với Tây phương, 'chỉ có chữ CHuyện mà hoàn toàn
không có chữ TRuyện'. Tôi phải xin thưa ngay là
Sai Anh ạ, nhưng tôi xin không bàn về điều này,
để đề cập tới đề tài chính Anh muốn nói.
Sau khi đưa ra điều quả quyết như vậy, Anh viết
'Thực thế, trong tiếng Việt ngày xưa hoàn toàn không
có chữ phát âm với vần R. Xin thưa với anh là Sai
Anh ạ. Trong ngôn ngữ tổ tiên ta có những chữ Rồng,
Rắn (con rắn), Dắn dỏi. Những chữ này không phải
là chữ Hán (chữ nho). Vậy khi nói tới những chữ
này tổ tiên ta đã phải phát âm khác nhau để phân
biệt, cho nên khi muốn diễn tả tiếng nói thành chữ
viết thì mẫu tự La tinh có chữ R mới có thể diễn
tả được âm uốn lưỡi.
Rồi Anh viết tiếp 'Vần R chỉ thấy trong chữ Quốc
Ngữ, tức thứ chữ do... (tôi xin phép bỏ 5 chữ) sáng
tạo’ù. Nói vần R chỉ thấy trong chữ Quốc Ngữ là
nói Sai, chính xác thì phải nói chữ R đương nhiên
là 1 trong 23 chữ cái trong vần Việt ngữ mà không
phải là chỉ thấy, vì chữ R còn là một trong 26 chữ
mẫu tự La tinh. Tôi xin dùng chữ Pháp để chuyển
ngữ chữ quốc ngữ, langue nationale Anh ạ. Quốc ngữ
nghĩa là ngôn ngữ của một quốc gia, của một dân
tộc. Quốc ngữ của chúng ta là Việt ngữ. Tôi xin
đan cử một thí dụ về chữ 'quốc ngữ'. Trong Hiến
pháp của Phi Luật Tân quy định rằng quốc ngữ của
Phi Luật Tân là Tagalog và Anh ngữ. Khi các vị giáo
sĩ truyền đạo ở nước ta, để diễn tả ngôn ngữ Việt
bằng văn tự, qúy vị giáo sĩ đã lấy 26 chữ mẫu tự
La tinh, bỏ đi 4 chữ g, j, w, z, thêm vào chữ Đ,
tạo thành 23 chữ cái vần Việt ngữ. Chúng ta nói
là vần quốc ngữ cũng được. Nếu vì nhu cầu truyền
giáo, qúy vị giáo sĩ đã tạo ra vần Việt ngữ thì
đúng, xong công việc này đã là một công trình mà
dân ta được hưởng lợi, hiển nhiên là nhờ vậy mà
giữa Anh và tôi, chúng ta đang dùng văn tự do các
giáo sĩ truyền giáo đặt ra để trao đổi với nhau
đấy chứ. Tượng Alexandre de Rhodes và đường phố
mang tên 'Người’ tại Sài Gòn, có phải là để nói
lên đạo lý của dân ta không Anh?
Sau khi đưa ra điều gọi là tiếng Việt xưa không
có chữ phát âm R và vần R chỉ thấy có trong chữ
Quốc Ngữ, Anh Bình chứng minh.
Thứ nhất anh chứng minh bằng dựa trên gốc Hán tự
của các dòng họ VN và Trung Hoa. Anh nhận xét rằng
chữ Chan hay Chen của Tàu chính là chữ Trần của
VN. Rồi anh hỏi, vậy sao khi dùng mẫu tự La tinh
chuyển âm thì người Tàu lại viết CH, còn VN ta thì
viết TR. Anh chứng minh điều gì, Anh nêu lên câu
hỏi mà không giải đáp.
Tôi lại xin thưa với anh là chính ngay những điều
Anh nêu lên để hỏi cũng là những điều Sai. Thưa
anh người Tàu dùng mẫu tự La Tinh để chuyển âm chữ
có phát âm Chen là Chen, còn chữ Trần khi dùng mẫu
tự vần Việt ngữ thì được viết là Trần. Hai chữ Trần
và Chen đều cùng một mặt chữ Hán, xong Tàu phát
âm khác Việt phát âm khác. Có vậy thôi. Thực ra
đối với câu hỏi: Tàu là CH sao Việt lại là TR, thì
câu trả lời, có thể đơn giản như sau: Thây kệ Tàu,
nó phát âm rồi mượn mẫu tự La tinh để viết thành
Chen, thành Chó, thành Chí, thành Chấy thì đó là
việc của người Tàu, can chi mà ta thắc mắc. Phải
làm như người Tàu mới phải phép sao. Thưa Anh Thanh
Bình, tôi xin thú nhận là khi đọc qúy danh của Anh
tôi có một cảm giác nhẹ nhàng và êm đềm làm sao,
riêng đối với tôi chữ Bình còn là cả một mơ ước.
Chữ Bình cũng là tên với lối viết chữ Tàu, người
Tàu mượn mẫu tự La Tinh đển phiên âm thành Ping
(một cán bộ Tàu cộng với tên đọc âm chữ Tàu là Bạch
Bình Bình, được Tàu phiên âm thành Pai Ping Ping).
Giờ đây nếu phải theo lối người Tàu để gọi Anh Bình
là Anh Ping, thì thưa anh riêng tôi, tôi khổ lắm
Anh ạ. Tôi nghĩ lan man giả thử một người yêu của
Anh viết thư cho Anh, khi Nàng đặt câu mở đầu tràn
đầy tha thiết 'Anh Ping yêu quý, hay Chị nhà viết
thư cho Anh với hàng chữ mở đầu 'Mình Ping yêu dấu’ù,
hay 'Cưng Ping dấu yêu’ù, tôi không biết là bức
thư được tiếp nối và được tiếp nối bao hàng.
Điều chứng minh thứ hai, Anh Bình đã cẩn thận đưa
ra 'hai cuốn sách nổi tiếng' và còn cẩn thận cho
bà con hay địa chỉ website để có thể xem. Đưa ra
sách nổi tiếng để cho bà con hay là sách nói rằng
'... VN truyền đạo khởi đầu là ở Bùi Chu và vùng
phụ cận vào năm 1430' Anh cho hay là điều mà 'phần
lớn chúng ta đều biết, vùng công giáo Bùi Chu/Phát
Diệm nói ngọng và nói uốn lưỡí
Tôi xin thưa cùng anh là, điều Anh trích dẫn 'sách
nổi tiếng' nói việc truyền đạo khởi đầu ở Bùi Chu
vào năm 1430, tôi e rằng nói năm 1430 là 'sách nổi
tiếng' nói sai, hay anh trích dẫn sai. Thành thử
cả hai sách và Anh đều Sai cả. Hai Không thì thành
Có, nhưng Hai Sai thì vẫn chỉ là Sai mà thôi. Bà
con vùng Thái Bình nhiều người còn nói Sái Bình,
vùng Bùi Chu/Phát Diệm nói Phát Riệm. D, GI phát
âm uốn lưỡi thành R tuốt luốt. Anh cho rằng bà con
nói ngọng, các giáo sĩ truyền đạo đã phải lấy vần
R để chuyển ngữ, và coi đó là chuẩn của ngôn ngữ
VN. Anh cho rằng việc xử dụng chữ R để chuyển ngữ
trong việc truyền đạo, để rồi 'do đó mấy thế kỷ
sau người Pháp chiếm trọn nước ta’ù và Anh kết tội
là do các giáo sĩ truyền đạo dùng chữ R vì dân nói
ngọng, thứ chữ này trở thành quốc ngữ. Những điều
Anh quy kết nó không liên quan gì tới nhau hết.
Tôi thì nghĩ rằng ta mất nước vào tay người Pháp
vào thời gian thế kỷ thứ 19 chỉ vì vua quan ta hèn
yếu thiển cận, dân ta thì yếu nhược, cảnh mất nước
nhà tan sao tránh được.
Chuyện vì bà con nói ngọng, uốn lưỡi, Phát Riệm,
cũng không hoàn toàn đúng đâu Anh ạ. Vùng Sấu giá,
vùng đồng chua nước mặn, cũng thuộc Thái Bình, bà
con ta lại không nói uốn lưỡi được, thí dụ con Trâu
thì nói Con Tâu, cho nên có những câu bà con ta
diễu bà con ta như sau 'Con Tâu Tắng đứng ở Bụi
Te’.
Trong khi phát biểu ý kiến, có thể có những lời
lẽ không lọt tai Anh, tôi xin Anh bỏ qua đi cho.
Tôi cũng xin lỗi các đồng môn trên diễn đàn, đã
nhận được mail này làm cho hộp thơ nặng thêm, hoặc
loại đề tài này không hợp 'khẩu vị' thì xin một
giây, quý Anh Chị delete đi.
(11d)Anh Đặng Gia Thoại cũng góp ý như sau:
Tôi tuy không hoàn toàn đồng ý với anh Bình về
tất cả các nhận xét và suy luận của anh ấy nhưng
tôi thấy ý kiến (của anh Nguyễn Thanh Bình) nói
rằng trước đây "có thể" tiếng Việt "cổ"(old)
của ta không có "xài" vần uốn lưỡi "R"
rất đáng lưu ý vì ngày xưa tôi có dịp đi khá nhiều
vùng quê khác nhau ở Miền Bắc VN tôi đã thấy quả
thực người nông dân VN ở nhiều vùng khi phát âm
chữ con rắn thì phát âm không uốn lưỡi chữ Rắn thanh
"dắn", con rồng thì thành con "dồng"
v..v.. nhận xét của anh Bình có phần có lý chứ không
phải sai đâu anh Long ơi...
(11e)Chị Nhuận góp thêm ý như sau:
KG anh Thoại
Vâng đúng đấy. Người Thăng Long không uốn lưỡi
khi nói vần "R" cũng như không nói "Này"
thành "Lày", "Nói" thành "Lói",
hay "tâu tắng " (trâu trắng), "sế
sì " (thế thì)... như người 1 số vùng thôn
quê.
nhdokhac
(12)Anh Nguyễn Lê Tiến bàn thêm (gửi về Diễn Đàn):
Âm R và L có lẽ ngày xưa là một. Dấu vết còn trong
chữ Nôm. Thí dụ chữ "Trong" được viết
: chữ Long (rồng) + chữ trung (giữa). ( Chữ "long"
biểu âm còn "trung" là biểu ý).
Chữ "Trăng" (mặt trăng) được viết : "Ba"
(sóng) + "Lăng." Thời xưa như vậy đọc
là "BLăng." Trường hợp này như chữ "BLỜI"
biến thành "TRỜI" vậy. Bởi thế trong kinh
công giáo còn gọi là "đức chúa lời."
Theo nhiều nhà nghiên cứu tiếng Việt xưa có nhiều
phụ âm như BL, KL, KM, KN.. vân vân. Sau mất dần
đi, chỉ còn ph, tr.. TR thì cũng đang "mất"
đấy. Chỉ người Trung và Nam còn giữ. Người Bắc biến
thành mặt chăng, mặt chời ! ông giăng !
(13)Xin bạn đọc xem bài viết rất công phu về "Khái
Niệm Tạo Chữ Mới Cho Tiếng Việt (Ngày Nay)"
của anh Phạm Văn Bân.
(14)Theo anh Phạm Văn Bân (trong một thư gửi thân
hữu khoảng cùng thời gian tôi gửi từng phần của
bài viết nầy về Diễn Đàn),
Người Trung quốc không bao giờ nói Hán Văn mà họ
nói Hán Tự (hanzi, chữ Hán vì chữ đang dùng là của
chủng tộc Hán lập ra) và Trung Văn (Zhong Wen, văn
của Trung quốc, bao gồm chủng tộc Hán và các chủng
tộc khác của Trung quốc).
(15)Đây là một lối nói lái thật đơn giản (chán
chưa, chưa chán, chứa chan, chan chứa). Theo tôi
thì hay chữ "chứa chan" và "chan
chứa" không có gì khác biệt cả, ngoài việc
"Chứa Chan" còn là tên một núi nhỏ ở tỉnh
Biên Hòa (nay gọi là tỉnh Đồng Nai).
Tuy nhiên có người nói "chan chứa" nhấn
mạnh ở "chan" (đỗ vào, như chan canh vào
chén cơm), và "chứa chan" nhấn mạnh ở
"chứa" (chứa đựng sẳn rồi, không phải
đỗ thêm mới tràn trề). Thí dụ, “Lòng đức Phật chứa
chan tình thương yêu nhân loại bị vướng vào vòng
Sinh Lão Bệnh Tử;” nhưng “Cảnh khốn khổ của của
người đời trong vòng Sinh Lão Bệnh Tử làm lòng đức
Phật chan chứa nỗi thương yêu...”
(16)Xin trích một bài viết mới đây của Anh Phạm
Văn Bân cho các bạn muốn nghiên cứu thêm. Xin cảm
ơn anh Bân. (Anh Bân gửi thân hữu bài viết nầy sau
loạt bài tôi gửi về Diễn Đàn.)
Gần đây có vài bạn bàn về chữ "tham quan"
theo nhiều góc cạnh khác nhau. Đây là một thí dụ
điển hình về sự rắc rối trong tiếng Việt, tạo ra
rất nhiều ngộ nhận, đã và sẽ tiếp tục xảy ra không
những trong đời tôi mà sẽ còn xảy ra trong nhiều
đời sau. Vì thế, tôi muốn bàn thêm vấn đề này trong
tính cách khách quan của một người biết chút ít
về tiếng Việt và tiếng Hán. Nếu thiếu sót hoặc vô
tình gây sự bất bình của bất cứ quan điểm nào của
bất cứ ai thì tôi xin lỗi và mong tha thứ cho. Xin
tạ tạ.
Trong tiếng Việt, dù muốn dù không, sự thật khách
quan là chúng ta phải mượn tiếng Trung quốc quá
nhiều! Có hai cách mượn : hoặc mượn và phát âm y
như tiếng Trung quốc, hoặc mượn nhưng đọc trại ra
âm gần giống âm Trung quốc, gọi là tiếng Việt có
gốc Hán hay tiếng Hán Việt.
Do đặc điểm đồng âm, dị nghĩa mà nguyên nhân chính
là vì có cấu tạo độc âm nên muốn phân biệt nghĩa
của tiếng Việt và Hán thì chỉ có cách duy nhất là
lắng tai nghe nội dung (context) của câu chuyện
mà xác định nghĩa của tiếng được nói ra. Tôi xin
miễn bàn về giọng nói vì người ta có thể sử dụng
giọng nói để làm trái hẳn nghĩa của chữ được nói
ra (tức trường hợp nói mỉa mai, xỏ xiên bóng gió,
cười khẩy, cười khi dể, na ná như người đàn bà nói
"Ghét anh thấy mồ" nhưng thực ra có nghĩa
là "Yêu anh lắm", v.v...) Tiếng đồng âm,
dị nghĩa nhiều vô số kể trong tiếng Việt và Hán,
tùy theo trình độ mà người ta sử dụng theo chủ quan
của họ : chính trị, thuần túy ngôn ngữ học, viết
văn, làm thơ, v.v... Cần lưu ý rằng ngày nay, tiếng
Việt được viết theo kiểu chữ biểu âm (nói sao, viết
vậy) nên khi gặp tiếng đồng âm thì rất khó xác định
nghĩa; trong khi tiếng Hán viết theo kiểu chữ biểu
nghĩa nên không vấp phải khổ nạn này. Thí dụ : khi
tôi hỏi một số bạn về nghĩa của chữ tân trong câu
"vợ chồng phải tương kính như tân" thì
đa số trả lời : tân nghĩa là mới (vợ chồng phải
tương kính nhau như lúc mới lấy nhau.) Thực ra,
tân là chữ Hán Việt, phải học chữ Hán và phải đọc
câu này viết bằng chữ Hán thì mới biết chữ tân có
nghĩa là khách, nghĩa là phải kính trọng lẫn nhau
như tiếp đãi một người khách quý.
Bây giờ thử lấy chữ "tham quan" trong
câu : "Tôi đi du lịch San Francisco và dự định
sẽ tham quan buổi đại hội Thụ Nhân 2002" và
"Ngày xưa, tham quan ô lại thường bị xử án
gắt gao." làm thí dụ.
Truy về nguồn gốc thì tất cả bốn chữ tham quan
nêu trên đều là tiếng Hán chứ không phải là tiếng
Việt, không phải của Việt Cộng (Pinyin : Yuè Gòng,
Cộng Sản Việt Nam) cũng không phải của Việt Nam
Cộng Hòa (Pinyin : Yuè Nán Gòng Hé). Trong thực
tế chữ nghĩa Việt Nam, cứ hễ "phe địch"
xài chữ nào thì "phe ta" lại cố gắng xoay
sở kiếm chữ khác để xàị Tự bản thân chữ có nghĩa
riêng của nó; vấn đề là con người bóp méo, diễn
giải sai hoặc "hiếp" chữ nghĩa làm sự
việc rối bời. Đôi khi vì quá khích, người ta khỏi
suy xét lôi thôi : phàm cái gì của "phe địch"
thì đều sai, trật, xấu cả còn của "phe ta"
cho dù tệ hại đến đâu cũng đều hay, tốt cả. Quan
điểm của tôi là nếu nó là con mèo thì cứ gọi là
con mèo, không nên nhét cái chủ quan của mình vào
sự việc. (Tục ngữ Pháp : appeler le chat par son
nom). Trăm người, trăm ý cho nên tùy từng người
nhận thức, tôi không muốn lạm bàn.
Chữ Hán không phân chia tự loại như tiếng Anh,
Pháp mà chỉ chia ra làm hai loại chữ mà thôi : thực
tự và hư tự. Tuy nhiên, để dễ hiểu thì các bạn có
thể xếp chữ "tham quan" trong câu đầu
là động tự và "tham quan" trong câu sau
là danh tự.
Trong chữ Hán, tất cả bốn chữ tham quan trong
hai câu trên đều viết khác nhau với nghĩa khác nhau
hoàn toàn.
Trong câu "Tôi đi du lịch San Francisco và
dự định sẽ tham quan buổi đại hội Thụ Nhân 2002",
nghĩa của các chữ Hán như sau:
Du : (you) thuộc bộ Thủy (nước) : bơi lội, rong
chơi, nhàn tản, hay di chuyển (thượng du, hạ du,
du hí, du thuyền, du đãng, du lãm, du lịch, du khách,
du mục, du thuyết, ngao du, du học, du ngoạn, du
di, v.v...)
Lịch : (lì) thuộc bộ Chỉ (ngưng lại) : từng trải,
vượt qua (lịch trình, người lịch lãm, Nguyễn Công
Trứ : Chơi cho lịch mới là chơi)
Du lịch : đi chơi xa để biết phong cảnh.
Tham : (can) thuộc bộ Khư (chén ăn cơm) : gia nhập
vào, yết kiến, nghiên cứu (tham gia, tham mưu, tham
tán, tham dự, tham chính, tham chiến, tham kiến,
tham yết, tham khảo, tham luận, tham chiếu, tham
nghị, v.v...)
Quan : (guan) thuộc bộ Kiến (con mắt, thấy) : xem
xét, quan niệm, quan điểm, Quan Thế Âm Bồ Tát (quan
sát, tẩu mã quan hoa nghĩa là cưỡi ngựa xem hoa,
khách quan, chủ quan, lạc quan, bi quan, thế giới
quan, v.v...)
Tham quan : tham gia xem tận mắt, hàm ý nghiên
cứu, khảo sát một cái gì đó. Xin lưu ý rằng hai
chữ "du lịch" và "tham quan"
ở đây có nghĩa khác nhau, không phải là hai tiếng
đồng nghĩa.
Trong câu "Ngày xưa, tham quan ô lại thường
bị xử án gắt gao.", nghĩa của các chữ Hán như
sau:
Tham : (tan) thuộc bộ Bối (con sò) : ham, hám,
phàm người nào mong muốn không giới hạn và không
biết đủ thì gọi là tham; ăn hối lộ cũng gọi là tham.
(tham lam, tham nhũng, tham quan, tham quyền cố
vị, tham sinh úy tử, tham vọng)
Quan : (guan) thuộc bộ Miên (mái nhà) : viên chức
của triều đình (quan liêu, quan cách, cơ quan, sĩ
quan, tiếng Quan Thoại)
Ô : (wu) thuộc bộ Thủy (nước) : nước đọng lại,
dơ bẩn (ô nhiễm)
Lại : (lì) thuộc bộ Khẩu (cái miệng) viên chức
giúp việc cho quan
Tham quan ô lại : cả bọn nhà quan và viên chức
giúp việc ăn hối lộ, tham nhũng dơ bẩn.
Theo tôi quan sát, trong khoảng 50 năm gần đây,
thì hầu hết người Việt học viết chữ Hán chứ không
phải học nói tiếng Hán bởi vì cách học của họ là
viết chữ Hán nhưng đọc thì đọc theo âm Hán Việt,
không đọc theo âm chính thức Mandarin (tức Quan
Thoại hoặc các giọng khác như : Ngô, Khách Gia,
Mân, Việt, Cám, Tương, v.v...) Như vậy, có thể nói
rằng người Việt đã tạo ra một hệ thống nói tiếng
Hán riêng (gọi là Hán Việt) mà người Hán không thể
nghe và hiểu được. Kể ra thì hiện tượng này rất
kỳ quái! Trước nay 50 năm, có lẽ đa số tiền nhân
của chúng ta cũng học như thế. Thí dụ : học viết
chữ "sách", nhưng đọc là "thư"
thay vì đọc giọng Quan Thoại là "shu".
Do cách học như vậy nên dù "thâm Nho, Hán rộng"
đến đâu đi nữa vẫn có thể gây ra lỗi lầm nghiêm
trọng. Thí dụ : tác giả Phạm Tất Đắc viết cuốn sách
có tựa đề là "Văn Pháp Chữ Hán (cổ Hán Văn)",
trong đó chủ yếu là dùng khuôn mẫu của hệ thống
ngữ pháp của tiếng Pháp mà áp dụng vào tiếng Trung
quốc. Tác giả không hẳn bỏ đi cách phân loại thực
tự và hư tự truyền thống trong ngữ pháp Trung quốc,
nhưng thay vào đó là cách phân loại Hán tự thành
danh tự, tĩnh tự, động tự, v.v... Đây là tác phẩm
rất có giá trị về ngôn ngữ học, soạn thảo kỹ lưỡng
nhưng rất tiếc là khi đối chiếu cái tựa bằng chữ
Việt "Văn Pháp Chữ Hán (cổ Hán Văn)" với
cái tựa bằng chữ Hán "Hán Văn Văn Pháp"
được in ngay phía dưới thì nghĩa không ăn khớp với
nhaụ Người Trung quốc không bao giờ nói Hán Văn
mà họ nói Hán Tự (hanzi, chữ Hán vì chữ dang dùng
là của chủng tộc Hán lập ra) và Trung Văn (Zhong
Wen, văn của Trung quốc, bao gồm chủng tộc Hán và
các chủng tộc khác của Trung quốc). Người Trung
quốc có dùng tiếng Văn Pháp, Ngữ Pháp nhưng không
nói tiếng Văn Phạm. Tôi không biết vì sao người
Việt lại dùng chữ Văn Phạm.
Do không học cách nói tiếng Trung quốc nên không
nhận thức rõ ràng ý nghĩa và cách dùng chữ Hán.
Thí dụ : người Việt nói: đi biểu tình với nghĩa
là bày tỏ ý chí, nguyện vọng về việc nào đó. Tiếng
biểu tình là tiếng Hán, nghĩa là bày tỏ cái tình
ở bên trong ra. Người Trung quốc dùng tiếng biểu
tình trong trường hợp nói đến một người nào đó tỏ
ra vẻ mặt mừng, giận, thương, vui, yêu, ghét, muốn
- gọi là thất tình. Khi đi biểu tình, họ không nói
đi biểu tình mà nói : đi thị uy.
Một thí dụ khác là tiếng khốn nạn. Đây cũng là
tiếng Hán, chỉ có nghĩa là gặp hoạn nạn khó khăn.
Người Trung quốc dùng tiếng này với ý nhẹ nhàng
và bình thường thôi nhưng trong tiếng Việt lại mang
một ý rất nặng (truyện Les misérables được dịch
là Những kẻ khốn nạn) hoặc mang thêm nghĩa chửi
rủa như : hèn mọn, hèn nhát, đê tiện (đồ khốn nạn!).
Có thể vì hay dùng để chửi nên tiếng khốn nạn mất
đi cái nghĩa nhẹ nhàng ban đầu chăng?
Ngày nay, việc học Hán ngữ khó khăn hơn ngày xưa
rất nhiều! Lý do là vì vào năm 1951, Trung Cộng
tạo ra hai hệ thống chữ gọi là giản thể tự (tức
là bỏ bớt nét của chữ Hán cổ truyền, còn gọi là
phiền thể tự) và Pinyin (tức là hệ thống biểu âm
tiếng Hán, viết bằng kiểu chữ a b c, na ná như chữ
Việt đang viết.) Về phía Đài Loan thì vẫn dùng phiền
thể tự và đồng thời cũng tạo ra một hệ thống chữ
song song, gọi là hệ thống Bopomofo (dùng những
ký hiệu trông rất lạ mắt). Khi đi học, học sinh
ở Trung Hoa lục địa cũng như ở Đài Loan đều phải
học cùng một lúc hai hệ thống chữ do chính phủ của
họ đặt rạ Sau gần 50 năm cưỡng ép sử dụng, người
Trung Hoa lục địa không còn đọc được chữ Hán viết
kiểu phiền thể; và rất có thể kiểu chữ giản thể
dần dần sẽ bị đào thải để chỉ còn kiểu chữ Pinyin
mà thôị Nếu cả tỉ người Trung Hoa lục địa chỉ biết
giản thể tự và Pinyin thì muốn hay không muốn, vài
trăm triệu người Trung quốc yêu thích kiểu chữ phiền
thể tất nhiên phải bị yếu thế. Tuy nhiên, đó là
chuyện của người Trung quốc.
"Chuyện" của người Việt học Hán ngữ
khổ tâm hơn! Thường thì trước hết, họ phải học viết
chữ Hán (phiền thể tự) theo kiểu chữ Khải là loại
chữ đã có từ cuối đời nhà Hán, khoảng năm 180 sau
Tây lịch, nhưng vẫn còn dùng cho đến ngày nay. Chữ
Khải là loại chữ "ngang bằng sổ thẳng",
còn gọi là chữ Chân; nếu viết nhanh gọi là chữ Hành,
viết bay bướm gọi là chữ Thảo. Đó là phần căn bản
về viết. Còn về phần đọc thì thầy dạy cách đọc trại
Hán Việt chứ không dạy đọc theo giọng Quan Thoạị
Nói cách khác, đây là cách học Hán ngữ do người
Việt dạy. Ai tò mò thì phải tìm thầy để học nói
tiếng Quan Thoạị Muốn áp dụng kiến thức Hán học
vào việc tìm hiểu tiếng Việt thì bắt buộc phải thông
thạo ít nhất là hai hệ thống tiếng nói : Hán Việt
và Quan Thoại.
Mỗi món "ăn chơi" vừa điểm qua ở trên
đều phải tốn công học, học món nào thì biết món
đó, không học thì tất nhiên không biết. Tôi thiển
nghĩ để học tường tận tiếng Hán là việc rất khó,
khó hơn học tiếng Anh, Pháp cả chục lần!
Việc mượn tiếng để sử dụng là việc thông thường
cho mọi ngôn ngữ trên thế giới, trong đó "ông
tổ" của ngôn ngữ không tới 10 "người"
nhưng "con cháu" thì có hơn trăm tiếng
nói và chữ viết khác nhau. Do không tìm hiểu về
lịch sử ngôn ngữ học nên khi mượn tiếng Hán, một
số người Việt suy nghĩ sai, tự ái không căn cứ,
lấy làm xấu hổ và tìm cách sửa đi. Chính vì thiếu
hiểu biết một cách có hệ thống về chữ Hán, tiếng
Quan Thoại, tiếng Hán Việt, tiếng Việt thuần túy
cho nên ngày nay chúng ta cứ cãi vã và thắc mắc
về chữ và tiếng Việt.
Người Trung quốc nói : "Nội Khoa, Ngoại Khoa,
Truyền Nhiễm Khoa, Ngoại Ngữ Học Viện" nhưng
người Việt đổi trật tự chữ (word order) thành "Khoa
Nội, Khoa Ngoại, Khoa Truyền Nhiễm, Học Viện Ngoại
Ngữ". Điều này nghe kỳ lắm, giống như thay
vì giữ đúng cấu trúc ngữ pháp gốc "bạch mã"
thì lại đổi thành "mã bạch". Trong trường
hợp quả thực không có tiếng Việt thuần túy để thế
hoặc dịch ra nghe "nôm na" quá thì việc
đảo trật tự chữ đưa đến tình trạng hỗn độn về nguyên
tắc ngữ pháp. Lấy chữ "Ngoại Kiều Cục"
làm thí dụ. Sau 1975, người ta dịch và treo tấm
bảng to tướng : "Phòng Công Tác Người Nước
Ngoài" Tiếng "phòng, công, tác, ngoài"
là tiếng Hán, chỉ có hai tiếng "người, nước"
là tiếng Việt thuần túy. Nếu mục đích là dùng tiếng
Việt thuần túy càng nhiều càng tốt thì thí dụ này
cho thấy người ta không biết người ta đang làm cái
gì. Thí dụ khác khi dịch chữ "thủy quân lục
chiến" Việt Cộng dịch là "lính thủy đánh
bộ", phân nửa là tiếng Hán, phân nửa là tiếng
Việt. Tôi nghĩ chỉ có hai cách dùng chữ đúng : một
là giữ nguyên cấu trúc Hán Việt, hai là, may quá
tôi có chữ Việt thuần túy để dịch, "lính nước
đánh đất". Thế nhưng "lính thủy đánh bộ,
lính nước đánh đất" nghe lỉnh kỉnh, không sang
nên có lẽ phải quay trở về... thủy quân lục chiến.
(Xin xem thêm bài "Khảo tiếng Hán Việt"
đã viết).
Không có gì sai với khuynh hướng dùng tiếng Việt
thuần túy để thay tiếng Hán Việt khó hiểu nhưng
không nên quá cực đoan, miễn cưỡng thay tiếng Hán
nếu như tiếng Hán đã được Việt hóa và trở nên phổ
thông rồi.
Tiếng Hán được mượn và dùng quá lâu đời nên có
thể gọi là đã thành tiếng Việt (Việt hóa). Cái hay
của người Việt là ở chỗ chúng ta thiếu tiếng nên
mượn tiếng Hán và biến thành tiếng của mình tự nhiên
đến nỗi không cần học tiếng Hán mà vẫn hiểu tiếng
Hán. Thí dụ trong câu : "Tạp chí XYZ thông
báo đồng bào Việt Nam hải ngoại biểu tình ở Tiểu
Saigon phản đối Cộng Sản chà đạp nhân quyền".
Tôi thiển nghĩ người Việt Nam nào có trình độ Trung
học trở lên đều hiểu nghĩa của câu này. Cả câu chỉ
có hai chữ thuần túy Việt Nam là "ở và chà",
chữ "Saigon" có thể là chữ có gốc Cambodia,
còn tất cả các chữ khác đều là chữ Hán đã được Việt
hóa.
(17)Anh Phạm Văn Bân góp (gửi thẳng đến người viết):
Đúng vậy, tiếng quan thoại là tiếng chính; còn
các tiếng khác là tiếng địa phương. Tiếng quan thoại
cho mình bằng cớ chính xác nhất về việc mượn tiếng
Hán theo nguyên con hoặc đọc trại đi.
Còn tiếng Cantonese thì do điều kiện địa lý sát
nách Vietnam nên nếu muốn dẫn chứng nguồn gốc tiếng
Hán hoặc Hán Việt mà không thấy ở tiếng quan thoại
thì cần phải xét qua tiếng Cantonese. Như tiếng
FO (phật): tiếng quan thoại đọc là “pho” nhưng Cantonese
lại đọc y âm:” phật”!
Do tiếng Việt và quan thoại cùng độc âm nên có
cùng quy luật bằng, trắc mà anh thấy trong thơ Đường.
Thêm vào đó là mình mượn tiếng Hán rất nhiều nên
người Tàu nghe mình ngâm thơ thì họ cảm nhận được
ngay.
(18)Trong bài “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng
Việt” trên Website Giao Điểm (http://www. giaodiem/docbao-vn/giugintiengviet.htm),
ông (?) Võ Ngân Vương cho biết người Việt đã “Việt
hóa” chữ Hán bằng các cách chính sau đây:
· Rút gọn chữ kép thành chữ đơn: văn (văn chương,
văn học), chế (chế biến, chế tạo), lệnh (mệnh lệnh),
hỗn (hỗn hào), v.v.
· Rút gọn rồi ghép thêm một chữ của tiếng Việt
(chữ nôm) vào: bao gồm, bồi đắp, kỳ lạ, sống động,
v.v.
· Thay đổi thứ tự chữ kép: náo nhiệt (người Hoa
dùng “nhiệt náo”), di chuyển (“chuyển di”), phóng
thích (“thích phóng”), cứu vãn (“vãn cứu”), v.v.
· Thay đổi một phần của chữ kép: họa sĩ (người
Hoa dùng “họa sư/họa công”), tường tận (“tường tế”),
du thủ du thực (“du thủ hiếu nhàn”), thập tử nhất
sinh (“cửu tử nhất sinh”), an phận thủ thường (“an
phận thủ kỹ”), thượng lộ bình an (“nhất lộ bình
an”), v.v.
· Dùng chữ Hán với một ý nghĩa khác hẳn: đinh ninh
(yên chí) nhưng tiếng Hán có nghĩa “dặn dò,” bồi
hồi (bồn chồn, lòng dạ không yên) “đi đi lại lại,”
khốn nạn (đáng khinh) “khó khăn, khổ sở,” đáo để
(đanh đá) “đến cùng,” thủ đoạn (mưu mẹo mánh khóe)
“phương pháp, kỹ pháp,” dã tâm (lòng dạ hiểm độc)
“tham vọng,” v.v.
· Dùng tiếng Hán với một nghĩa trái ngược lại :
mê ly (rất hấp dẫn) nhưng tiếng Hán có nghĩa “mơ
hồ, không rõ,” lẫm liệt (oai phong) “rét mướt,”
v.v.
(19)Phiếm luận của anh Phạm Nguyên Khôi (gửi về
Diễn Đàn vài tháng sau khi tôi đã gửi bài viết về
Diễn Đàn):
Thưa quý bạn đồng môn,
Viết Email tiếng Việt mà không bỏ dấu, đôi khi
cũng gây ra chuyện hiểu lầm. Chiều hôm qua, một
anh bạn có kể cho nghe 1 câu chuyện vui mà tôi muốn
chia xẻ với qúy đồng môn:
Một anh chàng nọ gởi cho người yêu 1 email trong
đó có đoạn "Anh biet em dam dang nen....".
Nhận được email, người yêu của anh ta khóc lóc,
giận hờn vì hiểu lầm chữ "Đảm đang" thành
"dâm đãng"
Một câu chuyện tiếu lâm khác mà tôi quên tác gỉa
(hình như là Khái Hưng?), viết rằng 1 viên chức
ở miền Bắc, khi nhận được một công điện đã hiểu
lầm chữ "vợ đẻ" thành ra "vỡ đê"
Vậy nên quý anh chị cũng nên cẩn thận khi viết
Email tiếng Việt mà không bỏ dấu cho rõ ràng.

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|