| 
Thơ
là (thờ ơ) khoét cho cái nhục (nhã, dục, vương)
bốc mùi
Nguyễn Quốc Chánh
Lý
Ðợi (LÐ): Sau 3 tập: Ðêm mặt trời mọc, Khí hậu đồ
vật và Của căn cước ẩn dụ... nếu phải nói một chút
gì đó về công việc sáng tác của mình, anh nói thế
nào?
Nguyễn Quốc Chánh (NQC): Sáng tác là một cách móc
(ngoặc, ngoéo, nối, lò) với đời sống. Ở đâu tôi
không biết, nhưng ở đây, trong cái xứ (xó) bầm dập
và tăm tối này, sống tức là cam (phận, đoan, quýt)
nhấn cho cái nhục chìm xuống. Và làm thơ là (thờ
ơ) khoét cho cái nhục (nhã, dục, vương) bốc mùi.
Khoét càng loạn mùi càng lạ. Tôi khoái mùi của tủy
nên chĩa cái dùi vào xương. Ðể ý mà xem, chó là
con vật xiêng gặm xương, và cách nào đó, công việc
sáng tác cũng vậy. Cũng giống như con chó gặm cả
đóng xương để mút lấy một chút xíu tủy.
LÐ: Có phải mỗi tập thơ là một thành quả, hệ quả;
hay đơn thuần chỉ là một khối ngu không biết ném
đâu. Nhiều người nghĩ như thế, anh nghĩ thế nào?
NQC: Theo tôi, mỗi tập thơ là một hệ quả. Hệ quả
của một mớ những cái lỗ được khoét. Mỗi lần khoét
là một cơ hội chui ra, để thoát cái tình trạng (dù
chỉ trong khoảnh khắc) bần tiện, bầm dập và tăm
tối. Trong một xã hội tăm tối, bầm dập, nghệ thuật
không cách nào khác ngoài ý thức phản (tỉnh, động,
bội, công, loạn, quang) và trừng mắt. Mà trừng riết
thì trước sau gì cũng sẽ trắng mắt thôi.
Như đã nói, gặm xương thì khôn nỗi gì. Nhưng vừa
gặm (trắng mắt) vừa lăm le (đâm đơn) vào hội nhà
văn thì ngu hết thuốc chữa. Nếu in tập thứ nhất
để vào hội nhà văn địa phương, nếu in tập thứ nhì
để vào hội nhà văn trung ương, và nếu in tập thứ
3 để trúng giải A của hội đồng thơ Việt Nam thì
may ra mới là thành quả. Thành quả cũng có nghĩa
là trúng quả hay đánh quả. Và đánh quả là giấc mơ
méo mặt của hầu hết đám làm thơ ất ơ ở đây và bây
giờ. Xin lỗi, tôi thấy họ chẳng khác đám ruồi bu
quanh cái xác, đến nỗi xác không còn mùi để thúi
nữa, nhưng ruồi thì vẫn bu. Một hội chứng kỳ (lạ,
cục, đà) của mê muội mùi vị bầy đàn.
Thử hỏi sống trong tình (trạng, huống, cảnh, tứ)
bít bùng mà không khoét một cái lỗ bằng sáng tác,
liệu sáng tác đó có khác gì một thứ sơn dởm, a dua
quét lên bức tường tăm tối và dối trá. Và mỗi cái
lỗ vừa để thở vừa là âm (mưu, hộ, phủ, thầm, hiểm,
tính) xáo trộn những trật tự giả để lỡ có kẻ nào
sớ rớ nhìn vào sẽ thấy cái mặt mình biến dạng mà
hoang mang chơi. Gây hoang mang là công việc đàng
hoàng và tử tế (hay tồi tệ cũng không sao) của cái
gọi là văn (nghệ, gừng) trong thời buổi tê liệt
(dương) và hôn mê (man) này.
LÐ: Trong mỗi tập, anh xây dựng ý tưởng và cách
thức làm việc như thế nào? Nội dung, kỹ thuật có
nhiều thay đổi không?
NQC: Tập đầu tiên là âm mưu gây hoang mang bằng
ngôn ngữ phúng (dụ, điếu, phính) kiểu: Tờ bạc có
mùi khai thuốc súng/ và đồng lương là xác của chiến
tranh/ anh phải cầm quá khứ trên tay mỗi tháng/
máu từ đầu dồn hết xuống chân; tập thứ 2 lại tiếp
tục âm mưu gây hoang mang bằng ngôn ngữ ảo (giác,
ảnh, tưởng, mộng) như: Tíc tắc tíc tắc/ chiếc mỏ
sừng mổ mặt trống đêm/ hai con mắt phơi trần bí
mật/ trượt dài trên lớp mỡ thời gian/ tường giương
những hốc chết của đa hệ người bị giam/ chỉ còn
lại tiếng tíc tắc đếm những viên aspirin lăn tròn...;
và tập thứ 3 vẫn là âm mưu gây hoang mang bằng ngôn
ngữ trần trụi, trân tráo, bỡn cợt và khởi đầu kỹ
thuật lắp ghép theo tinh thần sinh sản vô (tính,
phương, nghĩa, can, vọng) hậu xã hội chủ nghĩa (kinh
tế thị trường theo định hướng XHCN) là: Nhìn từ
hẻm cụt, thế giới trét đầy keo, bạn tôi kêu: uống
nhầm thuốc ngừa thai giả, đẻ một đứa bé sứt môi
vào ngày 19 tháng 5. Cái bóng có đuôi dài lướt qua
tường với động tác một người thủ dâm, và kết thúc
bằng cú ngã sấp... Một ngày không chấm đất, trống
vẫn thúc trong ký ức phồn thực, và thái dương một
người đàn bà mãn kinh, co giật. Máu ộc.
Sao nhanh nhẹn vậy/ Cotex White hả/ thoải mái nè/
khô nè/ có cảm giác nhẹ cả người/ Cotex White luôn
há!.
Như đã nói, mỗi tập thơ là một chuỗi những cái
lỗ được khoét, nhưng không khoét tuỳ (tiện, nghi,
cơ, thời) theo cảm hứng, mà khoét dưới sự điều (hành,
trị, dưỡng, độ, nghiên, khiển, kinh) của một ý niệm
xuyên suốt là gây hoang (mang, địa, dâm, tưởng,
vu). Vì ý niệm về thơ làm nẩy sinh ý (tưởng, tứ,
đồ, a) trong thơ, và cũng có thể ngược lại, chính
vì ý tưởng trong thơ làm nẩy sinh ý niệm về thơ.
Cái biện chứng giữa ý tưởng của bài thơ và ý niệm
về thơ sinh ra nội dung nghệ thuật của thơ. Và nội
dung nghệ thuật thơ tùy thuộc phần lớn vào sự biến
đổi kỹ thuật của nó.
LÐ: Tại sao tập Của căn cước ẩn dụ anh lại không
gởi đến nhà xuất bản để xin giấy phép như 2 tập
trước? Phải chăng anh sợ NXB từ đây?
NQC: Rồi cũng phải sợ thôi. Không sợ cũng không
xong, vì với họ, chữ tóc rất đạo đức, nhưng tới
chữ lông sắp có vấn đề; chữ mắt cực kỳ đạo đức,
nhưng chữ cặc chắc chắn đồi trụy; chữ cần cù dĩ
nhiên yêu nước, nhưng chữ dân ngu cu đen là trăm
phần trăm phản động; thậm chí chữ Bác Hồ mà viết
sai chính tả thành bác Hồ thì cũng toi đời, cũng
sắp thành đại phản động như chơi. NXB là cái chợ
đen chuyên bán giấy phép cho giới đầu nậu, nhưng
không bán bừa bãi à nghen, vì bừa bãi là phạm phải
cái phản động và đồi trụy ngay, mà phải bán có định
hướng, định hướng XHCN đàng hoàng. Tập thơ Của căn
cước ẩn dụ không có tóc nhưng có nhiều lông, không
có cần cù nhưng lu bù cu đen, do đó đếch có định
hướng gì ráo, mà xem ra còn bừa bãi nữa, thì làm
sao mà xuất với bản gì được. Xuất có nghĩa là mất,
và bản có nghĩa là gốc. Xuất bản là mất gốc. Vì
sợ mất gốc nên tôi đách dám đến nhà xuất bản.
LÐ: Về sự quan tâm chủ đạo, tư tưởng xuyên suốt
trong 3 tập thơ?
NQC: Cái xuyên suốt trong 3 tập thơ là cái hoang
(mang, thai, đường, phế, phí, hoác). Tuy mỗi tập
một kiểu hoang, nhưng tất cả đều nhằm vào một tiêu
(điểm, sơ, tán, điều, lòn, tùng, cực, hoá) là gây
hoang mang. Vì cái xuyên suốt của ban tư tưởng là
chống hoang mang. Chính vì sự xuyên suốt chống hoang
mang của ban tư tưởng trong một xã hội rất đỗi hoang
(mang, đường, phí, thai, phế, vu) nên đã bức (gân,
tóc, rức) nghệ thuật, trong đó có thơ, phải làm
ngược. Cứ làm ngược những gì ban tư tưởng chủ (trương,
nợ, nô) thì sẽ thuận với bản tính tự nhiên của con
(người, ngươi, cặc). Bởi khi hoang mang người ta
mới có cơ thay đổi, và thay đổi suy nghĩ là cách
duy nhất để lần mò hướng tới tự do. Còn nếu không
biết hoang mang, nghĩa là cứ khư khư lập (trường,
lờ, loè, cập, công) sớm muộn gì cũng thành kẻ bảo
thủ và phản động về tư tưởng. Vì phản động là đi
ngược, và ai mà đi ngược với phát triển thì đều
là phản động tất. Tôi thấy ban tư (tưởng, trang,
đồ, mã, lự, thục) hay chụp cho người này người kia
cái mũ phản (động, thùng, gỗ, phất, diện, gián,
lực, tặc, quang, xạ) trong khi đó họ mới là những
phần tử phản động cực kỳ. Vì nhiệm vụ chính (trị,
tả, chuyên, phụ, em) số một của ban tư tưởng là
kiểm soát tự do tư tưởng (hoang mang) của người
khác.
LÐ: Theo anh, tại sao bây giờ các nhà thơ trẻ-chịu
cách tân, lại thích in photocopy?
NQC: Tư nhân chỉ có quyền thịt chó, thậm chí buôn
trẻ em và phụ nữ, nhưng không có quyền làm xuất
(bản, tinh, biểu, phát, hành, nhập, sắc). Xuất bản
là độc quyền của nhà nước. Một nhà (nước, tôi, thổ,
mồ, thương, nguyện, xí) độc (quyền, địa, ác, mồm,
thân, đạo) thì rất điên tiết với những gì gọi là
cách (tân, mạng, khoảng, cách). Và photo là một
hình thức tự (nhiên, phát, sự, tình, do, mãn, tử)
của quyền tự do nói năng đương hồi gặp khó (khăn,
qúa, tả, dễ, về, ngủ). Quyền này không thể xin mà
có, mà phải vọc thì mới cứng lên được. Khẩu hiệu
không có gì quý hơn độc lập tự do phải hiểu là tự
do độc lập trong mỗi người, chứ không phải trong
không khí hay trên khẩu hiệu. Các nhà thơ trẻ chịu
cách tân làm ơn áp dụng tối đa khẩu hiệu không có
gì quý hơn độc lập tự do mà photo nhiều vào. Mới
thấy có Bùi Chát photo Xáo chộn chong ngày, còn
Phan Bá Thọ, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lynh Barcadi,
Lý Ðợi, Khúc Duy... chẳng chịu vọc cho cái độc lập
tự do của mình nứng lên gì cả. À, không, không phải,
tôi sai rồi, các ông kẹ bà chằn này đang vọc rất
dữ, đang làm nóng mạng Tienve, talawas, eVăn đó
chứ.
LÐ: Có một người nhận xét Nguyễn Quốc Chánh là
bàn tay cuối cùng khép lại thơ tự do Việt thế kỷ
XX, anh nghĩ gì về nhận xét này? Thế bây giờ anh
làm thơ gì? Cách thức liên tưởng hình ảnh của nó?
NQC: Nhận xét như vậy là theo phái tân hình thức
của nhà thơ Khế Iêm. Vì phái này cho rằng tân hình
thức là một thể mới đã thay thế thơ tự do. Nên nhớ
thơ tự do không phải là một thể, nó có thiên hình
vạn trạng cách thế, nó xuất phát từ một chữ rất
đẹp: free verse (thơ tự do). Rõ ràng nó không có
một hình thái (form) nào trong cơ cấu nội (bộ, tạng,
mông, thất, ngoại), nó chỉ trơ trụi là free (verse,
soil, liver, trade). Trong khi tân hình thức là
một thể nên nó tồn tại trong một hình thái nhất
định, còn thơ tự (do, lo, túc, sử, sự, sát, trào,
mãn) không phải là một thể nên nó biến đổi không
cùng.
Thử tháo một bài thơ tân hình thức, sau đó chấm
phẩy hoặc để nguyên con dưới dạng một đoạn văn xuôi,
sẽ thấy ngay thường là một đoạn văn xuôi dở; còn
nếu tháo một bài tân hình thức, sau đó ngắt nhịp
theo thơ tự do thì sẽ có một bài thơ tự do thường
cũng không hay, nhưng còn dở hơn bởi vớt vát được
nhờ cái nhịp so (le, kè, cựa, đo). Tôi nghĩ thơ
tự do có mở chứ không có khép, chỉ có con đường
thơ tự do của mỗi người mới có mở và khép thôi.
Chắc vì lầm lẫn chỗ này nên mới có lập luận thơ
tự do đã đến đỉnh bởi ông A, bà B, nên ông C, thằng
X đừng làm thơ tự do nữa vì đã hết đường, vì không
thể vượt qua ông A, bà B...
Và bây giờ tôi làm thơ như vầy:
Tao là cái thoi thóp chình ình trên thớt
Ðụ má tụi mày cứ không ngớt mài dao
LÐ: Trước các trào lưu mới như Tân hình thức, Hậu
hiện đại... trong thơ Việt, anh đặt để công việc
sáng tác của mình ở chỗ nào? Anh nghĩ gì về thơ
Việt hiện nay?
NQC: Theo tôi, tân hình thức là một dạng của thơ
tự do, phát triển ở nghệ thuật tính truyện, đồng
thời là một dạng của thơ tự do, giật lùi ở nghệ
thuật vắt dòng (cứ 7 chữ xuống hàng). Thơ tân hình
thức là tình trạng tiến thoái lưỡng nan của một
trong những dạng thơ tự do. Tiến về hình thức tính
truyện, và thoái về hình thức vắt dòng.
Còn hậu hiện đại, tôi thấy có những dấu hiệu (bịnh
lý) hậu hiện đại trong thơ Việt qua thơ của Nguyễn
Ðăng Thường, Ðỗ Kh., Nguyễn Hoàng Nam, Lê Nghĩa
Quang Tuấn, Phan Nhiên Hạo, Nguyễn Hoàng Tranh,
Thận Nhiên, Trần Minh Quân (hải ngoại), Phan Bá
Thọ, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lynh Barcadi, Bùi Chát,
Lý Ðợi, Trần Tiến Dũng (Sài Gòn) Phan Huyền Thư
(Hà Hội).
Lý thuyết hậu hiện đại xuất hiện cách đây nhiều
năm trên Tạp chí Thơ, sau đó trên Tạp chí Việt,
và nhất là bài giảng Tính cách bội trương trong
văn chương tương lai của Calvino (Hoàng Ngọc-Tuấn
dịch, Việt số 6 năm 2000). Ðối với tôi đó là những
đóng góp quan trọng nhất của Tạp chí Thơ, Việt và
của các anh Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc-Tuấn, một
lần nữa thức tỉnh ý thức mới (đúng ra là hậu ý thức
mới, vì hơn 30 năm trước Phạm Công Thiện đã một
lần kích động Ý thức mới trong văn nghệ và triết
học) đối với một số người làm thơ ở Sài Gòn, và
họ là những nhà thơ năng động nhất hiện nay đang
ứng (dụng, tác, chiến, phó, khẩu) tinh thần hậu
hiện đại như Phan Bá Thọ, Nguyễn Hữu Hồng Minh,
Lynh Barcadi, Bùi Chát, Lý Ðợi.
Với tôi ý thức hậu hiện đại, cụ thể là cái định
nghĩa “chọc trời khuấy nước” của Calvino: “Những
dự án tham vọng quá trớn có thể bị chối từ trong
nhiều lĩnh vực, nhưng không thể bị chối từ trong
lĩnh vực văn chương... chỉ chừng nào các nhà thơ
và nhà văn tự đề ra cho mình những công tác không
có bất cứ ai dám tưởng tượng đến, thì chừng ấy văn
chương mới đạt được tác dụng của nó”. Và tôi đã
hớn hở thộp được cái yếu tính của nó, hứng khởi
viết một loạt bài theo tinh thần bội (trương, cơ,
bạc, số, phản, thực) trong tập Của căn cước ẩn du
(2001). Trước đó tôi đã đọc Ðất hoang của T.S. Eliot,
nên khi đọc Tính cách bội trương trong văn chương
tương lai, tôi thấy ngay Ðất hoang là một thí dụ
rất bội trương nên không còn lý do gì mà tôi không
thử bội trương trong thơ của mình. Và bài đầu tiên
là Sân khấu quay. Sau khi viết xong bài này tôi
khoái chí khoe với Ðinh Linh ngay, và Ðinh Linh
hào hứng dịch ra Anh ngữ liền. Rất may, vào thời
gian đó, nhà thơ hậu hiện đại Ðinh Linh đang «nằm
vùng’’ ở Sài Gòn, và gần như hàng tuần, chúng tôi
(Ðinh Linh, Phan Bá Thọ...) thường nhâm nhi vài
xị Làng Vân với những que chả chìa tổ bố và tào
lao đủ thứ trên đời. Nhưng thật tuyệt vời, những
chuyện tào lao đó lại góp (phần, vốn, gió) tiêm
nhiễm vào tôi tinh thần hậu hiện đại lúc nào không
biết.
Trong một phỏng vấn, Ðinh Linh nửa đùa nửa thật
là, tân hình thức chỉ được mỗi chữ Tân. Tân tức
là Tân (Trào, Biên, An, Ðịnh). Và rồi hậu hiện đại
chắc cũng chỉ được mỗi chữ Hậu. Hậu cũng có nghĩa
là hậu (mãi, hĩnh, đậu, môn). Tôi đặt để công việc
sáng tác của tôi ở chỗ nào hả? Chắc ở giữa Tân và
Hậu. Tôi theo trào lưu Tân-Hậu mà. Ở giữa Tân và
Hậu thế nào cũng có một lỗ rỉ, và tôi đang hì hà
khoét cho cái lỗ rỉ đó thành một lỗ thông hơi. Sáng
tác là khoét cho mình cái lỗ để ló ra thụt vào với
cái khối bít bùng vây quanh, chứ không phải để minh
(họa, oan, định, chủ) cho các trào lưu, chủ nghĩa
như có nhiều người hay lầm tưởng.
Thơ Việt bây giờ cũng như thơ Việt từ thời Lý-Trần,
vẫn trong tình trạng truyền (thống, cảm, tụng, nhiễm)
là luôn luôn phải cũ người rồi hãy mới ta. Do đó
các nhà thơ Việt hiện tại cứ thoải mái mà giao kèo,
ký kết, hợp đồng, móc ngoặc, thậm chí tham ô, hối
lộ tối đa với những di sản từ các nghĩa địa Vị lai,
Ða đa, Siệu thực... đến các nấm mồ tân hình thức,
hậu hiện đại. Tất cả những di sản đó đều hữu hiệu
cho chứng đau lưng nhức mỏi, vì chúng đều là cao
hổ cốt, cao trăn, cao khỉ cả. Bởi vì thơ Việt cũng
giống kinh tế Việt, nếu không có vốn đầu tư nước
ngoài, không có các loại cao thì sẽ sa vào tình
trạng èo uột và đau lưng nhức mỏi ngay.
LÐ: Rồi cả các sân chơi nữa chứ, từ báo Văn Nghệ,
Hội nhà văn đến các địa chỉ khác; anh là người ở
chỗ nào?
NQC: Báo Văn Nghệ, Hội nhà văn tuyệt đối không
phải là chỗ của tôi. Nó là chỗ của đảng lập ra nhằm
để cai quản đám văn nghệ cán bộ. Khi đảng còn đủ
cái phi thường để cai trị một cách phi lý thì đám
văn nghệ cán bộ luôn luôn “lấp lánh ánh sáng”. Nhưng
một khi đảng già yếu hay vì một lý do (kỹ thuật)
nào đó mà mất đi quyền lực phi phàm, thì đám văn
nghệ cán bộ kia lập tức nháo nhác và biến thành
“hạt bụi” ngay. Tôi nói như vậy là dựa theo kinh
nghiệm lừng lẫy hơn nửa đời (hư) thay mặt đảng cai
(quản, trị, đầu dài, nghiện) đám văn nghệ nô bộc
của Nguyễn Ðình Thi. Những gì ông Thi viết rồi cũng
sẽ thành tro bụi như bao nhiêu thứ khác trên đời,
nhưng câu nói hân hoan tận đáy (lòng, đĩa, thắt
lưng ong, thiên) của một bầy tôi chuyên nghiệp (“chúng
ta, những nhà văn, chúng ta là những hạt bụi, nhưng
là những hạt bụi lấp lánh ánh sáng của đảng”) mà
Bùi Minh Quốc ghi lại, tôi nghĩ, sẽ còn lấp lánh
ánh sáng dài dài, ngay cả khi đảng vinh (quang,
qui, thân) lỡ một mai không còn nữa. Vì ở đó, trong
câu nói đó, đảng không còn là một tổ chức chính
trị, mà đảng trong trí tưởng tượng nô bộc của Nguyễn
Ðình Thi là thuộc quyền năng của thượng đế. Hay
nói khác, Nguyễn Ðình Thi đã thượng đế hoá đảng,
tức đảng là thượng đế, và ông ta không biết là tên
tông đồ thứ mấy?!
Tôi ba đời vô thần, nên làm sao có chỗ ở cái nơi
mà cái gì cũng có thể thành thần, từ thần ăn mày
đến thần phá hoại. Có vài chỗ tôi hay ghé chơi lai
rai, trước đây là Tạp chí Thơ, Hợp Lưu và hiện nay
là Tienve, talawas.
LÐ: Ai từng quen với anh, cũng thấy rằng anh quan
tâm nhiều đến ý niệm Tự Do. Theo anh thế nào là
tự do theo nghĩa thông thường? Và tự do trong nghệ
thuật?
NQC: Tự do là một ý niệm hay ho trong số những
ý niệm thuộc về tinh (thần, trùng, dịch). Ý niệm
này cần một chế độ dinh dưỡng đặc biệt, và nếu ý
niệm này sống sót và trưởng thành, thì các ý niệm
tạp nham khác sẽ không có chỗ trong ý thức. Chẳng
hạn các ý niệm: “CHXNCN Việt Nam”, “giải phóng miền
Nam”, “mặt trận tư tưởng”, “văn hoá trung ương”...
Theo tôi đó là những ý niệm cần phải được dọn dẹp,
khai trừ, khai tử thì những ý niệm “dân chủ”, “phát
triển”... mới có thể nảy sinh. Và ý niệm tự do phải
nhập (khẩu, thân, thần, gia) vào cây chổi chà, con
chó săn thính mũi trong công việc dọn dẹp và khai
trừ (khử) này.
Còn tự do thông thường là ra đường phải nhấp thắng
và giảm ga khi thấy tín hiệu đèn vàng. Và tự do
trong nghệ thuật là thả ga và buông thắng trước
mọi tín hiệu.
LÐ: Thơ của anh thuộc về truyền thống nào: phương
Ðông hay phương Tây?
NQC: Thơ tôi chắc chắn thuộc truyền thống rác.
Vì Việt Nam là một cái sọt của cả đông và tây. Hơn
một ngàn năm chống chọi, chung chạ với các đế quốc
Tàu, Tây, Nhật, Mỹ, Nga nên Việt Nam có cái số phận
văn hoá bi đát kỳ lạ, nghĩa là vừa đĩ thõa vừa chính
chuyên y chang cuộc đời cô Kiều. Tại sao người Việt
mê Truyện Kiều như điếu đổ vậy? Tôi nghĩ là vì trong
vô thức, người Việt thấu (cảm, đáy, xương, cật)
cái số phận bi đát của Kiều có nhiều nét tương đồng
tiền kiếp với số phận bi (đát, hài, kịch, bô) của
lịch sử bị trị Việt Nam. Ðó là cái mặc cảm tự vệ
về văn (hóa, vần, vật, khúc). Và chính cái mặc cảm
tự vệ về văn hóa đó mà Việt Nam không biết đến bao
giờ mới thôi là cái sọt của thiên hạ, cả đông và
tây. Những cuộc cãi vã giữa cũ và mới, giữa truyền
thống và cách tân chẳng qua chỉ là những cuộc nội
(chiến, mông, thất, trợ, bài) giữa 2 cọng rác đông
và tây. Trong cái môi trường văn hoá giả cày như
vầy, giải pháp của tôi là: xài và vứt thật nhanh
những cọng rác vừa lượm, cả đông (tà) lẫn tây (độc).
LÐ: Thơ lục bát anh thấy thế nào?
NQC: Chỉ 2 câu thì hay, nhưng tới 4 câu thì bắt
đầu dở, mà đến mấy ngàn câu thì không thể chịu nổi.
LÐ: Cái thiếu của thơ Việt?
NQC: Là thừa bản năng và kém ý thức. Hoặc bản năng
lừng khừng và ý thức chơi vơi, nên mới có tình trạng
đổi mới một tẹo là co vòi rụt cổ rồi, vì đi xa quá
chắc sợ các cụ ở nhà xóa tên trong gia phả.
LÐ: Vẫn ý cũ, theo anh thế nào là một bài thơ nói
chung; bài thơ tự do nói riêng? Thế nào là một bài
thơ hay?
NQC: Khứa Sartre nói rằng, nhà văn là kẻ thấy chiến
thắng lớn so với chiến thắng nhỏ, còn nhà thơ là
kẻ thấy sự thất bại trong mọi chiến thắng. Khứa
Sartre này không ưa thơ, nhưng sự thông tuệ của
hắn khiến hắn nói đúng. Vì cái đám nhà văn khi nhìn
củi thì chỉ thấy lửa khói thôi, còn đám nhà thơ
hễ nhìn củi thì khốn nạn thay là nghĩ ngay đến tro
than liền. Vì vậy cái gì mà do một nhà thơ viết
ra thì đều có thể trở thành bài thơ nói chung; còn
bài thơ tự do nói riêng là do một nhà thơ nói chung
có ý thức mãnh (liệt, cầm, hổ, sư, thú) về tự do
viết ra. Còn một bài thơ hay là bài thơ âm (ỉ, đạo,
thầm) hoặc tức (tốc, thời, giận, mình) gây sự xáo
trộn thẩm mỹ, khiến người ta phải coi lại bộ xử
lý (CPU) của mình.
LÐ: Câu cuối, anh đang làm gì (trong thơ &
ngoài thơ)? Nguyễn Quốc Chánh là ai (tiểu sử &
nhận diện)?
NQC: Tôi mánh mung sống qua ngày. Còn cụ thể ra
sao (trong và ngoài thơ) là thuộc về thiên cơ. Mà
thiên cơ trong cái cơ chế tai vách mạch rừng này
thì theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải giữ bí mật,
vì những lý do sau:
Tôi sinh ở một nơi chẳng ra gì (Bạc Liêu), trong
một gia đình chẳng ra gì (nửa Bắc nửa Nam), học
ở những trường chẳng ra gì (nhớ mà không đáng kể),
với những thầy bà chẳng ra gì (nhớ một vài tên nhưng
cũng không đáng kể), và hiện sống trong một thành
phố hỗn loạn rất ra gì (Sài Gòn), nên không thể
không trở thành một kẻ chẳng ra gì (Nguyễn Quốc
Chánh), và bởi vậy phải uống thuốc chống stress
mỗi ngày (magne-B6).
Lý Ðợi thực hiện

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|