| 
Các
giải thưởng Pulitzer 2007 đã có chủ
Ăn
mừng chiến thắng khi nghe tin đoạt giải Pulitzer
Giải thưởng cao quý cấp quốc gia dành cho báo in,
các thành tựu văn chương và soạn nhạc Pulitzer 2007
vừa được công bố hôm qua (16/4) tại New York.
Năm nay, tờ The Wall Street Journal giành được huy
chương vàng vì sự nghiệp phục vụ công chúng khi
thông tin về ghi lùi ngày quyền chọn mua cổ phiếu
cho các giám đốc doanh nghiệp.The
Wall Street Journal được tuyên dương vì thực hiện
’’cuộc khảo sát sáng tạo và toàn diện....giúp khởi
sự điều tra và hất cẳng những quan chức hàng đầu,
làm thay đổi sâu rộng các công ty Mỹ’’, ban điều
hành giải Pulitzer nói trên trang web chính thức.
The Wall Street Journal còn giành
giải thưởng về đưa tin quốc tế.
Giải Pulitzer 2007 cho thể loại
tin vắn cho các nhân viên tòa báo The Oregonia,
Portland về loạt tin về một gia đình bị mất tích
tại núi Oregon. Câu chuyện bi thương được đăng trên
cả báo viết và báo mạng của The Oregonia.
Tháng 11 năm ngoái, ban điều hành
Pulitzer tuyên bố, một loạt tài liệu trên mạng như
cơ sở dữ liệu, họa hình tương tác và video cũng
có thể dự thi cho hầu hết các lĩnh vực báo chí.
Brett Blackledge thuộc tờ The Birmingham
News ở Alabama, đã giành giải thưởng Pulitzer cho
lĩnh vực phóng sự điều tra. Nhân vật này được tán
dương vì đã phơi bày tình trạng tham nhũng tại hệ
thống trường cao đẳng 2 năm ở bang này’’.
Giải thưởng Pulitzer 2007 cho việc
đưa tin diễn giải thuộc về Kenneth R.Weiss, Usha
Lee McFarling và Rick Loomis thuộc tờ The Los Angeles
Times vì những thông tin sinh động về các đại dương
đang bị hiểm nguy, gợi được phản ứng từ các độc
giả và quan chức’’.
Debbie Cenziper thuộc tờ The Miami
Herald giành giải thưởng với chuyên mục đưa tin
tình hình địa phương. Người phụ nữ này viết bài
về sự lãng phí nhà ở, thiếu giám sát và thiên vị.
Các bài viết khiến một số người bị thải hồi, các
cuộc điều tra và xét xử được tiến hành.
Charlie Savage thuộc tờ The Boston
Globe chiến thắng với mục đưa tin trong nước. Nhà
báo này đã ’’tiết lộ việc Tổng thống Bush thường
dùng những ’’tuyên bố bằng văn bản’’ để khẳng định
quyền vốn gây tranh cãi thông qua các điều khoản
về luật mới.
Andrea Elliot thuộc tờ The New York
Times giành giải thưởng Pulitzer về mục viết đặc
trưng và Cynthia Tucker thuộc tờ Atlanta Journala-Constitution
giành giải về bình luận.
Giải thưởng Pulitzer cho mục phê
bình, xã luận và biếm họa cũng được trường Báo chí
Columbia công bố cùng ngày hôm qua.
Giải cho ảnh tin vắn thuộc về Oded
Bality thuộc hãng The Associated Press với bức ảnh
về một người phụ nữ Do Thái chống lại lực lượng
an ninh Israel khi họ đang dỡ bỏ những khu định
cư trái phép ở Bờ Tây.
Renee C. Byer thuộc tờ The Sacramento
Bee đoạt giải thưởng về ảnh đặc trưng khi chụp chân
dung một bà mẹ không chồng cùng đứa con trai đã
chết vì bệnh ung thư.
Giải thưởng Pulitzer cho tiểu thuyết
hư cấu thuộc về cuốn ’’The Road’’ do Cormac McCarthy
viết, giải kịch thuộc về vở ’’Rabbit Hole’’ do David
Lindsay Abaire thực hiện, giải lịch sử thuộc về
Gene Roberts và Hank Klibanoff đồng thực hiện.
Debby Applegate, tác giả cuốn "Người
đàn ông nổi tiếng nhất nước Mỹ: Tiểu sử của Henry
Ward Beecher," giật giải về lĩnh vực viết tiểu
sử. Natasha Trethewey giành giải thưởng về thơ với
bài "Native Guard".
Lawrence Wright, đã giật giải về
thể loại truyện phi hư cấu với cuốn ’’Tháp mờ, Al
Qeada và con đường tới 9/11’’.
Ornette Coleman đoạt giải thưởng
Pulitzer về âm nhạc với bản "Sound Grammar".
Giải Pulitzer là một giải thưởng
của Mỹ, trao cho nhiều lĩnh vực, trong đó quan trọng
hơn cả là về báo chí và văn học. Đặc biệt về báo
chí, Pulitzer được xem như một trong những giải
danh giá nhất. Giải thưởng Pulitzer do trường đại
học Columbia tại New York quản lý và trao tặng.
Giải thưởng Pulitzer được trao cho
21 lĩnh vực. Những người thắng cuộc với giải phục
vụ công chúng được nhận một huy chương vàng và 20
giải còn lại nhận được giấy chứng nhận và 10.000
USD.
Giải
thưởng Pulitzer được trao tặng lần đầu tiên năm
1917. Nó do ông Joseph Pulitzer một nhà báo, chủ
bút người Mỹ gốc Hungary sáng lập.VNNET(Theo
Pulitzer, Xinhua, AP)
Người
của nghịch lý: Ông Trần Bạch Đằng qua đời
Ông
Trần Bạch Đằng, vừa là chính khách, vừa
là nhà văn vừa qua đời có tên thật là Trương
Gia Triều, sinh ra trong một gia đình trung lưu,
Nho học ở xã Thạnh Hưng, Giồng Riềng nay thuộc
Kiên Giang năm 1926.
Ông hoạt động chính trị từ năm 17 tuổi, làm
thơ đăng trên các báo Điện Tín và Thanh Niên.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia Thành
Ủy Sài Gòn rồi vào bộ đội hoạt động trong
lĩnh vực tuyên huấn.
Ông phụ trách báo Chống Xâm Lăng của Thành
Ủy Sài Gòn rồi sau lên làm Tổng biên tập
báo Nhân dân Miền Nam, thuộc Trung ương Cục.
Sau hiệp định Geneva năm 1954, ông không tập
kết ra Bắc mà ở lại miền Nam, tiếp tục phụ
trách tuyên huấn trong Trung ương Cục và làm
Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật miền Nam.
Ông được giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu năm
1965 và gần đây nhất là giải thưởng Nhà nước
về văn học nghệ thuật năm 2001.
Ông dùng nhiều bút hiệu như Hưởng Triều, Nguyễn
Hiếu Trường, Trần Quang, Nguyễn Trường Thiên
Lý và viết trong nhiều thể loại văn học khác
nhau.
Thành công nhất ban đầu là các tiểu luận,
lý luận chỉ đạo công cuộc kháng chiến, tiếp
theo là những tranh luận tuyên truyền, tranh
thủ giới thanh niên Miền Nam và tuổi trẻ thành
thị sau 1975.
Ngòi
bút tuyên huấn
Ông có ngòi bút sắc bén, lý
luận sắc sảo, có sức thuyết phục cao vào
những năm 1975-1980, nhưng một số luận điểm
giáo điều, quá khích ngày nay mất tính thời
sự nên còn ít người đọc lại.
Trần Bạch Đằng là tác giả năm tập thơ, diễn
tả nhiệt tình yêu nước và cách mạng, có
đôi bài đọc được.
Ông có viết các tập truyện như Bác Sáu Rồng,
1975, nói lên quá trình đến với cách mạng
của nhiều tầng lớp quần chúng, thanh niên,
trí thức, nông dân, từ thành thị đến nông
thôn.
Và Một ngày của Bí thư Tỉnh Ủy, 1985 hay
Chân dung ông Quản đốc, 1978 là tiểu thuyết
có tính cách thời sự.
Trần Bạch Đằng quan tâm đến sân khấu, điện
ảnh, một bộ môn văn nghệ quần chúng.
Ông viết năm vở kịch nói và nhiều kịch bản
phim truyện: Ông Hai Cũ, hai tập năm 1985 và
1987.
Quan trọng hơn hết là bộ phim truyện Ván bài
Lật ngửa, 9 tập, viết từ 1982 -đến 1988.
Kịch bản phim dàn trải quá trình tranh đấu
diễn ra tại Sài Gòn từ 1954 đến 1965, mang
nhiều chứng từ và tài liệu lịch sử.
Những năm về sau, ông Trần Bạch Đằng chủ yếu
hoạt động báo chí, biết nhiều bài phê phán
những hiện tượng tiêu cực trong xã hội và
đề xuất nhiều ý kiến nhằm đổi mới đất nước,
góp lại in thành tập Đổi Mới đi lên từ Thực
Tế, 1100 trang, in năm 2000.
Trần Bạch Đằng là người thiện chí, có
tâm huyết, tài năng và uy tín. Tiếc rằng người
đọc chưa thấy ông sử dụng uy tín và tài năng
ấy để vận động tích cực cho một đất nước
tự do, một chế độ dân chủ. Đặng Tiến,
16.04.2007
Đoàn
Chuẩn - Nhạc sĩ của mùa thu
Trong
giai điệu của ông, ta cảm thấy có tiếng lá rơi nhè
nhẹ, có tiết heo may se lạnh, có cả mùi thơm của
cốm ủ lá sen. Nghe giai điệu của ông, ta cảm thấy
bâng khuâng, yêu thương, luyến tiếc. Hơn nữa, còn
thấy phảng phất ở giai điệu ấy hình bóng huyền diệu
của những “tuyệt sắc giai nhân” đã hơn một lần làm
xao xuyến trái tim “chàng công tử Hà Nội” dịu dàng
và đa tình này
Đã hơn nửa thế kỷ qua, cứ tới mùa
thu ở Hà Nội, cũng heo may và sương nặng, cùng hương
cốm và hương hoa sữa, cứ văng vẳng trong hồn người
Hà Nội, hồn người Việt Nam, những giai điệu tha
thiết ở những tình khúc Đoàn Chuẩn - Từ Linh. Có
thể nào không bồi hồi khi nghe:
Anh mong chờ mùa thu
Dìu thế nhân dần vào chốn Thiên
Thai
Và cánh chim ngập ngừng không
muốn bay
Mùa thu quyến rũ anh rồi...
Đoàn Chuẩn quê ở đảo Cát Hải cách
cửa Cấm - TP Hải Phòng không xa lắm. Do kinh tế
gia đình khá giả, nên vào tuổi thanh xuân, Đoàn
Chuẩn đã sống ở kinh kỳ Hà Nội nhiều quyến rũ. Ngoài
việc theo học ở trường Louis Pasteur, Đoàn Chuẩn
sớm đến với âm nhạc.
Vừa tham gia hoạt động tân nhạc
thuở ban đầu, ít ai biết rằng Đoàn Chuẩn năm 20
tuổi còn bí mật tham gia một tổ chức thanh niên
do Việt Minh chỉ đạo mang tên “Thanh niên xung phong
Hoàng Diệu”.
Kháng chiến toàn quốc. Đoàn Chuẩn
vào làm văn nghệ Khu Bốn. Gia đình lại tản cư lên
Việt Bắc. Chính trong nỗi cách xa, nhớ nhung và
lại gặp gỡ những bóng hồng khác trên đường chinh
chiến, từ một nghệ sĩ chơi đàn và hát như Phạm Duy,
Đoàn Chuẩn bắt đầu viết ca khúc. Tình nghệ sĩ là
tình khúc đầu tiên Đoàn Chuẩn viết ở Khu Bốn, năm
1948 đồng thời khi Nguyễn Văn Tý viết Dư âm cũng
tại Khu Bốn. Tình khúc lúc đầu cũng giống như Bến
xuân của Văn Cao là viết tặng cho một “nàng” cụ
thể, nhưng sau đã trở thành quà tặng cho mọi “nàng”.
Nếu ở Bến Xuân lúc đầu Văn Cao viết: “Nhà tôi bên
chiếc cầu soi nước - Oanh đến tôi một lần...”, Oanh
ở đây là người thiếu nữ có tên Hoàng Oanh, thì ở
Tình nghệ sĩ, lúc đầu Đoàn Chuẩn viết: “Đây quán
Mai Hương mây thu vàng ấm”, Mai Hương là nàng Mai
Hương chủ quán cà phê dọc đường. Còn bây giờ khi
đã là của mọi nàng thì “Oanh” thành “em” và “quán
Mai Hương” thì thành “khách ly hương”. Nhưng khi
đã khởi đầu một giãi bày về tình nghệ sĩ như giấc
mơ là vậy, thì nỗi nhớ vợ con đã khiến Đoàn Chuẩn
viết tiếp một Đường về Việt Bắc độc đáo đậm cá tính
sáng tạo. Câu mở đầu tự nhiên như hơi thở:
Buổi chiều áo tím nhiều quá lòng
thấy bồi hồi nhớ người...
Sau khi nỗi nhớ được buông lời tràn
trề như vậy thì lập tức giai điệu như sóng cứ dâng
cao, dâng cao:
Đường về Việt Bắc xa cách mây
Gập ghềnh đường núi qua khói
bay
Em có hay? Đây suối sâu, đây
núi cao trên từng mây
Đường về gọi gió mê say...
Đường về Việt Bắc sau này khi Bắc
– Nam chia cắt đã bị các nghệ sĩ Sài Gòn xuyên tạc
thành Đường về miền Bắc do Khánh Ly hát với nhiều
lời ca sai lạc. Việc này cùng với việc xuyên tạc
bài Gửi người em gái miền Nam thành Gửi người em
gái với nhiều lời ca phóng tác cũng do Khánh Ly
hát, bằng một niềm yêu quý Đoàn Chuẩn thì cũng làm
cho Đoàn Chuẩn chịu không biết bao nhiêu phiền phức
thời đó, mặc dù khi là nguyên bản Gửi người em gái
miền Nam do Ngọc Bảo thu thanh và phát trên làn
sóng Đài Tiếng nói Việt Nam năm 1956 nó đã chịu
ngay bao điều tiếng, phê phán là “lạc quan tếu”
rồi.
Hành trình sáng tạo âm nhạc của
Đoàn Chuẩn trở lại có lẽ là giai đoạn ông trở về
Hà Nội đầu thập kỷ 50 thế kỷ trước với nhiệm vụ
hậu địch như tài tử Ngọc Bảo vậy. Chính thời kỳ
này đã tạo ra một Đoàn Chuẩn “vua slow” với những
tình khúc về mùa thu Hà Nội. Nghe nhạc Đoàn Chuẩn,
ta nhớ đến thơ Bà Huyện Thanh Quan, văn Thạch Lam
và tranh Bùi Xuân Phái. Trong giai điệu của ông,
ta cảm thấy có tiếng lá rơi nhè nhẹ, có tiết heo
may se lạnh, có cả mùi thơm của cốm ủ lá sen. Nghe
giai điệu của ông, ta cảm thấy bâng khuâng, yêu
thương, luyến tiếc. Hơn nữa, còn thấy phảng phất
ở giai điệu ấy hình bóng huyền diệu của những “tuyệt
sắc giai nhân” đã hơn một lần làm xao xuyến trái
tim “chàng công tử Hà Nội” dịu dàng và đa tình này.
Vẫn một tình nghệ sĩ ấy, vẫn một tà áo xanh ấy,
vẫn gặp gỡ và chia tay muôn thuở. Nhưng trong giai
điệu của Đoàn Chuẩn, mùa thu Hà Nội đã luồn vào
trong từng ngóc ngách, trong từng cung bậc. Thật
ngỡ ngàng với Thu quyến rũ khi Đoàn Chuẩn da diết
“Mây bay về đây cưới trời”. Giai điệu là một đám
cưới giữa mây và trời giữa mùa thu – mùa hợp hôn
của con người. Vậy nên, khi ca sĩ hát là “cuối trời”
hoặc “cuốn trời” thì cũng đã là làm thấp tư tưởng
Đoàn Chuẩn cũng như cảm xúc thăng hoa của ông rất
nhiều lần.
Nhiều người nói rằng những tình
khúc mùa thu của Đoàn Chuẩn là những trang nhật
ký của những mối tình thì quả không sai. Phải yêu
đến mức bất chấp mọi nguy hiểm, ở trên mọi ràng
buộc mới có thể thốt lên những giai điệu si tình
đến thắt lòng người như vậy. Và trong tất cả những
mê đắm ấy, mùa thu Hà Nội luôn như thể “cời than
bếp lửa”. Ở Cánh hoa duyên kiếp thì: “Như duyên
em thầm kín – Trong hương thu màu tím buồn...”.
Ở Lá thư thì: “Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau
phong thư ngào ngạt hương...”. Ở Gửi gió cho mây
ngàn bay thì: “Với bao tà áo xanh đây mùa thu...”.
Ở Chuyển bến thì: “Một sớm thu về chuyển bến xuôi...”.
Ở Dang dở (hay Tà áo xanh) thì: “Ta quen nhau mùa
thu...”. Ở Lá đổ muôn chiều thì: “Thu đi cho lá
vàng bay...”. Đến ngay ở Gửi người em gái miền Nam
tuy viết về mùa xuân nhưng cũng cứ như là đứng từ
mùa thu vọng tới: “Nhưng một sớm mùa thu giữa khung
trời tím ngát...”. Từ mối tình đầu để có một gia
đình với một người đẹp – là bà Đoàn Chuẩn đẹp tới
tận bây giờ - hiền thảo, đôn hậu và bao dung, Đoàn
Chuẩn đã phiêu diêu qua những cung bậc yêu đương
nồng cháy và nóng bỏng đến độ phải thốt lên những
giai điệu lạ lùng trong tập Những bài hát bị xé
mà đến nay còn nhiều người chưa được thưởng thức.
Đấy là mối tình cuối cùng sâu đậm nhất trong trường
tình Đoàn Chuẩn.
Nàng là con gái đầu lòng của một
viên chức hỏa xa kháng chiến, cha nàng là tự vệ
chiến đấu nội thành. Khi rút ra chợ Đại, cha mang
theo nàng mới 12 tuổi. Vài năm sau, nàng về lại
Hà Nội với mẹ để cùng mẹ chăm sóc năm em dưới mình.
Ở tuổi dậy thì, nàng đã tần tảo làm thuê, đánh máy
chữ, đan áo len để có tiền góp với mẹ nuôi các em.
Nàng đẹp đến kiêu sa và hát rất hay. Tình cờ, một
nhạc công đài Pháp – Á đã phát hiện ra tài nghệ
này của nàng. Và nàng đã đăng quang “vương miện
thủ khoa” trong cuộc thi hát do đài Pháp – Á tổ
chức. Chính lúc ấy, nàng mới biết tác giả những
tình khúc mùa thu Hà Nội. Từ chỗ muốn nâng đỡ một
tài năng trẻ, giúp cho học nhạc, giúp những sô diễn,
tình cảm đã len lén vào hồn từ khi nào mặc dù xung
quanh nàng biết bao vệ tinh bủa vây.
Tình cảm đang lãng mạn vậy thì đột
nhiên nàng “biến” khỏi Hà Nội. Sự “biến” của nàng
khiến Đoàn Chuẩn chống chếnh. Ông cảm thấy mất mát
thực sự. Ông xót xa trong cô đơn. Không chỉ giãi
bày trong giai điệu, ông còn lẩm nhẩm làm thơ:
Em ơi!Lá úa có rơi ngoài muôn
ngả
Thì chung quy cũng về đất thương
yêu
Anh phong sương mưa nắng cũng
hiểu nhiều
Đời lãng tử có vui gì đâu em
hỡi...
Nhưng thực ra không phải nàng cố
ý cho Đoàn Chuẩn “leo cây” mà vì người cha bị mất
đột ngột ở vùng tự do. Chú nàng là đại đội trưởng
vệ quốc đoàn đã cử liên lạc bí mật vào thành đón
nàng ra ngoài vùng tự do vào cuối mùa xuân 1954,
đúng thời điểm mở ra chiến dịch Điện Biên Phủ. Rồi
nàng trở về cùng đoàn quân giải phóng thủ đô. Họ
gặp lại nhau gấp gáp hối hả, như tìm lại một cái
gì đó cùng đánh mất. Để rồi lại vĩnh viễn xa nhau:
“Có những đêm về sáng - Đời sao buồn chi mấy cố
nhân ơi!” và để rồi: “Nhớ nhau đành tìm trong tiếng
hát – và tìm trong nét bút xa xôi”.
“Chôn
sâu tận đáy lòng” tình cảm ấy, Đoàn Chuẩn đã khép
lại giai đoạn sáng tạo những tình khúc mùa thu Hà
Nội độc đáo vào những năm đầu hòa bình ở miền Bắc,
sau khi bài Gửi người em gái miền Nam bị phê phán
và ngừng không phát sóng. Mãi tới khi bước vào thời
kỳ đổi mới và mở cửa, những tình khúc mùa thu của
Đoàn Chuẩn mới thực sự được khôi phục cùng những
tình khúc lãng mạn của Văn Cao, Đặng Thế Phong,
Dương Thiệu Tước... ông phấn khởi, khỏe ra, mừng
tủi giữa bạn bè. Vài năm trước khi từ trần, bệnh
xuất huyết não khiến ông không thể di chuyển được
và nói rất khó khăn. Câu nói cuối cùng ông nói trước
khi không nói được là: “Rồi những người tình sẽ
ra đi. Rồi nhạc sĩ sẽ ra đi. Chỉ còn tác phẩm ở
lại”. NGUYỄN THỤY KHA
Nhà
thơ Trần Mạnh Hảo bị loại tên khỏi danh sách tuyển
chọn 100 bài thơ hay thế kỷ, chỉ vì…
Bấm
vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này
Nhà thơ Trần Mạnh Hảo. RFA PHOTO
Liên quan đến việc tuyển chọn 100
bài thơ hay nhất thế kỷ 20 do Trung tâm Văn hóa
Doanh Nhân và Nhà xuất bản Giáo Dục phát hành hiện
đang gây nhiều tranh cãi trong giới văn nghệ sĩ
tại Việt Nam.
Nói chuyện với Việt Hùng của đài chúng tôi, nhà
thơ Trần Mạnh Hảo, tác giả bài thơ Nguyễn Trãi trước
giờ chu di đưa ra nhận định về việc nguyên do đâu
mà bài thơ của ông bị loại ra khỏi danh sách.
Nhà
thơ Trần Mạnh Hảo: Hôm Tết vừa rồi có một
số báo đặt tôi viết bài, Tổng biên tập nói là sẽ
đăng, nhất định đăng, nhưng khi đưa xuống nhà in
thì có "lực lượng..." nói là không thể
đăng được.
Khi tôi hỏi một số người cầm đầu
Ban Tư tưởng Văn hóa thì họ bảo không có lệnh đó,
nhưng mà ở đất nước Việt Nam họ làm việc không có
giấy tờ gì cả, họ cấm là họ chỉ thông báo miệng
thôi và có những "lực lượng" còn ghê gớm
hơn cả ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương nữa cho nên
anh em ở báo Văn Nghệ chỉ cần có ai đó nhắc đến
tên Trần Mạnh Hảo là Tổng biên tập họ đã gạch đi
rồi.
Họ không cho nhắc đến tên tôi ở
tất cả các phương tiện truyền thông (ở trong nước),
cho nên câu chuyện nhà thơ Bằng Việt đưa ra thì
tôi mới biết là quần chúng đã bầu chọn bài thơ của
tôi thuộc vào 100 bài thơ hay của thế kỷ 20, đó
là bài thơ Nguyễn Trãi trước giờ chu di.
Thế nhưng khi đưa đi in thì bài
thơ của tôi bị gạch đi và thay vào đó là bài thơ
Mưa của nhà thơ Tô Hoàn, đó là nguyên văn lời nhà
thơ Bằng Việt (ở ban tuyển chọn) nói trên báo Nông
thôn Ngày nay và trên trang Web của báo Nhân Dân...
Việt
Hùng: Nhà thơ nói hồi Tết có một số
báo đặt bài viết nhưng không đăng, vậy những bài
viết đó mang nội dung như thế nào mà họ không đăng?
Nhà
thơ Trần Mạnh Hảo: Những bài viết đó chỉ
nói về tình tự dân tộc, chứ không có đụng vào chính
trị, bài viết nói về hình ảnh người mẹ trong đêm
Giao thừa mà tôi thắp hưởng tưởng nhớ... và hình
ảnh đêm Giao thừa nhớ về quê hương, về cha mẹ mình.
Ðó là những đề tài muôn thủa hoàn toàn không đụng
gì đến chính trị.
"Có
lệnh mồm"
Việt
Hùng: Nhưng do đâu mà nhà thơ lại nói
rằng "có lệnh mồm"?
Nhà
thơ Trần Mạnh Hảo: Có cái lệnh đó, tôi
nghe từ những anh em ở các báo nói riêng ông Trần
Mạnh Hảo là không được đăng bài mà cụ thể là một
số tờ báo đã đặt tôi viết bài mà không đăng được.
Lệnh đó chắc chắn là phát xuất từ Ban Tư tưởng Văn
hóa và A 25 tức Công an bảo vệ Văn hóa vì mỗi tuần
họ đều có họp để thi hành chỉ thị từ trên xuống
là đăng bài của ai, không đăng bài của ai.
Nhưng ở đây họ ra lệnh nhưng không
có văn bản cấm tôi, vì nếu có là tôi sẽ kiện họ
ra tòa, bởi vì điều 69 trong Hiến pháp đã quy định
về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí mà tại sao
lại cấm một nhà văn như tôi không được viết. Lệnh
cấm đó là vi phạm pháp luật.
Việt
Hùng: Nhà văn đánh giá việc bài
thơ bị loại của nhà thơ ra khỏi danh sách 100 bài
thơ hay của thế kỷ 20 này như thế nào?
Nhà
thơ Trần Mạnh Hảo: Theo anh Bằng Việt ở
Ban tuyển chọn đánh giá trong 100 bài thơ đó chỉ
có 50 bài là hay, còn 50 bài là dở. Ðấy là anh Bằng
Việt nói khi tuyển chọn thì có bài thơ của tôi do
quần chúng bầu chọn, đến khi đưa đi in thì không
còn.
Nhà thơ Thanh Thảo trên báo Người
Lao động cũng có bài phê phán kịch liệt về việc
trong 100 bài thơ này không có thơ của những nhà
thơ thuộc Việt Nam Cộng Hòa, tức ở miền Nam Việt
Nam trước và của miền Nam Việt Nam ở Hải ngoại.
Bởi vì nền văn học ở Việt Nam Cộng Hòa tức từ năm
1954 - 1975 thì cũng là gia sản văn học của dân
tộc, những anh em cầm bút mà ra Hải ngoại viết...
thì thành tựu của văn học, của anh em cũng là thành
tựu của dân tộc mà lại không có trong số đó.
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cũng phản
ứng chuyện đó rất gay gắt trên các báo công khai,
rồi nhà văn, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên cũng
có phản ứng trên các báo công khai, hầu như là không
có mặt tên tuổi các nhà thơ nổi tiếng của miền Nam
Việt Nam từ năm 54 - 75.
Theo tôi cái đó không đúng, bởi
vì nền văn học của Sài Gòn cũ có rất nhiều thành
tựu, rất nhiều nhà văn, nhà thơ đã đóng góp cho
dân tộc những tác phẩm lớn mà họ lại không có mặt
trong tuyển thơ này thì cái đó là chính trị hóa,
vẫn nhìn văn học bằng sự chia rẽ, cái nhìn phi văn
học...
Bài
thơ “Nguyễn Trãi trước giờ chu di”
Việt
Hùng: Nhưng mà bài thơ Nguyễn Trãi trước
giờ chu di của nhà thơ có liên hệ gì đến chính trị
đâu mà tại sao lại....
Nhà
thơ Trần Mạnh Hảo: Bài Nguyễn Trãi trước
giờ chu di đã in trên Tạp chí Sông Hương và cũng
đã được in trong Tuyển thơ 1000 năm Thăng Long,
tuyển thơ này là tuyển thơ dày nhất (hơn 1000 trang)
từ trước đến giờ.
Ở bài Nguyễn Trãi trước giờ chu
di tôi mô tả cái cảnh bi thảm nhất của lịch sử,
của dân tộc thông qua hình ảnh của Nguyễn Trãi khi
ông nhìn con cháu của ông bị giết chết và phút cuối
cùng ông mới bị giết chết, tức là bị "Chu di
tam tộc", tôi tả lại cái cảnh đó và đã được
in trên báo của nhà nước ở trong nước.
Việt
Hùng: Cái nhìn của nhà thơ về lý do nào
mà bài thơ đó bị loại ra để thay thế bằng bài thơ
khác?
Nhà
thơ Trần Mạnh Hảo: Lý do là vì tôi đã từng
viết 12 bài góp ý cho Ðại hội đảng Cộng sản Việt
Nam vừa rồi, họ mời tôi góp ý thì tôi góp ý. Góp
ý thì có thể khen-chê, tôi thì tôi chê, thế mà lại
lấy các chuyện đó ra để mà thù tôi không cho tôi
cầm bút là làm sao? Hiện nay tôi là một nhà văn
không được viết ở trong nước. Tôi là người cầm bút
thất nghiệp, tôi không được viết. Khi hỏi những
"người lớn" ở những cơ quan quản lý văn
hóa văn nghệ thì họ nói làm gì có cái Lệnh đó, họ
chối.
Ngay giải thưởng quốc gia vừa rồi
họ cũng loại tôi ra. So với những nhà thơ được giải
thưởng quốc gia vừa rồi thì tôi là người lẽ ra phải
được vì cá nhân tôi đã nhận nhiều giải thưởng của
Hội Nhà văn Việt Nam. Những đóng góp của tôi như
anh Chế Lan Viên cũng đánh giá anh ấy cũng coi tôi
là một trong những nhà thơ hàng đầu của chế độ.
Phân
biệt đối xử
Việt
Hùng: Tập thơ tuyển chọn 100 bài thơ
hay của Thế kỷ mà nhà thơ nói không có sự hiện diện
của các nhà thơ ở miền Nam Việt Nam trước đây nhà
thơ cho rằng đấy là sự phân biệt đối xử, nhưng cá
nhân nhà thơ cũng là người xuất thân từ lòng chế
độ rồi cuối cùng cũng không được đăng bài thơ như
vậy... thì có thể gọi trường hợp nhà thơ cũng bị
phân biệt đối xử hay không?
Nhà
thơ Trần Mạnh Hảo: Tôi là người đã được
nhận 4 giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, vừa
rồi trong giải thưởng của quốc gia họ cũng đã loại
tôi ra, bở vì tôi cũng đóng góp như các anh Nguyễn
Duy, anh Thanh Thảo, anh Hữu Thỉnh cũng từng đánh
giá tôi là thuộc lứa đầu các nhà thơ chống Mỹ nhưng
đến khi xét giải thì họ loại tên tôi ra.
Ngay giải thưởng quốc gia vừa rồi
họ cũng loại tôi ra. So với những nhà thơ được giải
thưởng quốc gia vừa rồi thì tôi là người lẽ ra phải
được vì cá nhân tôi đã nhận nhiều giải thưởng của
Hội Nhà văn Việt Nam. Những đóng góp của tôi như
anh Chế Lan Viên cũng đánh giá anh ấy cũng coi tôi
là một trong những nhà thơ hàng đầu của chế độ.
Họ phân biệt chỉ vì tôi đã có những
bài viết tôi nói lên chính kiến của tôi, tôi là
người cầm bút trước hết tôi phải được nói lên chính
kiến của tôi, chính kiến của tôi sai hay đúng thì
phải được tranh luận chứ tại sao các ông lại không
cho tôi cầm bút ở trong nước trong khi các ông cho
là đất nước của các ông là tự do, tự do gấp triệu
lần tư bản, một đất nước luôn đưa ra khẩu hiệu "Sống
và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật" nhưng
đằng này lại cấm, tôi thấy như thế là không được,
không đúng về đạo lý cũng như tư cách của người
cầm bút, tức là Trung tâm Văn hóa cùng kết hợp với
Bộ Giáo dục, với nhà xuất bản Giáo dục.
Theo như nhà thơ cùng lứa với tôi
như anh Bằng Việt anh ấy nói trong 100 bài thơ đó
chỉ có 50 bài là được, anh Thanh Thảo nói có rất
nhiều bài thơ dở, anh Nguyễn Trọng Tạo khẳng định
tập thơ này là phản thơ, anh Phạm Xuân Nguyên cũng
phản ứng trên các báo của nhà nước, anh Vũ Quần
Phương trên báo Văn Nghệ anh ấy cũng nói tập thơ
này là xấu mặt Hội Nhà văn Việt Nam.
Việt
Hùng: Thay mặt quí thính giả của đài xin
cám ơn nhà thơ Trần Mạnh Hảo.
Chương
Tử Di: Được chết trong tay người yêu là hạnh phúc!
Trở
về từ phim trường phim Horsemen ở Canada, một tin
vui đã chờ sẵn Chương Tử Di tại quê nhà: 10 tờ báo
lớn của Trung Quốc đề cử cô là người Trung Quốc
có ảnh hưởng lớn nhất năm 2006.
“Đó thực sự là một vinh dự lớn
cho tôi. Bản thân tôi chưa bao giờ nghĩ mình là
một “ai” cả!” Chương tiểu thư khiêm tốn phát biểu
với báo giới.
Theo Chương, một ‘người hùng’ thật
sự phải là người có những đóng góp thật lớn lao
cho xã hội, nhưng không nhất thiết là người nổi
tiếng. “Tôi chỉ là một người may mắn được sống trong
một cuộc sống thật tốt đẹp với những sản phẩm tuyệt
vời. Nói chung, tôi là người vô cùng may mắn”.
“Tuy nhiên, tôi cũng không nghĩ có những đường tắt
nào đến được thành công cả?” Ngôi sao kết luận rất
khôn khéo.Sau Horsemen, Chương sẽ tiếp tục góp mặt
trong một sản phẩm khác của Hollywood, một chuyện
tình phương Tây lãng mạn của những năm 1960. Cùng
xuất hiện với Chương sẽ có ngôi sao Hàn Quốc Dong-Kun
Jang và ekip The Lord of the Rings.
Từ sau Hồi ức một Ghensa, Chương
liên tiếp được các nhà sản xuất Hollywood lựa chọn.
Nhưng Chương nói cô không quan tâm tới chuyện phim
đó do Hollywood hay Trung Quốc sản xuất. “Điều quan
trọng nhất là tôi kịch bản phim hấp dẫn tôi, và
tôi thực sự cảm thấy hứng thú!”
Chương cho biết cô chọn lựa kịch
bản rất kỹ. Cách đây vài hôm cô cũng được mời vào
vai một phiên dịch viên nhập cư. Đó là một vai diễn
rất hấp dẫn, nhưng một số chi tiết trong kịch bản
có tính phân biệt chủng tộc. Chương đã thẳng thắn
từ chối ngay.
Khi nói về các đạo diễn Trung Quốc
cô đã từng cộng tác. Chương Tử Di cho rằng: mỗi
người có một cảm giác khác nhau: Phùng Tiểu Cương
là “một người bạn thật sự, có thể tâm sự cả vui
buồn”; Lý An “là một người bạn lớn”, không chỉ mang
đến cho tôi cơ hội và thành công hôm nay, mà còn
là người giúp tôi tìm cách vượt qua khó khănCòn
Trương Nghệ Mưu thì Chương Tử Di cười to: “Chúng
tôi là bạn thân!”
Khi trả lời câu hỏi nếu một ngày
không may Chúa lấy đi hết những thứ cô đang sở hữu:
sắc đẹp, danh tiếng, tình yêu, gia đình… nhưng cho
chọn một thứ duy nhất để giữ lại. Cô sẽ chọn gì?
“Tôi có thể lựa chọn giữa tình
yêu và gia đình. Nếu bạn được chết trong vòng tay
một người vô cùng yêu thương của bạn. Đó cũng là
hạnh phúc đó chứ!”.
Đan Đoàn (Theo Xinhua)
Tin
Trung Quốc: Ầm ĩ chuyện quý bà giàu có bao nuôi
nhà thơ nghèo
Hồng
Diễm - phú bà nhận bao nuôi chàng thi sĩ nghèo Hoàng
Huy
TP - Tháng 11 năm 2006, Hoàng Huy quê ở Hồ Nam (Trung
Quốc), một nhà thơ trẻ khá có tiếng tăm, do cuộc
sống quá bức bách đã nhờ báo chí đăng tin anh ta
muốn tìm một quý bà giàu có để bao nuôi nhằm thực
hiện được giấc mơ sáng tác của bản thân…
Sau khi báo chí đăng tải tin này đã dấy lên làn
sóng chỉ trích, phê phán mạnh mẽ trên các diễn đàn
mạng và trên báo chí. Người ta tới tấp phê Hoàng
Huy là “thi sĩ rởm”, “tiện khách văn hóa”, “nhà
văn lưu manh”…
Mọi chuyện rồi cũng dần qua đi,
nhưng mới đây Hồng Diễm, một phụ nữ giàu có, tác
giả của tiểu thuyết “Thương hải mê tình” công khai
tuyên bố trên blog của mình muốn bao nuôi Hoàng
Huy trong một năm, đã làm vụ việc sống lại và càng
trở nên ầm ĩ.
Thậm chí có ý kiến cho rằng đây
sẽ là sự kiện nổi bật nhất của làng văn nghệ Trung
Quốc năm nay.
Trước phản ứng dữ dội của công chúng,
Hồng Diễm nói cô không ngờ vụ việc lại gây nên tranh
cãi như thế, “tôi không dám đọc các ý kiến trên
mạng nữa”.
Nhưng cô cũng muốn thông qua báo
chí để thanh minh cô nhận bao nuôi Hoàng Huy không
phải là sự trao đổi về mặt thân xác mà bản chất
là tài trợ cho chàng thi sỹ mà thôi.
Sau khi tin loang ra, trên mạng
đã lan truyền bản thỏa thuận giữa hai người với
ngôn từ rất “hấp dẫn”: “Bên B (Hoàng Huy) có nghĩa
vụ sáng tác, làm việc và phục vụ khác cho bên A
(Hồng Diễm), đảm bảo cần lúc nào có lúc ấy. Thời
gian và phương thức phục vụ cụ thể bên B phải tích
cực phối hợp…”.
Tuy nhiên, sau đó Hồng Diễm đã kiên
quyết phủ nhận. Cô nói, lúc đầu Hoàng Huy cũng hiểu
lầm ý định của cô và đưa ra cái giá 12 vạn tệ/năm.
“Tôi chỉ muốn dùng sự tài trợ của
mình để nâng cánh cho anh ấy thôi”. Cô nói, khi
báo chí đăng tin Hoàng Huy tìm người bao nuôi, cô
đã đi sâu tìm hiểu thông tin về anh ta thì thấy
đây là một thi sĩ có lý tưởng chứ không phải kẻ
giang hồ lừa đảo.
Cô bao nuôi Hoàng Huy là đồng cảm
với anh ta vì cô cũng từng lưu lạc ở Thâm Quyến,
từng chịu đói khát. “Anh ấy có tài, nhưng thiếu
cơ hội!”.
Ấn tượng của Hồng Diễm về chàng
thi sĩ nghèo ấy là “người cao, tướng mạo đàng hoàng,
tiên phong đạo cốt, khí độ phi phàm”.
Hồng Diễm cho biết, hiện nay Hoàng
Huy sống nhờ vào tiền nhuận bút, chỉ khoảng 500
tệ/tháng. Hợp đồng bao nuôi của cô gồm hai phần:
thứ nhất, thuê cho Hoàng Huy một căn hộ riêng biệt
thích hợp cho việc sáng tác; hai là, đảm bảo toàn
bộ việc ăn mặc cho anh ta.
“Mỗi tháng chi phí sẽ khống chế
trong khoảng 10 ngàn tệ (20 triệu VND). Tôi không
giàu có gì lắm, nhưng khoản tiền như thế thì cũng
có”. Hồng Diễm nhấn mạnh:
“Tôi không hiểu hết về Hoàng Huy
nên phải mượn đến giấy trắng mực đen để ký kết hợp
đồng. Điều kiện là trong một năm anh ấy phải đạt
được mục tiêu bản thân đã xác định và tôi chấp nhận
được”.
Được biết, Hồng Diễm là trợ lý Tổng
Giám đốc một tập đoàn công ty ở Trùng Khánh và có
công ty văn hóa riêng, là hội viên Hội Nhà văn Trùng
Khánh, sáng tác viên của Viện Văn học Trùng Khánh.
Cuối năm ngoái cô đã xuất bản cuốn
tiểu thuyết “Thương hải mê tình” (Mối tình si của
thương gia), trước đây cô cũng đã có một số tác
phẩm. Cô đã từng kết hôn rất sớm, nhưng sau đó người
chồng khi đi học nghiên cứu sinh ở Cáp Nhĩ Tân đã
ngoại tình.
Chán chường cô đã bỏ xuống Thâm
Quyến để kiếm sống và chịu bao vất vả khổ sở để
vượt lên số phận và trở nên giàu có.
Tuy các nhà báo không thể tiếp xúc
được với Hoàng Huy, nhưng Hồng Diễm đã cung cấp
cho họ một bài viết của anh ta, trong đó có đoạn:
“Tôi đón nhận tin Hồng Diễm bao
nuôi mình với cảm giác vừa mừng vừa lo… Tôi biết
miệng lưỡi người đời sẽ quyết không buông tha cô
ấy. Tôi phải xin lỗi Hồng Diễm vì đã hại đến cô
ấy…
Nhìn thấy ảnh của Hồng Diễm, tôi
thực sự thích người con gái này. Tôi nguyện sẽ dâng
lên nàng những vần thơ đẹp nhất. Nếu được sống suốt
đời với một phụ nữ như thế thì tôi nguyện làm mọi
điều theo yêu cầu của cô ấy” (!). Thu Thủy
Từ chuyện
hai nghệ sĩ ưu tú… đánh nhau nơi công cộng :
Còn đâu cái tình nghệ sĩ?
Mấy ngày nay, giới nghệ sĩ sân khấu và “cư dân mạng”
xôn xao chuyện hai tân nghệ sĩ ưu tú H.H. và H.Q.
“đánh nhau” tại rạp hát Hưng Đạo, TPHCM. Tại sao
lại có chuyện hành xử như vậy?
Từ lời của NSƯT - đạo diễn
H.H...
Về sự việc đáng tiếc này, đạo diễn – NSƯT H.H kể:
“Khi dàn dựng chương trình Lễ hội bánh tét trong
dịp Tết Đinh Hợi vừa qua, tôi đã mời H.Q. làm phó
đạo diễn với giá cátxê là 10 triệu đồng. Do quá
bận công việc, cùng lúc phải dàn dựng hai chương
trình Lễ hội bánh tét, Kim Vân Kiều – Hội ngộ tài
năng nên tôi giao toàn bộ kinh phí của chương trình
Lễ hội bánh tét để H.Q. thanh toán tiền cátxê theo
thỏa thuận với tất cả diễn viên tham gia biểu diễn.
Mới đây, tôi nhận được sự phản ánh của một số diễn
viên là họ không nhận số tiền cátxê đúng với số
tiền tôi duyệt chi…”.
... đến bản tường trình
của NSƯT - diễn viên H.Q.
Bản tường trình của NSƯT – diễn viên H.Q. gởi đến
Báo SGGP chiều 28-3, có đoạn: “Ngoài việc mời tôi
làm trợ lý đạo diễn với số tiền thỏa thuận trả cho
tôi là 10 triệu đồng, đạo diễn H.H. còn phân công
tôi mời một số diễn viên quần chúng và thực hiện
các khoản thuê may phục trang, đạo cụ. Tôi đã làm
một bản dự toán viết tay là 59 triệu 700 ngàn đồng.
Đạo diễn H.H. đã đồng ý với bảng dự toán nêu trên
và giao toàn bộ số tiền đó cho tôi… Khi tôi mời
các nghệ sĩ tham gia chương trình, tôi đã báo giá
trước cho họ. Tất cả đều nhận lời tham gia và chấp
nhận số tiền thù lao do tôi trả. Riêng phần trách
nhiệm trợ lý đạo diễn của tôi, tôi đã hoàn thành
nhiệm vụ. Một tháng sau lễ hội, đạo diễn H.H. vẫn
chưa trả tiền trợ lý cho tôi. Đạo diễn H.H. nói
rằng không trả tiền trợ lý cho tôi, vì tôi “ăn chặn”
tiền của diễn viên, bởi bản dự toán và thực tế chi
có sự chênh lệch. Tôi đã trình bày, nhưng đạo diễn
H.H. không nghe, bất đồng xảy ra…”.
Đâu là tình nghệ sĩ?
Theo một số thông tin, sắp tới, lãnh đạo Sở VHTT
TPHCM và Ban Giám đốc Nhà hát cải lương Trần Hữu
Trang sẽ có cuộc họp với các nghệ sĩ liên quan để
tìm hiểu rõ sự việc và có hướng xử lý. Theo chúng
tôi, sự việc nêu trên đã phản ánh cách thức tổ chức,
thực hiện của chương trình nghệ thuật, lễ hội còn
thiếu bài bản, chưa chuyên nghiệp. Chính vì thế
dẫn đến chuyện đáng tiếc hai NSƯT H.H., H.Q. đánh
nhau, chưa kể những thất thoát về thuế thu nhập
cá nhân (trừ 10% theo quy định hiện hành đối với
những nghệ sĩ, diễn viên có mức giá cátxê từ 500
ngàn đồng trở lên). Khi sự việc xảy ra, không ít
người đều cảm thấy tiếc cho cả hai NSƯT này, lại
vừa được Nhà nước phong tặng NSƯT, chuyện “động
tay, động chân” vì mâu thuẫn tiền nong liệu có đáng?
(SGGP)
Lý
Liên Kiệt: "Điện ảnh không còn là điều quan
trọng nhất"
Lý
Liên Kiệt.
“Kể từ bây giờ, đóng phim chỉ là công việc của tôi
mà thôi, nó không là điều quan trọng nhất trong
đời tôi nữa. Hiện tôi đóng phim chủ yếu là để làm
từ thiện”, Lý Liên Kiệt cho biết như vậy khi đạo
diễn Trần Khả Thi mời anh tham gia bộ phim hành
động cổ trang “Đầu danh trạng”.Lý
Liên Kiệt còn nói đạo diễn quả thật can đảm khi
mời anh đóng phim trong hoàn cảnh như thế, bởi anh
chỉ có thể bảo đảm mình toàn tâm với công việc trong
12 tiếng, quá 12 tiếng, anh hoàn toàn là một con
người khác.
Vẫn còn hai bộ phim của Holywood
đang đợi anh, đó là Vua công phu (hay Kế hoạch J&J)
hợp tác cùng Thành Long và The Mummy 3 với tên tạm
thời là Curse of the Dragon. Nhưng xem ra anh cũng
không mặn nồng gì với những phim lớn của Holywood
về thể loại này.
Nguồn tin hai ngôi sao võ thuật
lớn của điện ảnh Hoa ngữ là Thành Long và Lý Liên
Kiệt cùng có mặt trong Vua công phu đã thật sự gây
được sự chú ý cho giới điện ảnh trong và ngoài nước.
Phim dự định sẽ khởi quay vào cuối tháng 4 hoặc
đầu tháng 5 năm nay, với tựa tiếng Anh Kings of
KungFu.
Vua công phu là một bộ phim hành
động mạo hiểm, kể về một người con trai Mỹ tên Jason
mang theo sứ mệnh thần bí, quay trở lại thời Trung
Quốc cổ đại, may mắn gặp được cao thủ công phu Lỗ
Ngạn và Kim Yến Tử do Thành Long, Lý Liên Kiệt thủ
diễn. Cả ba đã rất gian nan trong cuộc chiến chống
lại thế lực tà ác, hoàn thành sứ mệnh cứu Mỹ hầu
vương và cũng là cứu lấy chính mình. (Theo TT)
Trần
Dần, đôi nét...
Nhà
thơ Trần Dần, năm 28 tuổi. Ảnh: TL gia đình
TP - Trần Dần ngồi trong một góc nhà thiếu ánh sáng,
chỉ vài mét là đường phố, mà ngỡ như ông đã tạo
một thế giới riêng cho ông, thế giới của trầm tư,
trầm cảm…
Đầu giai đoạn Đổi Mới văn học, tôi được chuyển từ
báo Độc Lập sang làm biên tập thơ cho NXB Hội Nhà
văn. Công việc mới buộc tôi phải đối mặt với những
sự việc đang được công luận quan tâm.
Thí dụ: Xuất bản những ấn phẩm của
các tác giả lâu năm bị “treo bút”. Ngoài việc chính
của NXB, tôi còn làm cộng tác viên biên tập cho
tạp chí Tác Phẩm Mới…
Tôi được cử đi lấy bài. Hà Nội lúc
ấy thật nhỏ! Gặp Trần Dần, Văn Cao, tôi chỉ cần
đi bộ vài trăm mét khỏi cơ quan xuất bản. Trần Dần
ở một con phố nhỏ ngay sau NXB.
Trần Dần ngồi trong một góc nhà
thiếu ánh sáng, chỉ vài mét là đường phố, mà ngỡ
như ông đã tạo một thế giới riêng cho ông, thế giới
của trầm tư, trầm cảm…Ấn tượng đầu tiên với tôi
là có cái gì rất đồng nhất, hài hòa giữa tâm trạng,
tính khí ông và thơ ông với góc nhà này!
Ông ngồi đó hầu như bất động từ
bao năm với gương mặt râu ria, không cởi mở, thậm
chí không nhếch một nét cười khi biết mục đích tôi
đến tìm ông…
Sau tôi mới biết, ở bên trong sự
trơ lì đó là những dòng nham thạch sục sôi của sáng
tạo. Kể cả khi có điều kiện đi dã ngoại như chuyến
đi Huế với Phùng Quán mà Ngô Minh đã ghi lại: “Sáng
ngày 11/5/1988, tôi đến khách sạn hầu chuyện ông,
ông vẫn ngồi một mình trên giường, tôi hỏi sao ông
không đi chơi đâu đó với anh Quán.
Ông nói: Phùng Quán ngồi không yên,
chỉ thích đi. Mình ngồi ba chục năm quen rồi. Ngồi
mà vẫn đi, vẫn ngao du. Mình có cuốn sổ “bụi”, sổ
“ngao du”. Mình đi chơi lang thang trong cuốn sổ
này. Đây là sổ để ghi tất cả những gì mới nghĩ ra.
Có khi ngoài cả ý thức. Đó là cách đi của mình”.
(Ba buổi sáng với Trần Dần).
Có lẽ từ dáng ngồi này, mà xuất
hiện huyền thoại: Khi ông mất đi, trên bức tường
góc nhà như vẫn còn bóng ông ngồi đó! Để Trịnh Thanh
Sơn có được câu thơ xuất thần: Bao năm tháng thân
chìm vào bóng – Thân về trời bóng vẫn ngồi im.
Trước khi đưa thơ cho tôi đọc bằng
mắt, ông có đọc vài câu thơ xen trong câu chuyện,
có hai câu làm tôi giật mình: Tôi tiếc những chân
trời không có người bay- Lại tiếc những người bay
không có chân trời!
Trời ơi! Mấy chục năm ở trong bóng
tối mà ông viết toàn những câu như vậy thì thật
“ghê gớm”! Nhưng khi đọc bằng mắt cả loạt bài thì
không phải vậy. Nhiều bài diễn đạt hơi rối, khúc
mắc.
Đó là theo cách nhìn hồi ấy của
tôi: (thơ cần có ý tưởng và cách diễn đạt có thể
đa nghĩa mà vẫn trong sáng), còn với ông: “ Làm
thơ là làm con chữ. Con chữ nó đẻ ra nghĩa, sẽ được
nhiều nghĩa. Cái biết rồi là nghĩa, cái chưa biết
là chữ. Nếu làm thơ mà làm nghĩa, rồi mới mượn chữ
để diễn đạt nghĩa thì nghĩa sẽ hẹp. Cái chưa biết
mới là cái thăm thẳm, cái chưa biết mới là cái mới.
Nguyễn Du vừa làm chữ vừa làm nghĩa.
Ví dụ câu “Trăm năm trong cõi người
ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” là làm nghĩa.
Còn câu “Mai sau dù có bao giờ” là làm chữ, câu
thơ toàn những hư tự mà lại đa nghĩa, đa cảm!...(
Ngô Minh ghi lại trong bài trên).
Sau khi đắn đo, không phải với quan
niệm riêng của tôi, mà bằng cả tình hình in ấn lúc
đó, thấy bài đưa in dễ nhất lại là một chương trong
trường ca Việt Bắc viết năm 1957. Thôi thì “đầu
đi đuôi lọt”, hãy cứ để ông tái xuất giang hồ thuận
lợi đã!
Ở trường ca này, giọng thơ ông rất
sảng khoái, sung sức, có những liên tưởng, so sánh
thật mới mẻ:
Một đống tết xa nhà đã rỉ han
lên
...............
Hãy sống như những con tầuphải
lòng muôn hải lý
Mỗi ngày bỏ sau lưng nghìn hải
cảng mưa buồn
Cùng với Cổng tỉnh (thơ-tiểu thuyết)
in sau đó, cũng viết năm 1959 (được tặng thưởng
Hội Nhà văn 1995), tôi cảm thấy ông và Nhà thơ Hữu
Loan có nhiều nét giống nhau: rất cực đoan trong
đời sống và cá tính sáng tạo.
Lúc đó, tôi chưa được tiếp xúc với
kho “bản thảo nằm” như cách ông gọi, mà sau này,
khi tìm hiểu để đóng góp mục từ Trần Dần trong Từ
điển văn học (bộ mới, NXB Thế Giới 10/2004) tôi
mới được biết, chỉ kể sơ sơ không đầy đủ: Đêm núm
sen (tiểu thuyết, 1961), Mùa sạch thơ, 1964 (NXB
Hội Nhà văn 1988), Những ngã tư và những cột đèn
(tiểu thuyết, 1964), Một ngày Cẩm Phả (tiểu thuyết,
1965), Con trắng (thơ hồi ký, 1967), 177 cảnh(hùng
ca lụa, 1968), Động đất tâm thần (nhật ký- thơ 1974),
Thơ không lời, mây không lời (thơ-họa, 1978), 36-Thở
dài- Tư mã dâng sao (thơ bộ tam)…
Còn đây là những dòng về nhân thân
nhà thơ, bạn có thể đọc được trong cuốn Từ điển
văn học nói trên:
Trần Dần (23.8.1926 – 7.1.1997)
Nhà văn Việt Nam, tên thật là Trần Văn Dần, nguyên
quán tp Nam Định.Ông thân sinh là một viên chức
kho bạc Nam Định. Học qua bậc Thành chung ở Nam
Định rồi lên Hà Nội học. Đậu tú tài Triết ở Hà Nội.
1946, cùng Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch,
Vũ Hoàng Chương thành lập nhóm thơ tượng trưng Dạ
đài. Viết: Về nẻo thanh tuyền (NXB Hội Nhà văn in
lại trong tập Thơ Mới 1932-1945, 1999).
Kháng chiến chống Pháp bùng nổ trở
về Nam Định tham gia công tác thông tin tuyên truyền
ở huyện Vụ Bản rồi ở Sở Tuyên truyền Khu IV. 1948,
vào bộ đội, ở Ban chính trị Trung đoàn 148, làm
công tác tuyên truyền cùng Vũ Khiêu, Vũ Hoàng Địch,
sau làm báo ở mặt trận Tây Bắc và phụ trách văn
công Trung đoàn Sơn La.
Tham gia sáng lập nhóm văn nghệ
quân đội đầu tiên- nhóm Sông Đà, bắt đầu làm thơ
leo thang và vẽ tranh lập thể, bị chê là khó hiểu.
1954 tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, hào hứng
viết truyện dài Người người lớp lớp, được NXB Quân
đội nhân dân in trong cùng năm.
Chiến dịch kết thúc, được cử sang
Trung Quốc viết thuyết minh phim Chiến thắng Điện
Biên Phủ. Viết Anh đã thấy, Tiếng trống tương lai
in ở tạp chí Văn Nghệ quân đội 1954. 1955, phê bình
tập thơ Việt Bắc, viết bài thơ Nhất định thắng,
bị phê phán gay gắt... 1959-60, viết Sắc lệnh 59,
Con tàu xã hội (thơ) và Cổng tỉnh (thơ-tiểu thuyết,
NXB Hội Nhà văn 1994).
Từ 1961, kiếm sống bằng nghề tô
màu ảnh và cũng dùng chất liệu này để tiếp tục vẽ
tranh. Sau khi ông qua đời, Mai Gallery (Hà Nội)
đã tưởng niệm nhà thơ bằng một triển lãm thân hữu,
giới thiệu một khía cạnh còn ít được biết đến: 40
tranh khổ nhỏ chọn lọc của ông - một hình thức biểu
đạt khác của thơ, tiếp cận lập thể, siêu thực và
trừu tượng làm giới xem tranh thật sự ngạc nhiên,
khi biết những tranh ông vẽ vào những năm 60 là
thời điểm mà những thông tin nghệ thuật thế giới
đến Việt Nam còn rất hạn chế…
Vào cuối năm 1989, bước vào giai
đoạn tác giả có thể bỏ tiền tự in, tự phát hành
với sự cấp giấy phép của Nhà xuất bản, thì nhà thơ
Trần Dần mang bản thảo đến NXB Hội Nhà văn: tập
trường ca Bài ca Việt Bắc.
Là người biên tập thơ, tôi được
NXB giao đọc để có ý kiến thẩm định. Bài ca Việt
Bắc lúc đó gồm 13 chương. Tôi đọc kỹ: Hơi thơ và
các câu thơ đều nhất khí một một mạch viết khỏe
khoắn, mới mẻ. Về hình thức, lối thơ leo thang,
người ta có thể liên hệ đến thơ Maiacôpxky, nhưng
về ý tưởng sáng tạo trong câu chữ thì chỉ Trần Dần
mới viết như vậy!
Việt Bắc
Cho ta vay địa thế
Vay từ bó củi nắm tên
... Quả đất lớn
Mà
Tâm địa nhỏ
Nó chi li từng hạnh phúc đơn
sơ...…
Tâm đắc với những câu thơ như thế,
tôi nóng muốn tạo điều kiện cho ra mắt bạn đọc được
sớm (mà còn sớm gì nữa sau ba thập kỷ!).
Nhưng đọc đến chương 12, tôi bỗng
giật mình: Đó là toàn bộ bài thơ.
Nhất định thắng !
Tác phẩm đầu tiên được in, lại in
đúng tác phẩm bị phê phán kịch liệt một thời, ai
dám duyệt! Khác nào sau thời gian giận dỗi, người
con trở về nhà đã thay câu chào bằng câu trách “Mẹ
mắng con là mẹ sai!”.
Nếu tôi cứ tắc trách đưa duyệt,
tập trường ca này không ra mắt được thì chỉ thiệt
thòi cho tác giả, cho độc giả và nền văn học kháng
chiến. Tiếc một cây có thể bỏ phí một cánh rừng!
Anh Trần Dần vốn là người ít giao
tiếp, không hiểu cặn kẽ sắc thái tinh tế của những
mối quan hệ xã hội chính trị trong từng giai đoạn,
mình phải để anh thấy rõ…Nghĩ vậy, tôi bèn gặp nhà
thơ, phân tích rõ, và đề xuất anh nên để lại chương
đó, sẽ in vào một thời điểm thuận lợi hơn và đánh
số lại các chương như không có gì xẩy ra.
Tôi thêm:”Nếu anh không đồng ý,
ngày mai tôi sẽ đưa duyệt nguyên vẹn, rồi chờ ý
kiến Tổng biên tập!”. Khuôn mặt râu ria của Trần
Dần càng thêm tối lại, ông hẹn ngày mai sẽ trả lời.
Hôm sau, nhà thơ chống ba toong
lên gác nhà xuất bản, ông nói: ”Thôi được! Anh sát
tình hình hơn tôi, anh cứ bỏ chương đó ra!”. Tôi
biết ông không vui, nhưng không biết ông có hiểu
sự chân thành của tôi? Sau đó tôi trình bày diễn
biến với Tổng biên tập Vũ Tú Nam, anh Nam rất tán
thành cách giải quyết của tôi.
Khi tác phẩm in xong, tôi nhận được
cuốn đầu tiên từ tác giả gửi tặng với dòng chữ đề:
Gửi Vân Long
Người biên tập lại “Đi! Đây
Việt Bắc!”
thông minh và công phu!
song tôi vẫn phản đối mọi kiểm
duyệt
Tôi đòi sự công bằng trong sáng
của texte intégral.
Trần Dần
(texte intégral: nguyên bản toàn
vẹn. Ở đây tác giả vẫn gọi trường ca theo tên cũ:
Đi! Đây Việt Bắc!).
Đọc dòng đề tặng, tôi đâm suy nghĩ:
Vậy là cụ vẫn còn hận mình? Mình là quân tốt đen
xưa nay, vô hình chung bị mang tiếng là người kiểm
duyệt? Dù được khen là thông minh và công phu nhưng
sao dấu chấm than lại đậm như dấu hỏi bị chữa lại?
Cụ khen mỉa chăng?
Tôi ghé sang nhà tác giả hỏi lại
ông. Nhà thơ chậm rãi:”Lúc đầu, tôi có bực mình.
Nhưng sau thì thấy anh đúng, chân tình với tôi!
Mấy câu đề tặng là tôi khen thật! Còn người viết
bao giờ chả muốn texte intégral!”.
Nghe câu nói đó, tôi mới thật yên
lòng! Về phía ông, sau khi Cổng tỉnh. được tặng
thưởng, hẳn đã thấy thêm về sự công bằng đang được
lập lại.
Và bây giờ là Giải thưởng Nhà nước…
Nhà thơ Vân Long
(TIENPHONG)
"Nàng
Lâm Đại Ngọc" Trần Hiểu Húc xuống tóc đi tu
Trần
Hiểu Húc khi xuống tóc.
Trước nhiều đồn đại về chuyện mình xuống tóc, nàng
Lâm Đại Ngọc nổi danh trong bộ phim "Hồng lâu
mộng" lên tiếng chia sẻ. Với nhiều khán giả
yêu mến cô, đây là tin động trời, nhưng "Lâm
tiểu thư" lại cho rằng, vào cửa Phật là chuyện
rất đỗi bình thường.Việc
xuống tóc đi tu của chị đã khiến khắp nơi đồn đại
rằng chị gặp trắc trở về kinh doanh, đổ vỡ tình
cảm riêng tư và bất hạnh trong cuộc sống gia đình.
Sự thật đằng sau tin đồn là thế nào?
Đó chỉ là sự đồn đoán. Họ cho rằng
tôi xuống tóc đi tu là do bất hạnh trong cuộc sống.
Thực ra, cuộc đời tôi cho đến lúc này đâu có gặp
nhiều khó khăn, trắc trở. Vấn đề của tôi có lẽ nằm
ở chỗ tôi luôn phủ nhận chính mình. Việc tôi theo
đạo Phật hoàn toàn ngẫu nhiên, là cơ duyên. Điều
đó cũng giống như việc tôi từ một diễn viên trở
thành bà chủ trong giới kinh doanh vậy.
Điều mà chị cho là ngẫu nhiên ấy cụ thể thế
nào?
Hồi năm 1999, có lần ngồi trên
xe của một người bạn, tôi vô tình được nghe cuốn
băng ghi âm của thiền sư Tịnh Không giảng giải về
kinh Vô lượng thọ. Lúc đó, tôi như thấy tâm trí
mình bừng sáng và thế là tôi theo đạo Phật.
Chị thường nói thiền sư Tịnh Không là sư phụ
của mình. Vậy làm thế nào để chị tiếp cận được thiền
sư?
Khoảng 2 tháng sau sự kiện nói
trên, tôi có được thông tin thiền sư Tịnh Không
sẽ giảng kinh ở Singapore. Vậy là tôi xin visa và
mua vé sang Singapore để mắt thấy tai nghe thiền
sư giảng kinh. Khi ấy, nhìn khuôn mặt nhân từ của
thiền sư, tôi có cảm giác như mình đã gắn với đạo
Phật từ lâu.
Tôi hỏi thẳng thiền sư: "Tôi có thể làm
đệ tử của thiền sư được không?". Ngày hôm sau,
thiền sư Tịnh Không đã làm lễ quy y đạo Phật cho
tôi, vậy là ngài trở thành sư phụ của tôi và tôi
chính thức theo đạo Phật.
Nhưng lúc đó với cương vị là nhà kinh doanh,
bà chủ của công ty quảng cáo Thế Bang, tâm trí đâu
để chị theo đuổi đạo Phật?
Quả là công việc kinh doanh bận
rộn thật, nhưng mỗi ngày của tôi được bắt đầu bằng
việc tụng kinh Vô lượng thọ và kết thúc bằng kinh
Địa tạng để kiểm điểm những điều sai trái của mình
trong ngày. Ngoài ra, tôi thường tranh thủ 30 phút
nghỉ trưa để tĩnh tọa.
Tại sao đang là diễn viên, chị lại bước sang
lĩnh vực kinh doanh?
Tôi từ ngành nghệ thuật bước sang
lĩnh vực kinh doanh cũng là ngẫu nhiên. Sau vai
Lâm Đại Ngọc trong Hồng lâu mộng, tôi còn diễn vai
người chị họ tên Mai trong phim truyền hình Gia
xuân thu, nhưng khán giả cho rằng nhân vật ấy chỉ
là phiên bản của Lâm Đại Ngọc. Từ sau đó, chẳng
còn đạo diễn nào mời tôi đóng phim nữa.
Mới chỉ tham gia diễn hai phim nhưng tiếng tăm
của chị còn nổi hơn nhiều nghệ sĩ cả đời gắn với
nghiệp diễn. Vậy tại sao điện ảnh lại không còn
đất dành cho chị?
Có lẽ do ngay từ đầu đã diễn vai
lớn, khởi điểm quá cao thế nên sau đó không có kịch
bản phù hợp cho tôi nữa.
Thời gian sau đó, vì lý do gì mà chị định ra
nước ngoài sinh sống?
Thập niên 1980, tại Trung Quốc
có phong trào ra nước ngoài và tôi cũng mù quáng
đi theo con đường đó. Tôi muốn sang Mỹ nhưng bị
từ chối cấp visa. Bạn bè khuyên tôi nên sang Đức
trước, rồi từ Đức qua Mỹ. Vậy là tôi sang Đức, nhưng
đúng 3 tháng sau thì trở về Trung Quốc. Về rồi,
tôi vẫn chưa xác định mình sẽ làm gì. Mãi đến năm
1991, tôi mới quyết định bước vào lĩnh vực kinh
doanh và sau đó thành lập công ty quảng cáo Thế
Bang.
Muốn kinh doanh phải có vốn. Chị lấy vốn ở đâu
để mở công ty?
Tôi có đủ vốn là nhờ cổ phiếu.
Sau khi hoàn thành phim Hồng lâu mộng, tôi nghe
theo bạn bè dùng 20 nghìn nhân dân tệ tiền thù lao
đóng phim mua cổ phiếu. Chẳng ngờ cổ phiếu tăng
giá gấp mấy lần, thế là tôi trở thành người giàu.
Trong kinh doanh, "nàng Lâm Đại Ngọc"
đã giúp gì cho chị?
Dù gì thì Lâm tiểu thư vẫn giúp
tôi một cách vô hình, chẳng hạn như đem đến cho
tôi nhiều cơ hội hơn...
Giờ
đây chị đã chuyên tâm về với cửa Phật, lìa xa cuộc
sống trần tục. Vậy mục tiêu cho quãng đời còn lại
của chị là gì?
Mục tiêu của tôi lúc này là tu thành chính quả,
làm được nhiều việc tốt. Tôi từng chuyên tâm với
công việc làm giàu, và đã dùng trí tuệ của mình
để tạo ra sự giàu có. Giờ đây, tôi muốn dùng tài
sản của mình để làm vui cho đời, cống hiến cho những
công việc công ích xã hội. Tôi nghĩ xuất gia là
sự lựa chọn tích cực trong quãng đời còn lại. Tôi
nguyện học tập thiền sư Tịnh Không, cống hiến phần
đời còn lại cho nhà Phật. Cuối cùng thì tôi đã chọn
đúng con đường đi của mình.
Bi
kịch Kiều Loan của Hoàng Cầm
Nhà
thơ Hoàng Cầm
Hoàng Cầm vừa vinh dự được nhận Giải thưởng Nhà
nước về văn học nghệ thuật. Thật trùng khớp, bởi
“Kiều Loan” của ông cũng vừa được lên sân khấu kịch
sau bao năm nghẹn ngào lưu lạc. Và dường như đến
giờ, người ta lại muốn lật giở lại để nói về tấn
bi kịch của Kiều Loan…
Tấn
bi kịch của Kiều Loan, người điên nhưng cũng là
nhân vật chính trong kịch thơ “Kiều Loan” của Hoàng
Cầm có nguyên nhân từ sự phản bội lý tưởng nhân
văn ái quốc. Đại diện cho những kẻ phản bội lý tưởng
và tình yêu là nhân vật tướng quân Vũ Văn Giỏi.
Đó chính là một tên cơ hội sẵn sàng vứt bỏ tình
yêu, lý tưởng mà hắn đã từng tôn thờ một cách thiêng
liêng để đổi lấy cuộc sống giàu sang, quyền cao
chức trọng, dẫu phải thực hiện bằng tội ác. Nhưng
hắn phải đối đầu của những nhân vật tiến bộ như
Kiều Loan, thầy đồ, quan hiệu uý và nhiều người
khác… có thể là cả một dân tộc.
Bi
kịch của Kiều Loan là đã chứng kiến, tai nghe mắt
thấy nửa cuộc đời của Vũ Văn Giỏi. Họ là bạn đồng
môn, là người cùng lý tưởng rồi trở thành vợ chồng.
Cái đẹp ban đầu sâu sắc, cao cả cứ dâng lên mãi,
cùng với nó là tình yêu không tưởng, lòng tin siêu
thực của tôn giáo. - khi đã tin là không thay đổi.
Và khi tướng Giỏi đi ngược lại thì sự sụp đổ như
sét đánh. Kiều Loan phát điên. Cuối cùng Kiều Loan
buộc phải xoá cuộc đời Vũ tướng quân bằng thanh
đoản đao - tín vật thề ước. Đây là tiếng sét thấu
trời vang vọng ngàn thu.
Những
gì xảy ra với Kiều Loan thì trong ký ức Hoàng Cầm
cũng bi thảm không kém: người con gái hoa khôi Bắc
Giang từng làm tan nát trái tim bao anh học trò
như Hoàng Cầm đã bị giết vào tối mùa hè năm 1940.
Quân Nhật đổ bộ vào Việt Nam, Bắc Giang thành trại
lính, hàng chục sỹ quan Nhật mê cô hoa khôi đã sinh
thù hằn nhau. Viên chỉ huy thấy không thể để mất
danh dự của quân đội Thiên hoàng nên đã “trừ tận
gốc” nguyên nhân. Nàng bị bắt uống thuốc ngủ khi
đang ốm. Cái chết của người đẹp khiến Hoàng Cầm
đau đớn, sững sờ. Mười ngày sau, Hoàng Cầm viết
xong kịch bản “Kiều Loan” nhưng công sứ Bắc Ninh
không duyệt, chánh mật thám Cousseau tại Hà Nội
trả lại bản thảo và khi Hoàng Cầm giở ra thì 4 trang
bị gạch xoá mất ba…
Sau
nhiều lần luyện tập, vở kịch thơ “Kiều Loan” được
công diễn trong một buổi sáng tháng 11/1946. Vài
tuần sau kháng chiến bùng nổ, Hoàng Cầm lên chiến
khu. Người vợ trẻ đẹp của ông là nghệ sỹ Tuyết Khanh
- người đóng vai Kiều Loan - sau buổi diễn duy nhất,
bị ốm phải về thành. Bà giận ông vì đã hứa sẽ về
chăm sóc bà, nhưng rồi kháng chiến ác liệt, ông
không về được. Tuyết Khanh ra đi mang theo Kiều
Loan - đứa con gái đầu lòng được cha đặt theo tên
nàng thơ của mình.
Qua
bên kia sông Đuống, Hoàng Cầm mất cả Tuyết Khanh,
cả Kiều Loan bé nhỏ và cả vở kịch thơ “Kiều Loan”
chìm trong im lặng. Phải 59 năm sau, “Kiều Loan”
mới tái xuất trên sân khấu Nhà hát Tuổi trẻ. Hoàng
Cầm đã tìm thấy người đồng cảm là NSƯT Anh Tú -
người dựng “Kiều Loan” và đưa nàng thơ trở về với
hơi thở cuộc sống. Cũng như một lời an ủi và công
nhận tài năng khi Hoàng Cầm được nhận Giải thưởng
Nhà nước.
Hoàng
Lâm
Trở
về Trang Văn học & Nghệ thuật
(Những
bản tin trên chúng tôi trích dịch từ BBC, Tân Hoa
Xã, VOA, Reuters, Fox, Vietnamnet, Thanh Niên, Tuổi
Trẻ...
Xin cám ơn các nguồn trên đã giúp chúng tôi chuyển
gửi tin tức đến độc giả HNPĐ
)

|