Liên hệ

 
 

 

Âm Thanh

Nghe Nhạc

Tiếng thơ
Đọc Truyện
 

Tác giả Biệt ly và "chuyện giờ mới kể"...

Nguyễn Văn Tý với Dư âm

 
 

Những ca nhạc sĩ trước 75 sau 30 năm bây giờ ở đâu, ra sao ?:

Bài Số I

Bài Số II

Bài Số III

Bài Số IV

Bài Số V

Bài Số VI

Bài Số VII

Bài Số VIII

Tưởng nhớ nữ nghệ sĩ tài danh Thanh Nga

Tiếng hát nữ danh ca Thái Thanh

Hồ Dzếnh và Nỗi Sầu Vạn Cổ.

Thư Gửi Con Cháu.

Nhạc phẩm Du Xuân.

Mùa Xuân Đầu Tiên.

Nếu Anh Còn Trẻ.

Nhạc phẩm Bóng Người Đi.

Nhạc phẩm : Mấy Dặm Sơn Khê.

Phùng Cung Truyện và Thơ

Văn Cao - Tiếng Đàn Chơi Vơi.

Xuân Diệu và thơ tình lãng mạn..

Nhạc Sĩ Hoàng Trọng, Vua Tango.

 


Xem trang hội hoạ, nhiếp ảnh của Mù Sương ( Toronto, Canada)

 

 

Người đóng vai Tarzan năm 1930 đã qua đời ở tuổi 100

Herman Brix, vận động viên ném tạ từng đoạt giải Thế vận hội, sau này trở thành diễn viên nổi tiếng nhờ vai Tarzan trong phim năm 1930, đã qua đời ngày 24/2 ở tuổi 100. Brix, thường được giới điện ảnh gọi là Bruce Bennett, đã trút hơi cuối cùng tại bệnh viện Santa Monica sau những biến chứng khiến ông bị gãy xương hông. Một năm sau khi đoạt huy chương bạc Thế vận hội vào năm 1928, ông đã đến ở Los Angeles và kết bạn với nam diễn viên Douglas Fairbanks, người đã mời ông đóng phim thử. Từ đó ông đã đóng hơn 12 bộ phim với biệt danh Bruce Bennett, trong đó có “Kho tàng Serria Madre” với Humphreye Bogart.

Vinh quang Oscar thuộc về The Departed

Diễn viên Anh Helen Mirren đã giành giải nữ diễn viên chính cho vai nữ hoàng Anh
Diễn viên Anh Helen Mirren đã giành giải nữ diễn viên chính, trong khi phim The Departed đem về bốn giải, trong đó có phim hay nhất.
Lễ trao giải Oscar lần thứ 79 diễn ra tại Kodak Theatre tại Hollywood vào 5 giờ chiều Chủ Nhật, giờ địa phương.

Martin Scorsese được bầu là đạo diễn xuất sắc nhất cho bộ phim dựng lại từ một phim Hồng Kông.

Ông đã từng bị hụt với năm lần đề cử trước đây.

Pan's Labyrinth nhận ba giải thưởng, gồm quay phim, nghệ thuật và hóa trang.

Alan Arkin là nam diễn viên phụ nhờ Little Miss Sunshine - phim này cũng nhận giải kịch bản gốc.

Và Jennifer Hudson có giải nữ diễn viên phụ cho phim âm nhạc Dreamgirls.

'Cảm động'

Bà Helen Mirren, người đóng vai Nữ hoàng Anh trong phim The Queen, tỏ ra sung sướng.

"Đây là ngôi sao vàng lớn nhất tôi từng có trong đời," bà nói.

Martin Scorsese nói ông rất "cảm động" khi lên nhận giải.

"Nhiều người trong nhiều năm ước cho tôi có được giải - những người xa lạ. Tôi ra phố và họ bảo, "Ông phải thắng,""

Whitaker, đóng vai nhà độc tài Uganda, Idi Amin, trong phim The Last King of Scotland, không nói nên lời trước khi lấy ra bài phát biểu viết sẵn.

Phim môi trường An Inconvenient Truth giành giải phim tài liệu dài, và ca khúc trong phim này, I Need to Wake Up, giành giải bài hát hay nhất.

Giải biên tập âm thanh thuộc về Letters From Iwo Jima, và âm nhạc thuộc về phim Babel.

Giải thành tựu cả đời tưởng thưởng cho nhà soạn nhạc người Italy, Ennio Morricone.

Phim phiêu lưu Pirates of the Caribbean: Dead Man's Chest được trao giải kỹ xảo hình ảnh, và Happy Feet giành thắng lợi trong hạng mục phim hoạt họa.

Nhận giải phim nước ngoài là Das Leben der Anderen, của Đức.

Phim Marie Antoinette có giải thiết kế trang phục.

Lễ trao giải Oscars hằng năm lần thứ 79 tại Holywood

Matt Damon và Leonardo DiCaprio trong phim "The Departed"
Những ngôi sao điện ảnh sáng chói nhất đang tề tựu về Hollywood, bang California để dự lễ trao giải Oscars hằng năm lần thứ 79, buổi lễ đã được bàn tán sôi nổi rất nhiều.

Giải thưởng này là sự công nhận những chọn lựa của ngành kỹ nghệ điện ảnh đối với những phim hay nhất trong năm.

Những cuốn phim được đề cử cho giải này là "Babel", "Little Miss Sunshine" và "The Departed".

Những người được đề cử cho giải diễn xuất hay nhất gồm Forest Whitaker thủ vai nhà độc tài Uganda Idi Amin trong phim “The Last King of Scotland”, và Helen Mirren thủ vai nữ hoàng Elizabeth đệ nhị trong phim "The Queen".

Nhân vật trước đây từng dự thi giải American Idol Jennifer Hudson và diễn viên Eddie Murphy được đề cử giải diễn viên phụ xuất sắc nhất trong cuốn phim “Dreamgirls”.

Theo dự kiến hàng chục triệu người trên thế giới sẽ đón xem lễ trao giải Oscar hàng năm cho những người tài giỏi nhất trong ngành kỹ nghệ điện ảnh.

Vĩnh biệt trụ cột Nhân văn giai phẩm

Nhiều nhà văn có tiếng đã tiễn đưa ông Nguyễn Hữu Đang về nơi an nghỉ cuối cùng tại Việt Nam vào ngày mùng 10 vừa qua. Ông qua đời ngày mồng 8 tháng Hai năm 2007, hưởng thọ 94 tuổi. Ông Nguyễn Hữu Đang được coi là một cột trụ của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm hồi cuối thập niên 1950.Ông cũng từng giữ các chức vụ thứ trưởng Bộ Thanh Niên, thứ trưởng Bộ Tuyên Truyền thuộc nội các đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

Thập niên 1960, ông Nguyễn Hữu Đang đã bị giam cầm nhiều năm tại Hà Giang vì chống lại chế độ "cực quyền toàn trị " của đảng Cộng Sản Việt Nam. Ông còn bị buộc tội 'làm gián điệp'.

Nhà phê bình văn học Đặng Tiến hiện đang sống tại Pháp nói ông Nguyễn Hữu Đang có nhiều thành tích về văn hoá, nhưng người ta lại biết tới vai trò của ông trong thời kỳ Nhân văn giai phẩm nhiều hơn.

Được biết, ông Nguyễn Hữu Đang hoạt động cách mạng từ thập niên 1940, tham gia tích cực phong trào truyền bá quốc ngữ, sau đó phụ trách mảng thanh niên trong phong trào Việt Minh.

Ông Đang chính là người đã xây dựng khán đài tại Quảng trường Ba Đình để Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc Lập, theo bản vẽ của hoạ sỹ Lê Văn Đệ.

Về sau này, ông bị cho là người lãnh đạo phong trào Nhân văn Giai phẩm.

Theo ông Đặng Tiến, ông Nguyễn Hữu Đang gia nhập Đảng Cộng Sản từ năm 1947, nhưng tới năm 1951 thì ông hầu như không còn liên hệ gì với Đảng.

Ông Đặng Tiến cho biết, ông còn giữ một bài viết của ông Nguyễn Hữu Đang đăng trên báo Nhân Văn số bốn, với tiêu đề "Cần phải chính quy hơn nữa".

Trong bài viết này, ông Nguyễn Hữu Đang đòi Việt Nam phải có một chế độ pháp lý rõ ràng, một bản hiến pháp mới và xây dựng nền dân chủ pháp trị.

Trong bài có đoạn: "Do pháp trị thiếu sót mà cải cách ruộng đất đã hỏng to đến thế. Do pháp trị thiếu sót mà quân đội chưa có một chế độ binh dịch hợp lý, công an hỏi giấy giá thú đôi vợ chồng ngồi ngắm cảnh trăng bên Bờ Hồ, hộ khẩu rình bên cửa sổ khiến người ta mất ăn mất ngủ. Cán bộ thuế tự tiện vào khám nhà. Ở khu phố có chuyện đuổi nhà lung tung..."

Ông Nguyễn Hữu Đang được phóng thích theo nội dung Hiệp Định Paris, sau 15 năm bị tù.

Khi ông Đang qua đời, báo chí trong nước hầu như không đăng bài nhắc tới ông.

Tuy nhiên mới đây, chủ tịch nước Việt Nam đã ký quyết định trao Giải thưởng Nhà nước cho bốn nhà thơ thuộc nhóm Nhân Văn Giai Phẩm là các ông Lê Ðạt, Hoàng Cầm, Trần Dần và Phùng Quán. Trong số này chỉ có hai ông Lê Ðạt và Hoàng Cầm là còn sống. ( BBC) xem: Nguyễn Hữu Đang

“Quan Tuần mất cướp” nổi tiếng trong thơ Nguyễn Khuyến là ai?

Cháu đích tôn của cụ quan Tuần: Cụ Trần Văn Gioản(Sán)

TP - Chúng ta đều đã biết tới bài thơ “Hỏi thăm quan Tuần mất cướp” của cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835 – 1910). Tuy nhiên, vụ “cướp của, bắt người” này diễn ra như thế nào, khi nào, ai là thủ phạm, nhân thân của “nạn nhân” ra sao? v.v, hầu như chưa có tài liệu hay sách, báo nào nói rõ.
Mới gần đây, trong chuyến về thăm ngôi nhà thờ tổ họ Trần ở làng Tiên Khoán, xã Yên Nội, huyện Bình Lục (Hà Nam), tình cờ, chúng tôi được một số con cháu cụ Tuần kể chuyện và cho xem cuốn “Gia phả họ Trần”, trong đó, giải đáp khá tỉ mỉ những câu hỏi trên. Nhân dịp đầu Xuân xin ghi lại để mọi người cùng tham khảo, góp ý.

Theo như gia phả ghi lại thì cụ quan Tuần vốn người làng Tiên Khoán, xưa thuộc Tổng Vụ Bản – một nơi quanh năm úng lụt, ra ngõ là phải lên thuyền.

Thậm chí, mùa nước lụt, tàu hỏa thời Pháp chạy qua đây không thấy đường ray, tàu chỉ chạy mò lấy dãy cột điện bên đường làm chuẩn.

Còn người dân nơi đây, một thời đã có câu “Phân tro không bằng cày mò tháng 6”. Khách qua đường nhìn xuống ruộng chỉ thấy cảnh người lội nước tới ngực giơ roi, còn trâu bị ngập toàn thân chỉ lồi lên cái đầu và cặp sừng; cứ thế người và trâu cày mò dưới nước…

Quan Tuần tên thật là Trần Văn Ước, hơn cụ Nguyễn Khuyến trên dưới chục tuổi, vốn tư chất thông minh, chăm chỉ học hành; nhiều hôm không có tiền để mua dầu thắp đèn học tối, đã phải đi quét lá đa đầu làng, trong chùa gom lại phơi khô để đốt thay đèn ngồi học.

Sau nhiều lần lận đận trong thi cử, cuối cùng cụ cũng đỗ được “Cử nhân thiêm thủ”, sau xuất chính ra làm quan dưới triều vua Tự Đức và được tiếng là “minh quan” liêm khiết, từng được vua Tự Đức ban cho biển sơn son thếp vàng thau Thủ Châu, phê hai chữ “Liêm chính” cùng với mũ áo, cân đai, hia hốt.

Thời còn làm quan trong triều, tuy chỉ giữ một chức quan nhỏ, nhưng cũng đã có lần được vua Tự Đức cho giữ chức “Khâm sai thanh tra đại thần” ra Bắc Hà công cán và sau này được cử giữ chức Tuần Vũ tỉnh Quảng Yên (cũng vì thế cụ thường được gọi là cụ quan Tuần).

Do chủ trương giấu súng thần công và phân tán binh lính nên cụ quan Tuần đã bị Pháp bắt giam 1 tháng, dùng nhục hình như bắt nhịn đói, bắt cụ ngồi vào xe có ván gỗ đóng đinh ngược chồi mũi song cụ vẫn nhất quyết không khai.

Giam chán không khai thác được gì, Pháp đành phải thả cụ về dinh Tuần Vũ. Lúc này, quan “Khâm mạng đại thần” – đặc phái viên của vua Tự Đức – đã ngỏ ý phong cho cụ Tuần chức Tổng đốc Nam Định, song, cụ Tuần vì bất mãn với thời cuộc nên đã quyết xin về dưỡng lão ở quê nhà là làng Tiên Khoán rồi mở trường dạy học ngay trong làng…

Nhà cụ Tuần vừa là hưu quan vừa là nhà làm ruộng nhiều, đông người thuê mướn, mỗi mùa gặt hái thu hoạch hàng vài chục tấn thóc, phải đóng vựa, xây kho chứa đựng. Chính vì thế bọn cướp đã cho quân thám thính nhiều lần.

Một hôm, vào lúc đêm đông mưa gió (vào khoảng năm 1889), tướng cướp dẫn quân tới cướp phá nhà cụ Tuần. Bọn cướp cầm đuốc sáng rực dễ đến hàng trăm tên; chúng dùng thuổng sắt, búa to phá tan cổng, đập vỡ tường xây bao rồi tràn vào sân, kho để cướp bóc. Chủ nhà và gia nhân chỉ độ 2-3 chục người không dám chống cự.

Thôi thì từ thóc gạo, trâu, lợn đến mâm đồng, thau đồng, đồ thờ ngũ sự, quan tiền đồng xâu chuỗi, bát đĩa cổ, đối trướng treo trong nhà đều bị bọn cướp vơ vét sạch sành sanh. Người nhà, con cháu mạnh ai người nấy chạy trốn, ẩn nấp; riêng cụ Tuần vẫn ngồi điềm tĩnh bên án thư với ngọn đèn và chồng sách Hán tự.

Khi cướp xông vào, cụ thong thả nói: - Các ông muốn lấy gì của cải của tôi thì cứ lấy, nhưng đừng giết người! Rồi cụ lại ngồi lim dim. Một tên cướp thấy chiếc tráp sơn khảm nơi cụ Tuần ngồi tựa, chúng xô cụ ra, giật lấy tráp mở nắp thấy tung tóe, mấy ngọn bút lông, vài thỏi mực Tầu, cặp kính lão trắng và vài nén bạc đĩnh lóng lánh.

Tên cướp liền đút mấy nén bạc vào túi, ngắm nghía cái tráp, thấy đẹp, liền bỏ luôn vào tay nải khoác ở vai… Ở bên ngoài, khi dân làng hay tin bọn cướp đang cướp bóc tại nhà cụ Tuần, liền nổi trống, mõ rồi bảo nhau: - Cướp nhà cụ Tuần to lắm, phải gọi ngay ông Bình Thành mới được.

Sau đó rất nhiều người hô theo “ông Bình Thành ơi, ra đánh cướp nhà cụ Tuần nhanh lên, nhanh lên!”.

Một số bà con hăng hái chạy vào nhà cụ Tuần, số khác bàn phải chờ bên ngoài lối bọn cướp rút lui, mà đánh. Trong lúc này, ông Bình Thành – đã từng đỗ cử nhân võ – cũng đang nghỉ đêm tại một nhà bà con ở làng Tiên Khoán.

Nghe tiếng kêu cướp, ông Bình Thành liền vội vàng giât cái sào phơi bông sợi của chủ nhà bằng tre, dùng làm gậy thay vũ khí, chạy tới nhà cụ Tuần thì hay bọn cướp đã bắt đầu rút quân ra cổng.

Nghe tiếng mõ ngũ liên, tù và rúc inh ỏi và tiếng kêu la hỗ trợ đánh cướp, bọn cướp liền ra lệnh bắt người cháu nội đích tôn của cụ Tuần để làm con tin, đồng thời bắt cụ Tuần ra làm mộc che thân cho bọn chúng chạy thoát ra khỏi làng.

Quả nhiên mưu kế của chúng rất hiệu nghiệm, dân làng muốn đánh cướp ngay khi chúng rút lui nhưng khi ra khỏi cổng, chúng hô sẽ hạ sát cụ Tuần, dân làng buộc phải tản ra cho bọn cướp tháo lui.

Tướng cướp Đốc Tít và mấy tên đầu sỏ đi đầu bảo vệ cho bọn cướp khuân vác đồ đạc, trâu, lợn cướp được, còn lại một số tên thiện chiến thì đi sau cùng chống cự với dân làng.

Ông Bình Thành như Triệu Tử Long tả xung hữu đột đánh cho bọn cướp phải hoảng loạn tháo chạy đem theo một số tên bị thương. Ông Bình Thành chỉ cầm gậy tre múa tít, đánh ngang, phạt dọc, tên nào lại gần đều bị ông thốc rơi xuống ao.

Dân làng đi đánh cướp mà thật ra là đi xem ông Bình Thành đánh cướp. Bọn cướp nhiều khi bí thế phải trả lại một số đồ đạc, tiền bạc và sau cùng phải trả cụ Tuần lại, nhưng chúng phải bắt theo đứa cháu đích tôn lúc đó mới 9 tuổi, hơn 1 năm sau, qua 5 lần, người nhà mới đi chuộc được về và phải tốn thêm nhiều của cải, tiền bạc nữa.

Chỉ ít bữa sau cái đêm ấy, cụ Tuần đã nhận được bài thơ của ông bạn làm quan đồng liêu là cụ Thượng Báo ở Vĩnh Trụ (nguyên văn chữ dùng trong gia phả, kể cả bài thơ dưới cùng chép nguyên văn)

“Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông
Nó lại lôi ông tới giữa đồng
Cướp của, bắt người, quân tệ nhỉ
Thân già, da cóc có đau không?

Bây giờ trót đã sầy da trán
Ngày trước đi đâu mất mảy lông
Thôi cũng đừng nên ky cóp nữa
Kẻo mang tiếng dại với phường ngông”

Cụ Tuần sau đó cũng có thơ trả lời:

“Ông thăm tôi cũng giã ơn ông
Nó có lôi tôi tới giữa đồng
Cũng tưởng vui thu phòng lúc thiếu
Ai ngờ ky cóp lại như không

Chém cha thằng quỷ đen tai mắt
Chẳng nể ông già bạc tóc lông
Ông hỏi thăm tôi, tôi có biết
Thương ông tuổi tác cháu thì ngông”.

Lại nói về đứa cháu đích tôn của cụ Tuần là Trần Văn Sán, sau còn có tên là Gioản, sau khi được chuộc từ tay bọn cướp về, được ông nội tức cụ Tuần rất thương.

Cụ Tuần bắt đầu dạy cháu học Hán tự. Vì cháu ngoan ngoãn, dĩnh ngộ nên đi đâu ông cũng cho theo và dùng làm tiểu đồng. Có lần cụ Thượng (Nguyễn Khuyến) bảo với cụ Tuần: - Tôi có đứa con gái cũng trạc tuổi với cháu đích tôn của cụ, mến cháu, tôi muốn cho tình bạn già chúng ta thêm thân, cụ tính sao?

Cụ Tuần rất ưng ý nhưng chưa quyết, hẹn trả lời sau để về hỏi mẹ cháu tức là con dâu trưởng mà cụ vẫn nể trọng. Sau này việc tác hợp đó không thành.

Trần Văn Sán càng lớn càng tỏ ra có năng khiếu bẩm sinh về kinh doanh và những công việc đinh điền, đã từng được trao phẩm hiệu “Minh nông Bội tinh” và cơ ngơi gia tài có lúc tới hai chục nhà gạch cho thuê tại Nam Định, cộng với một điền trang rộng tới 515 mẫu ở Thanh Hóa.

Mặc dù cụ Tuần và cụ Thượng (Nguyễn Khuyến) đều đã quy tiên, nhưng tình bạn giữa hai cụ dường như lại được hâm nóng khi con trai cả của Tuần Văn Sán (cháu nội cụ Tuần) là Trần Văn Bân kết duyên với cháu ngoại của cụ Nguyễn Khuyến là Bùi Thị Nhĩ.

Trần Văn Bân thời trẻ từng được mệnh danh là “công tử xứ Thanh”, được gia đình cho ăn học tại Albert Sarraut (Trường Bưởi), là một trong số ít công tử tại Hà thành lúc đó, đi xe Citroen mới coóng của hãng Avial.

Điền trang của họ Trần tại Thanh Hóa cũng đã từng có một thời kỳ là nơi đặt trụ sở của ủy ban kháng chiến Trung bộ, cho nên Trần Văn Bân cũng đã có dịp giao du với các văn nghệ sĩ, trong đó có nhà văn Nguyễn Tuân- người mà sau này cũng trở thành rể của họ Trần. Cũng chính vì hay quan hệ với những “phần tử nghịch” nên Trần Văn Bân suýt bị Pháp bắt giam…

Trong gia phả của họ Trần còn ghi lại rằng, trong nạn đói 1945, rất nhiều người dạt đến điền trang ở Thanh Hóa của cụ Trần Văn Gioản (Sán). Hàng ngày, gia nhân thường nấu những nồi cháo rất to cho bất kỳ ai qua đường. Xung quanh và trong khu vực điền trang, không hề có một ai bị chết đói.

Khi cụ Gioản qua đời, rất nhiều người dân, các vị sư, tăng ni và tất cả cán bộ nhân viên của UB kháng chiến Trung Bộ tới viếng, đưa tiễn người cháu đích tôn của cụ quan Tuần về nơi an nghỉ cuối cùng.

Mạnh ViệT ( Tien Phong)

Xin Xem: Nguyễn Khuyến

4 Nhân Vật Nhân Văn Giai Phẩm Ðược Trao Giải Thưởng Văn Học

Tin Hà Nội - Trong dịp Tết Nguyên đán Ðinh hợi năm nay, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã cho công bố quyết định trao giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước cho những tác giả có công trình văn học nghệ thuật đặc biệt xuất sắc, có tác dụng lớn và lâu dài trong nhân dân. Ngoài 5 giải thưởng nói trên, còn có 158 tác giả được giải thưởng Nhà nước. Báo chí trong nước cho biết đáng chú ý nhất là 4 tác giả được bổ sung xét tặng Giải thưởng Nhà nước đợt này là các ông Lê Ðạt, Trần Dần, Hòang Cầm và Phùng Quán. Ða số các báo chỉ nêu tên hai người gọi là nổi bật một thời là nhà thơ Trần Dần và nhà văn Phùng Quán. Các văn nghệ sĩ này được gọi là đáng chú ý khi được trao giài thưởng Nhà nước năm nay, nhưng không báo nào nêu lý do đích thực. Ðó là họ đã có tham gia, hoặc bị quy chụp là tham gia hay có cảm tình với phong trào Nhân văn Giai phẩm bị đảng và Nhà nước trấp áp, bắt tù đày hàng ngàn văn nghệ sĩ hồi thập niên 50. Gần đây đã có nhiều ý kiến kêu gọi đảng chính thức nhận sai sót trong vụ này. Việc các ông Trần Dần, Lê Ðạt, Hòang Cầm và Phùng Quán được trao giải năm nay có thể xem là họ đã được giải oan một cách không chính thức (SBTN)

TET – Ngôn ngữ được thừa nhận trên thế giới

Trước đây, thuở mới đến Hoa Kỳ, mỗi năm vào dịp Tết, mình nói Tết, hầu hết người Mỹ chưa hiểu chữ này, họ nghe lạ tai.Một số người cựu chiến binh Hoa Kỳ biết chữ Tết, nhưng nó gắn liền với chữ “Tet Offensive” – Cuộc tấn công của Việt Cộng vào dịp Tết Mậu Thân – 1968.

Mấy chục năm trôi qua, ngày hôm nay, tôi nhận được nhiều cú điện thoại của những người bạn Mỹ, và họ nói “Happy New Year” (Chúc mừng năm mới), hay có người còn nói thêm cho rõ nghĩa “Happy Vietnamese New Year” (Chúc mừng năm mới Việt Nam), và cũng không ít người nói “Happy Tet” (Tết hạnh phúc).

Người Mỹ bây giờ gặp những người Việt Nam không còn chúc “Happy Chinese New Year” (Chúc mừng năm mới theo kiểu Tàu) nữa, mà chúc mừng Tết Việt Nam…

Nhìn lại ba mươi hai năm sống tại hải ngoại, người Việt không chỉ thu nhận những nét hay đẹp của xứ người vào cuộc sống của mình, mà ở một chiều khác, người Việt giới thiệu những nét hay đẹp của nền văn hoá Việt Nam đối với các sắc dân khác. Di dân Việt, người tỵ nạn Việt trở thành những nhà truyền bá văn hoá trên thế giới.

Chúng ta giới thiệu cho họ không chỉ chữ Tết mà cả một nền văn hoá Tết. Ngoài ra, bây giờ còn biết bao chữ khác cũng được người Mỹ nói quen miệng như “phở”, bánh mì, áo dài…

Ngày trước, người Mỹ gọi “phở” là “noodle”, nhưng ngày nay họ gọi “phở” một cách ngon lành. Họ nói với nhau, mời nhau đi ăn, cũng nói chữ “phở”.

Trên trang báo Sacramento Bee, khi họ viết về bánh mì Việt Nam, họ không còn dùng chữ “French bread” nữa, mà viết hẵn chữ “bánh mì”.

Tôi vào tiệm cà phê Matise trên đường số 1, trong khu Mỹ hoàn toàn, và trên bản menu các món uống, thấy chữ “cà phê sữa đá” hẵn hoi… Người Mỹ cũng gọi cà phê sữa đá, khỏi cần diễn tả dài dòng,…

Trở lại chữ Tết, ngay hôm nay, ngày Tết Việt nam, tôi ngồi đọc những bài báo Mỹ và họ viết về Tết thật nhiều.

Tờ The Star, trong mục Lifestyle, viết bài “Tet’s the way” của Brenda Benedict, trong đó có nhiều đoạn nói về Tết và truyền thống ăn Tết kiểu Việt Nam. (bấm vào link này để đọc).

Trên tờ Sun Herald tại Beloxi cũng thế. Trong bài viết mang tựa đề TET: Asian New Year holiday celebration begins Saturday night của Jean Prescott cũng nói nhiều về Tết, viết bằng chữ Tết hẵn hoi. (bấm vào link này để đọc).

- Tờ Washington Post, một tờ báo lớn vào hàng bậc nhất của Hoa Kỳ, trong số ra ngày 16 tháng 2, cũng nói hẵn chữ Tết thay vì Vietnamese New Year.

Các hãng tin AP, AFP, Reuters, các tờ báo Mỹ ở những vùng Việt Nam cư ngụ đông, đều nói về hay viết về Tet Festival.

Ngay cả Hội Tết Fairground, một Hội Tết có truyền thống lâu đời nhất tại San Jose, California, năm nay kỷ niệm 25 năm Hội Tết cũng treo một hàng chữ lớn TET cao trên không, và bây giờ mỗi năm hoa đào nở, người ta đều nói đến TẾT, dù rằng người đó là người dân xứ nào…

Trong hành trình sống xa quê hương với thân phận tỵ nạn và di dân, người Việt hải ngoại với cấu trúc cộng đồng và hội đoàn, hội ái hữu đã góp phần không nhỏ trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc. Tết chính là ngày lễ quan trọng nhất để giữ gìn bản sắc dân tộc. Một người du lịch từ Việt Nam sang và xin được ẩn danh nói rằng “Thật là bất ngờ thấy Tết ở Mỹ, nhất là ở Nam và Bắc California, vui quá. Nhiều hội Tết và nhiều chợ Tết.”

Ngày xưa, nhiều tên của người Việt khó đọc, khiến người Mỹ khó đọc, nên khá nhiều người đổi sang tên Mỹ để Mỹ dễ đọc. Thế nhưng, ngày nay, nhiều người cảm thấy không cần thiết đổi tên sang tên Mỹ nữa, và người Mỹ cũng đã quen với những tên Việt Nam như dân biểu Trần Thái Văn, ủy viên giáo dục học khu Lân Nguyễn (San Jose), Dương Nguyệt Ánh (bomb lady)…

Trong những năm gần đây, xu hướng quay trở về nguồn cội văn hoá dân tộc ngày càng nhiều, và nhiều đám cưới được tổ chức trong chùa, nhà thờ và cô dâu chú rễ mặc sắc phục truyền thống, khiến cho hương vị Việt càng ngày càng lan tỏa trên đất Mỹ (.Cali Today News )

Năm Đinh Hợi-1947 với Văn Cao

(LĐ) - Văn Cao sinh năm Quý Hợi - 1923. Với Văn Cao, năm Đinh Hợi - 1947 là năm ông tròn hai giáp tuổi (tuổi tây là 24, tuổi ta là 25) cũng là năm rực rỡ nhất trong sự nghiệp sáng tạo thơ, nhạc của mình giữa những ngày đầu trường kỳ kháng chiến.

Ngày ấy, sau Toàn quốc kháng chiến, Văn Cao đưa cả gia đình vợ chưa cưới (gia đình bà Nghiêm Thuý Băng) về Ba Thá - Chương Mỹ - Hà Đông. Ơ đó, Văn Cao vẫn hàng ngày hướng về mặt trận Hà Nội. Và những ngày đầu năm Đinh Hợi - 1947 cũng là những ngày Văn Cao viết nháp bản thảo bài thơ dài "Ngoại ô mùa đông 1946". Một năm sau, bài thơ đã in trên Tạp chí Văn nghệ số 2 ở chiến khu Việt Bắc. Bài thơ dài đã khép lại bằng câu thơ đón mùa xuân Đinh Hợi - 1947 mới mẻ và rắn rỏi: "Mùa xuân về giữa chiến hào xa".

Việc lớn mà Văn Cao thực hiện được trong năm tuổi của mình là việc tổ chức hôn lễ với bà Nghiêm Thuý Băng - năm đó mới 17 tuổi. Đám cưới xong và trọn vẹn một tuần trăng mật, theo yêu cầu của đồng chí Lê Giản - Giám đốc Công an Bắc Bộ, Văn Cao đã móc nối với đồng chí Minh già - Công an khu X - lên Lào Cai tổ chức một mạng lưới đặc tình nhằm tìm ra và khống chế những gián điệp Tưởng Giới Thạch thâm nhập vào Tây Bắc. Và thế là vợ chồng Văn Cao lại khăn gói lên đường trong nhịp valse "Làng tôi" vừa viết xong.

Lên Lào Cai, Văn Cao quyết định lập bar để làm điểm theo dõi. Văn Cao đã tìm đến ba thổ ty vùng Lào Cai là Nông Vĩnh Xương ở Mường Khương, Lò Văn Phù ở Bát Xát và Voòng A Tưởng ở Bắc Hà. Văn Cao bỏ tiền riêng ra cùng góp với ba thổ ty để vào hội thổ ty và lấy vốn chung đó lập bar.

Theo yêu cầu, Văn Cao đã làm lễ kết nghĩa anh em với Voòng A Tưởng. Trong buổi lễ, một cây kiếm và một khẩu súng được để bắt chéo trên bàn thờ tổ quốc. Kẻ nào thay lòng đổi dạ phản bội tổ quốc thì sẽ chết vì gươm, hoặc vì súng. Đồng chí Trần Huy Liệu đã nhân danh trung ương có mặt để chứng kiến.

Thế là quán bar ở Lào Cai được khai trương với sự tham gia của hai nhạc sĩ Phạm Duy và Ngọc Bích. Khi ấy, Văn Cao với nhiệm vụ đặc biệt của mình đã giấu kín "Văn Cao nghệ sĩ" trong lòng mà chỉ để lộ ra "Văn Cao hiệp sĩ" chủ quán bar mà thôi. Chính nhờ thời gian ở Lào Cai, Phạm Duy đã viết "Bên cầu biên giới" nổi tiếng.

Ai đã tới cầu Cốc Lếu ở Lào Cai, không thể không tưởng tượng giai điệu bài hát Phạm Duy: "Ngừng đây soi bóng bên dòng nước lũ/ Cầu cao nghiêng dốc bên dòng sông sâu...". Còn Ngọc Bích thì dào dạt ra "Gió mùa chinh phu": "Cô nàng dệt lụa hồ thu/ Mơ người chinh chiến biên khu chốn ấy xa vời...".

Văn Cao cùng vợ rời Lào Cai đầu thu Đinh Hợi 1947, và đến khi sang sông Lô thì chiến dịch Việt Bắc thu đông đã kết thúc. Đi giữa đoàn bộ đội, ông nhận thấy bên bờ sông Lô còn nghi ngút khói. Và mùa đông buốt giá. Choàng tấm chăn chiên hơ tay trên bếp lửa cùng đồng chí Doãn Tuế - chỉ huy pháo binh Việt Nam trong chiến thắng lẫy lừng vừa qua trên sông Lô.

Thế là "Văn Cao nghệ sĩ" lại bắt đầu nổi hứng. Ông nghĩ sau "Tiến quân ca" thành "Quốc ca Việt Nam", ông đã viết "Chiến sĩ Việt Nam" cho bộ binh và kỵ binh, "Không quân Việt Nam" và "Hải quân Việt Nam" cho các binh chủng tương lai của Vệ Quốc quân. Cũng đã có "Bắc Sơn" dành cho dân quân du kích. Đã có "Công nhân Việt Nam" và "Làng tôi" cho nông dân. Và vì thế ông sẽ viết về binh chủng pháo binh non trẻ.

Nhưng khi cầm đàn lên, thì cây guitar thân thuộc lại dẫn ông lạc vào một "Trường ca sông Lô" mênh mang và trở thành tác phẩm bất tử chảy lai láng trong trường kỳ kháng chiến, cùng "Lô Giang" của Lương Ngọc Trác, "Chiến sĩ sông Lô" của Nguyễn Đình Phúc và "Tiếng hát bên sông Lô" của Phạm Duy tạo nên một bộ tứ bình sông Lô âm thanh. Hoàng Cầm cũng có một trường ca thơ về sông Lô.

Trong "Trường ca sông Lô" của mình, Văn Cao đã đưa vào đó một đoạn về chiến sĩ pháo binh: Thây giặc trôi trở về ngập bờ/ Sông gầm âm vang súng trái phá/ Bao rừng thu như bát ngát cười/ Dân hoan hô chiến sĩ pháo binh Việt Nam ghi công...

Và để nhớ về căn làng Ba Thá mùa xuân Đinh Hợi - 1947, Văn Cao đã nhắc lại âm hình "Làng tôi" trong đoạn kết trường ca: "Dòng sông Lô (ố) trôi" chính là "Làng tôi xanh bóng tre". Dường như ông đã xem cả bốn mùa trong năm Đinh Hợi - 1947 đều là bốn mùa xuân ở tuổi 24 đầy khát vọng mà hát tới mùa xuân sau: "Mùa xuân tới nước băng qua ngàn, nước in ven bờ xanh bóng tre"...Nguyễn Thụy Kha

Nhớ chợ Tết làng xưa

Làng Trung Phước cắt rốn chôn nhau của tôi có sáu phái (thôn) là: Gà Tan thượng, Gà Tan hạ, phái Thị, phái Trung, Trà Viên và Giáp Nam. Chợ làng lập ngay tại phái Thị, lấy tên làng làm tên chợ: chợ Trung Phước (Quảng Nam). Dầu đi đâu về đâu, ngày nay mỗi lần Tết đến tôi lại mang mang nhớ nhung cái "hồn" của chợ quê xưa. Tấm "hồn" đó là do sự lắng đọng của quang cảnh chợ Tết của làng tôi, đã sống lâu bền trong tâm thức tôi.

Chợ Tết khởi sự từ 25 tháng Chạp âm lịch, mỗi ngày sau đó càng đông thêm và cao điểm là buổi sáng 30 Tết (năm nào tháng Chạp thiếu là sáng 29), ghe, đò đậu chật cả hai bến, chiếc nào đến trễ tìm một chỗ đậu thật gay go. Người họp chợ đông đến mức tràn ra cả đường cái, ngõ kiệt và hai lối xuống bến sông.

Các tiệm cố định tại chợ đã lo đủ những mặt hàng Tết từ trước tháng Chạp. Họ mua sỉ hàng từ Đà Nẵng, Hội An và tải về bằng những chiếc ghe lớn có mui, chạy buồm, chủ yếu là vải vóc, bánh kẹo, rượu chai, pháo và gạo tốt của Sài Gòn mà bà con địa phương quen gọi là gạo lương. Có lẽ loại gạo chà bằng máy này được nơi nào đó dùng để phát lương nên bà con gọi như thế để phân biệt với gạo ruộng thông thường còn xay, giã bằng tay. Cụm hàng Tết kể trên quy thành nhóm "hàng khô" đầy màu sắc hấp dẫn.

Nhóm "hàng tươi" phải kể trước nhất là những sạp thịt heo. Tết ở đây chỉ chú trọng thịt heo chứ không thêm thịt bò, trâu, dê, cừu như nhiều nơi khác. Kế đến là những dãy bán rau quả. Loại hàng này không bày lên sạp mà sắp những gánh hàng thành hàng dài trên nền chợ. Rau quả các loại hái từ những vườn của làng Đại Bình bên kia sông nổi tiếng là ngon nhất tỉnh và luôn chiếm lĩnh ưu thế tuyệt đối tại chợ Trung Phước trong ngày thường cũng như mấy phiên chợ Tết.

Cụm "hàng sống" gồm gà, vịt và cá đồng. Ngày Tết, bà con ở đây không chuộng cá biển, cá sông mà lại ưa cá đồng. Có lẽ vì cá đồng khi chế biến thành món, nhất là các kiểu kho độc đáo của Quảng Nam như kho nghệ, kho lót mía, kho lá gừng, kho "ba mươi lửa"... Mấy ngày giáp Tết, bà con địa phương tháo hồ, tát đìa, tát khe bắt cá dành bán chợ Tết. Vào thời điểm này, các loại tràu, trê, rô, thác lác... đều lớn và mập trông rất hấp dẫn.
Quãng đường cái trước chợ là những gánh nếp, đậu, đường, lá dong, lá chuối, lạt dang của số bà con buôn bán "nghiệp dư" cần có thêm ít tiền tiêu Tết.

Mặt hàng văn hóa chỉ dồn trong một tiệm ở đầu dốc chợ xuống bến đò. Tiệm bày bán những loại tranh in như "Nhị thập tứ hiếu", "Tây du", "Bát tiên quá hải", đối liễn xuân... Ông chủ tiệm là một cụ đồ, miệng luôn ngâm thơ. Ông có một cuốn Kiều được trịnh trọng bọc trong vải hồng điều để khách bói quẻ đầu năm và nghe ông giảng. Tại tiệm, vào mấy ngày cận Tết, ông sẵn lòng “cho” một câu đối xuân và viết luôn trên giấy hồng đơn nếu có khách "thỉnh". Gọi là "cho" và "thỉnh" để trọng đạo thánh hiền chứ khách phải trả công viết và "nhuận bút" xứng đáng. Khách nhờ ông bói Kiều cũng thế. Tuy nhiên, trong niềm hưng phấn tống cựu nghinh tân, khách nào nhờ được ông giúp xong hai việc trên cũng đều tỏ ra thập phần hoan hỉ.

Chẳng biết từ đâu tới, năm nào cũng vậy, hễ đến mấy phiên chợ Tết lại xuất hiện nhóm người bán loại hàng được gọi là "hàng Nha Trang". Đây là những vật thờ, vật dụng và đồ chơi cho trẻ con được làm bằng đất nung, có màu lòe loẹt. Những bộ tam sự, ngũ sự cho bàn thờ, những ống đựng bút có con nai hay ông tiên, bộ ba Phúc Lộc Thọ, những dĩa ngũ quả, ông địa bụng bự ngồi cười toe toét... Bọn trẻ chúng tôi khoái nhất trong nhóm "hàng Nha Trang" này là những con gà kéo, con vịt, con chim, con ốc màu mè, thổi lên kêu te te, muốn chọn con giọng cao, giọng trầm tùy thích. Người ta bày "gian hàng" này lộ thiên tại góc chợ xế cổng đình làng và bán rất chạy. Theo mẹ hay chị đi chợ Tết, bọn trẻ chúng tôi thế nào cũng thủ sẵn tiền để khi đến chợ thì tách lẹ để mua vài "con Nha Trang". Phiên chợ Tết thêm phần om sòm bởi những tiếng gáy, tiếng hót, tiếng kêu của các con vật bằng đất nung ấy.

Chợ Tết quê tôi, ngoài màu sắc, tiếng động, phẩm vật... còn có một mùi thơm chung rất Tết. Đó là mùi tổng hợp của các loại rau thơm, củ, quả thơm; mùi hồ vải, áo mới; mùi hương, trầm đốt "quảng cáo" tại các cửa tiệm, mùi thơm của các loại bánh Tết. Tất cả đã làm nên chất "hồn" của chợ Tết làng xưa. Dân gian bảo: "Đói cũng ngày Tết, hết cũng ngày mùa". Vào phiên chợ Tết làng xưa, ai cũng thấy vẻ trù phú, no ấm, "chịu chơi" của bà con ta khi Tết đến Xuân về, nét cơ cực tạm thời được cất đi vào thời điểm vui đón tân niên. Đã rất lâu rồi tôi chưa được một lần về thăm lại phiên chợ Tết của làng xưa. Chắc rằng "chợ Tết ngày nay" ở quê tôi cũng như bao nơi khác đã có nhiều đổi thay, có thêm nhiều thứ và mất đi nhiều thứ... nhưng cái "hồn" của chợ quê thì vẫn được giữ như xưa. Mong là như thế.

Tường Linh@TH.N

Trở về Trang Văn học & Nghệ thuật

(Những bản tin trên chúng tôi trích dịch từ BBC, Tân Hoa Xã, VOA, Reuters, Fox, Vietnamnet, Thanh Niên, Tuổi Trẻ...
Xin cám ơn các nguồn trên đã giúp chúng tôi chuyển gửi tin tức đến độc giả HNPĐ
)

.

Thiên cổ đoạn trường kim nhất tục.
Phiếm Đàm tòng thử kế Thừa sai.

Tìm kiếm tin đã đưa
Liên kết website
 

Tin mới nhất của BBC
Tin mới nhất của RFA
Tin mới nhất từ SBS
Tin mới nhất của VOA

Ca khúc ngày hôm nay

 

Âm Thanh

Nghe phiếm luận : Con gà cục tác lá chanh

Romance, Những Chặng Đường Lịch Sử
Hula, Vũ Điệu Truyền Thống Của Quần Đảo Hawaii.
- Em Có Bao Giờ Còn Nhớ Mùa Xuân của Ngô Thụy Miên.
Trầm Tử Thiêng Người Nhạc Sĩ Của Thời Cuộc
Trịnh Công Sơn, còn mãi dấu người
Lịch Sử Phong Trào Du Ca Việt Nam
Ðoàn Chuẩn: Nhạc sĩ của mùa thu.
Anh Hãy Về Bên Giòng Sông Cũ.

Nguyễn Đình Chiểu.
Phạm Ðình Chương, Một Nỗi Nhớ Khôn Nguôn.
Phạm Thiên Thư và Thi Phẩm Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng.
Người Phụ Nữ Việt Nam Trong Cuộc Đời và Trong Văn Chương.
 
 

 

ĐIẠ CHỈ: WWW.HAINGOAIPHIEMDAM.COM.

EMAIL: HAINGOAIPHIEMDAM@YAHOO.COM

|Tại sao? | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu | Du Lịch | Thư tín|TRÁI TIM HỒNG CHĂN GỐI | Rừng cười |Ẩm thực |MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn|CỔ THI | Nhân vật |Đó Đây| Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ | Đọc Truyện