| 
Người
đóng vai Tarzan năm 1930 đã qua đời ở tuổi 100
Herman
Brix, vận động viên ném tạ từng đoạt giải Thế vận
hội, sau này trở thành diễn viên nổi tiếng nhờ vai
Tarzan trong phim năm 1930, đã qua đời ngày 24/2
ở tuổi 100. Brix,
thường được giới điện ảnh gọi là Bruce Bennett,
đã trút hơi cuối cùng tại bệnh viện Santa Monica
sau những biến chứng khiến ông bị gãy xương hông.
Một
năm sau khi đoạt huy chương bạc Thế vận hội vào
năm 1928, ông đã đến ở Los Angeles và kết bạn với
nam diễn viên Douglas Fairbanks, người đã mời ông
đóng phim thử. Từ đó ông đã đóng hơn 12 bộ phim
với biệt danh Bruce Bennett, trong đó có “Kho tàng
Serria Madre” với Humphreye Bogart.
Vinh
quang Oscar thuộc về The Departed
Diễn
viên Anh Helen Mirren đã giành giải nữ diễn viên
chính cho vai nữ hoàng Anh
Diễn viên Anh Helen Mirren đã giành giải nữ diễn
viên chính, trong khi phim The Departed đem về bốn
giải, trong đó có phim hay nhất.
Lễ trao giải Oscar lần thứ 79 diễn ra tại Kodak
Theatre tại Hollywood vào 5 giờ chiều Chủ Nhật,
giờ địa phương.
Martin Scorsese được bầu là đạo
diễn xuất sắc nhất cho bộ phim dựng lại từ một phim
Hồng Kông.
Ông đã từng bị hụt với năm lần đề
cử trước đây.
Pan's Labyrinth nhận ba giải thưởng,
gồm quay phim, nghệ thuật và hóa trang.
Alan Arkin là nam diễn viên phụ
nhờ Little Miss Sunshine - phim này cũng nhận giải
kịch bản gốc.
Và Jennifer Hudson có giải nữ diễn
viên phụ cho phim âm nhạc Dreamgirls.
'Cảm động'
Bà Helen Mirren, người đóng vai
Nữ hoàng Anh trong phim The Queen, tỏ ra sung sướng.
"Đây là ngôi sao vàng lớn nhất
tôi từng có trong đời," bà nói.
Martin Scorsese nói ông rất "cảm
động" khi lên nhận giải.
"Nhiều người trong nhiều năm
ước cho tôi có được giải - những người xa lạ. Tôi
ra phố và họ bảo, "Ông phải thắng,""
Whitaker, đóng vai nhà độc tài Uganda,
Idi Amin, trong phim The Last King of Scotland,
không nói nên lời trước khi lấy ra bài phát biểu
viết sẵn.
Phim môi trường An Inconvenient
Truth giành giải phim tài liệu dài, và ca khúc trong
phim này, I Need to Wake Up, giành giải bài hát
hay nhất.
Giải biên tập âm thanh thuộc về
Letters From Iwo Jima, và âm nhạc thuộc về phim
Babel.
Giải thành tựu cả đời tưởng thưởng
cho nhà soạn nhạc người Italy, Ennio Morricone.
Phim phiêu lưu Pirates of the Caribbean:
Dead Man's Chest được trao giải kỹ xảo hình ảnh,
và Happy Feet giành thắng lợi trong hạng mục phim
hoạt họa.
Nhận giải phim nước ngoài là Das
Leben der Anderen, của Đức.
Phim Marie Antoinette có giải thiết
kế trang phục.
Lễ
trao giải Oscars hằng năm lần thứ 79 tại Holywood
Matt
Damon và Leonardo DiCaprio trong phim "The
Departed"
Những ngôi sao điện ảnh sáng chói nhất đang tề tựu
về Hollywood, bang California để dự lễ trao giải
Oscars hằng năm lần thứ 79, buổi lễ đã được bàn
tán sôi nổi rất nhiều.
Giải thưởng này là sự công nhận
những chọn lựa của ngành kỹ nghệ điện ảnh đối với
những phim hay nhất trong năm.
Những cuốn phim được đề cử cho giải
này là "Babel", "Little Miss Sunshine"
và "The Departed".
Những người được đề cử cho giải
diễn xuất hay nhất gồm Forest Whitaker thủ vai nhà
độc tài Uganda Idi Amin trong phim “The Last King
of Scotland”, và Helen Mirren thủ vai nữ hoàng Elizabeth
đệ nhị trong phim "The Queen".
Nhân vật trước đây từng dự thi giải
American Idol Jennifer Hudson và diễn viên Eddie
Murphy được đề cử giải diễn viên phụ xuất sắc nhất
trong cuốn phim “Dreamgirls”.
Theo dự kiến hàng chục triệu người
trên thế giới sẽ đón xem lễ trao giải Oscar hàng
năm cho những người tài giỏi nhất trong ngành kỹ
nghệ điện ảnh.
Vĩnh
biệt trụ cột Nhân văn giai phẩm
Nhiều
nhà văn có tiếng đã tiễn đưa ông Nguyễn Hữu
Đang về nơi an nghỉ cuối cùng tại Việt Nam
vào ngày mùng 10 vừa qua. Ông qua đời ngày
mồng 8 tháng Hai năm 2007, hưởng thọ 94 tuổi.
Ông
Nguyễn Hữu Đang được coi là một cột trụ của
phong trào Nhân Văn Giai Phẩm hồi cuối thập
niên 1950.Ông
cũng từng giữ các chức vụ thứ trưởng Bộ Thanh
Niên, thứ trưởng Bộ Tuyên Truyền thuộc nội các đầu
tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
Thập niên 1960, ông Nguyễn Hữu
Đang đã bị giam cầm nhiều năm tại Hà Giang
vì chống lại chế độ "cực quyền toàn
trị " của đảng Cộng Sản Việt Nam. Ông
còn bị buộc tội 'làm gián điệp'.
Nhà phê bình văn học Đặng Tiến
hiện đang sống tại Pháp nói ông Nguyễn Hữu
Đang có nhiều thành tích về văn hoá, nhưng
người ta lại biết tới vai trò của ông trong
thời kỳ Nhân văn giai phẩm nhiều hơn.
Được biết, ông Nguyễn Hữu Đang
hoạt động cách mạng từ thập niên 1940, tham
gia tích cực phong trào truyền bá quốc ngữ,
sau đó phụ trách mảng thanh niên trong phong
trào Việt Minh.
Ông Đang chính là người đã xây
dựng khán đài tại Quảng trường Ba Đình để
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc Lập,
theo bản vẽ của hoạ sỹ Lê Văn Đệ.
Về sau này, ông bị cho là người
lãnh đạo phong trào Nhân văn Giai phẩm.
Theo ông Đặng Tiến, ông Nguyễn
Hữu Đang gia nhập Đảng Cộng Sản từ năm 1947,
nhưng tới năm 1951 thì ông hầu như không còn
liên hệ gì với Đảng.
Ông Đặng Tiến cho biết, ông còn
giữ một bài viết của ông Nguyễn Hữu Đang
đăng trên báo Nhân Văn số bốn, với tiêu đề
"Cần phải chính quy hơn nữa".
Trong bài viết này, ông Nguyễn
Hữu Đang đòi Việt Nam phải có một chế độ
pháp lý rõ ràng, một bản hiến pháp mới
và xây dựng nền dân chủ pháp trị.
Trong bài có đoạn: "Do pháp
trị thiếu sót mà cải cách ruộng đất đã
hỏng to đến thế. Do pháp trị thiếu sót mà
quân đội chưa có một chế độ binh dịch hợp
lý, công an hỏi giấy giá thú đôi vợ chồng
ngồi ngắm cảnh trăng bên Bờ Hồ, hộ khẩu rình
bên cửa sổ khiến người ta mất ăn mất ngủ.
Cán bộ thuế tự tiện vào khám nhà. Ở khu
phố có chuyện đuổi nhà lung tung..."
Ông Nguyễn Hữu Đang được phóng
thích theo nội dung Hiệp Định Paris, sau 15
năm bị tù.
Khi ông Đang qua đời, báo chí
trong nước hầu như không đăng bài nhắc tới
ông.
Tuy
nhiên mới đây, chủ tịch nước Việt Nam đã ký
quyết định trao Giải thưởng Nhà nước cho bốn
nhà thơ thuộc nhóm Nhân Văn Giai Phẩm là các ông
Lê Ðạt, Hoàng Cầm, Trần Dần và Phùng Quán. Trong
số này chỉ có hai ông Lê Ðạt và Hoàng Cầm là
còn sống. ( BBC)
xem: Nguyễn Hữu Đang
“Quan
Tuần mất cướp” nổi tiếng trong thơ Nguyễn Khuyến
là ai?
Cháu
đích tôn của cụ quan Tuần: Cụ Trần Văn Gioản(Sán)
TP
- Chúng ta đều đã biết tới bài thơ “Hỏi thăm quan
Tuần mất cướp” của cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến
(1835 – 1910). Tuy nhiên, vụ “cướp của, bắt người”
này diễn ra như thế nào, khi nào, ai là thủ phạm,
nhân thân của “nạn nhân” ra sao? v.v, hầu như chưa
có tài liệu hay sách, báo nào nói rõ.
Mới gần đây, trong chuyến về thăm ngôi nhà thờ tổ
họ Trần ở làng Tiên Khoán, xã Yên Nội, huyện Bình
Lục (Hà Nam), tình cờ, chúng tôi được một số con
cháu cụ Tuần kể chuyện và cho xem cuốn “Gia phả
họ Trần”, trong đó, giải đáp khá tỉ mỉ những câu
hỏi trên. Nhân dịp đầu Xuân xin ghi lại để mọi người
cùng tham khảo, góp ý.
Theo
như gia phả ghi lại thì cụ quan Tuần vốn người làng
Tiên Khoán, xưa thuộc Tổng Vụ Bản – một nơi quanh
năm úng lụt, ra ngõ là phải lên thuyền.
Thậm
chí, mùa nước lụt, tàu hỏa thời Pháp chạy qua đây
không thấy đường ray, tàu chỉ chạy mò lấy dãy cột
điện bên đường làm chuẩn.
Còn
người dân nơi đây, một thời đã có câu “Phân tro
không bằng cày mò tháng 6”. Khách qua đường nhìn
xuống ruộng chỉ thấy cảnh người lội nước tới ngực
giơ roi, còn trâu bị ngập toàn thân chỉ lồi lên
cái đầu và cặp sừng; cứ thế người và trâu cày mò
dưới nước…
Quan
Tuần tên thật là Trần Văn Ước, hơn cụ Nguyễn Khuyến
trên dưới chục tuổi, vốn tư chất thông minh, chăm
chỉ học hành; nhiều hôm không có tiền để mua dầu
thắp đèn học tối, đã phải đi quét lá đa đầu làng,
trong chùa gom lại phơi khô để đốt thay đèn ngồi
học.
Sau
nhiều lần lận đận trong thi cử, cuối cùng cụ cũng
đỗ được “Cử nhân thiêm thủ”, sau xuất chính ra làm
quan dưới triều vua Tự Đức và được tiếng là “minh
quan” liêm khiết, từng được vua Tự Đức ban cho biển
sơn son thếp vàng thau Thủ Châu, phê hai chữ “Liêm
chính” cùng với mũ áo, cân đai, hia hốt.
Thời
còn làm quan trong triều, tuy chỉ giữ một chức quan
nhỏ, nhưng cũng đã có lần được vua Tự Đức cho giữ
chức “Khâm sai thanh tra đại thần” ra Bắc Hà công
cán và sau này được cử giữ chức Tuần Vũ tỉnh Quảng
Yên (cũng vì thế cụ thường được gọi là cụ quan Tuần).
Do
chủ trương giấu súng thần công và phân tán binh
lính nên cụ quan Tuần đã bị Pháp bắt giam 1 tháng,
dùng nhục hình như bắt nhịn đói, bắt cụ ngồi vào
xe có ván gỗ đóng đinh ngược chồi mũi song cụ vẫn
nhất quyết không khai.
Giam
chán không khai thác được gì, Pháp đành phải thả
cụ về dinh Tuần Vũ. Lúc này, quan “Khâm mạng đại
thần” – đặc phái viên của vua Tự Đức – đã ngỏ ý
phong cho cụ Tuần chức Tổng đốc Nam Định, song,
cụ Tuần vì bất mãn với thời cuộc nên đã quyết xin
về dưỡng lão ở quê nhà là làng Tiên Khoán rồi mở
trường dạy học ngay trong làng…
Nhà
cụ Tuần vừa là hưu quan vừa là nhà làm ruộng nhiều,
đông người thuê mướn, mỗi mùa gặt hái thu hoạch
hàng vài chục tấn thóc, phải đóng vựa, xây kho chứa
đựng. Chính vì thế bọn cướp đã cho quân thám thính
nhiều lần.
Một
hôm, vào lúc đêm đông mưa gió (vào khoảng năm 1889),
tướng cướp dẫn quân tới cướp phá nhà cụ Tuần. Bọn
cướp cầm đuốc sáng rực dễ đến hàng trăm tên; chúng
dùng thuổng sắt, búa to phá tan cổng, đập vỡ tường
xây bao rồi tràn vào sân, kho để cướp bóc. Chủ nhà
và gia nhân chỉ độ 2-3 chục người không dám chống
cự.
Thôi
thì từ thóc gạo, trâu, lợn đến mâm đồng, thau đồng,
đồ thờ ngũ sự, quan tiền đồng xâu chuỗi, bát đĩa
cổ, đối trướng treo trong nhà đều bị bọn cướp vơ
vét sạch sành sanh. Người nhà, con cháu mạnh ai
người nấy chạy trốn, ẩn nấp; riêng cụ Tuần vẫn ngồi
điềm tĩnh bên án thư với ngọn đèn và chồng sách
Hán tự.
Khi
cướp xông vào, cụ thong thả nói: - Các ông muốn
lấy gì của cải của tôi thì cứ lấy, nhưng đừng giết
người! Rồi cụ lại ngồi lim dim. Một tên cướp thấy
chiếc tráp sơn khảm nơi cụ Tuần ngồi tựa, chúng
xô cụ ra, giật lấy tráp mở nắp thấy tung tóe, mấy
ngọn bút lông, vài thỏi mực Tầu, cặp kính lão trắng
và vài nén bạc đĩnh lóng lánh.
Tên
cướp liền đút mấy nén bạc vào túi, ngắm nghía cái
tráp, thấy đẹp, liền bỏ luôn vào tay nải khoác ở
vai… Ở bên ngoài, khi dân làng hay tin bọn cướp
đang cướp bóc tại nhà cụ Tuần, liền nổi trống, mõ
rồi bảo nhau: - Cướp nhà cụ Tuần to lắm, phải gọi
ngay ông Bình Thành mới được.
Sau
đó rất nhiều người hô theo “ông Bình Thành ơi, ra
đánh cướp nhà cụ Tuần nhanh lên, nhanh lên!”.
Một
số bà con hăng hái chạy vào nhà cụ Tuần, số khác
bàn phải chờ bên ngoài lối bọn cướp rút lui, mà
đánh. Trong lúc này, ông Bình Thành – đã từng đỗ
cử nhân võ – cũng đang nghỉ đêm tại một nhà bà con
ở làng Tiên Khoán.
Nghe
tiếng kêu cướp, ông Bình Thành liền vội vàng giât
cái sào phơi bông sợi của chủ nhà bằng tre, dùng
làm gậy thay vũ khí, chạy tới nhà cụ Tuần thì hay
bọn cướp đã bắt đầu rút quân ra cổng.
Nghe
tiếng mõ ngũ liên, tù và rúc inh ỏi và tiếng kêu
la hỗ trợ đánh cướp, bọn cướp liền ra lệnh bắt người
cháu nội đích tôn của cụ Tuần để làm con tin, đồng
thời bắt cụ Tuần ra làm mộc che thân cho bọn chúng
chạy thoát ra khỏi làng.
Quả
nhiên mưu kế của chúng rất hiệu nghiệm, dân làng
muốn đánh cướp ngay khi chúng rút lui nhưng khi
ra khỏi cổng, chúng hô sẽ hạ sát cụ Tuần, dân làng
buộc phải tản ra cho bọn cướp tháo lui.
Tướng
cướp Đốc Tít và mấy tên đầu sỏ đi đầu bảo vệ cho
bọn cướp khuân vác đồ đạc, trâu, lợn cướp được,
còn lại một số tên thiện chiến thì đi sau cùng chống
cự với dân làng.
Ông
Bình Thành như Triệu Tử Long tả xung hữu đột đánh
cho bọn cướp phải hoảng loạn tháo chạy đem theo
một số tên bị thương. Ông Bình Thành chỉ cầm gậy
tre múa tít, đánh ngang, phạt dọc, tên nào lại gần
đều bị ông thốc rơi xuống ao.
Dân
làng đi đánh cướp mà thật ra là đi xem ông Bình
Thành đánh cướp. Bọn cướp nhiều khi bí thế phải
trả lại một số đồ đạc, tiền bạc và sau cùng phải
trả cụ Tuần lại, nhưng chúng phải bắt theo đứa cháu
đích tôn lúc đó mới 9 tuổi, hơn 1 năm sau, qua 5
lần, người nhà mới đi chuộc được về và phải tốn
thêm nhiều của cải, tiền bạc nữa.
Chỉ
ít bữa sau cái đêm ấy, cụ Tuần đã nhận được bài
thơ của ông bạn làm quan đồng liêu là cụ Thượng
Báo ở Vĩnh Trụ (nguyên văn chữ dùng trong gia phả,
kể cả bài thơ dưới cùng chép nguyên văn)
“Tôi
nghe kẻ cướp nó lèn ông
Nó lại lôi ông tới giữa đồng
Cướp của, bắt người, quân tệ nhỉ
Thân già, da cóc có đau không?
Bây
giờ trót đã sầy da trán
Ngày trước đi đâu mất mảy lông
Thôi cũng đừng nên ky cóp nữa
Kẻo mang tiếng dại với phường ngông”
Cụ
Tuần sau đó cũng có thơ trả lời:
“Ông
thăm tôi cũng giã ơn ông
Nó có lôi tôi tới giữa đồng
Cũng tưởng vui thu phòng lúc thiếu
Ai ngờ ky cóp lại như không
Chém
cha thằng quỷ đen tai mắt
Chẳng nể ông già bạc tóc lông
Ông hỏi thăm tôi, tôi có biết
Thương ông tuổi tác cháu thì ngông”.
Lại
nói về đứa cháu đích tôn của cụ Tuần là Trần Văn
Sán, sau còn có tên là Gioản, sau khi được chuộc
từ tay bọn cướp về, được ông nội tức cụ Tuần rất
thương.
Cụ
Tuần bắt đầu dạy cháu học Hán tự. Vì cháu ngoan
ngoãn, dĩnh ngộ nên đi đâu ông cũng cho theo và
dùng làm tiểu đồng. Có lần cụ Thượng (Nguyễn Khuyến)
bảo với cụ Tuần: - Tôi có đứa con gái cũng trạc
tuổi với cháu đích tôn của cụ, mến cháu, tôi muốn
cho tình bạn già chúng ta thêm thân, cụ tính sao?
Cụ
Tuần rất ưng ý nhưng chưa quyết, hẹn trả lời sau
để về hỏi mẹ cháu tức là con dâu trưởng mà cụ vẫn
nể trọng. Sau này việc tác hợp đó không thành.
Trần
Văn Sán càng lớn càng tỏ ra có năng khiếu bẩm sinh
về kinh doanh và những công việc đinh điền, đã từng
được trao phẩm hiệu “Minh nông Bội tinh” và cơ ngơi
gia tài có lúc tới hai chục nhà gạch cho thuê tại
Nam Định, cộng với một điền trang rộng tới 515 mẫu
ở Thanh Hóa.
Mặc
dù cụ Tuần và cụ Thượng (Nguyễn Khuyến) đều đã quy
tiên, nhưng tình bạn giữa hai cụ dường như lại được
hâm nóng khi con trai cả của Tuần Văn Sán (cháu
nội cụ Tuần) là Trần Văn Bân kết duyên với cháu
ngoại của cụ Nguyễn Khuyến là Bùi Thị Nhĩ.
Trần
Văn Bân thời trẻ từng được mệnh danh là “công tử
xứ Thanh”, được gia đình cho ăn học tại Albert Sarraut
(Trường Bưởi), là một trong số ít công tử tại Hà
thành lúc đó, đi xe Citroen mới coóng của hãng Avial.
Điền
trang của họ Trần tại Thanh Hóa cũng đã từng có
một thời kỳ là nơi đặt trụ sở của ủy ban kháng chiến
Trung bộ, cho nên Trần Văn Bân cũng đã có dịp giao
du với các văn nghệ sĩ, trong đó có nhà văn Nguyễn
Tuân- người mà sau này cũng trở thành rể của họ
Trần. Cũng chính vì hay quan hệ với những “phần
tử nghịch” nên Trần Văn Bân suýt bị Pháp bắt giam…
Trong
gia phả của họ Trần còn ghi lại rằng, trong nạn
đói 1945, rất nhiều người dạt đến điền trang ở Thanh
Hóa của cụ Trần Văn Gioản (Sán). Hàng ngày, gia
nhân thường nấu những nồi cháo rất to cho bất kỳ
ai qua đường. Xung quanh và trong khu vực điền trang,
không hề có một ai bị chết đói.
Khi
cụ Gioản qua đời, rất nhiều người dân, các vị sư,
tăng ni và tất cả cán bộ nhân viên của UB kháng
chiến Trung Bộ tới viếng, đưa tiễn người cháu đích
tôn của cụ quan Tuần về nơi an nghỉ cuối cùng.
Mạnh
ViệT ( Tien Phong)
Xin Xem: Nguyễn Khuyến
4
Nhân Vật Nhân Văn Giai Phẩm Ðược Trao Giải Thưởng
Văn Học
Tin
Hà Nội - Trong dịp Tết Nguyên đán Ðinh hợi năm nay,
nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã cho công bố quyết
định trao giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng
Nhà nước cho những tác giả có công trình văn học
nghệ thuật đặc biệt xuất sắc, có tác dụng lớn và
lâu dài trong nhân dân. Ngoài 5 giải thưởng nói
trên, còn có 158 tác giả được giải thưởng Nhà nước.
Báo chí trong nước cho biết đáng chú ý nhất là 4
tác giả được bổ sung xét tặng Giải thưởng Nhà nước
đợt này là các ông Lê Ðạt, Trần Dần, Hòang Cầm và
Phùng Quán. Ða số các báo chỉ nêu tên hai người
gọi là nổi bật một thời là nhà thơ Trần Dần và nhà
văn Phùng Quán. Các văn nghệ sĩ này được gọi là
đáng chú ý khi được trao giài thưởng Nhà nước năm
nay, nhưng không báo nào nêu lý do đích thực. Ðó
là họ đã có tham gia, hoặc bị quy chụp là tham gia
hay có cảm tình với phong trào Nhân văn Giai phẩm
bị đảng và Nhà nước trấp áp, bắt tù đày hàng ngàn
văn nghệ sĩ hồi thập niên 50. Gần đây đã có nhiều
ý kiến kêu gọi đảng chính thức nhận sai sót trong
vụ này. Việc các ông Trần Dần, Lê Ðạt, Hòang Cầm
và Phùng Quán được trao giải năm nay có thể xem
là họ đã được giải oan một cách không chính thức
(SBTN)
TET
– Ngôn ngữ được thừa nhận trên thế giới
Trước
đây, thuở mới đến Hoa Kỳ, mỗi năm vào dịp Tết, mình
nói Tết, hầu hết người Mỹ chưa hiểu chữ này, họ
nghe lạ tai.Một số người cựu chiến binh Hoa Kỳ biết
chữ Tết, nhưng nó gắn liền với chữ “Tet Offensive”
– Cuộc tấn công của Việt Cộng vào dịp Tết Mậu Thân
– 1968.
Mấy chục năm trôi qua, ngày hôm
nay, tôi nhận được nhiều cú điện thoại của những
người bạn Mỹ, và họ nói “Happy New Year” (Chúc mừng
năm mới), hay có người còn nói thêm cho rõ nghĩa
“Happy Vietnamese New Year” (Chúc mừng năm mới Việt
Nam), và cũng không ít người nói “Happy Tet” (Tết
hạnh phúc).
Người Mỹ bây giờ gặp những người
Việt Nam không còn chúc “Happy Chinese New Year”
(Chúc mừng năm mới theo kiểu Tàu) nữa, mà chúc mừng
Tết Việt Nam…
Nhìn lại ba mươi hai năm sống tại
hải ngoại, người Việt không chỉ thu nhận những nét
hay đẹp của xứ người vào cuộc sống của mình, mà
ở một chiều khác, người Việt giới thiệu những nét
hay đẹp của nền văn hoá Việt Nam đối với các sắc
dân khác. Di dân Việt, người tỵ nạn Việt trở thành
những nhà truyền bá văn hoá trên thế giới.
Chúng ta giới thiệu cho họ không
chỉ chữ Tết mà cả một nền văn hoá Tết. Ngoài ra,
bây giờ còn biết bao chữ khác cũng được người Mỹ
nói quen miệng như “phở”, bánh mì, áo dài…
Ngày trước, người Mỹ gọi “phở” là
“noodle”, nhưng ngày nay họ gọi “phở” một cách ngon
lành. Họ nói với nhau, mời nhau đi ăn, cũng nói
chữ “phở”.
Trên trang báo Sacramento Bee, khi
họ viết về bánh mì Việt Nam, họ không còn dùng chữ
“French bread” nữa, mà viết hẵn chữ “bánh mì”.
Tôi vào tiệm cà phê Matise trên
đường số 1, trong khu Mỹ hoàn toàn, và trên bản
menu các món uống, thấy chữ “cà phê sữa đá” hẵn
hoi… Người Mỹ cũng gọi cà phê sữa đá, khỏi cần diễn
tả dài dòng,…
Trở lại chữ Tết, ngay hôm nay, ngày
Tết Việt nam, tôi ngồi đọc những bài báo Mỹ và họ
viết về Tết thật nhiều.
Tờ The Star, trong mục Lifestyle,
viết bài “Tet’s the way” của Brenda Benedict, trong
đó có nhiều đoạn nói về Tết và truyền thống ăn Tết
kiểu Việt Nam. (bấm vào link này để đọc).
Trên tờ Sun Herald tại Beloxi cũng
thế. Trong bài viết mang tựa đề TET: Asian New Year
holiday celebration begins Saturday night của Jean
Prescott cũng nói nhiều về Tết, viết bằng chữ Tết
hẵn hoi. (bấm vào link này để đọc).
- Tờ Washington Post, một tờ báo
lớn vào hàng bậc nhất của Hoa Kỳ, trong số ra ngày
16 tháng 2, cũng nói hẵn chữ Tết thay vì Vietnamese
New Year.
Các hãng tin AP, AFP, Reuters, các
tờ báo Mỹ ở những vùng Việt Nam cư ngụ đông, đều
nói về hay viết về Tet Festival.
Ngay cả Hội Tết Fairground, một
Hội Tết có truyền thống lâu đời nhất tại San Jose,
California, năm nay kỷ niệm 25 năm Hội Tết cũng
treo một hàng chữ lớn TET cao trên không, và bây
giờ mỗi năm hoa đào nở, người ta đều nói đến TẾT,
dù rằng người đó là người dân xứ nào…
Trong hành trình sống xa quê hương
với thân phận tỵ nạn và di dân, người Việt hải ngoại
với cấu trúc cộng đồng và hội đoàn, hội ái hữu đã
góp phần không nhỏ trong việc giữ gìn bản sắc dân
tộc. Tết chính là ngày lễ quan trọng nhất để giữ
gìn bản sắc dân tộc. Một người du lịch từ Việt Nam
sang và xin được ẩn danh nói rằng “Thật là bất ngờ
thấy Tết ở Mỹ, nhất là ở Nam và Bắc California,
vui quá. Nhiều hội Tết và nhiều chợ Tết.”
Ngày xưa, nhiều tên của người Việt
khó đọc, khiến người Mỹ khó đọc, nên khá nhiều người
đổi sang tên Mỹ để Mỹ dễ đọc. Thế nhưng, ngày nay,
nhiều người cảm thấy không cần thiết đổi tên sang
tên Mỹ nữa, và người Mỹ cũng đã quen với những tên
Việt Nam như dân biểu Trần Thái Văn, ủy viên giáo
dục học khu Lân Nguyễn (San Jose), Dương Nguyệt
Ánh (bomb lady)…
Trong
những năm gần đây, xu hướng quay trở về nguồn cội
văn hoá dân tộc ngày càng nhiều, và nhiều đám cưới
được tổ chức trong chùa, nhà thờ và cô dâu chú rễ
mặc sắc phục truyền thống, khiến cho hương vị Việt
càng ngày càng lan tỏa trên đất Mỹ (.Cali Today
News )
Năm
Đinh Hợi-1947 với Văn Cao
(LĐ)
- Văn Cao sinh năm Quý Hợi - 1923. Với Văn Cao,
năm Đinh Hợi - 1947 là năm ông tròn hai giáp tuổi
(tuổi tây là 24, tuổi ta là 25) cũng là năm rực
rỡ nhất trong sự nghiệp sáng tạo thơ, nhạc của mình
giữa những ngày đầu trường kỳ kháng chiến.
Ngày ấy, sau Toàn quốc kháng chiến,
Văn Cao đưa cả gia đình vợ chưa cưới (gia đình bà
Nghiêm Thuý Băng) về Ba Thá - Chương Mỹ - Hà Đông.
Ơ đó, Văn Cao vẫn hàng ngày hướng về mặt trận Hà
Nội. Và những ngày đầu năm Đinh Hợi - 1947 cũng
là những ngày Văn Cao viết nháp bản thảo bài thơ
dài "Ngoại ô mùa đông 1946". Một năm sau,
bài thơ đã in trên Tạp chí Văn nghệ số 2 ở chiến
khu Việt Bắc. Bài thơ dài đã khép lại bằng câu thơ
đón mùa xuân Đinh Hợi - 1947 mới mẻ và rắn rỏi:
"Mùa xuân về giữa chiến hào xa".
Việc lớn mà Văn Cao thực hiện được
trong năm tuổi của mình là việc tổ chức hôn lễ với
bà Nghiêm Thuý Băng - năm đó mới 17 tuổi. Đám cưới
xong và trọn vẹn một tuần trăng mật, theo yêu cầu
của đồng chí Lê Giản - Giám đốc Công an Bắc Bộ,
Văn Cao đã móc nối với đồng chí Minh già - Công
an khu X - lên Lào Cai tổ chức một mạng lưới đặc
tình nhằm tìm ra và khống chế những gián điệp Tưởng
Giới Thạch thâm nhập vào Tây Bắc. Và thế là vợ chồng
Văn Cao lại khăn gói lên đường trong nhịp valse
"Làng tôi" vừa viết xong.
Lên Lào Cai, Văn Cao quyết định
lập bar để làm điểm theo dõi. Văn Cao đã tìm đến
ba thổ ty vùng Lào Cai là Nông Vĩnh Xương ở Mường
Khương, Lò Văn Phù ở Bát Xát và Voòng A Tưởng ở
Bắc Hà. Văn Cao bỏ tiền riêng ra cùng góp với ba
thổ ty để vào hội thổ ty và lấy vốn chung đó lập
bar.
Theo yêu cầu, Văn Cao đã làm lễ
kết nghĩa anh em với Voòng A Tưởng. Trong buổi lễ,
một cây kiếm và một khẩu súng được để bắt chéo trên
bàn thờ tổ quốc. Kẻ nào thay lòng đổi dạ phản bội
tổ quốc thì sẽ chết vì gươm, hoặc vì súng. Đồng
chí Trần Huy Liệu đã nhân danh trung ương có mặt
để chứng kiến.
Thế là quán bar ở Lào Cai được khai
trương với sự tham gia của hai nhạc sĩ Phạm Duy
và Ngọc Bích. Khi ấy, Văn Cao với nhiệm vụ đặc biệt
của mình đã giấu kín "Văn Cao nghệ sĩ"
trong lòng mà chỉ để lộ ra "Văn Cao hiệp sĩ"
chủ quán bar mà thôi. Chính nhờ thời gian ở Lào
Cai, Phạm Duy đã viết "Bên cầu biên giới"
nổi tiếng.
Ai đã tới cầu Cốc Lếu ở Lào Cai,
không thể không tưởng tượng giai điệu bài hát Phạm
Duy: "Ngừng đây soi bóng bên dòng nước lũ/
Cầu cao nghiêng dốc bên dòng sông sâu...".
Còn Ngọc Bích thì dào dạt ra "Gió mùa chinh
phu": "Cô nàng dệt lụa hồ thu/ Mơ người
chinh chiến biên khu chốn ấy xa vời...".
Văn Cao cùng vợ rời Lào Cai đầu
thu Đinh Hợi 1947, và đến khi sang sông Lô thì chiến
dịch Việt Bắc thu đông đã kết thúc. Đi giữa đoàn
bộ đội, ông nhận thấy bên bờ sông Lô còn nghi ngút
khói. Và mùa đông buốt giá. Choàng tấm chăn chiên
hơ tay trên bếp lửa cùng đồng chí Doãn Tuế - chỉ
huy pháo binh Việt Nam trong chiến thắng lẫy lừng
vừa qua trên sông Lô.
Thế là "Văn Cao nghệ sĩ"
lại bắt đầu nổi hứng. Ông nghĩ sau "Tiến quân
ca" thành "Quốc ca Việt Nam", ông
đã viết "Chiến sĩ Việt Nam" cho bộ binh
và kỵ binh, "Không quân Việt Nam" và "Hải
quân Việt Nam" cho các binh chủng tương lai
của Vệ Quốc quân. Cũng đã có "Bắc Sơn"
dành cho dân quân du kích. Đã có "Công nhân
Việt Nam" và "Làng tôi" cho nông
dân. Và vì thế ông sẽ viết về binh chủng pháo binh
non trẻ.
Nhưng khi cầm đàn lên, thì cây guitar
thân thuộc lại dẫn ông lạc vào một "Trường
ca sông Lô" mênh mang và trở thành tác phẩm
bất tử chảy lai láng trong trường kỳ kháng chiến,
cùng "Lô Giang" của Lương Ngọc Trác, "Chiến
sĩ sông Lô" của Nguyễn Đình Phúc và "Tiếng
hát bên sông Lô" của Phạm Duy tạo nên một bộ
tứ bình sông Lô âm thanh. Hoàng Cầm cũng có một
trường ca thơ về sông Lô.
Trong "Trường ca sông Lô"
của mình, Văn Cao đã đưa vào đó một đoạn về chiến
sĩ pháo binh: Thây giặc trôi trở về ngập bờ/ Sông
gầm âm vang súng trái phá/ Bao rừng thu như bát
ngát cười/ Dân hoan hô chiến sĩ pháo binh Việt Nam
ghi công...
Và
để nhớ về căn làng Ba Thá mùa xuân Đinh Hợi - 1947,
Văn Cao đã nhắc lại âm hình "Làng tôi"
trong đoạn kết trường ca: "Dòng sông Lô (ố)
trôi" chính là "Làng tôi xanh bóng tre".
Dường như ông đã xem cả bốn mùa trong năm Đinh Hợi
- 1947 đều là bốn mùa xuân ở tuổi 24 đầy khát vọng
mà hát tới mùa xuân sau: "Mùa xuân tới nước
băng qua ngàn, nước in ven bờ xanh bóng tre"...Nguyễn
Thụy Kha
Nhớ
chợ Tết làng xưa
Làng
Trung Phước cắt rốn chôn nhau của tôi có sáu phái
(thôn) là: Gà Tan thượng, Gà Tan hạ, phái Thị, phái
Trung, Trà Viên và Giáp Nam. Chợ làng lập ngay tại
phái Thị, lấy tên làng làm tên chợ: chợ Trung Phước
(Quảng Nam). Dầu đi đâu về đâu, ngày nay mỗi lần
Tết đến tôi lại mang mang nhớ nhung cái "hồn"
của chợ quê xưa. Tấm "hồn" đó là do sự
lắng đọng của quang cảnh chợ Tết của làng tôi, đã
sống lâu bền trong tâm thức tôi.
Chợ Tết khởi sự từ 25 tháng Chạp
âm lịch, mỗi ngày sau đó càng đông thêm và cao điểm
là buổi sáng 30 Tết (năm nào tháng Chạp thiếu là
sáng 29), ghe, đò đậu chật cả hai bến, chiếc nào
đến trễ tìm một chỗ đậu thật gay go. Người họp chợ
đông đến mức tràn ra cả đường cái, ngõ kiệt và hai
lối xuống bến sông.
Các tiệm cố định tại chợ đã lo đủ
những mặt hàng Tết từ trước tháng Chạp. Họ mua sỉ
hàng từ Đà Nẵng, Hội An và tải về bằng những chiếc
ghe lớn có mui, chạy buồm, chủ yếu là vải vóc, bánh
kẹo, rượu chai, pháo và gạo tốt của Sài Gòn mà bà
con địa phương quen gọi là gạo lương. Có lẽ loại
gạo chà bằng máy này được nơi nào đó dùng để phát
lương nên bà con gọi như thế để phân biệt với gạo
ruộng thông thường còn xay, giã bằng tay. Cụm hàng
Tết kể trên quy thành nhóm "hàng khô"
đầy màu sắc hấp dẫn.
Nhóm "hàng tươi" phải
kể trước nhất là những sạp thịt heo. Tết ở đây chỉ
chú trọng thịt heo chứ không thêm thịt bò, trâu,
dê, cừu như nhiều nơi khác. Kế đến là những dãy
bán rau quả. Loại hàng này không bày lên sạp mà
sắp những gánh hàng thành hàng dài trên nền chợ.
Rau quả các loại hái từ những vườn của làng Đại
Bình bên kia sông nổi tiếng là ngon nhất tỉnh và
luôn chiếm lĩnh ưu thế tuyệt đối tại chợ Trung Phước
trong ngày thường cũng như mấy phiên chợ Tết.
Cụm "hàng sống" gồm gà,
vịt và cá đồng. Ngày Tết, bà con ở đây không chuộng
cá biển, cá sông mà lại ưa cá đồng. Có lẽ vì cá
đồng khi chế biến thành món, nhất là các kiểu kho
độc đáo của Quảng Nam như kho nghệ, kho lót mía,
kho lá gừng, kho "ba mươi lửa"... Mấy
ngày giáp Tết, bà con địa phương tháo hồ, tát đìa,
tát khe bắt cá dành bán chợ Tết. Vào thời điểm này,
các loại tràu, trê, rô, thác lác... đều lớn và mập
trông rất hấp dẫn.
Quãng đường cái trước chợ là những gánh nếp, đậu,
đường, lá dong, lá chuối, lạt dang của số bà con
buôn bán "nghiệp dư" cần có thêm ít tiền
tiêu Tết.
Mặt hàng văn hóa chỉ dồn trong một
tiệm ở đầu dốc chợ xuống bến đò. Tiệm bày bán những
loại tranh in như "Nhị thập tứ hiếu",
"Tây du", "Bát tiên quá hải",
đối liễn xuân... Ông chủ tiệm là một cụ đồ, miệng
luôn ngâm thơ. Ông có một cuốn Kiều được trịnh trọng
bọc trong vải hồng điều để khách bói quẻ đầu năm
và nghe ông giảng. Tại tiệm, vào mấy ngày cận Tết,
ông sẵn lòng “cho” một câu đối xuân và viết luôn
trên giấy hồng đơn nếu có khách "thỉnh".
Gọi là "cho" và "thỉnh" để trọng
đạo thánh hiền chứ khách phải trả công viết và "nhuận
bút" xứng đáng. Khách nhờ ông bói Kiều cũng
thế. Tuy nhiên, trong niềm hưng phấn tống cựu nghinh
tân, khách nào nhờ được ông giúp xong hai việc trên
cũng đều tỏ ra thập phần hoan hỉ.
Chẳng biết từ đâu tới, năm nào cũng
vậy, hễ đến mấy phiên chợ Tết lại xuất hiện nhóm
người bán loại hàng được gọi là "hàng Nha Trang".
Đây là những vật thờ, vật dụng và đồ chơi cho trẻ
con được làm bằng đất nung, có màu lòe loẹt. Những
bộ tam sự, ngũ sự cho bàn thờ, những ống đựng bút
có con nai hay ông tiên, bộ ba Phúc Lộc Thọ, những
dĩa ngũ quả, ông địa bụng bự ngồi cười toe toét...
Bọn trẻ chúng tôi khoái nhất trong nhóm "hàng
Nha Trang" này là những con gà kéo, con vịt,
con chim, con ốc màu mè, thổi lên kêu te te, muốn
chọn con giọng cao, giọng trầm tùy thích. Người
ta bày "gian hàng" này lộ thiên tại góc
chợ xế cổng đình làng và bán rất chạy. Theo mẹ hay
chị đi chợ Tết, bọn trẻ chúng tôi thế nào cũng thủ
sẵn tiền để khi đến chợ thì tách lẹ để mua vài "con
Nha Trang". Phiên chợ Tết thêm phần om sòm
bởi những tiếng gáy, tiếng hót, tiếng kêu của các
con vật bằng đất nung ấy.
Chợ Tết quê tôi, ngoài màu sắc,
tiếng động, phẩm vật... còn có một mùi thơm chung
rất Tết. Đó là mùi tổng hợp của các loại rau thơm,
củ, quả thơm; mùi hồ vải, áo mới; mùi hương, trầm
đốt "quảng cáo" tại các cửa tiệm, mùi
thơm của các loại bánh Tết. Tất cả đã làm nên chất
"hồn" của chợ Tết làng xưa. Dân gian bảo:
"Đói cũng ngày Tết, hết cũng ngày mùa".
Vào phiên chợ Tết làng xưa, ai cũng thấy vẻ trù
phú, no ấm, "chịu chơi" của bà con ta
khi Tết đến Xuân về, nét cơ cực tạm thời được cất
đi vào thời điểm vui đón tân niên. Đã rất lâu rồi
tôi chưa được một lần về thăm lại phiên chợ Tết
của làng xưa. Chắc rằng "chợ Tết ngày nay"
ở quê tôi cũng như bao nơi khác đã có nhiều đổi
thay, có thêm nhiều thứ và mất đi nhiều thứ... nhưng
cái "hồn" của chợ quê thì vẫn được giữ
như xưa. Mong là như thế.
Tường
Linh@TH.N
Trở
về Trang Văn học & Nghệ thuật
(Những
bản tin trên chúng tôi trích dịch từ BBC, Tân Hoa
Xã, VOA, Reuters, Fox, Vietnamnet, Thanh Niên, Tuổi
Trẻ...
Xin cám ơn các nguồn trên đã giúp chúng tôi chuyển
gửi tin tức đến độc giả HNPĐ
)

|