| 
Nữ
sĩ kiệt xuất của dòng thơ Nôm
I .
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP
"Tên con là Hinh, theo chữ Hán, trong đó có
chữ Thanh có nghĩa là" tiếng", và chữ
Hương là "hương thơm"; cha mong con sẽ
để lại tiếng thơm ở đời". Đó là lời người cha
của cô bé Nguyễn Thị Hinh, cô bé mà sau này được
Văn Học Việt Nam biết đến với danh hiệu Bà Huyện
Thanh Quan. Và với tài năng cũng như đức hạnh, cô
đã không phụ lòng mong ước của cha già. Bà Huyện
Thanh Quan là một thi tài lỗi lạc của Việt Nam vào
đầu thế kỷ XIX, thơ của bà để lại không nhiều, nhưng
đã in đậm dấu ấn trong văn học sử, và tạo lòng ngưỡng
mộ vô bờ nơi những khách yêu thơ.
Cho tới nay, người ta không rõ năm sinh và năm mất
của bà. Chỉ biết cha của bà là học trò của cụ Phạm
Quý Thích, cụ là một tiến sĩ đời nhà Lê và là bạn
thân của thi hào Nguyễn Du. Quê hương bà là làng
Nghi Tàm, ở ven Hồ Tây (Hà Nội). Nơi này vào thế
kỷ XII có công chúa Từ Hoa, con vua Thần Tông nhà
Lý, người đầy lòng nhân ái; đã từ bỏ cung vua để
lập trại dạy cung nữ trồng dâu nuôi tằm, hoà mình
với đời sống của dân; sau lại đem tất cả những gì
mình có để làm công quả, xây nên chùa Sen Vàng (Kim
Liên). Đây cũng là nơi mà sau này có nhiều dấu ấn
của Vua Lê Chúa Trịnh: Chúa Trịnh Giang mở bến tắm,
chúa Trịnh Sâm mở các hành cung. Gần đó là xóm Bảo
Khánh, chỗ bà chúa Liễu Hạnh dong thuyền ngâm thơ
cùng với Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, "trăng
tròn soi một bóng tiên thôi", nơi đẹp đến nỗi
"đất trời lộn sắc": chả biết đâu là nước,
đâu là mây. Phải hiểu địa danh và lịch sử của Nghi
Tàm mới có thể cảm được thi tài và tâm hồn nhạy
cảm, đầy nhân ái của Bà Huyện Thanh Quan, Nữ sĩ
của đất "ngàn năm văn vật" .
Được gọi là Bà Huyện Thanh Quan, vì cô Hinh lấy
chồng người làng Nguyệt Áng, tên gọi Lưu Ôn (1)
, đậu cử nhân đời Vua Minh Mạng. Lúc đầu ông được
bổ làm tri huyện Thanh Quan (tỉnh Thái Bình), rồi
vì can án nên bị cách chức, sau lại được làm Bát
Phẩm Thị Lại Bộ Hình, sau cùng được thăng lên chức
Viên Ngoại Lang. Phần bà, nhờ nổi tiếng là "hay
chữ", nên được vua Minh Mạng vời vào cung và
phong cho chức Cung trung giáo tập, để dạy các cung
nữ học. Trong những năm đầu triều vua Tự Đức, bà
đã gián tiếp xin vua miễn cho làng Nghi Tàm khỏi
lệ tiến cống chim sâm cầm; điều đó nói lên sự quan
tâm nhân ái đối với dân làng, và hình bóng đất Bắc
hà luôn in đậm trong tâm hồn người Nữ sĩ tài hoa.
Thơ của bà để lại được chính thức công nhận là 6
bài; đó là: Qua đèo Ngang, Chùa Trấn Bắc, Thăng
Long hoài cổ, Cảnh chiều hôm, Chiều hôm nhớ nhà,
Cảnh thu (2). Chúng đều là những bài thơ tả cảnh,
đẹp như những bức tranh thủy mặc chấm phá; nhưng
không chỉ có vậy, đây lại là những bài thơ mượn
cảnh để gửi gắm tâm tình. Nhưng trước khi nói đến
tâm sự của bà, chúng ta cùng phân tích vẻ đẹp nơi
những bài thơ của Nữ sĩ.
II.
"NGỌC" TRONG THƠ
Thể
thơ Đường luật của Trung Hoa có một bố cục chặt
chẽ, với số chữ và số câu hạn chế, lại thêm những
quy luật niêm và đối phức tạp.Với chữ Hán đã khó,
dùng chữ Nôm lại còn khó hơn. Nhất là về ý, thơ
lại mượn cảnh để diễn tả tâm tình, phải có một sự
hoà hợp giữa tâm hồn và ngoại cảnh, giữa tình cảm
và lý trí. Rồi "ý tại ngôn ngoại": dùng
chữ diễn ý, sao cho ngắn gọn, đầy đủ; nhưng cũng
"ý bất thành văn": lại vẫn như còn thiếu
cái gì đó để gợi thêm tưởng tượng và tâm tình, như
"trời chiều bảng lảng". Thật hay nhưng
thật khó, thế mà điều đó có được nơi thơ của Bà
Huyện Thanh Quan. Có thể nói rằng những câu thơ
của bà thật đẹp và khó có một chữ thừa:
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá, đá chen hoa.
Ngay cách đảo ngữ cũng làm cho câu văn ngắn gọn,
mạnh mẽ; nhưng lại thật trong sáng, nhẹ nhàng:
Gác mái, ngư ông về viễn phố
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Và nhất là những từ ngữ, hình ảnh, âm điệu đối xứng
với nhau thật đẹp, thật hay:
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
"Trơ gan" đối với "cau mặt",
rồi đem những động từ đó gán cho "đá"
và "nước", là những biểu tượng của sự
vô hồn, dửng dưng, làm chúng sống động nhờ sự "nhân
cách hoá". Làm thơ như thế, thật khó có ai
bì.
Đọc thơ của bà, chúng ta thấy có một cái gì thật
đoan trang, tao nhã, như thấp thoáng một hình ảnh
trang nghiêm, đài các, nhưng không cổ kính, khô
khan mà lại thật thanh thoát, nhẹ nhàng:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương .
Có thể ví thơ bà với hình ảnh bộ chén kiểu Trung
Quốc có vẽ hình sơn thủy Việt Nam, đã được Vua Minh
Mạng đem ra khoe, và yêu cầu bà làm thơ vịnh, Nữ
sĩ đã không đắn đo lên giọng đọc:
Như in thảo mộc trời Nam lại
Đem cả sơn hà đất Bắc sang.
Có cái gì cổ kính như một nước Trung Hoa với hàng
ngàn năm truyền thống, luôn đặt nặng sơn hà. Nhưng
cũng có cái gì thật xanh tươi, dịu mát, như cây
rừng, cỏ lúa của quê Việt mến yêu. Tâm hồn của Nữ
sĩ là ở đó, một tâm hồn biết vận dụng những hình
ảnh của mình và của người, tâm tình và ngôn ngữ.
Bà cũng đã dùng những thi điệu thật uyển chuyển,
nên thơ dù tả những cảnh xưa và theo thể thơ Đường,
nhưng vẫn không bị gò bó. Trong thơ như có nhạc,
và nhạc đó làm nao lòng người, vì thật hợp tình,
hợp cảnh:
Sóng lớp phế hưng coi đã rộn
Chuông hồi kim cổ lắng mà mau.
Có lẽ bà đã từng ngắm những lớp sóng xô đẩy nhau
trên mặt Hồ Tây mà nghĩ tới sự suy thịnh đổi thay
của các triều đại, cũng như nghe tiếng chuông chùa
lúc nhặt lúc khoan, gợi sự biến thiên của đời người
và trần thế . Những hình ảnh đó đã làm bà cảm khái
để dệt nên những vần thơ bất hủ , gieo vào lòng
người một sự trầm lắng sâu sa.
Nhưng đẹp nhất và tuyệt nhất trong thơ của Nữ sĩ
là cách dùng chữ thật điêu luyện, thần tình. Những
ý và lời đã được bà dùng những chữ thật chính xác
để diễn tả, như những viên ngọc được chọn lọc và
gọt dũa. Những nhà phê bình có thể đề nghị sửa một
chữ trong thơ của Tản Đà (3) hoặc của những nhà
thơ mới để thêm đậm nghĩa hay tạo nhạc điệu, nhưng
chưa thấy ai đề nghị sửa "chữ" nào trong
thơ của Bà Huyện Thanh Quan.
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ mấy nhà
Hay: Xanh um cổ thụ tròn xoe tán
Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ.
Những chữ đã nói lên đầy đủ ý nghĩa, hình ảnh, màu
sắc, mà lại thật sáng sủa, tươi đẹp, nhẹ nhàng,
làm cho người đọc có ấn tượng: không thiếu, không
dư.
Tóm lại, thơ Đường Luật của Việt Nam trước kia thường
mắc phải hai tật: nếu nghiêng về chữ Hán thì nặng
nề, cổ kính, có lúc tối nghĩa vì những điển cố,
nghĩa chữ; nếu nghiêng về chữ Nôm thì quê kệch,
chất phác, đôi khi trúc trắc, khó hiểu vì những
tiếng không phổ thông. May mắn thay, tới đầu thời
nhà Nguyễn, chúng ta có hai nữ sĩ kiệt xuất là Hồ
Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan, nên hai tật đó
đã được vượt qua. Nói như cố giáo sư Phạm Thế Ngũ
"Thơ Hồ xuân Hương thiên về Nôm mà bóng bảy,
duyên dáng, thơ Bà Huyện Thanh Quan thiên về Hán
mà thanh thoát, nhẹ nhàng.Hồ xuân Hương đại biểu
cho cái tinh thần trào phúng bình dân vươn lên thể
hiện trong một hình thức bác học. Thanh Quan đại
biểu cho cái tinh thần tao nhã nho sĩ kết tinh lại
cùng với tinh túy của bài Đường thi trong một ngôn
ngữ Hán Việt đã hoàn toàn Việt hoá"(4).
Để nói riêng về Bà Huyện Thanh Quan, cố giáo sư
đã không tiếc lời khen ngợi, và có lẽ chúng ta cũng
đồng ý với ông rằng: "Thơ Đường trước bà người
ta đã làm vô số, sau bà người ta cũng còn làm vô
số. Nhưng trước cũng như sau, có lẽ không ai vượt
được Nữ Sĩ Thanh Quan".(5)
III. THÁI ĐỘ "HOÀI
LÊ" HAY TÂM TRẠNG CÔ ĐƠN TUYỆT ĐỐI
Xưa nay,
nhiều nhà phê bình văn học đã xếp thơ Bà Huyện Thanh
Quan vào khuynh hướng hoài cổ, vì bà có những bài
thơ nói lên lòng luyến tiếc nhà Lê với quá khứ vàng
son đã qua, một quá khứ huy hoàng của đất Bắc. Những
bài thơ như "Thăng long hoài cổ", "Chùa
Trấn Bắc " đã được đem ra phân tích dưới cái
nhìn đó.
Nhưng gần đây, một số nhà phê bình mới đã bác bỏ
nhãn quan này. Họ cho rằng Nữ sĩ đã sống vào sáu
bảy thập kỷ đầu của thế kỷ XIX, dưới triều các Vua
Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, là lúc triều Nguyễn
đã đi vào quy củ vững vàng, đã tự khẳng định như
một vương triều chính thống. Và chính bà cũng như
chồng, đều là quan nhà Nguyễn, nào có ăn lộc gì
của Vua Lê Chúa Trịnh mà phải có thái độ "hoài
Lê"? Chuyện đó có lẽ chỉ đúng cho Nguyễn Du,
Nguyễn Huy Hổ là những người có gia thế vọng tộc
gần gũi với Tiền triều. Còn nỗi buồn của bà, theo
như họ khẳng định, đó là nỗi buồn của một tâm trạng
cô đơn. Trong 6 bài thơ của bà đã có 4 bài thơ buồn,
tất cả đều chứa đầy tâm sự mà không tìm được người
san sẻ:
Kẻ chốn chương đài, người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn.
Ngay cả cảnh vật, tuy thật gần gũi để bà gửi gắm
tâm tình, nhưng vẫn không chia xẻ được sự cô quạnh
của bà "cảnh đấy, người đây, luống đoạn trường".
Khác hẳn với Nguyễn Khuyến, ngay khi cô đơn như
sư cụ chùa Đọi thì còn có khói mây:
Sư cụ nằm chung với khói mây.
Hoặc Tản Đà thì vẫn còn có mặt trăng:
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi
Trần thế em nay chán nửa rồi.
Hay như Hồ Xuân Hương, lúc buồn còn có "non"
và "nước":
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Còn Bà Huyện Thanh Quan thì như cô đơn tuyệt đối,
một tâm trạng thể hiện rõ nét trong hai câu cuối
của bài "Qua đèo Ngang"
Dừng chân đứng lại trời, non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Chỉ còn lại "mình" đối diện với mình trên
đèo Ngang trong buổi chiều tà; "không còn là
sự gửi gắm, miêu tả, bộc bạch" mà là tác giả
tạc tượng "nỗi cô đơn của mình vào đất trời,
vũ trụ". Một hình tượng độc đáo: kiên vững
, đầy nghị lực, dường như không muốn làm phiền lòng,
bận tâm người khác, mà chỉ âm thầm chịu đựng một
mình. Có phải là vì những ngày xa chồng, xa nhà
khi nhận chức Cung trung giáo tập ở kinh thành Huế
đã tạo trong bà nỗi buồn cô độc? Hay là vì chồng
bà sớm qua đời nên bà thấy lẻ loi và luôn nhớ lại
một dĩ vãng không bao giờ trở lại? Và "Xuân
Hương thi Tập" có nói đến danh mục các bài
thơ của Bà Huyện Thanh Quan, cho rằng bài "Thăng
Long hoài cổ" lúc đầu có tên là "Quá phu
quân cố lị cảm tác" (Qua chốn chồng làm quan
cũ); nếu điều thi tập nói ở trên là đúng, thì quả
là Nữ sĩ đã mượn thơ để diễn tả cảnh ngộ của mình
chứ không phải là thái độ "hoài Lê". Bà
đã đi từ bi kịch cá nhân của mình tới cái nhìn về
sự biến thiên đổi dời của thiên nhiên và xã hội,
sự đổi dời mà con người không cách chi ngăn giữ,
mà chỉ còn lại nơi những tâm hồn nhạy cảm sự tiếc
nuối xót xa, xót xa về một quá khứ với những kỷ
niệm riêng tư, hạnh phúc gia đình. "Nhìn chung,
thì để dẫn đến một tâm trạng có rất nhiều nguyên
nhân, hà tất chỉ là nỗi lòng người đó gán cho một
triều đại nào!"(6)
Lập luận trên thật vững chắc và có cơ sở, nhưng
sẽ không đủ nếu chúng ta nói Bà Huyện Thanh Quan
không có thái độ hoài Lê. Có điều phải định rõ là
nên hiểu thế nào về thái độ đó:
Làm người, ai cũng nhớ đến sinh quán, quê hương;
nhất là người giầu tình cảm như Nữ sĩ Thanh Quan,
bà làm sao quên được Thăng Long, đất ngàn năm văn
vật. Đã biến đâu rồi những cung son điện ngọc, mà
chỉ còn trơ lại những cột gãy tường siêu, sân rêu
mái đổ. Làm bà phải cất tiếng than:
Tạo Hoá gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương.
Thời gian trôi mau quá, những hành cung lộng lẫy
của hôm qua, nay chỉ còn là phế tích hoang tàn,
làm sửng sốt và đau lòng người luôn chắt chiu những
kỷ niệm xa xưa:
Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu
Chạnh niềm cố quốc gợi lòng đau.
Một quá khứ vàng son đã biến đi đâu mất, chỉ còn
lại cỏ mùa thu trên đường mà ngựa xe nay vắng bóng,
chỉ còn bóng chiều tà trên sân chầu của văn võ bá
quan:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Điều đó càng thấm thía hơn đối với Bà Huyện Thanh
Quan thuộc về một gia đình khoa hoạn thời Lê mạt.
Tuy bà không hưởng lộc gì của Vua Lê Chúa Trịnh
, và từng làm quan với nhà Nguyễn, nhưng chắc chắn
bà cũng chịu ảnh hưởng gián tiếp của các cựu thần
nhà Lê như Phạm quý Thích, Nguyễn Du, Nguyễn Lý.
qua những lời giảng dạy của cha mình . Nhất là đường
hoạn lộ của chồng bà không phải lúc nào cũng xuông
xẻ, chuyện ông đã từng bị cách chức vì lời thơ phóng
khoáng của bà, chắc cũng đã từng làm bà chán nản
với cái bã lợi danh hiện tại mà thêm tưởng nhớ tiền
triều.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Chúng ta nhớ đây là nước cũ 300 năm của Vua Lê,
là nước "Bắc hà" đã bị Chúa Nguyễn ở Nam
hà ra chiếm cứ. Không những họ chả giữ gìn những
lâu đài người xưa để lại, mà cũng chả dám tin dùng
những sĩ phu của đất Bắc nghìn năm văn hiến. Cũng
là sự đổi thay của các triều đại, thế nhưng sao
vua Quang Trung lại trọng vọng bầy tôi nhà Lê đến
thế: người đã mời Nguyễn Thiếp, Ngô Thời Nhiệm,
Phan Huy Ích ra trao cho những chức vụ quan trọng,
còn ai không nhận quan tước thì cho về quê cũ yên
ổn làm ăn. Những vua nhà Nguyễn: Gia Long, Minh
Mạng thì lại khác, khinh thường, nghi kị, hoặc dùng
cho có lệ; khiến cho những cựu thần nhà Lê như Nguyễn
Du, Nguyễn Huy Hổ, và có lẽ ngay cả Nữ sĩ Thanh
Quan cũng đã mang mặc cảm mà thêm thương nhớ tiền
Triều. Huống hồ lại có thêm một lý do tâm lý, đó
là tự ái bị tổn thương: tự ái địa phương, tự ái
cá nhân. Đành rằng những nhà thơ chúng ta vừa kể
trên đều có tâm hồn khoan hòa, phóng khoáng; nhưng
chắc không khỏâi bất nhẫn trong lòng khi thấy đất
Bắc hà bị bỏ bê và coi là phụ thuộc, ngay cả cái
tên "Thăng Long" cũng bị thay để xoá nhòa
quá khứ; rồi chính mình cũng phải quỵ lụy vua quan
triều đình Huế, những kẻ khác biệt về tính tình,
phong tục, học thức, mà lại xét nét, kiêu căng .
Ở đây, cũng cần minh định rõ ràng là Bà Huyện Thanh
Quan, cũng như những cựu thần nhà Lê, đã chẳng tiếc
gì cái ngai vàng mục nát với chính sự đổ nát của
thời Lê mạt Trịnh suy, chả quý gì một vua Lê Chiêu
Thống "cõng rắn cắn gà nhà", hay một Chúa
Trịnh Khải chỉ biết bắt nạt vua Lê mà lại khiếp
nhược trước kiêu binh Tam Phủ. Thái độ hoài Lê của
Nữ sĩ không có tính cách chính trị, chỉ là tâm tình.
Trước cảnh hoang tàn của đất Bắc thời nhà Nguyễn,
bà đau lòng nhớ tiếc một quá khứ xa xưa, "một
quá khứ có lẽ chính bà cũng không tường tận lắm
và cũng chưa thọ hưởng ân huệ gì, nhưng đó là quá
khứ của tiền bối, của gia đình, của quê hương mình,
cho nên tình cảm dễ tô màu khả ái ". Nhất là
vào lúc cuối đời, trong lúc cô đơn, quá khứ đó đã
sống lại huy hoàng trong tâm hồn cao đẹp của bà,
một tâm hồn luôn nhạy cảm, yêu thơ, yêu dân, và
yêu nước.
IV. KẾT LUẬN
Dòng
văn học chữ Nôm có ba nữ sĩ tài ba: Hồ Xuân Hương,
Đoàn Thị Điểm, và Bà Huyện Thanh Quan; mỗi người
một vẻ, đã tô điểm cho văn học Việt nam những nét
tuyệt vời. Hồ Xuân hương, với nét trẻ trung tươi
mát, tạo thêm tính lạc quan yêu đời; Đoàn Thị Điểm,
với lòng chung thủy thắm thiết, đã nêu cao truyền
thống của người phụ nữ Việt nam nghĩa tình sâu đậm
; và bà Huyện Thanh Quan, với sự đoan trang, kiên
nghị, hoài cổ, đã tạo thêm nghị lực trung trinh,
lòng yêu mến trân trọng quá khứ của tiền nhân và
gia đình. Tương lai nằm trong quá khứ, chúng ta
thêm thấu hiểu và kính trọng Nữ sĩ khi đọc lại những
dòng thơ chứa đầy tâm sự của bà, những bài thơ giúp
ích cho chúng ta xây dựng tương lai khi đã nhớ thương,
yêu mến những di sản của cha ông.
Nếu có thể ví Văn chương chữ Nôm như một kho tàng
chứa đầy châu ngọc, thì với tài năng kiệt xuất của
mình, Bà Huyện Thanh Quan đã chọn lọc và gọt dũa
những viên ngọc để kết thành vương miện cho Nàng
Thơ. Trên vương miện đó, số châu ngọc tuy không
nhiều, nhưng thật đẹp, thật quý. Tạo nên dáng vẻ
yêu kiều tôn quý cho một Nàng Thơ đài các, uy nghi,
khiến bao người trầm trồ chiêm ngưỡng. Bao thế hệ
yêu thơ sau này, đã như giới thi sĩ của đất Thăng
Long xưa, sẽ mãi mãi bày tỏ lòng ngưỡng mộ tri ân
khi nhìn vào vương miện của bà đã làm cho Nàng Thơ
trong lâu đài Văn Hoá Việt, một công trình rực rỡ
của một Nữ Sĩ đoan trang đầy tài năng và đức hạnh
trong dòng văn học Việt Nam.
---
1.Có sách viết tên ông Huyện là Lưu Hân, Lưu Huân,
hay Lưu Nguyên Ân. Nhưng căn cứ theo gia phả họ
Lưu ở làng Nguyệt Áng, ông có tên gọi Lưu Ôn.
2. Cũng có sách cho rằng bài "Chơi khán đài
xuân" là của Bà Huyện Thanh Quan, còn bài "Cảnh
chiều hôm" chỉ là bản thảo của bài "Chiều
hôm nhớ nhà", nên số bài thơ vẫn là 6.
3. Như câu "Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng
ngày" trong bài thơ "Thề non nước"
của Tản Đà, có người đề nghị sửa thành "suối
khô. " mới thấy rõ sự chờ mong của suối. Hoặc
nhà phê bình Hư Chu, trong câu thơ của Tản Đà: "lác
đác Hồ Tây chiếc lá rơi, Trăng khuya vằng vặc bóng
theo người", ông đã đề nghị đổi "Hồ Tây"
thành "Tây Hồ", sẽ êm tai hơn vì có nhạc
điệu.
4. Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân
biên, tập III, tr 367 - nxb Đồng Tháp .
5.Cũng Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước
tân biên, tập III, tr 367 - nxb Đồng Tháp
6.Trần Thị Băng Thanh, Tạp chí văn học số 1, năm
1991
Hoài Việt Hoài


Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|