| 
Oliver
Stone làm phim về Osama bin Laden
Oliver
Stone
Sau bộ phim gây nhiều tranh cãi- "World Trade
Center", đạo diễn Oliver Stone quyết định làm
phim về trùm khủng bố Osama bin Laden.
Bộ phim dựa trên một phần của cuốn sách "Jawbreaker"
của Gary Bernstein, một nhân viên CIA ghi lại cuộc
leo thang của Al Qaeda và vụ truy lùng Osama bin
Laden.
Phát ngôn của Paramount, hãng sản xuất "World
Trade Center", cho biết họ đã mua được bản
quyền của "Jawbreaker" cách đây vài tháng,
nhưng hợp đồng đã được giữ kín cho đến khi "World
Trade Center" ra mắt thành công.
"World Trade Center" đã
né tránh những vấn đề chính trị bằng cách tập trung
vào những mẫu nhân vật anh hùng tham gia cứu hộ
những người bị kẹt trong đống đổ nát của toà tháp
đôi. Đạo diễn Oliver Stone cho biết "World
Trade Center" là bộ phim có ít yếu tố chính
trị nhất mà ông đã từng làm.
Năm 1991 Oliver Stone đã gây chấn
động với bộ phim "JFK" về Tổng thống John
F. Kennedy. "JFK" cũng đã được xếp vào
danh sách Những bộ phim gây tranh cãi nhất mọi thời.
Rất có thể bộ phim tới đây cũng
sẽ được liệt vào danh sách này, nhưng đến nay vẫn
chưa có thời gian cụ thể về ngày bấm máy, địa điểm
quay cũng như các diễn viên được chọn.
Dự kiến bộ phim sẽ được phát hành
vào cuối năm 2008, ngay trước cuộc bầu cử tại Mỹ.
Tuy nhiên, nội dung mà bộ phim đề
cập khá nhạy cảm vì nhắc đến Bin Laden, có nghĩa
là sẽ động chạm đến chính quyền Bush và nguyên nhân
dẫn đến cuộc tấn công khủng bố 11/9. Theo VietnamNet/AFP,
Reuters
Giáo
sư người Thổ Nhĩ Kỳ trả lại Giải Thưởng Legion cao
quý của Pháp
Thổ
Nhĩ Kỳ phủ nhận hành động diệt chủng đối với người
Armenia
Một nhà giáo hàng đầu của Thổ Nhĩ Kỳ đã trả lại
một giải thưởng cao quý của Pháp nhằm phản đối một
dự luật của Pháp buộc tội những người không công
nhận hành động thảm sát người Armenia do đế chế
Ottoman của Thổ Nhĩ Kỳ gây ra trong Thế Chiến Thứ
Nhất là một tội diệt chủng.
Giáo sư Erdogan Tezic viết trong
bức thư gởi cho Tổng Thống Pháp, Jacques Chirac,
rằng ông không thể chấp nhận giải thưởng cao quý
nhất của Pháp, Giải Thưởng Legion, là vì vấn đề
giết người Armenia đã trở thành một chủ trương quốc
gia của Pháp.
Giáo sư Tezic là người Thổ Nhĩ Kỳ
đầu tiên và duy nhất nhận được giải thưởng này của
Pháp vào năm 2004. Thổ Nhĩ Kỳ phủ nhận hành động
diệt chủng đối với người Armenia.
Tuần trước hạ viện Pháp đã thông
qua một dự luật hình sự hóa việc phủ nhận vụ người
Armenia bị diệt chủng.
Kiran
Desai đoạt giải Booker 2006
Desai
là con gái của nhà văn Anita Desai
Nhà văn Kiran Desai đã đoạt giải thưởng văn
học danh giá nhất tại Anh, là giải Man Booker,
cho cuốn tiểu thuyết mang tên The Inheritance
of Loss (tạm dịch là 'Thừa kế Thất bại').Cô
lĩnh giải thưởng trị giá 50 ngàn bảng Anh
sau khi được ban giám khảo lựa chọn từ danh
sách gồm 6 ứng viên của vòng chung khảo. Cuốn
tiểu thuyết của Kiran Desai, lấy bối cảnh
là New York và miền đông bắc Ấn Độ, nói về
chủ nghĩa thực dân và toàn cầu hoá qua con
mắt của những người lưu vong và những người
kỳ cục.
Chủ tịch ban giám khảo, Hermione
Lee, mô tả cuốn tiểu thuyết The Inheritance
of Loss là mang tính tiên phong.
Desai như vậy đã qua mặt nhà
văn được nhiều người cho là sẽ đoạt giải,
là Sarah Waters - người được đề cử với tác
phẩm The Night Watch - cùng bốn nhà văn được
đề cử là Kate Greenville, Hisham Matar, M J Hyland
và Edward St Aubyn.Desai, năm nay 35 tuổi, là
nữ văn sĩ trẻ nhất đoạt giải thưởng Booker.
Tác phẩm The Inheritance of Loss
là tiểu thuyết thứ hai của nhà văn này. Man
Booker là giải thưởng văn học được trao hàng
năm cho các nhà văn viết tiếng Anh trong khối
Thịnh Vượng chung và Cộng hòa Ireland
Trò
chuyện với nhà văn Tô Hoài
Nhà
văn Tô Hoài.
Hà Nội cổ hay Hà Nội cũ...
Năm nay tám mươi sáu, cả một đời gắn bó với Hà Nội,
nhà văn Tô Hoài đã sống qua nhiều thời kỳ, từ chế
độ cũ đến khi đất nước giành được độc lập, chín
năm kháng chiến rồi Thủ đô được giải phóng... và
giờ là mở cửa - hội nhập...
Thi
thoảng, có dịp được nghe ông nói chuyện, tôi thực
sự thích thú với lối kể dí dỏm và sự am tường của
ông, đặc biệt phần về Hà Nội. Ông giống như một
cuốn sách sống, không có trang cuối về mảnh đất
này, trong đó lưu trữ rất nhiều tư liệu. Không biết
có phải “bệnh” của người già không nhưng quả thực,
trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, ông liên tục
có những khoảng lặng với những điều khiến chúng
tôi nghĩ ông là người nệ cổ...
-
Thưa ông, điều gì đáng nói nhất trong đời sống Hà
Nội hôm nay ?
-
Tôi nghĩ đấy là quá trình đổi mới - mở cửa và hội
nhập. Đây là điều đặc biệt, là vấn đề rất lớn. Đây
cũng là quá trình không thể cưỡng lại được và cũng
tất yếu, rất hợp ly. Chỉ có điều bên cạnh rất nhiều
mặt tốt vẫn còn một số việc cần giải quyết.
Lấy
thí dụ đơn giản thế này, thành phố phát triển, ắt
phải xây dựng các khu đô thị lớn, chẳng hạn như
khu đô thị mới Mỹ Đình. Không thể dừng việc ấy lại
được nhưng những đảo lộn trong xây dựng khiến cả
vùng này thay đổi, một số thay đổi theo chiều hướng
tiêu cực. Trong khi bộ mặt đường sá, nhà cửa, kiến
trúc không còn như cũ thì nếp sống, sinh hoạt làng
xã vẫn giữ nguyên. Cả một cái chợ được xây dựng
để giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất
đìu hiu, buồn tẻ... Tất nhiên, phải thừa nhận cái
được lớn hơn rất nhiều.
-
Tôi được đọc Dế mèn phiêu lưu ký từ nhỏ, đến giờ
thi thoảng vẫn thích đọc lại như một cách để cân
bằng. Thú thực, tôi rất ngạc nhiên với vốn sống,
vốn hiểu biết của ông ở tuổi ông viết, thể hiện
trong tác phẩm này. Có lần ông kể rằng, cảnh vật
trong ấy không ở đâu xa mà chính là cảnh làng quê
ông, nó là cánh đồng làng ông, là sông Tô Lịch...
Gắn bó với Hà Nội đến mức như thế, vậy thì Hà Nội
xưa để lại ký ức sâu đậm như thế nào với ông?
-
Hà Nội nay phải thay đổi theo tình hình nhưng bộ
mặt cũ vẫn còn, vẫn tồn tại và có một sức sống bền
bỉ. Trước, người ta định chuyển quê tôi (xã Nghĩa
Đô) thành phường, sẽ gồm sáu xã cũ, cánh đồng cũ
và một khu tập thể với vài ba chục đơn nguyên năm
tầng, toàn người tứ xứ. Không thể hình thành một
phường với làng và khu đô thị manh nha như thế.
Thế là phải tách ra thành hai phường, Nghĩa Đô và
Nghĩa Tân. Phường Nghĩa Đô vẫn gồm sáu xã cũ, cánh
đồng làng.
Cứ
như tôi biết, tôi vẫn thường hay về làng lắm, sinh
hoạt vẫn tương tự nếp cũ: Dòng họ, cúng bái, tổ
họ, làng nghề... Tức là cái cũ vẫn còn và nó có
đời sống riêng. Tôi không cắt nghĩa được. Nó làm
sao ấy.
Song
khái niệm “cổ” hay “cũ” bây giờ, tôi cứ băn khoăn
không biết nên gọi là Hà Nội cổ hay Hà Nội cũ. Tôi
thì tôi thiên về khái niệm Hà Nội cũ hơn vì vốn
cổ, ít ra về kiến trúc, xây dựng còn đâu nhiều...
-
Hà Nội tự xưa cũng như hôm nay trở thành nơi
tụ hội người bốn phương. Đây cũng là quá trình tất
yếu của một Thủ đô phát triển...
-
Ấn Độ, Cam-pu-chia... có hai thủ đô, một cũ và một
mới. Ta làm theo cách khác, cách ta đương làm, trộn
lẫn mà vẫn giữ được cái cũ đồng thời phát triển
cái mới. Tức là Hà Nội ở vào thế chan hòa, bảo tồn
cái cũ và đón nhận cái mới. Chỉ có điều trong khi
làm phải lưu ý đến những mấu chốt của dĩ vãng.
Ba
sáu phố phường là nét điển hình của Hà Nội. Ngày
xưa, nó là làng nghề, có nghề, có tổ nghề, và đều
có gốc ở nông thôn. Cần phải có chính sách đối với
nghề cũ của Hà Nội vì Hà Nội còn rất nhiều những
làng thủ công.
-
Rất nhiều người hoài cổ, muốn níu giữ quá vãng
nhưng thực tế là không gì, không ai cưỡng lại được
thời gian. Vấn đề là có thể tìm được một cách cân
bằng không?
-
Tôi không hoài cổ hay thủ cựu mà chỉ nghĩ rằng cần
giữ lại được những cái đáng trân trọng, gìn giữ.
Làng tôi có nghề làm kẹo mạch nha từ xưa. Bây giờ,
nếu nó không “chạy” thì kệ nó “chết” nhưng nó lại
vẫn bán chạy được. Vậy thì hà cớ gì để nghề đấy
chết.
Bảo
tồn, phát triển là điều nên làm. Hà Nội đang làm...
-
ông có về Hà Nội ngay không và tâm trạng của
ông nói riêng, của anh em văn nghệ sĩ nói chung
lúc ấy thế nào, thưa ông?
-
Cả đời, tôi đi khắp nơi nhưng đi đâu, hễ ở đâu xa
thì khi có điều kiện là phải về ngay Hà Nội. Tôi
sinh ra ở đây, xa Hà Nội lâu nhất hồi chín năm,
đi Tây Bắc, đi khắp nơi nhưng vẫn phải về đây, bây
giờ ngần này tuổi thì ở đây.
Cảnh
trong Dế mèn phiêu lưu kí là cảnh quê tôi, cánh
đồng làng tôi và sông Tô Lịch. Tôi yêu mảnh đất
này lắm tôi mới viết được như thế...
Phải
có cái mốc mà vươn tới...
-
Thưa ông, nếu cần có một đánh giá nào đấy tổng
kết cả quá trình vận động của Hà Nội đến giờ ông
sẽ nói như thế nào ?
-
Câu hỏi đấy quá lớn với tôi và tôi cũng khó đánh
giá. Nhưng tôi đồng ý rằng nước ta, Hà Nội đạt được
những kết quả đáng ngạc nhiên, với một tốc độ đáng
ngạc nhiên.
-
Và trong sự phát triển ấy, ông nghĩ gì về những
thay đổi trong nếp sống, trong đời sống của người
Hà Nội hôm nay?
-
Nếp sống giờ khác chứ. Guồng sống công nghiệp, công
chức đã rõ ràng.
-
Rất nhiều người, rất nhiều ý kiến trong nhiều
dịp đã phàn nàn về một số yếu tố không lành mạnh
trong văn hóa, nếp sống ở người Hà Nội. Thưa ông,
ông nghĩ như thế nào?
-
Họ phàn nàn có lý. Những gì họ phàn nàn đặc biệt
rõ rệt trong văn hóa sống, trong lối ứng xử ở thanh
niên. Tôi vừa đi uống bia ở một hàng rất sang trọng,
gặp hai anh không chỉ trông rất có tiền mà còn rất
sang nhưng ngồi cạnh mình thì họ văng kinh quá.
Ca dao, tục ngữ làm gì có tiếng chửi tục. Cùng lắm
là chém cha cái số má đào...
Nhưng
ta khắc phục cái này được, với những phép tắc, định
lệ rõ ràng trong môi trường giáo dục, môi trường
gia đình và ngoài xã hội.
-
Ông là người đã sống qua hai thế kỷ, đã sống
hơn tám mươi năm, đã gắn bó với Hà Nội từ hồi chế
độ cũ, qua chín năm rồi thời kỳ kháng chiến, đến
giờ là đổi mới- mở cửa- hội nhập. Xin phép được
hỏi, ông mong muốn hay ông hình dung Thăng Long
tròn nghìn tuổi sẽ như thế nào mà ta cứ tạm lấy
ngày 10- 10 làm mốc sinh nhật?
-
Đấy là dịp để ta khuếch trương những thành quả qua
từng năm một, năm năm một để thấy được kết quả đấy
là cả một quá trình, được hình thành trên những
vận động hợp lý, không ngưng nghỉ và đầy nỗ lực
chứ không có chuyện đột ngột. Cần phải có cái mốc
để ta vươn tới và thực hiện.
Ngày
nào tôi cũng đọc báo Hà nội mới. Anh bưu tá đưa
báo đều đặn lúc 6 giờ 10 phút, sáu rưỡi tôi ngồi
đọc. Tôi đọc từ trang đầu đến trang cuối, không
bỏ sót bài nào, để xem Hà Nội thay đổi ra sao. Tôi
giữ nếp ấy bao nhiêu năm nay rồi. Sức không còn
khỏe, mình đọc như thế cũng như một cách thay cho
việc đi.
-
Xin trân trọng cảm ơn nhà văn và kính chúc ông
mạnh khỏe! (Hà Nội mới )
Nhạc
sĩ Văn Cao và những tuyệt tác
Nhạc
sĩ Văn Cao lúc về già. Photo courtesy Wikipedia.
Bấm vào đây để nghe tiết
mục này 
Trong
khu vườn nghệ thuật Việt Nam, Văn Cao là một cây
đại thụ với những tàng lá dịu mát của các nhạc phẩm
vô cùng thơ mộng, nhưng đồng thời lại tỏa khí thế
quật cường trong các bản hùng ca. Và cũng như hình
ảnh cây đại thụ, Văn Cao đã kiêu hùng trải qua những
bão táp của thế sự.
“… Ngồi đây, ta gõ ván thuyền
ta ca trái đất còn riêng ta …”
(
lời trong bài “Trương Chi” Cao Minh hát ) Văn Cao
đã đạt tới đỉnh cao của âm nhạc, danh tiếng tột
cùng của sự nghiệp thế nhưng bất cứ người nào xem
thấy các hình ảnh về ông sau này, cũng đều thấy
nơi ông cả một nỗi niềm u uẩn. Tấm ảnh chụp ông
ngồi trước cây đàn, dường như đối diện với đời mình.
Có lẽ, ông chỉ trải tâm sự trên phím dương cầm …
“Thiên
thai” do Cao Minh trình bày …
Bóng
dáng ông lững thững trên con đường hiu quạnh, và
hình ảnh này tan dần để chấm dứt một cuốn vidéo
về Văn Cao khiến người xem cũng nặng u hoài. Thy
Nga ở trong số khán giả đó nên đã kiếm đọc nhiều
tài liệu như của Phạm Duy, Trần Minh Phi, … để tìm
hiểu về những thăng trầm của ông.
“Buồn
tàn Thu” sáng tác đầu tay của Văn Cao, quý vị đang
nghe … Như tựa đề nhạc bản này, Văn Cao chào đời
vào một ngày cuối Thu trong khu lao động nghèo bên
bờ sông Cấm ở Hải Phòng.
Bắt
đầu học nhạc từ khi vào Trung học trường dòng Saint
Joseph nhưng rồi gia cảnh sa sút, phải bỏ học, đi
làm kiếm sống. Tự học thêm về nhạc, rồi cộng tác
với Nhóm Đồng Vọng, Văn Cao sáng tác vài bài hát
hướng đạo. Và “Buồn tàn thu” là tác phẩm đầu tay,
viết vào năm 1939 khi mới 16 tuổi.
“Buồn
tàn Thu” qua giọng hát Ánh Tuyết, nữ ca sĩ thành
danh phần lớn do trình bày các nhạc phẩm của Văn
Cao …
Với
bài “Buồn tàn thu” Văn Cao nổi tiếng ngay. Qua năm
1941, sau chuyến du ngoạn miền Nam về, Văn Cao viết
nên nhạc bản “Thiên thai”
“Thiên
thai” do Mai Hương và Quỳnh Giao trình bày …
Ông
viết câu đề tựa cho sáng tác này như sau: “Ảnh hưởng
sông nước khúc Thiên thai cổ trong khung cảnh huyền
diệu của Đường Thi với hai truyện Thiên thai và
Đào nguyên. Người sông Ngự đã lạc cảm xúc rồi!”
(“Người
sông Ngự” là một cái tên mà Văn Cao đặt cho mình,
không rõ có phải là do lòng yêu mến sông núi xứ
Huế?).
Trong
cuốn vidéo “Giấc mơ một đời người” Văn Cao bày tỏ
cảm nghĩ:
“Tại
sao tôi nói đến Thiên thai? là bởi vì một nơi, một
cõi nào đó, người ta coi là Đất Hứa, mà đất Hứa
thì không ai tìm được trên trần gian này, đi tìm
mãi trong cái hoài niệm của mình. Tuổi thanh niên
thì nhớ rằng có lần tìm ra được …”
Có
lẽ do nếm mùi gian khổ từ khi còn nhỏ, Văn Cao đã
tự tạo ra một chốn an bình cho tâm hồn đến trú ẩn.
Cảnh sắc Thiên thai do chàng thanh niên ấy miêu
tả tưởng chừng như bức tranh thủy mạc, và ca từ
trong nhạc bản này thì đầy chất thơ. Người nghe
sẽ không còn ngạc nhiên khi biết ra rằng Văn Cao
ngoài tài thiên phú về nhạc, còn vẽ tranh và làm
thơ nữa.
Ca
từ bài này, Văn Cao viết chung với Hoàng Thoại.
Lời ca thanh thoát nhưng đồng thời lại có các câu
lơi lả nhục cảm, thật là đặc biệt. Về cách viết
thì tác phẩm “Thiên thai” với các bối cảnh nhạc
khác nhau, đã đưa âm nhạc Việt Nam lên một hình
thức lớn lao hơn, manh nha cho thể loại trường ca
sau này.
Năm
1941, Văn Cao từ giã Hải Phòng, lên thủ đô Hà Nội
sống đời nghệ sĩ. Các nhạc phẩm “Cung đàn xưa”,
“Suối mơ”, “Bến xuân” ra đời, đưa tên tuổi Văn Cao
ngày càng vang xa. Cũng trong năm 42, Văn Cao theo
học dự thính hội họa tại trường Cao đẳng Mỹ thuật
Đông dương. Chàng thanh niên tài hoa ấy cũng bắt
đầu cảm thấy lòng rung động
“Bến
xuân” qua giọng hát Anh Dũng …
Văn
Cao từng tâm sự là trong tình yêu, ông nhát lắm,
chỉ dám bày tỏ tình cảm của mình qua lời hát, ước
ao “Em đến tôi một lần” thì “bao lũ chim rừng họp
đàn trên khắp bến xuân …”
Về
bài này, ông nói: “Tôi yêu một người con gái mà
tôi không ngỏ lời với người ta nhưng họ hiểu và
họ tới với tôi …”
Bóng
dáng người thiếu nữ mà Văn Cao miêu tả trong các
bài “Bến xuân” và “Suối mơ” chắc hẳn là Nghiêm Thúy
Băng, tiểu thư con nhà giàu sang bậc nhất thời ấy.
Nhưng sau khi cha cô bỏ mình trong trại giam của
Nhật thì Thúy Băng dấn thân vào hoạt động Cách mạng.
Lúc
đó, tức là năm 1945 thì Văn Cao đang hoạt động mạnh
mẽ cho Việt Minh, và đã viết bài “Tiến quân ca”
cũng như hàng loạt hùng ca lịch sử, và những ca
khúc với khí thế chiến đấu. Ngưỡng mộ tài năng nên
khi gặp Văn Cao, là Thúy Băng đâm ra yêu ngay và
rồi trở nên vợ ông.
Đa
tài thì không tránh khỏi đa truân, dòng đời sắp
sửa đưa Văn Cao qua những ngã rẽ cay nghiệt. Nhạc
bản “Bến xuân” viết vào năm 42 nhưng rồi, tựa đề
ấy bị coi là mang tính chất lãng mạn, phải đổi ra
thành “Đàn chim Việt” với lời 2 cứng rắn hơn.
Năm
1946, Văn Cao như hầu hết thanh niên thời đó, tham
gia kháng chiến chống Pháp. Tại chiến khu Việt Bắc,
ông viết “Trường ca Sông Lô” tác phẩm mà sau này,
trở nên chuẩn mực về thể loại trường ca cho các
nhạc sĩ Việt Nam.
Và
cũng trong năm 47, Văn Cao viết bài ca kháng chiến
“Làng tôi” tuy nhiên lại đưa tính chất lãng mạn
của mình với điệu Valse vào. Qua năm sau đó, ông
gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.
Theo
tài liệu của Hoàng Văn Chí thì vào năm 52, Văn Cao
được gởi đi Liên Xô để nghiên cứu thêm về âm nhạc,
và cuộc xuất ngoại này đã khiến ông thất vọng về
thiên đường Cộng sản. Năm 54, ông bày tỏ ý tưởng
ấy qua bức tranh vẽ cậu bé thổi sáo bằng hai cái
mồm. Cũng từ đó, ông phải giữ mình
“
… Chiều năm nay, bóng người khơi thương
tiếng đàn gieo oan, giấc mộng chàng Trương …”
(
lời trong bài “Cung đàn xưa” Ngọc Tâm hát )
Đám
mây đen sắp kéo đến trong cuộc đời và sự nghiệp
Văn Cao. Làm sao mà khiến ông u uất tới vậy? Thy
Nga sẽ trình bày cùng quý thính giả vào kỳ tới.(
RFA)
Nhạc
xưa - dòng chảy dạt dào
Nguyên
Thảo - giọng ca trẻ hát nhạc xưa được chú ý gần
đây - Ảnh: TRUNG NGHĨA
TT - Chưa bao giờ có nhiều ca sĩ
trẻ hát nhạc xưa (những ca khúc vang bóng một thời,
ra đời từ nhiều thập niên trước) như hiện nay. Từ
ca sĩ nổi danh bởi nhạc trẻ chuyển sang hát nhạc
xưa, ca sĩ "mới ra lò" theo đuổi nhạc
xưa, lại có ca sĩ chọn cả đôi đường.
Nhạc xưa đang cuồn cuộn chảy nơi
thị trường âm nhạc hôm nay.
Dòng
chảy ngầm
Ở thập niên 1990, khi vài ca khúc
nhạc tiền chiến được phép phổ biến trở lại đã được
nhiều ca sĩ nổi tiếng như Cẩm Vân, Nhã Phương, Thu
Hà, Hồng Hạnh... trình diễn trên sân khấu, tụ điểm
ca nhạc. Ca sĩ đầu tiên thực hiện một album nhạc
tiền chiến trong giai đoạn ấy là Ánh Tuyết với album
Ca khúc Văn Cao (phát hành năm 1993) giúp cô nổi
tiếng.
Thấy thành công của Ánh Tuyết, các
hãng băng đĩa mạnh dạn đầu tư cho dòng nhạc xưa
theo kiểu nhà sản xuất biên tập mời mọc ca sĩ hát.
Trong đó, nổi lên là bộ video album Tình khúc vượt
thời gian của Hãng Kim Lợi (tính đến nay đã có mười
album) tạo được tiếng vang và nhận được sự ủng hộ
nhiệt tình của người yêu nhạc bởi album đáp ứng
cả nhu cầu nghe lẫn nhìn.
Các bài hát cũ được phối âm hiện
đại hơn nhưng không kém phần sang trọng, lãng mạn
qua phần thể hiện của những giọng ca dòng nhạc nhẹ
như Thanh Lam, Hồng Nhung, Hà Trần, Mỹ Linh, Cẩm
Ly, Thu Minh, Quang Linh... đã được không ít khán
thính giả chọn nghe.
Nhạc trẻ Việt bùng nổ vào cuối thập
niên 1990 với nhiều ca khúc tươi mới. Cho đến một
ngày nọ các ngôi sao trẻ bắt đầu chọn vài ba ca
khúc vang bóng một thời để biểu diễn nhằm "làm
mới" mình như Hồng Nhung, Thanh Lam, Cẩm Ly,
Quang Linh, Phương Thanh... khiến người nghe bỗng
tò mò chứ chưa quan tâm đến việc ca sĩ hát hay,
dở thế nào.
Phía ca sĩ chọn nhạc xưa còn vì
"đói" ca khúc khi thị trường quá thiếu
vắng những nhạc phẩm hay. Thế nên kho tàng nhạc
xưa với vô số ca khúc có ca từ lãng mạn, giai điệu
đẹp được xem là cơ hội để bổ sung cho làng nhạc.
Nhất là sau khi hàng loạt ca khúc của các tác giả
kỳ cựu Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Ngô Thụy Miên...
được cấp phép phổ biến .
Ngày
một dạt dào
Đa số ca sĩ trẻ hát nhạc xưa đều
tâm tình rằng những bản nhạc xưa là một phần trong
ký ức và cả tiềm thức của họ. Thói quen nghe và
hát nhạc xưa của thế hệ đi trước đã truyền sang
họ từ lúc nào chẳng biết.
Có ca sĩ yêu thích và hát tốt dòng
nhạc này nhưng trước đây chưa dám thể hiện vì sợ
không ăn khách. Trường hợp Đức Tuấn khá thú vị khi
anh khởi đi từ dòng nhạc trẻ chẳng thành công bao
nhiêu, nhưng khi hát nhạc trữ tình, bán cổ điển
thì lại được biết đến nhiều. Cũng có ca sĩ không
nghĩ là mình hát được nhạc xưa nhưng nay cũng thể
hiện thành công qua album đầu tay Nửa hồn thương
đau là Lê Kiều Như. Có ca sĩ chọn một bản nhạc xưa
vào album chỉ vì "hát tặng mẹ", nào ngờ
lại khám phá ra giọng mình hợp nhạc xưa là Hiền
Thục với những tình khúc Ngàn thu áo tím, Bảy ngày
đợi mong...
Nhiều ca sĩ chọn nhạc xưa vì yêu
mến tác giả, trong đó Trịnh Công Sơn có lẽ là một
trong những tác giả được nhiều tình cảm nhất khiến
đã có thời kỳ làng nhạc nở rộ album nhạc Trịnh.
Quang Dũng là nam ca sĩ trẻ đầu tiên chọn dòng nhạc
xưa ngay từ khi khởi nghiệp. Thành công của Dũng
khơi mào cho loạt nam ca sĩ có "chất"
tương tự như Xuân Phú, Đình Nguyên, Hoàng Hải Đăng...
gầy dựng tên tuổi bằng những album nhạc xưa.
Với nhạc xưa, không ít ca sĩ trẻ
đã có cơ hội khoe chất giọng và sự đa dạng trong
trình diễn của mình như Đoan Trang, Nguyên Thảo,
Lê Hiếu, Tuấn Hưng, Hồ Ngọc Hà, Cao Thái Sơn, Khánh
Ngọc, Lệ Quyên, Vi Thảo, Tùng Dương... Tuy vậy,
cũng có không ít ca sĩ trẻ nội lực chưa phù hợp
với dòng nhạc này vẫn cố hát theo phong trào hoặc
dựa hơi những tác phẩm lớn dĩ nhiên không thành
công. Nhạc sĩ Nguyễn Nhất Huy cho rằng: "Hát
nhạc xưa như con dao hai lưỡi: hoặc bạn tạo được
tiếng vang, hoặc bị tẩy chay".
QUỲNH NGUYỄN@TUOITRE
* Các ca sĩ trẻ hát nhạc tiền chiến
tốt quá đấy chứ. Những giọng ca Đức Tuấn, Thu Minh,
Nguyên Thảo... làm tôi yên tâm và hài lòng. (Nhạc
sĩ Phạm Duy)
* Nghe các bạn trẻ hát nhạc xưa
lạ lắm, không thể nói hay hoặc dở. Không nên đòi
hỏi các bạn hát như các ca sĩ ngày xưa được. Vấn
đề là các bạn đã "thổi" được vào ca khúc
xưa cái hồn mới, tươi trẻ, hiện đại mà không kém
phần tinh tế, tình cảm. Những bản nhạc xưa vì vậy
có tuổi thọ hơn. (Đoàn Ngọc, 65 tuổi, cán bộ hưu
trí)
* Ca sĩ trẻ có hai kiểu hát nhạc
xưa: một là theo kiểu người xưa (hơi liêu trai như
Khánh Ly, Lệ Thu, Thái Thanh...) và hai là hát tự
do, phá cách như của Thanh Lam, Đàm Vĩnh Hưng...
Theo kiểu nào thì cũng đòi hỏi bản
lĩnh riêng. Chọn cách thứ nhất thì ca sĩ luôn bị
đem ra so sánh với thế hệ đi trước (ca khúc hay
của ngày xưa thường "đóng đinh" với tên
một ca sĩ nổi danh), ca sĩ trẻ rất khó vượt qua.
Còn chọn cách thứ hai thì lại dễ bị phản ứng bởi
người nghe quá quen với kiểu cũ, không dễ dàng chấp
nhận cách thể hiện mới. (nhạc sĩ Nguyễn Nhất Huy)Q.N.
ghi
Nhà
văn hàng đầu Giả Bình Ao bị tố … đạo văn!
Nhà
văn Giả Bình Ao
TPCN - Giả Bình Ao quê Thiểm Tây,
sinh năm 1953, được báo chí gọi là “Văn đàn quái
tài”, hiện là một trong số nhà văn viết khỏe và
cũng ăn khách hàng đầu ở Trung Quốc hiện nay. Kỳ
lạ là ông vừa bị tố cáo ... đạo văn.
Tốt nghiệp khoa Văn Đại học Tổng hợp Tây Bắc, ông
bắt đầu sự nghiệp viết văn với truyện ngắn “Đôi
tất”. Ông nổi tiếng cả trong ba thể loại tản văn,
truyện ngắn và tiểu thuyết.
Giải thưởng đầu tiên mà ông giành
được là Giải truyện ngắn hay nhất toàn quốc năm
1978 với tác phẩm “Mãn nguyệt nhi” (Trăng tròn)
và giải mới nhất là Giải thưởng Hồng Lâu Mộng lần
thứ nhất dành cho tiểu thuyết dài viết bằng Trung
Văn trên toàn thế giới được trao cho tiểu thuyết
“Tần xoang” (Làn điệu dân ca Tần). Giải này trị
giá 30 vạn HKD (khoảng 600 triệu VND).
Ngày 13/9 vừa qua, khi Giả Bình
Ao tới Hồng Kông để nhận giải thưởng thì từ Đại
lục truyền đi tin nhà văn Trần Ngọc Phúc – tác giả
của sê-ri tiểu thuyết có nhan đề là “… số 1” đã
đâm đơn ra tòa kiện ông đã đạo tiểu thuyết “Tổ chuyên
án số 1” của ông ta rồi đổi tên thành “Quan tham
số 1”.
Trước tin này, Giả Bình Ao đang
ở Hồng Kông chỉ nói ngắn gọn: Tôi không biết gì
cả, cũng không ăn cắp văn của ai, Trần Ngọc Phúc
đâm đơn kiện là có ác ý, muốn thừa cơ để nổi tiếng!
Ngày 13/9, nhà văn Trần Ngọc Phúc
đã kiện Giả Bình Ao ra tòa án Thành Quan, thành
phố Lan Châu về việc ông bị xâm hại danh dự, yêu
cầu tòa án buộc Giả Bình Ao phải ngừng ngay hành
vi xâm quyền và đăng lời công khai xin lỗi 5 lần
trên 5 cơ quan truyền thông như “Văn học báo”, “Văn
nghệ báo”, “Cam Túc nhật báo”…, đồng thời bồi thường
tổn thất tinh thần với số tiền tượng trưng là… 1
tệ!
Trong đơn khởi tố của mình, Trần
Ngọc Phúc viết: Ngày 26/8/2006, ông phát hiện trên
các quầy sách ở Lan Châu có bày bán cuốn “Quan tham
số 1” do Nhà xuất bản văn học Viễn Phương xuất bản
và phát hành.
Sách đề tên tác giả là Giả Bình
Ao, trong sách có giới thiệu tiểu sử, sự nghiệp
và tác phẩm của Giả Bình Ao. Bìa sách có ghi: đây
là tác phẩm mới mà Giả Bình Ao tập trung tinh lực
nhất để hoàn thành năm 2006 kể từ sau tác phẩm “Phế
đô”.
Ông lật xem thì phát hiện bìa sách
là bản copy bìa cuốn “Biệt thự số 1”, còn nội dung
bên trong lại chính là copy cuốn “Tổ chuyên án số
1” đều của ông. Trần Ngọc Phúc cho rằng, hành vi
này đã xâm phạm quyền lợi của ông, cần phải truy
cứu trách nhiệm trước pháp luật.
Giả Bình Ao đang ở Hồng Kông, khi
nghe tin Trần Ngọc Phúc kiện ông xâm quyền, đã ủy
quyền cho ông Diêu Ngọc Lễ, Chủ tịch Hội nhà văn
thành phố Bình Lương, ra tuyên bố: Ông không hề
hay biết gì về việc cuốn “Tổ chuyên án số 1” của
Trần Ngọc Phúc bị “Giả Bình Ao” đổi tên thành “Quan
tham số 1” rồi đem in, song ông quyết không ăn cắp
tác phẩm của người khác.
Giả Bình Ao cũng tuyên bố: Trần
Ngọc Phúc đang kiện cáo với dụng ý xấu để thừa cơ
kiếm chác. “Hãy đợi tôi từ Hồng Kông về Tây An rồi
sẽ xem xét việc ứng phó với ông ta!”.
Giả Bình Ao là một nhà văn tinh
thông về văn hóa truyền thống Trung Hoa, bên cạnh
đó, ở tác phẩm của ông, người ta còn nhận ra sự
hiểu biết và nắm vững nghệ thuật và văn minh hiện
đại.
Hành trình sáng tác của Giả Bình
Ao chia thành hai chặng rõ rệt : Từ tác phẩm đầu
tay đến hết những năm 80 và từ đầu những năm 90
đến nay.
Hầu hết các tác phẩm của ông trước
đây viết về đề tài làng quê nông thôn, xoay quanh
chủ đề cải cách xã hội nông thôn, các phong tục
dân gian.
Nhưng khi Giả Bình Ao ở tuổi gần
ngũ tuần, các tác phẩm của ông lại chuyển sang đề
tài tình yêu trong xã hội và cuộc sống hiện đại,
đặc biệt là các tiểu thuyết. Các truyện ngắn ông
viết ở giai đoạn này mang đậm triết lý cổ, trong
đó có triết lý thiền.
Giả Bình Ao còn có một sở trường
là viết tản văn. “Ngõ ngũ vị” là một tản văn được
coi là tác phẩm xuất sắc tiêu biểu cho thể “tản
văn Giả Bình Ao”.
Những bài tản văn của ông mang đậm
nét văn xuôi truyền thống và đầy tính triết lý phương
Đông. Trong thời kỳ văn học mới kể từ năm 1977,
tản văn của Giả Bình Ao được xếp ngang hàng với
tản văn của những bậc tiền bối như Ba Kim, Tôn Lê,
Tông Phác...và với những người cùng lứa như Trương
Khiết, Vương Anh Kỳ, Trương Thừa Chí, Sử Thiết Sinh,
Dư Thu Vũ.
Nhìn chung, Giả Bình Ao là nhà văn
có tình cảm sâu nặng với quê hương, mọi tác phẩm
của ông đều có tình cảm bắt rễ sâu ở mảnh đất và
đất nước nơi ông sinh sống.
Qua cuộc sống của các nhân vật trong
tác phẩm, bao giờ người đọc cũng bắt gặp nét đẹp
truyền thống Trung Hoa cùng phương thức truyền thống
biểu đạt nét đẹp đó. “Tần Xoang” là một tác phẩm
thuộc dòng sáng tác này.
Tác phẩm chính của Giả Bình Ao có:
Tản văn: Ngũ thập đại thoại, Ngõ
ngũ vị, Ham đọc sách, Một nhà văn, Cả cười.
Truyện ngắn: Mãn nguyệt nhi, Thiên
cẩu, Niềm vui trong nỗi khổ, Cao lão trang, Hoài
niệm sói.
Tiểu thuyết: Thương Châu, Phù táo
(Nóng vội), Cuộc tình, Trăng tròn, Phế đô (Đô thành
hoang phế), Bạch dạ (Đêm trắng), Thổ môn (Cửa đất),
Tần xoang, Bệnh nhân, Thợ săn, Những câu chuyện
nghe được…
Do Giả Bình Ao chưa nói rõ và cũng
chưa về đại lục nên người ta còn chưa biết đầu đuôi
sự việc ra sao, nhưng có ý kiến phỏng đoán: Người
đạo văn là một đầu nậu nào đó giả danh Giả Bình
Ao để bán sách, nhưng việc Trần Ngọc Phúc kiện là
thật.
Ông
ta thừa biết có kẻ đội tên Giả Bình Ao để làm bậy
nhưng lại cố tình gây nên vụ kiện để kiếm chác danh
tiếng. Giả Bình Ao sẽ đối xử với nhà văn láu cá
này thế nào, chúng ta hãy đợi xem…(TPCN)
Tuyển tập tiểu luận liên quan
đến Nhà văn Trần Mạnh Hảo
Những
bài, tài liệu, của ( hoặc liên quan ) đến
Nhà văn Dương
Thu Hương
(Những
bản tin trên chúng tôi trích dịch từ BBC, Tân Hoa
Xã, VOA, Reuters, Fox, Vietnamnet, Thanh Niên, Tuổi
Trẻ...
Xin cám ơn các nguồn trên đã giúp chúng tôi chuyển
gửi tin tức đến độc giả HNPĐ
)

|