| 
Thói
hư tật xấu người Việt chỉ trong 300 trang, có đủ?
Nhà
nghiên cứu Vương Trí Nhàn : “Thói xấu lớn nhất của
người Việt là rất sợ nói về thói xấu của mình”
Ảnh: T. Phương
TP
- Sau khi cố GS Trần Quốc Vượng, GS Cao Xuân Hạo
bày tỏ ý định làm sách về thói xấu người Việt Nam
nhưng chưa thành, đến lượt nhà nghiên cứu Vương
Trí Nhàn quyết tâm cho ra mắt cuốn sách hứa hẹn
hấp dẫn này.
Tiền
phong trò chuyện cùng ông Vương Trí Nhàn.
Khai
thác tài liệu về thói xấu người Việt Nam của các
trí thức thế kỷ 19-20 đăng báo từ hơn 1 năm nay
rồi bây giờ là làm sách. Tại sao ông đắm đuối câu
chuyện này vậy?
Đó
là việc đáng làm của một đời người, tôi muốn nhiều
người khác cùng tham gia vì đây là vấn đề của xã
hội. Tôi đang băn khoăn về tên gọi của đề tài. Thông
thường thì gọi là thói hư tật xấu của người Việt
Nam, nhưng thực ra nó là trình độ sống, trình độ
làm người của người Việt Nam.
Người
Việt quá nhấn mạnh tính độc đáo của mình, Việt Nam
phải khác các nước, cái đó không đúng, cái chính
là phải đo bằng tiêu chuẩn thế giới. Điều quan trọng
bây giờ là tự nhận thức mình xem anh là người thế
nào, anh là ai. Tất cả tương lai của dân tộc nằm
trong hành động này.
Tôi
rất thích câu của Tản Đà: Dân hai lăm triệu ai người
lớn/ Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con. Dân mình “trẻ
con” lắm, thích khen, ảo tưởng rất nặng trong tâm
lý. Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng dân mình có bản
lĩnh hội nhập. Tôi đọc lại lịch sử, không thấy thế.
Với người nước ngoài, ban đầu mình e dè, ngại, nếu
không muốn nói là kỳ thị, sau đó học lỏm, học không
đến nơi đến chốn.
10
năm trước, khi nói về sự hội nhập của văn học Việt
Nam với thế giới, tôi bị “đánh” tơi bời, họ cho
là tôi vọng ngoại, thèm bơ sữa... Thành thật mà
nói, dân mình kém bản lĩnh trong việc học tập nước
ngoài mà lại dễ bị lừa. Sách vở vẫn dạy người Việt
Nam yêu thiên nhiên lắm, nhưng cái yêu ấy lại giết
chết thiên nhiên, như Chùa Hương, như Vịnh Hạ Long...
Tại
sao ông không viết một cuốn riêng mà lại tầm chương
trích cú từ các tờ báo đầu thế kỷ trước?
Nhiều
người không thân nhau nhưng vì khen nhau nên chơi
với nhau. Tôi viết phê bình xong thì mất bạn. Một
trong những thói xấu của người Việt Nam là rất sợ
nói đến thói xấu. Tôi cho rằng khi tôi nói về những
thói xấu của anh, anh sẽ tiếp cận tôi hơn, và điều
đó chứng tỏ sự trưởng thành.
Nhưng
thực tế, rất nhiều người chăm chăm khoe mình. Cách
đây khá lâu, tôi đặt vấn đề này, có vị trí thức
bảo tôi: Chưa đến lúc cần. Trong phê bình, tôi bị
cho là người thiếu nhân hậu, tâm địa xấu xa, chỉ
thấy cái xấu của người.
Cả
xã hội đóng băng trong sự tự khen thưởng. Cố GS
Trần Quốc Vượng, GS Cao Xuân Hạo cũng có lần bày
tỏ ý định viết sách về thói xấu người Việt, nhưng
chưa ai làm cả.
Tôi
chưa đủ uy tín để đứng ra làm một cuốn riêng, dễ
bị bài bác, đành trích dẫn các cụ Nguyễn Văn Vĩnh,
Phạm Quỳnh, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn
Văn Huyên, Trần Trọng Kim... Lâu nay, chúng ta chỉ
biết Phan Bội Châu đánh Pháp ra sao, xuất dương,
Đông du thế nào, còn những tài liệu cụ chê dân mình
mất đoàn kết, tầm nhìn hẹp, học để kiếm gạo... đều
không nhắc tới.
Còn
Nguyễn Trường Tộ, người ta chỉ thấy tế cấp bát điều
của cụ thôi, chưa thấy cách cụ đã đo người Việt
Nam bằng cái con mắt thế giới. Cụ Phan Chu Trinh
cũng nói về dân tộc mình rất nặng nề.
Có
bao giờ ông nghĩ tới công việc như ông Bá Dương
(Đài Loan), đánh mạnh vào tảng băng trì trệ tự thỏa
mãn, kém phản tỉnh?
Tôi
cho rằng trí thức phải như thế. Trung Quốc không
chỉ có ông Bá Dương đâu. Lý Tốn Ngô từ trước năm
1949 đã viết: “Đọc lịch sử Trung Quốc toàn thấy
mặt dày và tim đen”. Cuốn này được nước ngoài đọc
rất nhiều, ngang Binh pháp Tôn Tử. Vừa rồi, tôi
lại đọc được 2 cuốn rất hay: Trung Quốc dân tộc
tính và Trung Quốc nhân cách bệnh thái phê phán,
tập hợp các bài viết từ đại lục, Hong Kong, Đài
Loan lẫn người nước ngoài.
Tôi
yêu một đất nước hơn, khi hiểu cái xấu của họ. Nhiều
người nước ngoài nói: người Việt ít có khả năng
đặt mình vào vị trí người khác. Tức là tri kỷ chứ
không tri âm, hai kẻ nói chuyện với nhau như hai
người điếc. Tục ngữ nói Thương người như thể thương
thân, nhưng dân ta sống với xã hội rất kém, vứt
rác ra khỏi nhà là coi như xong, tắc đường là cứ
đâm lên không thua ai cả.
Việt
Nam chuẩn bị gia nhập WTO, thói xấu nào là sự ngáng
trở nguy hại nhất?
Tùy
tiện, thiếu khả năng hợp tác, và như Vũ Trọng Phụng
đã nói: Mọi tư tưởng từ ngoại quốc đến Việt Nam
đều bị làm hỏng. Nhưng thói xấu lớn nhất vẫn là
sợ người khác nói xấu mình. Làm ăn với nước ngoài
mà cứ lấy tinh vặt (ranh ma, khôn vặt) làm kế sinh
lãi. Tôi rất không đồng ý với cuốn Thần đồng đất
Việt, vì trong đó toàn ca ngợi cái tinh vặt, láu
cá của người Việt khi làm ăn với ngoại quốc. Cái
đó không đáng tự hào.
Trong
số các thói xấu của người Việt, có những thói xấu
mà chỉ tại Hà Nội mới “phát huy rực rỡ” như tuyên
ngôn ở quán xá vỉa hè, khinh người, chửi thề văng
tục. Ông nghĩ thế nào?
Ở
Việt Nam có nhiều cái mà nó chưa thành chính nó.
Đô thị VN chưa phải đô thị. Hà Nội xưa là cái chợ
bên cạnh dinh đồn, chứ không phải đô thị như phương
Tây. Hà Nội tạp nham và chưa bao giờ nó là nó cả,
không trở thành chính mình và quá lép vế.
Ngoài
phần trích dẫn các nhà trí thức thế kỷ 19, nghe
nói ông còn có in cả phần nghiên cứu riêng trong
cuốn sách này?
Bên
cạnh trích dẫn, việc chú giải rất quan trọng, bởi
cũng chữ ấy hồi trước hiểu khác bây giờ nghĩa khác.
Chẳng hạn “nhân sự” bây giờ có nghĩa là việc tổ
chức cán bộ ở cơ quan, đơn vị, nhưng thế kỷ trước
lại có nghĩa là “việc đời”.
Một
mặt, tôi đọc lại Đại Nam thực lục, Đại Việt sử ký
toàn thư, Việt sử thông giám cương mục để thấy lịch
sử nói gì về thói hư tật xấu của người Việt. Tôi
hệ thống lại, xếp từng thói xấu vào từng phạm trù
văn hóa, so sánh với các quốc gia.
Phải
phân biệt sức sống và trình độ sống. Không phải
con người là sống thế nào cũng được, quan trọng
là anh làm việc cống hiến thế nào, có phát minh
nào cho nhân loại. Dĩ nhiên, tôi phải đọc thêm triết
học, nhân học, xã hội học... Có lẽ 2-3 năm nữa mới
phát hành được cuốn sách, khoảng 200-300 trang.
Có một Việt kiều từng viết sách về thói xấu người
VN, nhưng chắc chắn sách tôi sẽ hấp dẫn hơn, vì
thu hút được nhiều tài liệu của các trí thức lớn.
Đọc
và viết về thói xấu ,ông có thấy nản không?
Không.
Bởi không còn con đường nào khác. Tôi rất thích
câu của nhà văn Nga Sêkhôp: Một con người sẽ tốt
hơn nếu ta nói cho anh ta biết anh ta là người thế
nào...
Xin
cảm ơn ông và mong cuốn sách sớm ra mắt độc giả.Trần
Thanh@Tienphong
Nhà
văn Nam Cao chọn bút danh
Trong
quá trình đi tìm tài liệu để làm tập tư liệu “Sức
sống Nam Cao”, tổ KHXH trường cấp 2 Nhân Hậu, Lý
Nhân, Hà Nam đã được những người bạn đồng môn, đồng
hương; anh em ruột thịt… của nhà văn Nam Cao kể
cho nghe chuyện nhà văn Nam Cao chọn bút danh.Ông
Trần Hữu Đạt (em ruột nhà văn Nam Cao) kể: Rất nhiều
bạn đồng môn, đồng hữu như ông Hoàng Tùng, Hoàng
Cao và một số người có dịp gặp nhà văn đều gạn hỏi:
Cớ sao ông lại lấy bút danh Nam Cao? Nhà văn tủm
tỉm:
-
Làng mình đã có hai ông hoàng rồi (ý nói Hoàng Tùng,
Hoàng Cao lúc ấy đang giữ trọng trách trong Đảng
và quân đội). Còn mình thì võ dốt lắm.
Ông
Hoàng Cao - bạn thân và cũng là người họ hàng với
nhà văn nhớ lại: Lúc chia tay, mỗi người một hướng
đánh giặc. Nam Cao tâm sự với Hoàng Cao:
“Chúng
mình là con trai làng Đại Hoàng, trai Lý Nhân, trai
Nam Sang, đi đâu, làm gì cũng phải xứng danh là
trai Nam Sang nhé! Các cậu là Hoàng thì phải Huy
Hoàng, Đại Hoàng nhé!”.
Ông
Hoàng Cao nhớ rõ: Nhiều lần ông lục tìm các tài
liệu, bản thảo còn lại của Nam Cao thì thấy: Bản
thảo nào Nam Cao cũng đề rõ ở góc trên, bên trái,
trang đầu:
Đại
Nam quốc
Hà
Nam tỉnh
Nam
Sang huyện
Lý
Nhân phủ
Cao
Đà tổng
Đại
Hoàng xã
Các
bản thảo đều được nhà văn ghi chữ Nam, có bản lại
ghi chữ Cao hoặc Nam Cao ở dưới các hàng chữ trên.
Nhưng vẫn không quên ghi rõ tên Trần Hữu Tri (là
tên thật của nhà văn) dưới bản thảo.
Theo
ông Trần Hữu Đạt, thì anh trai mình lấy bút danh
là Nam Cao là do nhà văn ghép chữ đầu tên huyện
(Nam) với chữ đầu tên tổng (Cao) để nhớ ơn mảnh
đất nơi ông đã sinh thành.
“Nam
Cao” còn có ý nghĩa là nước Nam, cao cả, cao sang…
nữa. Nam Cao vốn là nhà văn có lòng yêu nước, yêu
quê hương, yêu nhân dân vô cùng sâu sắc.
Nam
Cao đã có những trang viết xứng đáng với niềm tin
yêu, quý mến của quê hương ông. Bút danh Nam Cao
sống mãi và tỏa sáng mãi với các tác phẩm nổi tiếng
của nhà văn: Chí Phèo, Lão Hạc, Sống mòn, Đôi mắt…
Nam
Cao đã vinh dự được nhận giải thưởng cao quý: Giải
thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm 1996. Tên của ông được
trân trọng đặt cho 1 đường phố ở Thủ đô Hà Nội.
Tỉnh
Hà Nam lấy tên ông đặt cho một vườn hoa – công viên
ở giữa lòng thị xã Phủ Lý yêu thương. Huyện Lý Nhân
chọn tên ông để đặt tên cho mái trường, nơi hun
đúc những tài năng tương lai của đất nước. UBND
tỉnh Hà Nam đã chọn tên ông để đặt tên cho Giải
báo chí của tỉnh.
Ngoài
bút danh Nam Cao, nhà văn còn có một số bút danh
khác: Thúy Rư, Nhiêu Khê, Xuân Du…
Theo
nhà văn Tô Hoài, Nam Cao ký bút danh Nhiêu Khê là
có ý đùa. Còn bút danh Xuân Du mà nhà văn ký dưới
các bài thơ của mình là do ông lấy 2 chữ ở đầu câu
thơ mà nhà văn và Tô Hoài hồi ấy thường ngâm ngợi:
Xuân
du phương thảo địa
Hạ
thưởng lục hà trì
Thu
ẩm hoàng hoa tửu
Đông
ngâm bạch tuyết thi
Tạm
dịch:
Mùa
xuân chơi miền cỏ non
Mùa
hạ tắm hồ sen ngát
Mùa
thu uống rượu hoàng hoa
Mùa
đông ngâm thơ tuyết trắng
Còn
bút danh Thúy Rư thì do nhà văn lấy một số chữ trong
tên thật của mình (Trần Hữu Tri) để ghép lại mà
thành. Ở đây chữ i đã được thay bằng chữ y.
Hồi
hoạt động ở Việt Bắc, Nam Cao còn có tên là Ma Văn
Hữu. Nhà văn Tô Hoài lấy tên là Nông Văn Tư. Khi
đi công tác, Nam Cao thường mang giấy tờ mang tên
Ma Văn Hữu, nghề nghiệp: Dạy bổ túc văn hóa.
Nam
Cao cùng Nguyễn Huy Tưởng, trong chuyến đi cuối
cùng vào khu Bốn, ra khu Ba, Nam Cao cũng mang theo
giấy tờ ghi tên đó.
Hồi
Cứu quốc ở Việt Bắc, báo tỉnh Hà Nam, báo Quân khu
Ba… Nam Cao làm ca dao còn lấy bút danh Suối Trong.
Trong
tất cả các bút danh mà nhà văn đã dùng, Nam Cao
là bút danh để lại trong lòng người đọc và nhân
dân nhiều kỷ niệm và nhiều ý nghĩa sâu sắc nhất.
Trần
Văn Đô
Trường cấp 2 Nhân Hậu, Lý Nhân, Hà Nam ( TIENPHONG)
Thi
hào Nguyễn Du viết Truyện Kiều khi nào?
TPCN
- Ban đầu người ta tin rằng Truyện Kiều được viết
vào khoảng 1813 đến 1820 vì hiểu chữ “hành thế”
trong câu: “Du trường ư thi, vưu thiện quốc âm,
Thanh sứ hoàn, dĩ Bắc hành thi tập cập Thúy Kiều
truyện hành thế” ở Đại Nam chính biên liệt truyện
là sáng tác.
Thực ra “hành thế” chỉ có nghĩa là lưu truyền trong
đời, tức là được mọi người biết đến. Vả lại, “tận
tín thư, bất như vô thư”, không nên quá tin vào
sách, GS Đào Duy Anh viết “sách Liệt truyện, tuy
là quốc sử, cũng không đủ cho ta tin” (xin xem sách
của Đào Duy Anh: Khảo luận về Truyện Thuý Kiều,
1958).
Bởi
vì ở đó tên các sách Thuý Kiều truyện và Bắc hành
thi tập chỉ là tên gọi tục; chính xác thì hai áng
văn này phải được gọi là Đoạn trường tân thanh và
Bắc hành tạp lục.
Rất
nhiều bằng cứ cho thấy Truyện Kiều được viết trước
đó rất lâu.
Chúng
tôi sẽ dẫn những bằng cứ này ngược dòng thời gian
lùi sâu vào quá khứ.
Học
giả Hoàng Xuân Hãn có nhắc đến Phạm Quý Thích là
người đầu tiên đề thơ về Kiều trên đường vào Kinh.
Ông Vũ Thế Khôi cho biết bài “Giai nhân bất thị
đáo Tiền Đường …” thật ra có tên là Thính Đoạn trường
tân thanh hữu cảm có trong tập Lập Trai Tiên sinh
di thi tục tập, ký hiệu A 2140.
Mới
đây, Hà Thị Tuệ Thành, tiếp tục công việc của ông
Vũ Thế Khôi, tìm thấy bài này trong Lập trai Phạm
Tiên sinh thi tập, kí hiệu A-400 và qua đó xác định
được Phạm Quý Thích viết bài thơ này vào năm 1811
(xin xem bài tham luận tại Hội thảo Quốc tế về chữ
Nôm, Huế, 31/5 đến 2/6/2006). Truyện Kiều phải được
viết trước đó.
Học
giả Hoàng Xuân Hãn đã cho biết: Nguyễn Lượng bị
chết vào khoảng 1807. Vì có sự phê bình của ông
ấy nên biết rằng Truyện Kiều được viết vào đầu đời
Gia Long hoặc trước đời Gia Long (xin xem tạp chí
Văn học, số 3-1997). PGS Ngô Đức Thọ thấy Đại Nam
nhất thống chí viết Nguyễn Lượng bị chết năm 1807
đúng như Học giả Hoàng Xuân Hãn nói.
Liên
quan đến Nguyễn Lượng, gần đây Phan Thanh Sơn và
Hà Thị Tuệ Thành nhận thấy trong lời bình bằng chữ
Hán của ông có bốn chữ “bách chủng hoan ngu”. Chắc
chắn ông không dám viết chữ CHủNG vào thời Nguyễn
vì vào năm 1803 Gia long đã có lệnh cấm dùng chữ
CHủNG, khi viết phải thay bằng chữ THựC (xin xem
tạp chí Văn hóa Nghệ An số 71, 25/2/2006).
Trương
Chính nhận xét rằng trong Truyện Kiều có những câu
“nghịch ngôn” như:
“Bó
thân về với triều đình / Hàng thần lơ láo phận mình
ra đâu?”
“Chọc
trời khuấy nước mặc dầu/ Dọc ngang nào biết trên
đầu có ai” (xin xem tạp chí Văn học số 6 (12/1963).
Những
câu này chỉ có thể được sáng tác trước thời Nguyễn.
Ông
Nguyễn Khắc Bảo nhận thấy bản Liễu Văn Đường 1871
còn sót các chữ đáng lẽ phải kiêng dưới thời Nguyễn.
“Câu 853: Tuồng chi là giống hôi tanh. Câu 1310:
Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa.
Câu
2750: Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày. Trong đó
những chữ Chủng là tên vua Gia Long hồi nhỏ, và
chữ Lan là tên mẹ cả của vua Gia Long tức Huy Gia
từ phi” (xin xem tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số
6 (56) 2000).
Đến
nay, hầu như ai cũng thừa nhận: Truyện Kiều được
hoàn thành trước tiên; sau đó Nguyễn Thiện theo
văn Kiều mà nhuận sắc Hoa tiên, và cuối cùng Nguyễn
Huy Hổ theo văn Hoa tiên mà viết Mai đình mộng ký.
Tác phẩm sau cùng hoàn thành vào năm 1809.
Giáo
sư Nguyễn Tài Cẩn đã chứng minh rằng Hoa tiên, tác
phẩm thứ hai được nhuận sắc trong khoảng mười năm
cuối thế kỷ 18. Trong Hoa tiên có bài thơ chữ Hán
trong đó có chữ CHủNG, tên của Gia Long (xin xem
báo Văn nghệ, số 22).
Đây
chính là một lý do để ta tin rằng Truyện Kiều, tác
phẩm thứ nhất phải được viết trước việc nhuận sắc
Hoa tiên vài năm.
Trước
đây, nhiều người cho rằng nhờ chuyến đi sứ Nguyễn
Du mới được tiếp xúc với Kim Vân Kiều truyện của
Thanh Tâm Tài Nhân để sau đó viết Truyện Kiều. Điều
này không đúng.
Có
nhiều giả thuyết về thời điểm Kim Vân Kiều truyện
vào nước ta: học giả Hoàng Xuân Hãn đoán rằng có
thể do Nguyễn Nễ (có tên là Đề và là anh ruột Nguyễn
Du) hoặc Đoàn Nguyễn Tuấn (anh vợ Nguyễn Du) cùng
đi sứ thời Tây Sơn, khoảng 1792-1793 mang về.
PGS
Thạch Giang lại cho rằng, có thể trong chuyến đi
sứ năm 1763, Thám hoa Nguyễn Huy Oánh đã mang Hoa
tiên và Kim Vân Kiều truyện từ Trung Quốc về tàng
trữ tại Phúc Giang thư viện.
Nhờ
đó Nguyễn Huy Hổ có điều kiện đọc Hoa tiên, Nguyễn
Du do lui tới Phúc Giang thư viện học tập, nấu sử
sôi kinh sớm được đọc Kim Vân Kiều truyện để sáng
tác Truyện Kiều.
Song,
điều này thì chắc chắn: ở truyện “Liên Hồ quận quân”
trong cuốn “Lan Trì kiến văn lục”, viết vào khoảng
1793-1794 của Vũ Trinh, có câu: “Thúy Kiều gieo
mình sông lớn”.
Trước
năm 1794 Vũ Trinh đã biết đến Kim Vân Kiều truyện.
Chắc chắn, Nguyễn Du đã được tiếp cận với Kim Vân
Kiều truyện không muộn hơn Vũ Trinh (theo Nguyễn
Hoàng Sơn, báo Văn nghệ, số 35+36, 2/9/2004)...
Những
chứng cứ trên cho phép ta hình dung:
Kim
Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân đã vào nước
ta vào những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỷ 18.
Nhờ đó Nguyễn Du sớm được đọc và theo đó mà viết
Truyện Kiều. Nguyễn Thiện theo văn Kiều mà nhuận
sắc Hoa tiên vào mười năm cuối thế kỷ 18.
Nguyễn
Huy Hổ theo văn Kiều và văn Hoa tiên mà viết Mai
đình mộng ký, hoàn thành vào năm 1809. Như thế Truyện
Kiều xong trước việc nhuận sắc Hoa tiên nên phải
được viết vào những năm cuối đời Lê đầu đời Tây
Sơn, trùng với kết luận của GS Nguyễn Tài Cẩn rút
ra được từ việc phát hiện chữ húy thời Lê - Trịnh
trong một số bản Kiều Nôm.
Lê Thanh Lân
Ngày 23/7/2006
Roman
Polanski và giải thưởng thành tựu trọn đời
Giải
thưởng cao quý trên năm nay được Viện Hàn lâm điện
ảnh châu Âu trao cho đạo diễn phim huyền thoại Roman
Polanski (ảnh). Đạo diễn người Pháp này năm nay
73 tuổi, được đánh giá đã có những đóng góp ấn tượng
cho nền điện ảnh thế giới. Ông nổi tiếng với nhiều
bộ phim như Rosemary’s Baby, Chinatown và The Pianist
(giúp ông đoạt giải Oscar năm 2002). Tác phẩm gây
chú ý dư luận đầu tiên của ông là bộ phim “Knife
in the Water” năm 1962. Lễ
trao giải sẽ được tổ chức vào tháng 12 tới tại Ba
Lan, nơi ông trải qua những ngày thơ ấu bất hạnh
dưới sự săn lùng của Đức quốc xã. Cùng nhận giải
thành tựu trọn đời lần này với ông còn có những
tên tuổi nổi tiếng như Sean Connery, Ennio Morricone…
Phỏng
vấn Nhà văn Mặc Ngôn
*
Xin chào nhà văn Mạc Ngôn, nom ông rất khỏe
và sáng tác vẫn rất hăng. Không biết ông có đang
nghiền ngẫm tác phẩm mới nào không?
- Có chứ. Sáng tác là nguồn sống
của tôi, mặc dù phần lớn chúng luôn khiến tôi mệt
mỏi vì suy nghĩ và kiệt sức. Tuy nhiên tôi vẫn không
thể dứt nổi chúng. Sau cuốn tiểu thuyết mới nhất
Mệt mỏi tới chết mà Công ty văn hóa Phương Nam đã
mua bản quyền, tôi đang ấp ủ ý tưởng cho một tiểu
thuyết khác, dự định năm sau sẽ hoàn tất. Thông
thường tôi mất nhiều thời gian suy nghĩ đề tài,
sắp xếp mạch nhánh cho câu chuyện trong đầu và tìm
tư liệu. Còn thời gian đặt bút viết nhanh lắm. Chẳng
hạn như cuốn Mệt mỏi tới chết gồm 49 vạn từ, tôi
chỉ viết trong 43 ngày.
*
Ông kể câu chuyện gì trong cuốn tiểu thuyết
này, thưa ông?
- Đây là cuốn sách đầu tiên tôi
viết tay, vứt bỏ máy tính, tổng kết những kinh nghiệm
sống mà tôi tích lũy được suốt 43 năm qua. Với kết
cấu “sáu đạo luân hồi” mượn dùng từ Phật giáo, tôi
viết về câu chuyện một địa chủ bị giết oan, không
ngừng luân hồi trong các kiếp nghiệt súc, mãi cuối
cùng mới được trở lại thành người.
Tôi dùng đôi mắt của động vật để
miêu tả lại những thay đổi của xã hội Trung Quốc
suốt 50 năm qua. Nhất là về mối quan hệ giữa nhân
dân với đất đai, với thể chế XHCN, về những khó
khăn của nông dân và những vấn đề còn tồn tại ở
nông thôn sau cải cách ruộng đất. Tóm lại đây là
một cuốn sách rất phức tạp nhưng đặc biệt thú vị.
Hi vọng độc giả VN cũng yêu thích như các cuốn sách
trước.
*
Hình như các nhà văn vẫn có thói quen viết đêm?
- Không, tôi viết văn như những
người lao động phổ thông, sáng tác ban ngày thôi,
ban đêm nghỉ ngơi. Mà thật ra cũng không được nghỉ
ngơi đâu. Khi ngủ toàn nằm mơ do đầu óc nghĩ ngợi
nhiều quá.
*
Mơ lành hay mơ dữ?
- Toàn ác mộng mới khổ chứ. Hơn
nửa đời người, tôi toàn sống trong ác mộng đấy,
ngủ không bao giờ được ngon giấc. Lúc thì mơ thấy
bị người đuổi, đánh, giết, mình cứ ra sức chạy trốn
mà người cứ nặng trĩu như khúc gỗ. Nhưng có lúc
bí quá lại bay vụt được lên, như là chim vậy, nhìn
thấy cả cây cối, nhà cửa bên dưới cũng thú vị lắm.
*
Thời gian rỗi ông thường làm gì?
- Cũng ít có thời gian rỗi lắm,
nhưng tôi tranh thủ đọc sách hoặc đi tới những vùng
mà mình định sử dụng làm chất liệu để quan sát kỹ
trước khi viết. Ngoài viết văn, tôi còn tham gia
viết chuyên mục trên báo và một số lời giới thiệu
cho các nhà văn Trung Quốc trẻ có triển vọng như
Trương Duyệt Nhiên...
*
Ông thấy dòng văn học Ling Lei thế nào?
- Hậu sinh khả úy, thế hệ sau nhiều
điều kiện hơn và năng động hơn lớp chúng tôi. Nhưng
ăn nhau ở sức bền và tình yêu với văn học thôi.
Những nhà văn trẻ như vậy ngày càng nhiều ở Trung
Quốc. Các nhà xuất bản suốt ngày gọi điện nhờ tôi
viết lời tựa cho sách. Nhưng tôi không có thời gian
đọc sách của họ làm sao viết lời tựa được cơ chứ.
Tuy nhiên đó là một dòng văn học sinh động, hiện
đại và gửi gắm nhiều khát vọng mới của lớp trẻ.
Hi vọng độc giả VN cũng đón nhận các tác phẩm của
dòng văn học này.
Nhà
văn Mạc Ngôn: Trung thực mới là thứ quý giá của
nhà văn
Có
thể nói, năm 2003 là năm đại thu hoạch của nhà văn
nổi tiếng Trung Quốc Mạc Ngôn. Sinh năm 1955 tại
tỉnh Sơn Đông, năm 1980 Mạc Ngôn bắt đầu sáng tác
và lần lượt cho ra đời một loạt tiểu thuyết nổi
tiếng như Gia đình cao lương đỏ (được chuyển thể
thành phim Cao lương đỏ), Bạch cẩu thu thiên giá,
Phong nhũ phì đồn, Đàn hương hình và gần đây nhất
là Bốn mươi phát đại bác. Ông trao đổi cùng giới
báo chí về sáng tác, tác phẩm và độc giả:
*
Tác phẩm mới Bốn mốt phát đại bác đã lập kỷ lục
về số lượng ấn hành và thời gian tiêu thụ. Xin cho
biết động cơ khiến ông sáng tác tiểu thuyết này?
- Đông cơ để viết ư? Một vấn đề
phức tạp. Tôi có cảm giác mình như con gà mái đến
kỳ đẻ trứng, chín quả nào thì đẻ quả đó vậy. Nói
thế có phần thô thiển, song trong phần bút ký sau
tiểu thuyết này tôi cũng đã nói rằng, viết tiểu
thuyết cũng chẳng quá phức tạp, càng không có gì
là thần thánh. Suy cho cùng chỉ đơn thuần là tự
truyện. Tự truyện là bản chất của tiểu thuyết.
* Theo ông, thế nào là một tiểu thuyết hay?
- Mỗi tác phẩm đều có những mặt
tốt, xấu. Ngay cả tác giả được giải thì vẫn có người
cho là "không ngửi được". Tác phẩm của
tôi cũng vậy, có người nhận xét là tinh túy của
văn học nhưng có người cho là quá tồi, đó cũng là
chuyện thường tình.
Tuy nhiên, đã là tiểu thuyết thì
ít nhất về ngôn ngữ phải khác với tác phẩm trước
đó, cốt truyện không thể là sự lặp lại và quan trọng
hơn cả là phải độc đáo. Còn độc giả dù chê hay khen
đều là sự cổ vũ khích lệ đối với nhà văn.
*
Có nhiều nhận xét rằng, hầu hết các tiểu thuyết
của ông đều vượt ra ngoài cuộc sống thực tại?
- Nếu tiểu thuyết cứ theo lối mòn
phản ánh cuộc sống hiện thực sẽ chuẩn xác hơn nhiều.
Vì vậy tiểu thuyết bắt nguồn từ cuộc sống, song
phải vượt ra khỏi cuộc sống hiện thực, phải mang
chút lãng mạn và tưởng tượng. Như vậy sẽ đem đến
cho độc giả những gì vừa như rất quen song lại cũng
rất lạ. Mỗi khi viết, tôi đều gây dựng tưởng tượng
trên nền móng hiện thực.
*
Ông nghĩ gì về độc giả mỗi khi sáng tác?
- Cảm ơn những người đã mến mộ và
tìm đọc tác phẩm của tôi. Song thú thực, trước khi
sáng tác, tôi không bao giờ nghĩ rằng mình sáng
tác vì những người cụ thể nào đó. Thực tế, làm sao
tôi tôi có thể biết được mình viết vì những độc
giả nào. Độc giả luôn là ẩn số.
*
Hiện nay, khó khăn nhất mà ông gặp phải trong
sáng tác là gì vậy?
- Càng viết nhiều càng thấy khó,
bởi vì không nhà văn nào muốn lặp lại chính mình.
Nói cách khác, khó nhất là thoát khỏi quá khứ, mở
ra tương lai và theo kịp thời đại.
*
Là nhà văn, ông nhìn nhận thế nào về văn học
Trung Quốc hiện nay?
- Khá tuyệt vời đấy chứ. Nhìn lại
những năm 80 của thế kỷn 20, văn học lúc đó có lẫn
nhiều thứ phi văn học, chắc do nguyên nhân lịch
sử. Còn hôm nay đã thuần túy, đa dạng hơn nhiều,
thể loại cũng nhiều hơn và hướng phát triển tốt
hơn.
*
Ông nghĩ thế nào về các giải thưởng văn học và những
vinh dự cá nhân?
- Với tôi, đó không là những gì
quan trọng. Trung thực mới là thứ quý giá của nhà
văn, vì nó là vấn đề đạo đức và cái gốc làm người.
Về các giải thưởng, tôi cũng đã từng nhận giải,
thậm chí cả của nước ngoài. Song với tôi, việc được
giải chẳng nói lên điều gì, bởi văn học khác xa
các lĩnh vực khác, một tác phẩm được giải không
có nghĩa đó là tác phẩm thành công của nhà văn.
Tôi hay tin vào số mệnh, và tiểu thuyết cũng có
số mệnh.
*
Ông từng nói, thiên hướng của ông là "lấy
không có tư tưởng làm vinh", đặc biệt khi viết
tiểu thuyết...
- Cái tôi gọi là "không có
tư tưởng của tôi" tức là trong tiểu thuyết,
nhà văn không được lấy tư tưởng của mình để áp đặt
cho nhân vật, nhân vật phải theo logic của cốt truyện,
bằng không sẽ phá vỡ tính khách quan của tiểu thuyết.
Mặc dù trong tiểu thuyết tôi viết ra vẫn mang cách
nghĩ của tôi, song chỉ dừng lại ở cách nghĩ thôi,
chứ không thể phát triển thành tư tưởng. Tôi không
thích những người cố tình biến những đạo lý giản
đơn thanh những gì huyễn hoặc và khó hiểu, tư tưởng
kiểu vậy thà chẳng có còn hơn.
*
Ông có thể tiết lộ đôi điều về kế hoạch tới
đây của mình không?
- Có rất nhiều, song nếu nói ra
sẽ chẳng còn ý nghĩa nữa. Một điều chắc chắn là
tôi đang làm những gì tôi muốn, mà với cá nhân tôi
đó là điều hạnh phúc. Tôi hy vọng sẽ tạo dựng một
kiểu kiến trúc mang ý nghĩa tiêu chí trong mảnh
vườn văn học của mình.
Nhà văn Mạc Ngôn: "Làng
quê là báu vật của tôi"
"...Cái ập vào đầu óc tôi
lại toàn là tình cảnh quê hương. Kỳ thực, cùng với
lúc tôi đang gắng sức rời xa quê hương, cũng từng
bước tôi nhích lại quê hương một cách vô thức"
- Nhà văn nổi tiếng Trung Quốc Mạc Ngôn trò chuyện
trong cuộc phỏng vấn mới đây.
*
Trong những tác phẩm của ông, người đọc dễ dàng
nhận thấy hơi hướng nồng nặc của đất quê, và mối
tình sâu đậm không thể tan chảy giữa ông với "huyết
địa" làng Đông Bắc, Cao Mật. Cũng do vậy, giới
bình luận văn học đã gọi ông là "vị hoàng đế
khai phá trời đất của làng Đông Bắc Cao Mật"?
- Phải đấy, chính trong truyện ngắn
Cây đu bạch cẩu, lần đầu tiên tôi dò dẫm để giương
ra cờ hiệu "làng Đông Bắc Cao Mật", và
từ đó bắt đầu cuộc sinh nhai văn học quần tụ sơn
hà, tung hoành ngang dọc. Tôi đã trở thành vị hoàng
đế khai thiên lập địa của văn học "làng Đông
Bắc, để được tha hồ hò hét hạ lệnh, muốn ai chết
là chết, để ai sống được sống, hưởng đủ cái lạc
thú làm vua một vùng. Nào dương cầm, nào bom nguyên
tử, nào bánh mì, thằng Tây rởm, cha cố thật... tôi
đem nhét tuốt vào trong cánh đồng cao lương.
*
Có một nhà văn từng nói: Tiểu thuyết của Mạc
Ngôn đều được moi ra từ chiếc bao tải rách của cái
làng Đông Bắc, Cao Mật ấy?
- Ông ta nói thế cốt nhằm chế giễu
tôi, nhưng tôi lại coi sự giễu cợt này là lời khen
ngợi tối cao với mình. Chiếc bao tải này thực sự
là của báu, cho tay vào moi mạnh một cái, ra được
bộ tiểu thuyết, moi nhẹ một tí, ra ngay cái truyện
vừa, nếu chỉ thò ngón tay vào nhón một cái, cũng
gắp ra được dăm ba truyện ngắn..
Hơn 20 năm trước, khi mới bắt đầu
viết, tôi không hề biết rằng làng Đông Bắc quan
trọng đến thế nào với mình. Lúc đầu chỉ định viết
truyện ngắn về đề tài quân ngũ với bối cảnh hải
đảo, thế nhưng cái ập vào đầu óc tôi lại toàn là
tình cảnh quê hương. Đất đai quê hương, dòng sông
quê hương, cây trồng quê hương giống như ảo ảnh
trên biển, chúng hiện ra trước mặt như lớp sóng
xô.
Lúc ấy tôi cố gắng chống chế lại
những cám dỗ máu thịt của quê hương đối với mình
để viết về biển cả. Nặn mãi rồi cũng cho ra vài
truyện ngắn kiểu này, nhưng nhìn vào đã biết ngay
của rởm. Những thứ tôi mô tả không liên quan gì
đến tình cảm trong tôi. Tôi không yêu, cũng chẳng
ghét chúng. Mấy năm sau đấy tôi vẫn giữ khư khư
thái độ chống chế lại quê hương cực kỳ sai lầm ấy.
Giống như gái thuyền chài có bàn
chân ngón xòe, trai nhà nông có cặp chân vòng kiềng,
cái thằng nhà quê đặc mãi đến năm 20 tuổi mới rời
làng quê như tôi có hóa trang đến đâu cũng không
thể giống nổi chàng công tử tao nhã. Truyện ngắn
của tôi có đeo cho nó hoa gì đi nữa, thì nó vẫn
cứ là truyện củ khoai. Kỳ thực, cùng với lúc tôi
đang gắng sức rời xa quê hương, cũng từng bước tôi
nhích lại quê hương một cách vô thức.
*
Một nhà văn khó chạy trốn khỏi những từng trải
của bản thân, mà khó trốn thoát nhất là những từng
trải từ quê hương. Chính ông đã nói điều này?
- Nói chung, nhà văn rất ít sử dụng
nguyên xi những từng trải của mình, trừ phi bản
thân từng trải này đã khá là hoàn chỉnh. Ở vấn đề
này, mối quan hệ giữa quê hương với sáng tác không
quá quan trọng. Bởi nhiều nhà văn sau khi chạy trốn
khỏi quê hương, có thể họ đã trải qua những chuyện
kinh hồn. Nhưng với cá nhân tôi, những nếm trải
sau khi rời khỏi quê hương chỉ là bình lặng và đạm
bạc, bởi vậy tôi đặc biệt xem trọng cảm xúc có từ
quê hương. Trong các tác phẩm của mình, chỉ có truyện
ngắn Dòng sông khô cạn và truyện vừa Củ cà rốt trong
suốt là tôi sử dụng trực tiếp những cảm xúc và ký
ức làng quê.
Năm 2003: Một năm đại thu hoạch
của Mạc Ngôn
Bắt đầu là tiểu thuyết mới Bốn
mốt phát đại bác - NXB Văn nghệ Xuân Phong (Thành
Đô) và NXB Hồng Phạm (Đài Loan) đồng ấn hành hồi
tháng bảy đã lập kỷ lục về số lượng và thời gian
tiêu thụ (riêng NXB Xuân Phong là 150.000 cuốn,
bán trong 10 ngày đã hết sạch).
Tiếp đến là Bạch cẩu thu thiên
giá chuyển thể thành phim Sưởi ấm đoạt giải Kim
Kỳ Lân với số tiền thưởng là 80.000 USD tại LHP
quốc tế Tokyo đầu tháng 11 và còn được đề cử cho
7 giải khác tại giải Kim kê Trung Quốc diễn ra trong
cùng thời gian.
Đặc biệt, trong số 23 tác phẩm
văn học bình chọn trao giải Mao Thuẫn lần thứ sáu
vào năm tới (giải văn học danh giá nhất của TQ tổ
chức 4 năm một lần) vừa công bố thì tiểu thuyết
Đàn hương hình của Mạc Ngôn xếp vị trí số một với
100% phiếu thuận
Theo Tiền Phong
Thành
Kính Phân Ưu
Rất
xúc động hay tin Hiền Thê của Thi Nhạc Sĩ Hoàng
Thy Trần Triệu Đông là Chị:
Maria Trần Hoàng Yến
đã từ trần lúc 7:35 sáng ngày Thứ Năm 5 tháng 9,
năm 2006
tại San Diego, California
Hưởng Dương 51 tuổi
Xin thành thật chia buồn cùng anh Hoàng Thy và tang
quyến.
Nguyện cầu linh hồn Maria sớm về hưởng nhan Thánh
Chúa.
***
Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp, Lê Hữu Mục, Nguyễn
Thanh Liêm, Vũ Hối, Cao Tiêu, Tạ Xuân Thạc, Ðào
Vũ Anh Hùng, Nguyễn Đức Nam, Lê Mộng Nguyên, Nam
Lộc, Kỳ Phát,
Phạm Anh Dũng, Trần Văn Khanh, Trần Văn Lương, Nguyễn
Tuấn, Nhật Vũ, Vũ Hữu Toàn, Nguyễn Đăng Tuấn, Trần
Quang Hải, Bạch Yến, Mai Đức Vinh, Nguyễn Minh Châu,
Phan Anh Dũng, Nguyễn Toàn, Nguyễn Vy Khanh, Trần
Thy Vân, Yên Sơn, Hạo Nhiên, Nhược Thu, Phan Diên,
Mạc Giao, Hoàng Ngọc Liên, Trần Nhất Lang, Vũ Tiến
Thăng, Bùi Thanh Mai, Mimi Nguyễn, Bạch Hạc,Tiểu
Thu, Đạm Thủy, Minh Hồ Đào, Thụy Mi, Mỹ Ngọc, Bình
Nhung, Diễm Châu-ViVi, Chu Bá Yến, Hà Phương Hoài,
Hồng Vũ Lan Nhi, Bích Huyền, Uyển Diễm, Linh Vang,
Kim Nguyên, Đồng Văn, Ðỗ Tiến Ðức, Mai Thanh Truyết,
Lê Tấn Trạng, Khiếu Long, Trần Quốc Sỹ, Nguyễn Sử,
Nguyễn Ngọc Chấn, Vương Trùng Dương, Dương Viết
Ðiển, HuyPhương, Vũ Thư Nguyên, Cát Biển, Quan Dương,
Lê Ngọc Trùng Dương, Lê Kim Phương, Lê Kim Anh,
Bích Ty, Tâm Thuận, Kim Oanh, Vũ Hoài Mỹ, Hoàng
Huy Giang, Hương Kiều Loan, Ngọc Mai, Ngọc Thủy,Ngọc
Ánh, Quỳnh Hương, Xuân Hương, Diệu Hương, Bích Liên,
Thi Hạnh, Đóa Hoa Hồng, Tâm Vô Lệ, Quyên Di, LM
Trần Cao Tường, Trường Hà, Bùi Ngọc, Đường Sơn,
Mạc Phương Ðình, Phan Bá Thụy Dương, Trang Sĩ Phước,
Võ Thạnh Văn, Thái Tú Hạp, Ái Cầm, Minh Nguyệt,
Đào Anh Dũng, Hạnh Thảo, Bích Phượng Paris, Thụy
Vi Paris, Mạc Ly Hương, Lê Anh Dũng, Sông Cửu, Vương
Huyền, Phan Bái, Phong Vũ, Chính Nguyễn, Peter Morita,
Quang Lâm và Việt Hải,
Thành Kính Phân Ưu
Một
công trình sử học mới: Phan Thanh Giản với bản án
được tuyên sau cái chết
Giữa
trưa đứng bóng một ngày tháng sáu năm 1867, đoàn
tàu chiến của Pháp do Đô đốc De la Grandière chỉ
huy từ vùng biển phía Nam áp sát vào bờ. Cập bến
Vĩnh Long xong, De la Grandière cho mời Phan Thanh
Giản lên tàu hội đàm vào ban đêm, rồi bất ngờ đưa
quân lên bờ chiếm lấy thành ngay trong đêm ấy (19/6)
tiến tới thôn tính luôn hai thành An Giang và Hà
Tiên trong các ngày tiếp đó.Sự
biến này dẫn đến cái chết của vị tiến sĩ đầu tiên
của Nam Bộ, cũng là vị đại thần có trách nhiệm cao
nhất ở ba thành miền Tây vừa rơi vào tay giặc; đó
là Kinh lược sứ Nam kỳ: Phan Thanh Giản. Ông tuyệt
thực 17 ngày, uống thuốc phiện hòa với giấm thanh
để tự vẫn ngày 4/8 năm đó, gửi lại ấn tín, áo mão
và tờ sớ tâu về triều đình. Vua Tự Đức xuống chiếu
kết tội ông rất nặng và tuyên án: "Tuy đã đắc
nhất tử, nhưng cái chết vẫn không đủ che được tội.
Vậy Phan Thanh Giản (với Lâm Duy Hiệp) đã quá cố
phải bị truy đoạt hết tước hàm, đục bỏ tên trên
bia tiến sĩ, để mãi cái án trảm hậu. Giết kẻ đã
chết để răn người đời sau vậy".
Việc
xảy ra đã 140 năm, nhưng đến nay vẫn đang cần được
bổ sung nhiều tư liệu mới để soi sáng và đánh giá
công bằng về nhân cách, sự nghiệp và bi kịch cuối
đời của Phan Thanh Giản. Trong yêu cầu đó, từ nước
Pháp, bà Phan Thị Minh Lễ với sự cho phép của gia
đình dòng họ Đô đốc De la Grandière đã may mắn tiếp
cận để tra cứu một số hồ sơ cất kỹ chưa hề mở ra
xem từ khi đô đốc này qua đời. Nội dung hồ sơ trên
với bốn tập thủ bản gồm các thư từ riêng của De
la Grandière cho thấy người Pháp rắp tâm chiếm đóng
ba tỉnh miền Tây và bí mật sắp đặt như thế nào.
Đó là nguồn tài liệu mới nhất mà bà Minh Lễ, tiến
sĩ sử học Đại học Paris VII, đã công bố và kết hợp
sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác từ kho lưu trữ
của Bộ Ngoại giao Pháp (cũng như từ châu bản triều
Tự Đức) để cùng giáo sư Pierre Ph.Chanfreau đồng
biên khảo công trình: Những năm cuối đời của Phan
Thanh Giản, nhà yêu nước và người mở đường cho một
nước Việt Nam hiện đại (Phan Thanh Gian, Patriote
et Précurseur du Vietnam moderne, ses dernirères
années 1862 - 1867) xuất bản tại Pháp cuối năm 2002,
song tới nay vẫn chưa được biết đến rộng rãi tại
Việt Nam. Mới đây để giới thiệu công trình này,
hai tác giả Nguyễn Nghị và Nguyễn Hạnh có bài viết
chung in trong cuốn Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật
lịch sử Phan Thanh Giản (nhiều tác giả, dày hơn
300 trang, do Tạp chí Xưa và Nay kết hợp NXB Đồng
Nai ấn hành tháng 8.2006) đã nhận định rằng, bằng
những tư liệu chưa được công bố, TS Minh Lễ và GS
Chanfreau đọc lại lịch sử với ánh sáng mới đi đến
"minh chứng một cách hùng hồn và đầy thuyết
phục Phan Thanh Giản không phải là một kẻ bán nước,
phản quốc và phản dân tộc". Đồng thời, có 30
nhà khoa học, chính khách trong và ngoài nước như
các vị: Phan Huy Lê, Đinh Xuân Lâm, Chương Thâu,
Văn Tạo, Trương Bá Cần, Vũ Ngọc Khánh, Hoàng Như
Mai, Nguyễn Phan Quang, Võ Xuân Đàn, Nguyễn Đình
Đầu, Nguyễn Khắc Thuần, Trần Viết Ngạc, Sơn Nam,
Cao Tự Thanh, Trần Đại Vinh góp bài trong sách để
"ghi nhận một chặng đường nhận thức dài cùng
những biến thiên của lịch sử đất nước, chân dung
Phan học sĩ đang dần trở lại với cái nhìn đầy lòng
vị tha truyền thống của người Việt Nam" như
lời giới thiệu của nhà sử học Dương Trung Quốc.
Giao Hưởng (THANHNIEN)
LỊCH
SỬ NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT: Những con đường tiếng Hán
đi vào tiếng Việt
Bởi
lẽ tự nhiên là "Việt Nam Trung Hoa, núi liền
núi, sông liền sông", mà sự tiếp xúc văn hoá
- ngôn ngữ giữa hai nước Việt–Trung đã diễn ra từ
rất lâu đời và vô cùng sâu đậm. Từ những thế kỉ
trước Công nguyên cho đến thế kỉ X là thời kì nước
ta chịu sự đô hộ của phong kiến phương Bắc, sự tiếp
xúc ngôn ngữ Việt Hán chủ yếu là thông qua "con
đường khẩu ngữ".
Giới quan chức cũng như những người dân thường
(đặc biệt là thương nhân) đã sang cai trị và làm
ăn sinh sống ở đất Việt, và qua họ người Việt đã
thu nạp vào trong tiếng nói của mình không ít những
từ ngữ thông thường, mà phần nhiều vẫn còn lưu lại
cho đến ngày nay, như: buồng (房), buồm (帆), đuốc
(烛), đũa (箸), mùa (务), múa (舞)... Từ thế kỉ X trở
đi, nước ta giành được độc lập, bắt tay vào công
cuộc xây nền tự chủ. Trong bước đầu gây dựng đất
nước, từ thời Lý–Trần, cha ông chúng ta đã biết
dựa vào văn hoá Hán và chữ Hán để đào tạo nhân tài.
Trong công cuộc này, người Việt đã ít khi có dịp
tiếp xúc trực tiếp với người Trung Hoa, cho nên
"con đường khẩu ngữ" đã lùi dần vị thế
gần như độc tôn trước đây để nhường chỗ cho "con
đường sách vở". Và đây chính là lúc cách đọc
chữ Hán ở Việt Nam bắt đầu thoát ly khỏi ngữ âm
thực tế của tiếng Hán ở Trung Hoa, dần dần hình
thành hệ thống âm Hán Việt. Cũng từ thời trung đại,
tiếng Việt và tiếng Hán đều rất gần gũi nhau về
mặt loại hình: đều là ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính.
Với hai ngôn ngữ cùng chung loại hình, lại có cách
đọc Hán Việt hoàn chỉnh như vậy, thì hàng loạt các
từ ngữ tiếng Hán đi vào tiếng Việt để làm thành
một lớp từ ngữ Hán Việt khá phong phú trong tiếng
Việt là điều rất tự nhiên.
Như vậy, từ ngữ Hán Việt đi vào tiếng Việt là qua
con đường sách vở và có lẽ chỉ những người có học
mới thực sự am hiểu và thường xuyên sử dụng. Còn
đại đa số người dân thất học, những người nông dân
chân lấm tay bùn, thì họ chỉ có thể nắm biết được
một ít những từ Hán Việt đơn tiết thông thường (như:
thiên (天), địa (地), quỷ (鬼), thần(神), cúng 供, tế
(祭),...), những từ Hán Việt đã Việt hoá triệt để
đôi khi cả về mặt ngữ âm, được gọi là từ ngữ "Hậu
Hán Việt" (như: gan (胆), gương (镜), rồng (龙),
rạng (朗), vạch (划), vẽ (画), ...), những từ gốc Hán
từ trước khi hình thành âm Hán Việt, được gọi là
từ ngữ "Tiền Hán Việt" (như đã dẫn ở trên:
buồng (房), buồm (帆), đuốc (烛), đũa (箸), mùa (务),
múa (舞),...) và cả những từ đi vào tiếng Việt theo
con đường khẩu ngữ từ bà con Hoa kiều ở thời hiện
đại (như: vằn thắn, tào phớ, phá xang, tổ tôm, tài
xế, mì chính). Chỉ từ sau Cách mạng Tháng Tám, những
người nông dân mù chữ ấy mới có dịp học hành, mới
có dịp tham gia vào các sinh hoạt đoàn thể, sinh
hoạt xã hội, khi ấy họ mới có dịp tiếp xúc với những
từ Hán Việt đánh dấu cho sự khởi đầu cuộc sống mới
của họ: "Có khai hội, yêu cầu, chất vấn. Có
mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa" (như
nhà thơ Hồng Nguyên đã ghi lại trong bài Nhớ). Nhờ
vậy, từ Hán Việt chẳng những không bị bài trừ, mà
còn có cơ hội phát triển thêm lên.
Trong đời sống ngôn ngữ hôm nay ở Việt Nam, dường
như đã và đang có một xu hướng khác rất đáng ghi
nhận. Đó là ngày càng xuất hiện nhiều hơn những
từ ngữ Hán Việt tự tạo (nội sinh), tức là những
từ ngữ được chính người Việt tạo ra trên cơ sở vốn
liếng đã có từ cha ông để lại – những ngữ tố gốc
Hán đọc với âm Hán Việt. Đó là trường hợp của những
từ ngữ như: sơ tán, di tản, cư xá, tiếp viên, tiếp
thị, hội nhập, hội thảo, hội chứng, lập trình, ứng
viên, ứng xử, cư xá,.... Những từ ngữ như vậy, tuy
có thể "phiên chuyển" thành chữ Hán như:
初散,移散,接员,接市,会入,会讨,会症,立程,应员,应处,居舍... nhưng trong
một số từ điển tiếng Hán hiện đại như Từ điển Hán
ngữ hiện đại (现代汉语词典), Từ điển quy phạm Hán ngữ
hiện đại (现代汉语规范词典) đều không hề tìm thấy chúng.
Đó chính là sản phẩm của người Việt một khi họ thực
sự làm chủ cái vốn ngữ tố Hán Việt cơ bản từ lâu
đã có cuộc sống riêng trong tiếng Việt. Một đôi
khi chính những từ ngữ Hán Việt nội sinh này đã
đẩy lùi những từ ngữ Hán Việt nguyên ngữ đã một
thời vang bóng trước đây, như hội thảo đã thay thế
hẳn khai hội (开会), và phần nào thay thế cho hội
nghị (会议). Tuy nhiên, cũng không nên nghĩ rằng ngày
nay không còn dịp để mượn từ Hán Việt "nguyên
khối" từ tiếng Hán. Chẳng hạn, gần đây Bộ Giáo
dục đã cho thành lập Cục Khảo thí và Kiểm tra chất
lượng giáo dục, trong tên gọi đó có từ Hán Việt
"nguyên khối" khảo thí(考试), chứ không
phải là từ Hán Việt tự tạo thi cử.
Trong khoảng một hai chục năm gần đây, có một con
đường mới hẳn đang hình thành để từ ngữ tiếng Hán
đi vào sách báo tiếng Việt. Đó là "con đường
dùng phiên âm" dựa theo "phiên âm tự mẫu"
của tiếng Hán. "Phiên âm tự mẫu" là bộ
chữ cái Latin dùng để chú âm (phổ thông) cho chữ
Hán, được Chính phủ Trung Quốc công bố năm 1958.
Hiện nay, bộ chữ cái này đã được sử dụng rộng rãi
ở Trung Quốc cũng như trên quốc tế, khi có nhu cầu
ghi âm cho các chữ Hán, đặc biệt là dùng cho nhân
danh, địa danh, tên các cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp, bộ môn, các sản phẩm và tác phẩm v.v...
Chữ Quốc ngữ của ta cũng là một thứ chữ ghi âm theo
chữ cái Latin, cho nên việc tiếp nhận các từ ngữ
Hán vào văn bản Việt dưới hình thức "phiên
âm tự mẫu" là việc quá ư thuận lợi. Qua khảo
sát bước đầu của chúng tôi trên một vài tờ báo ở
Hà Nội (báo "Thể thao và Văn hoá) và Thành
phố Hồ Chí Minh (báo "Thanh niên") trên
các số phát hành gần đây (tháng 2 và tháng 3/2006),
xin nêu một vài thí dụ như sau:
"Với số dân 60.000 người, nằm cách thành phố
Thượng Hải khoảng 130 km về phía bắc, làng Huaxi
thuộc tỉnh Giang Tô là niềm mơ ước của nhiều người.
Thứ đồ trang trí đẹp nhất, giá trị nhất cho những
con đường làng ở Huaxi chính là hình ảnh những nụ
cười rạng rỡ của người dân nơi đây..." (trong
bài "Thiên đường" ở Trung Quốc, báo Thanh
Niên, số 87, thứ ba, 28/3/2006).
"Người đề ra công thức này không ai khác
chính là vị cựu trưởng làng Wu Renbao..." (trong
bài "Thiên đường" ở Trung Quốc, báo Thanh
Niên, số 87, thứ ba ngày 28/3/2006).
"Đối với người dân Wuli, một ngôi làng ở
miền đông Trung Quốc, ô nhiễm không khí, ô nhiễm
nguồn nước chẳng phải chỉ là chuyện trên bàn giấy..."
(trong bài Làng ung thư ở Trung Quốc, báo Thanh
Niên, số 80, thứ ba, ngày 21/3/2006).
"Tây An, thành phố lịch sử nổi tiếng thuộc
tỉnh Thiểm Tây, tây bắc Trung Quốc, hiện đang tìm
kiếm vốn cho chu kì trùng tu mới tại khu lăng mộ
của Hoàng đế, nhà cai trị huyền thoại của Trung
Quốc, toạ lạc trên đồi Qiaoshan ở huyện Huangling..."
(trong bài "Tây An tìm tài trợ trùng tu mộ
Hoàng đế Tần Thuỷ Hoàng, báo Thể thao và Văn hoá,
số 36, thứ bảy, ngày 25/3/2006).
"Giáo sư He Weifang thuộc khoa Luật của Đại
học Bắc Kinh cho biết tình trạng trên xảy ra tại
hầu hết các đại học danh tiếng của nước này..."
(trong bài Trung Quốc: 60% tiến sĩ đạo văn, báo
Thanh Niên, số 75, thứ năm, ngày 16/3/2006).
"Trong số các quan tham bị sa lưới có cựu
giám đốc một chi nhánh của Công ti điện lực Chuanhong
ở tỉnh Tứ Xuyên, ..." (trong bài Trung Quốc:
bắt giữ hơn 400 quan tham bỏ trốn, báo Thanh Niên,
số 85, chủ nhật, ngày 26/3/2006).
"Được biết trong dịp Tết vừa qua, các thành
viên của đoàn xiếc (gồm Wang Ji Feng, Chen Dao Mei,
Jiao Shi Guo, Sun Hua Dong, Liu Jian Nan...) đã
được người xem đón nhận nông nhiệt, đặc biệt là
các khán giả nhí..." (trong bài Đoàn xiếc mô
tô bay Vương Trung Vương (Trung Quốc) đã "đáp"
về Thảo Cầm Viên Sài Gòn, báo Thanh Niên, số 72,
thứ hai, ngày 13/3/2006).
"Dạ Yến sẽ nằm trong cuộc tranh đua giành
đề cử Oscar năm sau", Wang Zhonglei, Giám đốc
công ti Huayi Brothers, nơi sản xuất bộ phim, cho
biết..." (trong bài Phùng Tiểu Cương hi vọng
được đề cử giải Oscar năm sau với Dạ Yến, báo Thể
thao và Văn hoá, số 22, thứ ba, ngày 21/2/2006).
Như vậy, chỉ lướt qua gần chục bài báo có nội
dung liên quan đến Trung Quốc, thì ta đã gặp hàng
chục những từ ngữ tiếng Hán dưới dạng phiên âm bằng
chữ cái Latin. Điều này chứng tỏ rằng, tiếng Hán
đang du nhập vào tiếng Việt một cách khá "rôm
rả" qua "bộ áo" phiên âm. Vì sao
vậy? Theo chúng tôi quan sát, thì không phải bất
kì bài báo tiếng Việt nào viết về Trung Quốc cũng
có "tài liệu nguồn" là tiếng Hán, tức
là bản nguyên văn của chúng đã được viết bằng ngôn
ngữ có chữ viết Latin, như tiếng Anh, tiếng Pháp...
Nếu đã như vậy, thì dịch giả (biết hay không biết
tiếng Hán) không còn cách nào khác là "bê nguyên
xi" những cụm từ ngữ dạng phiên âm đó, vừa
thuận tiện, lại bảo đảm được độ chính xác, trung
thực của bài báo. Hay ngay cả khi "tài liệu
nguồn" được viết chính bằng tiếng Hán, và người
viết tin tiếng Việt (cũng là dịch giả) đương nhiên
là biết tiếng Hán, thì việc xuất hiện các từ ngữ
tiếng Hán dưới dạng phiên âm cũng không phải là
không phổ biến. Bởi đâu phải bất kì người dịch nào
cũng thông thạo cách đọc Hán Việt, để có thể ngay
tức khắc, phiên chuyển những danh từ tiếng Hán ấy
ra âm Hán Việt. Muốn làm được thế, họ phải mất thời
gian tra cứu, mà xem ra cũng không thực sự cần thiết.
Vậy thì, chi bằng cứ theo âm đọc mà phiên viết những
từ ngữ Hán đó sang văn bản chữ Việt, cũng rất là
thuận tiện, lại không kém phần chính xác. Nói như
vậy không có nghĩa là những danh từ riêng tiếng
Hán được viết theo âm Hán Việt đã hoàn toàn vắng
bóng trên mặt báo. Ngược lại, chúng thường xuyên
xuất hiện trên báo chí, thậm chí còn xuất hiện đồng
thời, trong cùng một bài báo, với những từ ngữ tiếng
Hán viết theo lối phiên âm. Chẳng hạn như:
"Những cảnh đấu võ và bay người trên không
trung, yếu tố cơ bản đã tạo nên thành công quốc
tế cho bộ phim Ngoạ hổ tàng long của đạo diễn Lý
An, cũng được đạo diễn Phùng vận dụng triệt để trong
Dạ Yến. Và để đạt được điều đó, ông đã phải "cậy
nhờ" tới bộ ba góp phần làm nên thành công
của Ngoạ hổ tàng long, gồm chuyên gia võ thuật Yuen
Woo Ping, nhà soạn nhạc Tan Dun và đạo diễn nghệ
thuật Tim Yip...Vai nữ chính trong phim vẫn được
giao cho Chương Tử Di..." (trong bài Phùng
Tiểu Cường hy vọng được đề cử Oscar năm sau với
Dạ Yến, báo Thể thao và Văn hoá, số 22, thứ ba,
ngày 21/2/2006).
"Liang Liang, nhà phê bình phim Đài Loan,
thì nhận định, chiến thắng của Lý An có thể sẽ là
nguồn cảm hứng cho nhiều đạo diễn châu Á muốn thử
vận may ở Hollywood,..." (trong bài Sau giải
Oscar của Lý An, Hollywood không ưu ái hơn với các
đao diễn châu Á, báo Thể thao và Văn hoá, số 29,
thứ sáu, ngày 10/3/2006).
"Những ai muốn khám phá về các màn xiếc độc
đáo của nhân vật dặc biệt Liu Jian Nan cũng như
của đoàn xiếc Vương Trung Vương có thể đến Thảo
Cầm Viên vào khoảng thời gian từ 17–22 giờ mỗi ngày
để thưởng thức." (trong bài Đoàn xiếc mô tô
bay Vương Trung Vương (Trung Quốc) đã "đáp"
về Thảo Cầm Viên Sài Gòn, báo Thanh Niên, số 72,
thứ hai, ngày 13/3/2006).
Từ những thí dụ trên, ta thấy rằng, những từ ngữ
tiếng Hán được phiên ra âm Hán Việt hầu như đều
là những từ ngữ quá đỗi quen thuộc với độc giả Việt
Nam. Chẳng hạn như: Ngoạ hổ tàng long, Lý An, Chương
Tử Di,... Thượng Hải, Tây An, Thiểm Tây, Tứ Xuyên,...
Khi gặp các từ ngữ này, dù là ở dạng phiên âm trong
văn bản ngoài chữ Hán, thì dịch giả, với vốn âm
Hán Việt nào đó đã nằm lòng, vẫn thích đưa chúng
quay trở về dạng từ ngữ Hán Việt đã quen thuộc đối
với người Việt Nam. Và rõ ràng, khi tiếp xúc với
những từ ngữ Hán Việt này, độc giả Việt Nam sẽ thấy
gần gũi hơn rất nhiều so với những từ ngữ tiếng
Hán viết theo lối phiên âm tự mẫu.
Ngoài ra, có một điều cần nói thêm rằng, trong
những năm gần đây, không chỉ trên mặt báo, mà còn
trên truyền hình hay trong những câu chuyện đời
thường của người dân Việt Nam, ta vẫn thường nhìn
thấy, nghe thấy những từ ngữ tiếng Hán vô cùng quen
thuộc như wushu, sanshou, hay gần đây nhất là gongfu
(trong bộ phim võ hiệp nổi tiếng của Trung Quốc
– Gongfu – 功夫). Đây đều là những từ ngữ tiếng Hán
chỉ các bộ môn võ thuật của Trung Quốc, đó là 武术,散手,功夫.
Điều đáng chú ý là trong khi sanshou và gongfu còn
được nhắc đến cả dưới dạng âm Hán Việt là tán thủ
và công phu, thì ta không hề thấy wushu xuất hiện
dưới hình thức âm Hán Việt tương ứng với nó là võ
thuật. Nhất định phải gọi môn võ này là wushu theo
chữ cái phiên âm. Bởi lẽ, trong tiếng Việt, võ thuật
từ lâu đã là một danh từ chung dùng để chỉ các môn
phái võ nghệ, chứ không phải đặc chỉ môn phái wushu
với những đặc điểm riêng của nó. Vậy là, trong trường
hợp này, con đường du nhập của từ ngữ tiếng Hán
theo lối phiên âm tự mẫu đã phát huy thêm một tác
dụng quan trọng nữa, nó giúp ta khu biệt danh từ
chỉ một môn võ cụ thể với một danh từ chỉ võ nghệ
nói chung.
Như vậy là, từ ngữ tiếng Hán du nhập vào tiếng
Việt cho dù là bằng con đường khẩu ngữ, con đường
sách vở hay là dạng phiên âm theo tự mẫu, thì từ
thời xa xưa cho đến thời hiện đại cũng đều hết sức
mạnh mẽ và bền bỉ. Cùng với sự trôi đi của thời
gian, khi mà tình trạng cộng cư của người Hoa và
người Việt không còn vị thế nổi bật trong sinh hoạt
kinh tế thời hiện đại, khi mà tầng lớp nho sĩ am
hiểu âm Hán Việt thưa thớt dần, thì sự du nhập của
từ ngữ tiếng Hán vào tiếng Việt theo con đường khẩu
ngữ hoặc con đường phiên âm Hán Việt sẽ không còn
đậm nét như trong quá khứ nữa. Bù lại, xu hướng
sử dụng ngữ tố Hán Việt để tạo từ mới ngày càng
được hưởng ứng, và một con đường mới mẻ cho sự du
nhập từ ngữ tiếng Hán vào tiếng Việt – con đường
dùng "phiên âm tự mẫu" đang hình thành.
Trên con đường mới mẻ này, số phận của các từ ngữ
Hán phiên âm trong văn bản Việt sẽ ra sao? Chắc
chắn chúng sẽ vấp phải không ít khó khăn để được
tiếp nhận, song triển vọng của chúng cũng khá rõ
ràng, vì sự tiện lợi và cần thiết của chúng ở những
tình cảnh nhất định là không thể phủ nhận.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lý Hành Kiện (chủ biên). Xiandai Hanyu Guifan Cidian
(现代汉语规范词典). Nxb Ngoại ngữ Giáo học dữ Nghiên cứu
& Nxb Ngoại văn, Bắc Kinh, 2004.
Nguyễn Tài Cẩn. Nguồn gốc và quá trình hình thành
cách đọc Hán Việt (tái bản có sửa chữa). Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2002.
Nguyễn Quang Hồng. Âm tiết và loại hình ngôn ngữ
(tái bản). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.
Nguyễn Quang Hồng. Giữ gìn và phát triển tiếng Việt,
ngôn ngữ chung của các dân tộc Việt Nam. Tạp chí
"Ngôn ngữ & Đời sống", số 1+2/2004.
Phòng Từ điển Viện Ngôn ngữ học Trung Quốc biên
soạn (tu đính bản). Xiandai Hanyu Cidian (现代汉语词典).
Nhà in Thương Vụ, Bắc Kinh, 1999.
Theo Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 5/2006,
trang 34–37
Vĩnh
biệt thi sĩ Hoàng Anh Tuấn
Tôi
kiếm hồn tôi xưa. Hà Nội
Thuở còn trong vắt gió vào Thu
Thoảng nghe ngọt tiếng cô hàng cốm
Chênh vênh đâu cuối phố Sinh Từ
Hoàng Anh Tuấn (phải) còn là tác giả
của các vở kịch như Ly Nước Lọc, Hà Nội 48,
phim Ngàn Năm Mây Bay, Xa Lộ Không Đèn
Đó là những vần thơ trác tuyệt
của thi sĩ Hoàng Anh Tuấn.
Ông vừa ra đi lúc 8 giờ sáng ngày
1 tháng 9 năm 2006 tại viện dưỡng lão Mission
De La Casa, thành phố San Jose-California.Hưởng
thọ 74 tuổi.
Hoàng Anh Tuấn sinh ngày 7-5-1932
tại Hà Nội. Ngoài làm thơ, viết văn, viết kịch
với những vở kịch như: Ly Nước Lọc, Hà Nội 48,
ông còn là đạo diễn điện ảnh với những phim: Ngàn
Năm Mây Bay, Xa Lộ Không Đèn
Năm 1949 ông du học bên Pháp và
lập gia đình tại đó, vợ ông là bà Ngô Thị Liên.
Hai người có với nhau sáu người
con là: Hoàng Hôn Thắm, Hoàng Ánh Thép, Hoàng Thu
Thuyền, Hoàng Hương Thao, Hoàng Mạc Tiên, và cô
gái út là Hoàng Thái Trang kết duyên cùng anh Trần
Văn Học, con trai của cố thi sĩ Nguyên Sa.
Thời gian sau này ông sống chung
với bà Khương Thị Phương Trâm.
Suốt thời gian ông bị bệnh bà Trâm
là người cận kề chăm sóc ông.
Về
nước thành danh
Năm 1958 thi sĩ Hoàng Anh Tuấn về
Việt Nam cộng tác với các tạp chí văn nghệ, cùng
nhiều tuần báo và nhật báo ở Sàigòn.
Ông là một trong những thi sĩ được
cố nhà văn Mai Thảo yêu mến nhất.
Trước đó, mặc dù ông chưa có một
thi phẩm nào ấn hành nhưng thơ của ông rất được
mọi người yêu mến và nhìn nhận ở ông là một tài
thơ lớn. Với Hoàng Anh Tuấn lúc nào cũng là bạn
hữu. Tính ông thích bông đùa. Người lớn tuổi hoặc
nhỏ tuổi hơn ông cũng xưng hô với nhau là 'tao-mày'.
Nữ tài tử Kiều Chinh hay gọi đùa
ông là đạo diễn 'trẻ mãi không già'. Thi sĩ Du
Tử Lê gọi ông là 'Châu Bá Thông'. Còn tôi, thân
mến gọi anh là 'Hoàng Công Tử'.Hoàng Anh Tuấn là
một trường hợp vô cùng đặc biệt. Chưa có tác phẩm
nhưng lại vô cùng nổi tiếng.
Người ta biết nhiều đến ông qua
bản nhạc: 'Mưa Sàigòn, Mưa Hà Nội' viết chung với
cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương trên một căn gác ở
Sài Gòn. Những năm gần đây, nhạc sĩ Phan Nguyên
Anh phổ nhạc bài thơ 'Yêu Em Hà Nội' của ông được
ca sĩ Như Mai trình bày rất xuất sắc.
Năm 1965 ông làm quản đốc đài phát
thanh Đà Lạt cho đến năm 1975.
Năm 1979 thì ông được qua Pháp.
Năm 1981 ông định cư tại Mỹ.
Năm 1987 ông lên San Jose để sống
và làm việc với tôi. Ông xem tôi như người bạn vong
niên của ông.
Hai anh em sống gần nhau trong một
căn phòng nhỏ trên đường số 19, San Jose.
Năm 1988, ông cùng với ca sĩ Mai
Hân chủ trương tờ báo 'Thung Lũng Tình Yêu', một
vài tháng sau tờ báo này đình bản. Sau đó, tôi
chuyển giao vai trò chủ bút tuần báo Yêu thuộc Hệ
Thống Truyền Thông Viên Thao để ông và nhà văn Sao
Biển phụ trách.
Năm 1992, tôi mời ông làm giám đốc
đài phát thanh Sàigòn. Đây là chương trình phát
thanh Việt ngữ đầu tiên trên làn sóng AM-1500 tại
Hoa Kỳ.
Bị
bệnh
Sau một thời gian dài cộng tác với
Hệ Thống Truyền Thông Viên Thao đến năm 1998 thì
ông bị bệnh, thường hay xỉu nơi làm việc. Chứng
bệnh mà ông cũng không hiểu tại sao mỗi ngày bụng
và người ông như bị 'trướng'. Ông mập ra nhiều.
Tháng 1 năm 2005, bác sĩ phát hiện ông bị ung
thư phổi.
Tháng 2 năm 2005, ông được đưa vào
viện dưỡng lão Mission De La Casa - San Jose.
Thời gian này nhà báo Phạm Huấn (đã mất đầu năm
nay) là người bạn tri kỷ nằm cùng phòng với ông.
Tháng 4 năm 2005, người bạn đời
sau này của ông là bà Phương Trâm và cô con gái
lớn là Hoàng Hôn Thắm cùng với Phạm Hùng tổ chức
ra mắt thi phẩm đầu tay 'Yêu Em, Hà Nội và những
bài thơ khác' của Hoàng Anh Tuấn tại viện dưỡng
lão này.
Buổi ra mắt tập thơ trong một phòng
ăn của viện dưỡng lão diễn ra thật xúc động.
Giới văn nghệ và bạn bè tham dự rất đông đủ.Hiện
giờ linh cữu của ông đã được đưa về nhà quàn OakHill
tại San Jose.
Sự
ra đi của thi sĩ Hoàng Anh Tuấn đã để lại cho người
yêu thơ - bằng hữu những nỗi nhớ và niềm xúc
động. ( Đỗ Vẫn TrọnSan Jose - California)
Tuyển tập tiểu luận liên quan
đến Nhà văn Trần Mạnh Hảo
Những
bài, tài liệu, của ( hoặc liên quan ) đến
Nhà văn Dương
Thu Hương
(Những
bản tin trên chúng tôi trích dịch từ BBC, Tân Hoa
Xã, VOA, Reuters, Fox, Vietnamnet, Thanh Niên, Tuổi
Trẻ...
Xin cám ơn các nguồn trên đã giúp chúng tôi chuyển
gửi tin tức đến độc giả HNPĐ
)

|