Liên hệ

 
 

 

Âm Thanh

Nghe Nhạc

Tiếng thơ
Đọc Truyện
 

Tác giả Biệt ly và "chuyện giờ mới kể"...

Nguyễn Văn Tý với Dư âm

 
 

Những ca nhạc sĩ trước 75 sau 30 năm bây giờ ở đâu, ra sao ?:

Bài Số I

Bài Số II

Bài Số III

Bài Số IV

Bài Số V

Bài Số VI

Bài Số VII

Bài Số VIII

Tưởng nhớ nữ nghệ sĩ tài danh Thanh Nga

Tiếng hát nữ danh ca Thái Thanh

Hồ Dzếnh và Nỗi Sầu Vạn Cổ.

Thư Gửi Con Cháu.

Nhạc phẩm Du Xuân.

Mùa Xuân Đầu Tiên.

Nếu Anh Còn Trẻ.

Nhạc phẩm Bóng Người Đi.

Nhạc phẩm : Mấy Dặm Sơn Khê.

Phùng Cung Truyện và Thơ

Văn Cao - Tiếng Đàn Chơi Vơi.

Xuân Diệu và thơ tình lãng mạn..

 


Xem trang hội hoạ, nhiếp ảnh của Mù Sương ( Toronto, Canada)

 

 

Thói hư tật xấu người Việt chỉ trong 300 trang, có đủ?

Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn : “Thói xấu lớn nhất của người Việt là rất sợ nói về thói xấu của mình”
Ảnh: T. Phương

TP - Sau khi cố GS Trần Quốc Vượng, GS Cao Xuân Hạo bày tỏ ý định làm sách về thói xấu người Việt Nam nhưng chưa thành, đến lượt nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn quyết tâm cho ra mắt cuốn sách hứa hẹn hấp dẫn này.

Tiền phong trò chuyện cùng ông Vương Trí Nhàn.

Khai thác tài liệu về thói xấu người Việt Nam của các trí thức thế kỷ 19-20 đăng báo từ hơn 1 năm nay rồi bây giờ là làm sách. Tại sao ông đắm đuối câu chuyện này vậy?

Đó là việc đáng làm của một đời người, tôi muốn nhiều người khác cùng tham gia vì đây là vấn đề của xã hội. Tôi đang băn khoăn về tên gọi của đề tài. Thông thường thì gọi là thói hư tật xấu của người Việt Nam, nhưng thực ra nó là trình độ sống, trình độ làm người của người Việt Nam.

Người Việt quá nhấn mạnh tính độc đáo của mình, Việt Nam phải khác các nước, cái đó không đúng, cái chính là phải đo bằng tiêu chuẩn thế giới. Điều quan trọng bây giờ là tự nhận thức mình xem anh là người thế nào, anh là ai. Tất cả tương lai của dân tộc nằm trong hành động này.

Tôi rất thích câu của Tản Đà: Dân hai lăm triệu ai người lớn/ Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con. Dân mình “trẻ con” lắm, thích khen, ảo tưởng rất nặng trong tâm lý. Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng dân mình có bản lĩnh hội nhập. Tôi đọc lại lịch sử, không thấy thế. Với người nước ngoài, ban đầu mình e dè, ngại, nếu không muốn nói là kỳ thị, sau đó học lỏm, học không đến nơi đến chốn.

10 năm trước, khi nói về sự hội nhập của văn học Việt Nam với thế giới, tôi bị “đánh” tơi bời, họ cho là tôi vọng ngoại, thèm bơ sữa... Thành thật mà nói, dân mình kém bản lĩnh trong việc học tập nước ngoài mà lại dễ bị lừa. Sách vở vẫn dạy người Việt Nam yêu thiên nhiên lắm, nhưng cái yêu ấy lại giết chết thiên nhiên, như Chùa Hương, như Vịnh Hạ Long...

Tại sao ông không viết một cuốn riêng mà lại tầm chương trích cú từ các tờ báo đầu thế kỷ trước?

Nhiều người không thân nhau nhưng vì khen nhau nên chơi với nhau. Tôi viết phê bình xong thì mất bạn. Một trong những thói xấu của người Việt Nam là rất sợ nói đến thói xấu. Tôi cho rằng khi tôi nói về những thói xấu của anh, anh sẽ tiếp cận tôi hơn, và điều đó chứng tỏ sự trưởng thành.

Nhưng thực tế, rất nhiều người chăm chăm khoe mình. Cách đây khá lâu, tôi đặt vấn đề này, có vị trí thức bảo tôi: Chưa đến lúc cần. Trong phê bình, tôi bị cho là người thiếu nhân hậu, tâm địa xấu xa, chỉ thấy cái xấu của người.

Cả xã hội đóng băng trong sự tự khen thưởng. Cố GS Trần Quốc Vượng, GS Cao Xuân Hạo cũng có lần bày tỏ ý định viết sách về thói xấu người Việt, nhưng chưa ai làm cả.

Tôi chưa đủ uy tín để đứng ra làm một cuốn riêng, dễ bị bài bác, đành trích dẫn các cụ Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Huyên, Trần Trọng Kim... Lâu nay, chúng ta chỉ biết Phan Bội Châu đánh Pháp ra sao, xuất dương, Đông du thế nào, còn những tài liệu cụ chê dân mình mất đoàn kết, tầm nhìn hẹp, học để kiếm gạo... đều không nhắc tới.

Còn Nguyễn Trường Tộ, người ta chỉ thấy tế cấp bát điều của cụ thôi, chưa thấy cách cụ đã đo người Việt Nam bằng cái con mắt thế giới. Cụ Phan Chu Trinh cũng nói về dân tộc mình rất nặng nề.

Có bao giờ ông nghĩ tới công việc như ông Bá Dương (Đài Loan), đánh mạnh vào tảng băng trì trệ tự thỏa mãn, kém phản tỉnh?

Tôi cho rằng trí thức phải như thế. Trung Quốc không chỉ có ông Bá Dương đâu. Lý Tốn Ngô từ trước năm 1949 đã viết: “Đọc lịch sử Trung Quốc toàn thấy mặt dày và tim đen”. Cuốn này được nước ngoài đọc rất nhiều, ngang Binh pháp Tôn Tử. Vừa rồi, tôi lại đọc được 2 cuốn rất hay: Trung Quốc dân tộc tính và Trung Quốc nhân cách bệnh thái phê phán, tập hợp các bài viết từ đại lục, Hong Kong, Đài Loan lẫn người nước ngoài.

Tôi yêu một đất nước hơn, khi hiểu cái xấu của họ. Nhiều người nước ngoài nói: người Việt ít có khả năng đặt mình vào vị trí người khác. Tức là tri kỷ chứ không tri âm, hai kẻ nói chuyện với nhau như hai người điếc. Tục ngữ nói Thương người như thể thương thân, nhưng dân ta sống với xã hội rất kém, vứt rác ra khỏi nhà là coi như xong, tắc đường là cứ đâm lên không thua ai cả.

Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO, thói xấu nào là sự ngáng trở nguy hại nhất?

Tùy tiện, thiếu khả năng hợp tác, và như Vũ Trọng Phụng đã nói: Mọi tư tưởng từ ngoại quốc đến Việt Nam đều bị làm hỏng. Nhưng thói xấu lớn nhất vẫn là sợ người khác nói xấu mình. Làm ăn với nước ngoài mà cứ lấy tinh vặt (ranh ma, khôn vặt) làm kế sinh lãi. Tôi rất không đồng ý với cuốn Thần đồng đất Việt, vì trong đó toàn ca ngợi cái tinh vặt, láu cá của người Việt khi làm ăn với ngoại quốc. Cái đó không đáng tự hào.

Trong số các thói xấu của người Việt, có những thói xấu mà chỉ tại Hà Nội mới “phát huy rực rỡ” như tuyên ngôn ở quán xá vỉa hè, khinh người, chửi thề văng tục. Ông nghĩ thế nào?

Ở Việt Nam có nhiều cái mà nó chưa thành chính nó. Đô thị VN chưa phải đô thị. Hà Nội xưa là cái chợ bên cạnh dinh đồn, chứ không phải đô thị như phương Tây. Hà Nội tạp nham và chưa bao giờ nó là nó cả, không trở thành chính mình và quá lép vế.

Ngoài phần trích dẫn các nhà trí thức thế kỷ 19, nghe nói ông còn có in cả phần nghiên cứu riêng trong cuốn sách này?

Bên cạnh trích dẫn, việc chú giải rất quan trọng, bởi cũng chữ ấy hồi trước hiểu khác bây giờ nghĩa khác. Chẳng hạn “nhân sự” bây giờ có nghĩa là việc tổ chức cán bộ ở cơ quan, đơn vị, nhưng thế kỷ trước lại có nghĩa là “việc đời”.

Một mặt, tôi đọc lại Đại Nam thực lục, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục để thấy lịch sử nói gì về thói hư tật xấu của người Việt. Tôi hệ thống lại, xếp từng thói xấu vào từng phạm trù văn hóa, so sánh với các quốc gia.

Phải phân biệt sức sống và trình độ sống. Không phải con người là sống thế nào cũng được, quan trọng là anh làm việc cống hiến thế nào, có phát minh nào cho nhân loại. Dĩ nhiên, tôi phải đọc thêm triết học, nhân học, xã hội học... Có lẽ 2-3 năm nữa mới phát hành được cuốn sách, khoảng 200-300 trang. Có một Việt kiều từng viết sách về thói xấu người VN, nhưng chắc chắn sách tôi sẽ hấp dẫn hơn, vì thu hút được nhiều tài liệu của các trí thức lớn.

Đọc và viết về thói xấu ,ông có thấy nản không?

Không. Bởi không còn con đường nào khác. Tôi rất thích câu của nhà văn Nga Sêkhôp: Một con người sẽ tốt hơn nếu ta nói cho anh ta biết anh ta là người thế nào...

Xin cảm ơn ông và mong cuốn sách sớm ra mắt độc giả.Trần Thanh@Tienphong

Nhà văn Nam Cao chọn bút danh

Trong quá trình đi tìm tài liệu để làm tập tư liệu “Sức sống Nam Cao”, tổ KHXH trường cấp 2 Nhân Hậu, Lý Nhân, Hà Nam đã được những người bạn đồng môn, đồng hương; anh em ruột thịt… của nhà văn Nam Cao kể cho nghe chuyện nhà văn Nam Cao chọn bút danh.Ông Trần Hữu Đạt (em ruột nhà văn Nam Cao) kể: Rất nhiều bạn đồng môn, đồng hữu như ông Hoàng Tùng, Hoàng Cao và một số người có dịp gặp nhà văn đều gạn hỏi: Cớ sao ông lại lấy bút danh Nam Cao? Nhà văn tủm tỉm:

- Làng mình đã có hai ông hoàng rồi (ý nói Hoàng Tùng, Hoàng Cao lúc ấy đang giữ trọng trách trong Đảng và quân đội). Còn mình thì võ dốt lắm.

Ông Hoàng Cao - bạn thân và cũng là người họ hàng với nhà văn nhớ lại: Lúc chia tay, mỗi người một hướng đánh giặc. Nam Cao tâm sự với Hoàng Cao:

“Chúng mình là con trai làng Đại Hoàng, trai Lý Nhân, trai Nam Sang, đi đâu, làm gì cũng phải xứng danh là trai Nam Sang nhé! Các cậu là Hoàng thì phải Huy Hoàng, Đại Hoàng nhé!”.

Ông Hoàng Cao nhớ rõ: Nhiều lần ông lục tìm các tài liệu, bản thảo còn lại của Nam Cao thì thấy: Bản thảo nào Nam Cao cũng đề rõ ở góc trên, bên trái, trang đầu:

Đại Nam quốc

Hà Nam tỉnh

Nam Sang huyện

Lý Nhân phủ

Cao Đà tổng

Đại Hoàng xã

Các bản thảo đều được nhà văn ghi chữ Nam, có bản lại ghi chữ Cao hoặc Nam Cao ở dưới các hàng chữ trên. Nhưng vẫn không quên ghi rõ tên Trần Hữu Tri (là tên thật của nhà văn) dưới bản thảo.

Theo ông Trần Hữu Đạt, thì anh trai mình lấy bút danh là Nam Cao là do nhà văn ghép chữ đầu tên huyện (Nam) với chữ đầu tên tổng (Cao) để nhớ ơn mảnh đất nơi ông đã sinh thành.

“Nam Cao” còn có ý nghĩa là nước Nam, cao cả, cao sang… nữa. Nam Cao vốn là nhà văn có lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu nhân dân vô cùng sâu sắc.

Nam Cao đã có những trang viết xứng đáng với niềm tin yêu, quý mến của quê hương ông. Bút danh Nam Cao sống mãi và tỏa sáng mãi với các tác phẩm nổi tiếng của nhà văn: Chí Phèo, Lão Hạc, Sống mòn, Đôi mắt…

Nam Cao đã vinh dự được nhận giải thưởng cao quý: Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm 1996. Tên của ông được trân trọng đặt cho 1 đường phố ở Thủ đô Hà Nội.

Tỉnh Hà Nam lấy tên ông đặt cho một vườn hoa – công viên ở giữa lòng thị xã Phủ Lý yêu thương. Huyện Lý Nhân chọn tên ông để đặt tên cho mái trường, nơi hun đúc những tài năng tương lai của đất nước. UBND tỉnh Hà Nam đã chọn tên ông để đặt tên cho Giải báo chí của tỉnh.

Ngoài bút danh Nam Cao, nhà văn còn có một số bút danh khác: Thúy Rư, Nhiêu Khê, Xuân Du…

Theo nhà văn Tô Hoài, Nam Cao ký bút danh Nhiêu Khê là có ý đùa. Còn bút danh Xuân Du mà nhà văn ký dưới các bài thơ của mình là do ông lấy 2 chữ ở đầu câu thơ mà nhà văn và Tô Hoài hồi ấy thường ngâm ngợi:

Xuân du phương thảo địa

Hạ thưởng lục hà trì

Thu ẩm hoàng hoa tửu

Đông ngâm bạch tuyết thi

Tạm dịch:

Mùa xuân chơi miền cỏ non

Mùa hạ tắm hồ sen ngát

Mùa thu uống rượu hoàng hoa

Mùa đông ngâm thơ tuyết trắng

Còn bút danh Thúy Rư thì do nhà văn lấy một số chữ trong tên thật của mình (Trần Hữu Tri) để ghép lại mà thành. Ở đây chữ i đã được thay bằng chữ y.

Hồi hoạt động ở Việt Bắc, Nam Cao còn có tên là Ma Văn Hữu. Nhà văn Tô Hoài lấy tên là Nông Văn Tư. Khi đi công tác, Nam Cao thường mang giấy tờ mang tên Ma Văn Hữu, nghề nghiệp: Dạy bổ túc văn hóa.

Nam Cao cùng Nguyễn Huy Tưởng, trong chuyến đi cuối cùng vào khu Bốn, ra khu Ba, Nam Cao cũng mang theo giấy tờ ghi tên đó.

Hồi Cứu quốc ở Việt Bắc, báo tỉnh Hà Nam, báo Quân khu Ba… Nam Cao làm ca dao còn lấy bút danh Suối Trong.

Trong tất cả các bút danh mà nhà văn đã dùng, Nam Cao là bút danh để lại trong lòng người đọc và nhân dân nhiều kỷ niệm và nhiều ý nghĩa sâu sắc nhất.

Trần Văn Đô
Trường cấp 2 Nhân Hậu, Lý Nhân, Hà Nam ( TIENPHONG)

Thi hào Nguyễn Du viết Truyện Kiều khi nào?

TPCN - Ban đầu người ta tin rằng Truyện Kiều được viết vào khoảng 1813 đến 1820 vì hiểu chữ “hành thế” trong câu: “Du trường ư thi, vưu thiện quốc âm, Thanh sứ hoàn, dĩ Bắc hành thi tập cập Thúy Kiều truyện hành thế” ở Đại Nam chính biên liệt truyện là sáng tác.

Thực ra “hành thế” chỉ có nghĩa là lưu truyền trong đời, tức là được mọi người biết đến. Vả lại, “tận tín thư, bất như vô thư”, không nên quá tin vào sách, GS Đào Duy Anh viết “sách Liệt truyện, tuy là quốc sử, cũng không đủ cho ta tin” (xin xem sách của Đào Duy Anh: Khảo luận về Truyện Thuý Kiều, 1958).

Bởi vì ở đó tên các sách Thuý Kiều truyện và Bắc hành thi tập chỉ là tên gọi tục; chính xác thì hai áng văn này phải được gọi là Đoạn trường tân thanh và Bắc hành tạp lục.

Rất nhiều bằng cứ cho thấy Truyện Kiều được viết trước đó rất lâu.

Chúng tôi sẽ dẫn những bằng cứ này ngược dòng thời gian lùi sâu vào quá khứ.

Học giả Hoàng Xuân Hãn có nhắc đến Phạm Quý Thích là người đầu tiên đề thơ về Kiều trên đường vào Kinh. Ông Vũ Thế Khôi cho biết bài “Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường …” thật ra có tên là Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm có trong tập Lập Trai Tiên sinh di thi tục tập, ký hiệu A 2140.

Mới đây, Hà Thị Tuệ Thành, tiếp tục công việc của ông Vũ Thế Khôi, tìm thấy bài này trong Lập trai Phạm Tiên sinh thi tập, kí hiệu A-400 và qua đó xác định được Phạm Quý Thích viết bài thơ này vào năm 1811 (xin xem bài tham luận tại Hội thảo Quốc tế về chữ Nôm, Huế, 31/5 đến 2/6/2006). Truyện Kiều phải được viết trước đó.

Học giả Hoàng Xuân Hãn đã cho biết: Nguyễn Lượng bị chết vào khoảng 1807. Vì có sự phê bình của ông ấy nên biết rằng Truyện Kiều được viết vào đầu đời Gia Long hoặc trước đời Gia Long (xin xem tạp chí Văn học, số 3-1997). PGS Ngô Đức Thọ thấy Đại Nam nhất thống chí viết Nguyễn Lượng bị chết năm 1807 đúng như Học giả Hoàng Xuân Hãn nói.

Liên quan đến Nguyễn Lượng, gần đây Phan Thanh Sơn và Hà Thị Tuệ Thành nhận thấy trong lời bình bằng chữ Hán của ông có bốn chữ “bách chủng hoan ngu”. Chắc chắn ông không dám viết chữ CHủNG vào thời Nguyễn vì vào năm 1803 Gia long đã có lệnh cấm dùng chữ CHủNG, khi viết phải thay bằng chữ THựC (xin xem tạp chí Văn hóa Nghệ An số 71, 25/2/2006).

Trương Chính nhận xét rằng trong Truyện Kiều có những câu “nghịch ngôn” như:

“Bó thân về với triều đình / Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?”

“Chọc trời khuấy nước mặc dầu/ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” (xin xem tạp chí Văn học số 6 (12/1963).

Những câu này chỉ có thể được sáng tác trước thời Nguyễn.

Ông Nguyễn Khắc Bảo nhận thấy bản Liễu Văn Đường 1871 còn sót các chữ đáng lẽ phải kiêng dưới thời Nguyễn. “Câu 853: Tuồng chi là giống hôi tanh. Câu 1310: Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa.

Câu 2750: Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày. Trong đó những chữ Chủng là tên vua Gia Long hồi nhỏ, và chữ Lan là tên mẹ cả của vua Gia Long tức Huy Gia từ phi” (xin xem tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 6 (56) 2000).

Đến nay, hầu như ai cũng thừa nhận: Truyện Kiều được hoàn thành trước tiên; sau đó Nguyễn Thiện theo văn Kiều mà nhuận sắc Hoa tiên, và cuối cùng Nguyễn Huy Hổ theo văn Hoa tiên mà viết Mai đình mộng ký. Tác phẩm sau cùng hoàn thành vào năm 1809.

Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã chứng minh rằng Hoa tiên, tác phẩm thứ hai được nhuận sắc trong khoảng mười năm cuối thế kỷ 18. Trong Hoa tiên có bài thơ chữ Hán trong đó có chữ CHủNG, tên của Gia Long (xin xem báo Văn nghệ, số 22).

Đây chính là một lý do để ta tin rằng Truyện Kiều, tác phẩm thứ nhất phải được viết trước việc nhuận sắc Hoa tiên vài năm.

Trước đây, nhiều người cho rằng nhờ chuyến đi sứ Nguyễn Du mới được tiếp xúc với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để sau đó viết Truyện Kiều. Điều này không đúng.

Có nhiều giả thuyết về thời điểm Kim Vân Kiều truyện vào nước ta: học giả Hoàng Xuân Hãn đoán rằng có thể do Nguyễn Nễ (có tên là Đề và là anh ruột Nguyễn Du) hoặc Đoàn Nguyễn Tuấn (anh vợ Nguyễn Du) cùng đi sứ thời Tây Sơn, khoảng 1792-1793 mang về.

PGS Thạch Giang lại cho rằng, có thể trong chuyến đi sứ năm 1763, Thám hoa Nguyễn Huy Oánh đã mang Hoa tiên và Kim Vân Kiều truyện từ Trung Quốc về tàng trữ tại Phúc Giang thư viện.

Nhờ đó Nguyễn Huy Hổ có điều kiện đọc Hoa tiên, Nguyễn Du do lui tới Phúc Giang thư viện học tập, nấu sử sôi kinh sớm được đọc Kim Vân Kiều truyện để sáng tác Truyện Kiều.

Song, điều này thì chắc chắn: ở truyện “Liên Hồ quận quân” trong cuốn “Lan Trì kiến văn lục”, viết vào khoảng 1793-1794 của Vũ Trinh, có câu: “Thúy Kiều gieo mình sông lớn”.

Trước năm 1794 Vũ Trinh đã biết đến Kim Vân Kiều truyện. Chắc chắn, Nguyễn Du đã được tiếp cận với Kim Vân Kiều truyện không muộn hơn Vũ Trinh (theo Nguyễn Hoàng Sơn, báo Văn nghệ, số 35+36, 2/9/2004)...

Những chứng cứ trên cho phép ta hình dung:

Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân đã vào nước ta vào những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỷ 18. Nhờ đó Nguyễn Du sớm được đọc và theo đó mà viết Truyện Kiều. Nguyễn Thiện theo văn Kiều mà nhuận sắc Hoa tiên vào mười năm cuối thế kỷ 18.

Nguyễn Huy Hổ theo văn Kiều và văn Hoa tiên mà viết Mai đình mộng ký, hoàn thành vào năm 1809. Như thế Truyện Kiều xong trước việc nhuận sắc Hoa tiên nên phải được viết vào những năm cuối đời Lê đầu đời Tây Sơn, trùng với kết luận của GS Nguyễn Tài Cẩn rút ra được từ việc phát hiện chữ húy thời Lê - Trịnh trong một số bản Kiều Nôm.

Lê Thanh Lân
Ngày 23/7/2006

Roman Polanski và giải thưởng thành tựu trọn đời

Giải thưởng cao quý trên năm nay được Viện Hàn lâm điện ảnh châu Âu trao cho đạo diễn phim huyền thoại Roman Polanski (ảnh). Đạo diễn người Pháp này năm nay 73 tuổi, được đánh giá đã có những đóng góp ấn tượng cho nền điện ảnh thế giới. Ông nổi tiếng với nhiều bộ phim như Rosemary’s Baby, Chinatown và The Pianist (giúp ông đoạt giải Oscar năm 2002). Tác phẩm gây chú ý dư luận đầu tiên của ông là bộ phim “Knife in the Water” năm 1962. Lễ trao giải sẽ được tổ chức vào tháng 12 tới tại Ba Lan, nơi ông trải qua những ngày thơ ấu bất hạnh dưới sự săn lùng của Đức quốc xã. Cùng nhận giải thành tựu trọn đời lần này với ông còn có những tên tuổi nổi tiếng như Sean Connery, Ennio Morricone

Phỏng vấn Nhà văn Mặc Ngôn

* Xin chào nhà văn Mạc Ngôn, nom ông rất khỏe và sáng tác vẫn rất hăng. Không biết ông có đang nghiền ngẫm tác phẩm mới nào không?

- Có chứ. Sáng tác là nguồn sống của tôi, mặc dù phần lớn chúng luôn khiến tôi mệt mỏi vì suy nghĩ và kiệt sức. Tuy nhiên tôi vẫn không thể dứt nổi chúng. Sau cuốn tiểu thuyết mới nhất Mệt mỏi tới chết mà Công ty văn hóa Phương Nam đã mua bản quyền, tôi đang ấp ủ ý tưởng cho một tiểu thuyết khác, dự định năm sau sẽ hoàn tất. Thông thường tôi mất nhiều thời gian suy nghĩ đề tài, sắp xếp mạch nhánh cho câu chuyện trong đầu và tìm tư liệu. Còn thời gian đặt bút viết nhanh lắm. Chẳng hạn như cuốn Mệt mỏi tới chết gồm 49 vạn từ, tôi chỉ viết trong 43 ngày.

* Ông kể câu chuyện gì trong cuốn tiểu thuyết này, thưa ông?

- Đây là cuốn sách đầu tiên tôi viết tay, vứt bỏ máy tính, tổng kết những kinh nghiệm sống mà tôi tích lũy được suốt 43 năm qua. Với kết cấu “sáu đạo luân hồi” mượn dùng từ Phật giáo, tôi viết về câu chuyện một địa chủ bị giết oan, không ngừng luân hồi trong các kiếp nghiệt súc, mãi cuối cùng mới được trở lại thành người.

Tôi dùng đôi mắt của động vật để miêu tả lại những thay đổi của xã hội Trung Quốc suốt 50 năm qua. Nhất là về mối quan hệ giữa nhân dân với đất đai, với thể chế XHCN, về những khó khăn của nông dân và những vấn đề còn tồn tại ở nông thôn sau cải cách ruộng đất. Tóm lại đây là một cuốn sách rất phức tạp nhưng đặc biệt thú vị. Hi vọng độc giả VN cũng yêu thích như các cuốn sách trước.

* Hình như các nhà văn vẫn có thói quen viết đêm?

- Không, tôi viết văn như những người lao động phổ thông, sáng tác ban ngày thôi, ban đêm nghỉ ngơi. Mà thật ra cũng không được nghỉ ngơi đâu. Khi ngủ toàn nằm mơ do đầu óc nghĩ ngợi nhiều quá.

* Mơ lành hay mơ dữ?

- Toàn ác mộng mới khổ chứ. Hơn nửa đời người, tôi toàn sống trong ác mộng đấy, ngủ không bao giờ được ngon giấc. Lúc thì mơ thấy bị người đuổi, đánh, giết, mình cứ ra sức chạy trốn mà người cứ nặng trĩu như khúc gỗ. Nhưng có lúc bí quá lại bay vụt được lên, như là chim vậy, nhìn thấy cả cây cối, nhà cửa bên dưới cũng thú vị lắm.

* Thời gian rỗi ông thường làm gì?

- Cũng ít có thời gian rỗi lắm, nhưng tôi tranh thủ đọc sách hoặc đi tới những vùng mà mình định sử dụng làm chất liệu để quan sát kỹ trước khi viết. Ngoài viết văn, tôi còn tham gia viết chuyên mục trên báo và một số lời giới thiệu cho các nhà văn Trung Quốc trẻ có triển vọng như Trương Duyệt Nhiên...

* Ông thấy dòng văn học Ling Lei thế nào?

- Hậu sinh khả úy, thế hệ sau nhiều điều kiện hơn và năng động hơn lớp chúng tôi. Nhưng ăn nhau ở sức bền và tình yêu với văn học thôi. Những nhà văn trẻ như vậy ngày càng nhiều ở Trung Quốc. Các nhà xuất bản suốt ngày gọi điện nhờ tôi viết lời tựa cho sách. Nhưng tôi không có thời gian đọc sách của họ làm sao viết lời tựa được cơ chứ. Tuy nhiên đó là một dòng văn học sinh động, hiện đại và gửi gắm nhiều khát vọng mới của lớp trẻ. Hi vọng độc giả VN cũng đón nhận các tác phẩm của dòng văn học này.

Nhà văn Mạc Ngôn: Trung thực mới là thứ quý giá của nhà văn

Có thể nói, năm 2003 là năm đại thu hoạch của nhà văn nổi tiếng Trung Quốc Mạc Ngôn. Sinh năm 1955 tại tỉnh Sơn Đông, năm 1980 Mạc Ngôn bắt đầu sáng tác và lần lượt cho ra đời một loạt tiểu thuyết nổi tiếng như Gia đình cao lương đỏ (được chuyển thể thành phim Cao lương đỏ), Bạch cẩu thu thiên giá, Phong nhũ phì đồn, Đàn hương hình và gần đây nhất là Bốn mươi phát đại bác. Ông trao đổi cùng giới báo chí về sáng tác, tác phẩm và độc giả:

* Tác phẩm mới Bốn mốt phát đại bác đã lập kỷ lục về số lượng ấn hành và thời gian tiêu thụ. Xin cho biết động cơ khiến ông sáng tác tiểu thuyết này?

- Đông cơ để viết ư? Một vấn đề phức tạp. Tôi có cảm giác mình như con gà mái đến kỳ đẻ trứng, chín quả nào thì đẻ quả đó vậy. Nói thế có phần thô thiển, song trong phần bút ký sau tiểu thuyết này tôi cũng đã nói rằng, viết tiểu thuyết cũng chẳng quá phức tạp, càng không có gì là thần thánh. Suy cho cùng chỉ đơn thuần là tự truyện. Tự truyện là bản chất của tiểu thuyết.

* Theo ông, thế nào là một tiểu thuyết hay?

- Mỗi tác phẩm đều có những mặt tốt, xấu. Ngay cả tác giả được giải thì vẫn có người cho là "không ngửi được". Tác phẩm của tôi cũng vậy, có người nhận xét là tinh túy của văn học nhưng có người cho là quá tồi, đó cũng là chuyện thường tình.

Tuy nhiên, đã là tiểu thuyết thì ít nhất về ngôn ngữ phải khác với tác phẩm trước đó, cốt truyện không thể là sự lặp lại và quan trọng hơn cả là phải độc đáo. Còn độc giả dù chê hay khen đều là sự cổ vũ khích lệ đối với nhà văn.

* Có nhiều nhận xét rằng, hầu hết các tiểu thuyết của ông đều vượt ra ngoài cuộc sống thực tại?

- Nếu tiểu thuyết cứ theo lối mòn phản ánh cuộc sống hiện thực sẽ chuẩn xác hơn nhiều. Vì vậy tiểu thuyết bắt nguồn từ cuộc sống, song phải vượt ra khỏi cuộc sống hiện thực, phải mang chút lãng mạn và tưởng tượng. Như vậy sẽ đem đến cho độc giả những gì vừa như rất quen song lại cũng rất lạ. Mỗi khi viết, tôi đều gây dựng tưởng tượng trên nền móng hiện thực.

* Ông nghĩ gì về độc giả mỗi khi sáng tác?

- Cảm ơn những người đã mến mộ và tìm đọc tác phẩm của tôi. Song thú thực, trước khi sáng tác, tôi không bao giờ nghĩ rằng mình sáng tác vì những người cụ thể nào đó. Thực tế, làm sao tôi tôi có thể biết được mình viết vì những độc giả nào. Độc giả luôn là ẩn số.

* Hiện nay, khó khăn nhất mà ông gặp phải trong sáng tác là gì vậy?

- Càng viết nhiều càng thấy khó, bởi vì không nhà văn nào muốn lặp lại chính mình. Nói cách khác, khó nhất là thoát khỏi quá khứ, mở ra tương lai và theo kịp thời đại.

* Là nhà văn, ông nhìn nhận thế nào về văn học Trung Quốc hiện nay?

- Khá tuyệt vời đấy chứ. Nhìn lại những năm 80 của thế kỷn 20, văn học lúc đó có lẫn nhiều thứ phi văn học, chắc do nguyên nhân lịch sử. Còn hôm nay đã thuần túy, đa dạng hơn nhiều, thể loại cũng nhiều hơn và hướng phát triển tốt hơn.

* Ông nghĩ thế nào về các giải thưởng văn học và những vinh dự cá nhân?

- Với tôi, đó không là những gì quan trọng. Trung thực mới là thứ quý giá của nhà văn, vì nó là vấn đề đạo đức và cái gốc làm người. Về các giải thưởng, tôi cũng đã từng nhận giải, thậm chí cả của nước ngoài. Song với tôi, việc được giải chẳng nói lên điều gì, bởi văn học khác xa các lĩnh vực khác, một tác phẩm được giải không có nghĩa đó là tác phẩm thành công của nhà văn. Tôi hay tin vào số mệnh, và tiểu thuyết cũng có số mệnh.

* Ông từng nói, thiên hướng của ông là "lấy không có tư tưởng làm vinh", đặc biệt khi viết tiểu thuyết...

- Cái tôi gọi là "không có tư tưởng của tôi" tức là trong tiểu thuyết, nhà văn không được lấy tư tưởng của mình để áp đặt cho nhân vật, nhân vật phải theo logic của cốt truyện, bằng không sẽ phá vỡ tính khách quan của tiểu thuyết. Mặc dù trong tiểu thuyết tôi viết ra vẫn mang cách nghĩ của tôi, song chỉ dừng lại ở cách nghĩ thôi, chứ không thể phát triển thành tư tưởng. Tôi không thích những người cố tình biến những đạo lý giản đơn thanh những gì huyễn hoặc và khó hiểu, tư tưởng kiểu vậy thà chẳng có còn hơn.

* Ông có thể tiết lộ đôi điều về kế hoạch tới đây của mình không?

- Có rất nhiều, song nếu nói ra sẽ chẳng còn ý nghĩa nữa. Một điều chắc chắn là tôi đang làm những gì tôi muốn, mà với cá nhân tôi đó là điều hạnh phúc. Tôi hy vọng sẽ tạo dựng một kiểu kiến trúc mang ý nghĩa tiêu chí trong mảnh vườn văn học của mình.

Nhà văn Mạc Ngôn: "Làng quê là báu vật của tôi"

"...Cái ập vào đầu óc tôi lại toàn là tình cảnh quê hương. Kỳ thực, cùng với lúc tôi đang gắng sức rời xa quê hương, cũng từng bước tôi nhích lại quê hương một cách vô thức" - Nhà văn nổi tiếng Trung Quốc Mạc Ngôn trò chuyện trong cuộc phỏng vấn mới đây.

* Trong những tác phẩm của ông, người đọc dễ dàng nhận thấy hơi hướng nồng nặc của đất quê, và mối tình sâu đậm không thể tan chảy giữa ông với "huyết địa" làng Đông Bắc, Cao Mật. Cũng do vậy, giới bình luận văn học đã gọi ông là "vị hoàng đế khai phá trời đất của làng Đông Bắc Cao Mật"?

- Phải đấy, chính trong truyện ngắn Cây đu bạch cẩu, lần đầu tiên tôi dò dẫm để giương ra cờ hiệu "làng Đông Bắc Cao Mật", và từ đó bắt đầu cuộc sinh nhai văn học quần tụ sơn hà, tung hoành ngang dọc. Tôi đã trở thành vị hoàng đế khai thiên lập địa của văn học "làng Đông Bắc, để được tha hồ hò hét hạ lệnh, muốn ai chết là chết, để ai sống được sống, hưởng đủ cái lạc thú làm vua một vùng. Nào dương cầm, nào bom nguyên tử, nào bánh mì, thằng Tây rởm, cha cố thật... tôi đem nhét tuốt vào trong cánh đồng cao lương.

* Có một nhà văn từng nói: Tiểu thuyết của Mạc Ngôn đều được moi ra từ chiếc bao tải rách của cái làng Đông Bắc, Cao Mật ấy?

- Ông ta nói thế cốt nhằm chế giễu tôi, nhưng tôi lại coi sự giễu cợt này là lời khen ngợi tối cao với mình. Chiếc bao tải này thực sự là của báu, cho tay vào moi mạnh một cái, ra được bộ tiểu thuyết, moi nhẹ một tí, ra ngay cái truyện vừa, nếu chỉ thò ngón tay vào nhón một cái, cũng gắp ra được dăm ba truyện ngắn..

Hơn 20 năm trước, khi mới bắt đầu viết, tôi không hề biết rằng làng Đông Bắc quan trọng đến thế nào với mình. Lúc đầu chỉ định viết truyện ngắn về đề tài quân ngũ với bối cảnh hải đảo, thế nhưng cái ập vào đầu óc tôi lại toàn là tình cảnh quê hương. Đất đai quê hương, dòng sông quê hương, cây trồng quê hương giống như ảo ảnh trên biển, chúng hiện ra trước mặt như lớp sóng xô.

Lúc ấy tôi cố gắng chống chế lại những cám dỗ máu thịt của quê hương đối với mình để viết về biển cả. Nặn mãi rồi cũng cho ra vài truyện ngắn kiểu này, nhưng nhìn vào đã biết ngay của rởm. Những thứ tôi mô tả không liên quan gì đến tình cảm trong tôi. Tôi không yêu, cũng chẳng ghét chúng. Mấy năm sau đấy tôi vẫn giữ khư khư thái độ chống chế lại quê hương cực kỳ sai lầm ấy.

Giống như gái thuyền chài có bàn chân ngón xòe, trai nhà nông có cặp chân vòng kiềng, cái thằng nhà quê đặc mãi đến năm 20 tuổi mới rời làng quê như tôi có hóa trang đến đâu cũng không thể giống nổi chàng công tử tao nhã. Truyện ngắn của tôi có đeo cho nó hoa gì đi nữa, thì nó vẫn cứ là truyện củ khoai. Kỳ thực, cùng với lúc tôi đang gắng sức rời xa quê hương, cũng từng bước tôi nhích lại quê hương một cách vô thức.

* Một nhà văn khó chạy trốn khỏi những từng trải của bản thân, mà khó trốn thoát nhất là những từng trải từ quê hương. Chính ông đã nói điều này?

- Nói chung, nhà văn rất ít sử dụng nguyên xi những từng trải của mình, trừ phi bản thân từng trải này đã khá là hoàn chỉnh. Ở vấn đề này, mối quan hệ giữa quê hương với sáng tác không quá quan trọng. Bởi nhiều nhà văn sau khi chạy trốn khỏi quê hương, có thể họ đã trải qua những chuyện kinh hồn. Nhưng với cá nhân tôi, những nếm trải sau khi rời khỏi quê hương chỉ là bình lặng và đạm bạc, bởi vậy tôi đặc biệt xem trọng cảm xúc có từ quê hương. Trong các tác phẩm của mình, chỉ có truyện ngắn Dòng sông khô cạn và truyện vừa Củ cà rốt trong suốt là tôi sử dụng trực tiếp những cảm xúc và ký ức làng quê.

Năm 2003: Một năm đại thu hoạch của Mạc Ngôn

Bắt đầu là tiểu thuyết mới Bốn mốt phát đại bác - NXB Văn nghệ Xuân Phong (Thành Đô) và NXB Hồng Phạm (Đài Loan) đồng ấn hành hồi tháng bảy đã lập kỷ lục về số lượng và thời gian tiêu thụ (riêng NXB Xuân Phong là 150.000 cuốn, bán trong 10 ngày đã hết sạch).

Tiếp đến là Bạch cẩu thu thiên giá chuyển thể thành phim Sưởi ấm đoạt giải Kim Kỳ Lân với số tiền thưởng là 80.000 USD tại LHP quốc tế Tokyo đầu tháng 11 và còn được đề cử cho 7 giải khác tại giải Kim kê Trung Quốc diễn ra trong cùng thời gian.

Đặc biệt, trong số 23 tác phẩm văn học bình chọn trao giải Mao Thuẫn lần thứ sáu vào năm tới (giải văn học danh giá nhất của TQ tổ chức 4 năm một lần) vừa công bố thì tiểu thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn xếp vị trí số một với 100% phiếu thuận

Theo Tiền Phong

Thành Kính Phân Ưu

Rất xúc động hay tin Hiền Thê của Thi Nhạc Sĩ Hoàng Thy Trần Triệu Đông là Chị:

Maria Trần Hoàng Yến

đã từ trần lúc 7:35 sáng ngày Thứ Năm 5 tháng 9, năm 2006
tại San Diego, California

Hưởng Dương 51 tuổi

Xin thành thật chia buồn cùng anh Hoàng Thy và tang quyến.
Nguyện cầu linh hồn Maria sớm về hưởng nhan Thánh Chúa.

***
Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp, Lê Hữu Mục, Nguyễn Thanh Liêm, Vũ Hối, Cao Tiêu, Tạ Xuân Thạc, Ðào Vũ Anh Hùng, Nguyễn Đức Nam, Lê Mộng Nguyên, Nam Lộc, Kỳ Phát,
Phạm Anh Dũng, Trần Văn Khanh, Trần Văn Lương, Nguyễn Tuấn, Nhật Vũ, Vũ Hữu Toàn, Nguyễn Đăng Tuấn, Trần Quang Hải, Bạch Yến, Mai Đức Vinh, Nguyễn Minh Châu, Phan Anh Dũng, Nguyễn Toàn, Nguyễn Vy Khanh, Trần Thy Vân, Yên Sơn, Hạo Nhiên, Nhược Thu, Phan Diên, Mạc Giao, Hoàng Ngọc Liên, Trần Nhất Lang, Vũ Tiến Thăng, Bùi Thanh Mai, Mimi Nguyễn, Bạch Hạc,Tiểu Thu, Đạm Thủy, Minh Hồ Đào, Thụy Mi, Mỹ Ngọc, Bình Nhung, Diễm Châu-ViVi, Chu Bá Yến, Hà Phương Hoài, Hồng Vũ Lan Nhi, Bích Huyền, Uyển Diễm, Linh Vang, Kim Nguyên, Đồng Văn, Ðỗ Tiến Ðức, Mai Thanh Truyết, Lê Tấn Trạng, Khiếu Long, Trần Quốc Sỹ, Nguyễn Sử, Nguyễn Ngọc Chấn, Vương Trùng Dương, Dương Viết Ðiển, HuyPhương, Vũ Thư Nguyên, Cát Biển, Quan Dương, Lê Ngọc Trùng Dương, Lê Kim Phương, Lê Kim Anh, Bích Ty, Tâm Thuận, Kim Oanh, Vũ Hoài Mỹ, Hoàng Huy Giang, Hương Kiều Loan, Ngọc Mai, Ngọc Thủy,Ngọc Ánh, Quỳnh Hương, Xuân Hương, Diệu Hương, Bích Liên, Thi Hạnh, Đóa Hoa Hồng, Tâm Vô Lệ, Quyên Di, LM Trần Cao Tường, Trường Hà, Bùi Ngọc, Đường Sơn, Mạc Phương Ðình, Phan Bá Thụy Dương, Trang Sĩ Phước, Võ Thạnh Văn, Thái Tú Hạp, Ái Cầm, Minh Nguyệt, Đào Anh Dũng, Hạnh Thảo, Bích Phượng Paris, Thụy Vi Paris, Mạc Ly Hương, Lê Anh Dũng, Sông Cửu, Vương Huyền, Phan Bái, Phong Vũ, Chính Nguyễn, Peter Morita, Quang Lâm và Việt Hải,

Thành Kính Phân Ưu

Một công trình sử học mới: Phan Thanh Giản với bản án được tuyên sau cái chết

Giữa trưa đứng bóng một ngày tháng sáu năm 1867, đoàn tàu chiến của Pháp do Đô đốc De la Grandière chỉ huy từ vùng biển phía Nam áp sát vào bờ. Cập bến Vĩnh Long xong, De la Grandière cho mời Phan Thanh Giản lên tàu hội đàm vào ban đêm, rồi bất ngờ đưa quân lên bờ chiếm lấy thành ngay trong đêm ấy (19/6) tiến tới thôn tính luôn hai thành An Giang và Hà Tiên trong các ngày tiếp đó.Sự biến này dẫn đến cái chết của vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Bộ, cũng là vị đại thần có trách nhiệm cao nhất ở ba thành miền Tây vừa rơi vào tay giặc; đó là Kinh lược sứ Nam kỳ: Phan Thanh Giản. Ông tuyệt thực 17 ngày, uống thuốc phiện hòa với giấm thanh để tự vẫn ngày 4/8 năm đó, gửi lại ấn tín, áo mão và tờ sớ tâu về triều đình. Vua Tự Đức xuống chiếu kết tội ông rất nặng và tuyên án: "Tuy đã đắc nhất tử, nhưng cái chết vẫn không đủ che được tội. Vậy Phan Thanh Giản (với Lâm Duy Hiệp) đã quá cố phải bị truy đoạt hết tước hàm, đục bỏ tên trên bia tiến sĩ, để mãi cái án trảm hậu. Giết kẻ đã chết để răn người đời sau vậy".

Việc xảy ra đã 140 năm, nhưng đến nay vẫn đang cần được bổ sung nhiều tư liệu mới để soi sáng và đánh giá công bằng về nhân cách, sự nghiệp và bi kịch cuối đời của Phan Thanh Giản. Trong yêu cầu đó, từ nước Pháp, bà Phan Thị Minh Lễ với sự cho phép của gia đình dòng họ Đô đốc De la Grandière đã may mắn tiếp cận để tra cứu một số hồ sơ cất kỹ chưa hề mở ra xem từ khi đô đốc này qua đời. Nội dung hồ sơ trên với bốn tập thủ bản gồm các thư từ riêng của De la Grandière cho thấy người Pháp rắp tâm chiếm đóng ba tỉnh miền Tây và bí mật sắp đặt như thế nào.

Đó là nguồn tài liệu mới nhất mà bà Minh Lễ, tiến sĩ sử học Đại học Paris VII, đã công bố và kết hợp sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác từ kho lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp (cũng như từ châu bản triều Tự Đức) để cùng giáo sư Pierre Ph.Chanfreau đồng biên khảo công trình: Những năm cuối đời của Phan Thanh Giản, nhà yêu nước và người mở đường cho một nước Việt Nam hiện đại (Phan Thanh Gian, Patriote et Précurseur du Vietnam moderne, ses dernirères années 1862 - 1867) xuất bản tại Pháp cuối năm 2002, song tới nay vẫn chưa được biết đến rộng rãi tại Việt Nam. Mới đây để giới thiệu công trình này, hai tác giả Nguyễn Nghị và Nguyễn Hạnh có bài viết chung in trong cuốn Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản (nhiều tác giả, dày hơn 300 trang, do Tạp chí Xưa và Nay kết hợp NXB Đồng Nai ấn hành tháng 8.2006) đã nhận định rằng, bằng những tư liệu chưa được công bố, TS Minh Lễ và GS Chanfreau đọc lại lịch sử với ánh sáng mới đi đến "minh chứng một cách hùng hồn và đầy thuyết phục Phan Thanh Giản không phải là một kẻ bán nước, phản quốc và phản dân tộc". Đồng thời, có 30 nhà khoa học, chính khách trong và ngoài nước như các vị: Phan Huy Lê, Đinh Xuân Lâm, Chương Thâu, Văn Tạo, Trương Bá Cần, Vũ Ngọc Khánh, Hoàng Như Mai, Nguyễn Phan Quang, Võ Xuân Đàn, Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Khắc Thuần, Trần Viết Ngạc, Sơn Nam, Cao Tự Thanh, Trần Đại Vinh góp bài trong sách để "ghi nhận một chặng đường nhận thức dài cùng những biến thiên của lịch sử đất nước, chân dung Phan học sĩ đang dần trở lại với cái nhìn đầy lòng vị tha truyền thống của người Việt Nam" như lời giới thiệu của nhà sử học Dương Trung Quốc. Giao Hưởng (THANHNIEN)

LỊCH SỬ NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT: Những con đường tiếng Hán đi vào tiếng Việt

Bởi lẽ tự nhiên là "Việt Nam Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông", mà sự tiếp xúc văn hoá - ngôn ngữ giữa hai nước Việt–Trung đã diễn ra từ rất lâu đời và vô cùng sâu đậm. Từ những thế kỉ trước Công nguyên cho đến thế kỉ X là thời kì nước ta chịu sự đô hộ của phong kiến phương Bắc, sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt Hán chủ yếu là thông qua "con đường khẩu ngữ".

Giới quan chức cũng như những người dân thường (đặc biệt là thương nhân) đã sang cai trị và làm ăn sinh sống ở đất Việt, và qua họ người Việt đã thu nạp vào trong tiếng nói của mình không ít những từ ngữ thông thường, mà phần nhiều vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay, như: buồng (房), buồm (帆), đuốc (烛), đũa (箸), mùa (务), múa (舞)... Từ thế kỉ X trở đi, nước ta giành được độc lập, bắt tay vào công cuộc xây nền tự chủ. Trong bước đầu gây dựng đất nước, từ thời Lý–Trần, cha ông chúng ta đã biết dựa vào văn hoá Hán và chữ Hán để đào tạo nhân tài. Trong công cuộc này, người Việt đã ít khi có dịp tiếp xúc trực tiếp với người Trung Hoa, cho nên "con đường khẩu ngữ" đã lùi dần vị thế gần như độc tôn trước đây để nhường chỗ cho "con đường sách vở". Và đây chính là lúc cách đọc chữ Hán ở Việt Nam bắt đầu thoát ly khỏi ngữ âm thực tế của tiếng Hán ở Trung Hoa, dần dần hình thành hệ thống âm Hán Việt. Cũng từ thời trung đại, tiếng Việt và tiếng Hán đều rất gần gũi nhau về mặt loại hình: đều là ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính. Với hai ngôn ngữ cùng chung loại hình, lại có cách đọc Hán Việt hoàn chỉnh như vậy, thì hàng loạt các từ ngữ tiếng Hán đi vào tiếng Việt để làm thành một lớp từ ngữ Hán Việt khá phong phú trong tiếng Việt là điều rất tự nhiên.

Như vậy, từ ngữ Hán Việt đi vào tiếng Việt là qua con đường sách vở và có lẽ chỉ những người có học mới thực sự am hiểu và thường xuyên sử dụng. Còn đại đa số người dân thất học, những người nông dân chân lấm tay bùn, thì họ chỉ có thể nắm biết được một ít những từ Hán Việt đơn tiết thông thường (như: thiên (天), địa (地), quỷ (鬼), thần(神), cúng 供, tế (祭),...), những từ Hán Việt đã Việt hoá triệt để đôi khi cả về mặt ngữ âm, được gọi là từ ngữ "Hậu Hán Việt" (như: gan (胆), gương (镜), rồng (龙), rạng (朗), vạch (划), vẽ (画), ...), những từ gốc Hán từ trước khi hình thành âm Hán Việt, được gọi là từ ngữ "Tiền Hán Việt" (như đã dẫn ở trên: buồng (房), buồm (帆), đuốc (烛), đũa (箸), mùa (务), múa (舞),...) và cả những từ đi vào tiếng Việt theo con đường khẩu ngữ từ bà con Hoa kiều ở thời hiện đại (như: vằn thắn, tào phớ, phá xang, tổ tôm, tài xế, mì chính). Chỉ từ sau Cách mạng Tháng Tám, những người nông dân mù chữ ấy mới có dịp học hành, mới có dịp tham gia vào các sinh hoạt đoàn thể, sinh hoạt xã hội, khi ấy họ mới có dịp tiếp xúc với những từ Hán Việt đánh dấu cho sự khởi đầu cuộc sống mới của họ: "Có khai hội, yêu cầu, chất vấn. Có mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa" (như nhà thơ Hồng Nguyên đã ghi lại trong bài Nhớ). Nhờ vậy, từ Hán Việt chẳng những không bị bài trừ, mà còn có cơ hội phát triển thêm lên.

Trong đời sống ngôn ngữ hôm nay ở Việt Nam, dường như đã và đang có một xu hướng khác rất đáng ghi nhận. Đó là ngày càng xuất hiện nhiều hơn những từ ngữ Hán Việt tự tạo (nội sinh), tức là những từ ngữ được chính người Việt tạo ra trên cơ sở vốn liếng đã có từ cha ông để lại – những ngữ tố gốc Hán đọc với âm Hán Việt. Đó là trường hợp của những từ ngữ như: sơ tán, di tản, cư xá, tiếp viên, tiếp thị, hội nhập, hội thảo, hội chứng, lập trình, ứng viên, ứng xử, cư xá,.... Những từ ngữ như vậy, tuy có thể "phiên chuyển" thành chữ Hán như: 初散,移散,接员,接市,会入,会讨,会症,立程,应员,应处,居舍... nhưng trong một số từ điển tiếng Hán hiện đại như Từ điển Hán ngữ hiện đại (现代汉语词典), Từ điển quy phạm Hán ngữ hiện đại (现代汉语规范词典) đều không hề tìm thấy chúng. Đó chính là sản phẩm của người Việt một khi họ thực sự làm chủ cái vốn ngữ tố Hán Việt cơ bản từ lâu đã có cuộc sống riêng trong tiếng Việt. Một đôi khi chính những từ ngữ Hán Việt nội sinh này đã đẩy lùi những từ ngữ Hán Việt nguyên ngữ đã một thời vang bóng trước đây, như hội thảo đã thay thế hẳn khai hội (开会), và phần nào thay thế cho hội nghị (会议). Tuy nhiên, cũng không nên nghĩ rằng ngày nay không còn dịp để mượn từ Hán Việt "nguyên khối" từ tiếng Hán. Chẳng hạn, gần đây Bộ Giáo dục đã cho thành lập Cục Khảo thí và Kiểm tra chất lượng giáo dục, trong tên gọi đó có từ Hán Việt "nguyên khối" khảo thí(考试), chứ không phải là từ Hán Việt tự tạo thi cử.

Trong khoảng một hai chục năm gần đây, có một con đường mới hẳn đang hình thành để từ ngữ tiếng Hán đi vào sách báo tiếng Việt. Đó là "con đường dùng phiên âm" dựa theo "phiên âm tự mẫu" của tiếng Hán. "Phiên âm tự mẫu" là bộ chữ cái Latin dùng để chú âm (phổ thông) cho chữ Hán, được Chính phủ Trung Quốc công bố năm 1958. Hiện nay, bộ chữ cái này đã được sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc cũng như trên quốc tế, khi có nhu cầu ghi âm cho các chữ Hán, đặc biệt là dùng cho nhân danh, địa danh, tên các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, bộ môn, các sản phẩm và tác phẩm v.v... Chữ Quốc ngữ của ta cũng là một thứ chữ ghi âm theo chữ cái Latin, cho nên việc tiếp nhận các từ ngữ Hán vào văn bản Việt dưới hình thức "phiên âm tự mẫu" là việc quá ư thuận lợi. Qua khảo sát bước đầu của chúng tôi trên một vài tờ báo ở Hà Nội (báo "Thể thao và Văn hoá) và Thành phố Hồ Chí Minh (báo "Thanh niên") trên các số phát hành gần đây (tháng 2 và tháng 3/2006), xin nêu một vài thí dụ như sau:

"Với số dân 60.000 người, nằm cách thành phố Thượng Hải khoảng 130 km về phía bắc, làng Huaxi thuộc tỉnh Giang Tô là niềm mơ ước của nhiều người. Thứ đồ trang trí đẹp nhất, giá trị nhất cho những con đường làng ở Huaxi chính là hình ảnh những nụ cười rạng rỡ của người dân nơi đây..." (trong bài "Thiên đường" ở Trung Quốc, báo Thanh Niên, số 87, thứ ba, 28/3/2006).

"Người đề ra công thức này không ai khác chính là vị cựu trưởng làng Wu Renbao..." (trong bài "Thiên đường" ở Trung Quốc, báo Thanh Niên, số 87, thứ ba ngày 28/3/2006).

"Đối với người dân Wuli, một ngôi làng ở miền đông Trung Quốc, ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước chẳng phải chỉ là chuyện trên bàn giấy..." (trong bài Làng ung thư ở Trung Quốc, báo Thanh Niên, số 80, thứ ba, ngày 21/3/2006).

"Tây An, thành phố lịch sử nổi tiếng thuộc tỉnh Thiểm Tây, tây bắc Trung Quốc, hiện đang tìm kiếm vốn cho chu kì trùng tu mới tại khu lăng mộ của Hoàng đế, nhà cai trị huyền thoại của Trung Quốc, toạ lạc trên đồi Qiaoshan ở huyện Huangling..." (trong bài "Tây An tìm tài trợ trùng tu mộ Hoàng đế Tần Thuỷ Hoàng, báo Thể thao và Văn hoá, số 36, thứ bảy, ngày 25/3/2006).

"Giáo sư He Weifang thuộc khoa Luật của Đại học Bắc Kinh cho biết tình trạng trên xảy ra tại hầu hết các đại học danh tiếng của nước này..." (trong bài Trung Quốc: 60% tiến sĩ đạo văn, báo Thanh Niên, số 75, thứ năm, ngày 16/3/2006).

"Trong số các quan tham bị sa lưới có cựu giám đốc một chi nhánh của Công ti điện lực Chuanhong ở tỉnh Tứ Xuyên, ..." (trong bài Trung Quốc: bắt giữ hơn 400 quan tham bỏ trốn, báo Thanh Niên, số 85, chủ nhật, ngày 26/3/2006).

"Được biết trong dịp Tết vừa qua, các thành viên của đoàn xiếc (gồm Wang Ji Feng, Chen Dao Mei, Jiao Shi Guo, Sun Hua Dong, Liu Jian Nan...) đã được người xem đón nhận nông nhiệt, đặc biệt là các khán giả nhí..." (trong bài Đoàn xiếc mô tô bay Vương Trung Vương (Trung Quốc) đã "đáp" về Thảo Cầm Viên Sài Gòn, báo Thanh Niên, số 72, thứ hai, ngày 13/3/2006).

"Dạ Yến sẽ nằm trong cuộc tranh đua giành đề cử Oscar năm sau", Wang Zhonglei, Giám đốc công ti Huayi Brothers, nơi sản xuất bộ phim, cho biết..." (trong bài Phùng Tiểu Cương hi vọng được đề cử giải Oscar năm sau với Dạ Yến, báo Thể thao và Văn hoá, số 22, thứ ba, ngày 21/2/2006).

Như vậy, chỉ lướt qua gần chục bài báo có nội dung liên quan đến Trung Quốc, thì ta đã gặp hàng chục những từ ngữ tiếng Hán dưới dạng phiên âm bằng chữ cái Latin. Điều này chứng tỏ rằng, tiếng Hán đang du nhập vào tiếng Việt một cách khá "rôm rả" qua "bộ áo" phiên âm. Vì sao vậy? Theo chúng tôi quan sát, thì không phải bất kì bài báo tiếng Việt nào viết về Trung Quốc cũng có "tài liệu nguồn" là tiếng Hán, tức là bản nguyên văn của chúng đã được viết bằng ngôn ngữ có chữ viết Latin, như tiếng Anh, tiếng Pháp... Nếu đã như vậy, thì dịch giả (biết hay không biết tiếng Hán) không còn cách nào khác là "bê nguyên xi" những cụm từ ngữ dạng phiên âm đó, vừa thuận tiện, lại bảo đảm được độ chính xác, trung thực của bài báo. Hay ngay cả khi "tài liệu nguồn" được viết chính bằng tiếng Hán, và người viết tin tiếng Việt (cũng là dịch giả) đương nhiên là biết tiếng Hán, thì việc xuất hiện các từ ngữ tiếng Hán dưới dạng phiên âm cũng không phải là không phổ biến. Bởi đâu phải bất kì người dịch nào cũng thông thạo cách đọc Hán Việt, để có thể ngay tức khắc, phiên chuyển những danh từ tiếng Hán ấy ra âm Hán Việt. Muốn làm được thế, họ phải mất thời gian tra cứu, mà xem ra cũng không thực sự cần thiết. Vậy thì, chi bằng cứ theo âm đọc mà phiên viết những từ ngữ Hán đó sang văn bản chữ Việt, cũng rất là thuận tiện, lại không kém phần chính xác. Nói như vậy không có nghĩa là những danh từ riêng tiếng Hán được viết theo âm Hán Việt đã hoàn toàn vắng bóng trên mặt báo. Ngược lại, chúng thường xuyên xuất hiện trên báo chí, thậm chí còn xuất hiện đồng thời, trong cùng một bài báo, với những từ ngữ tiếng Hán viết theo lối phiên âm. Chẳng hạn như:

"Những cảnh đấu võ và bay người trên không trung, yếu tố cơ bản đã tạo nên thành công quốc tế cho bộ phim Ngoạ hổ tàng long của đạo diễn Lý An, cũng được đạo diễn Phùng vận dụng triệt để trong Dạ Yến. Và để đạt được điều đó, ông đã phải "cậy nhờ" tới bộ ba góp phần làm nên thành công của Ngoạ hổ tàng long, gồm chuyên gia võ thuật Yuen Woo Ping, nhà soạn nhạc Tan Dun và đạo diễn nghệ thuật Tim Yip...Vai nữ chính trong phim vẫn được giao cho Chương Tử Di..." (trong bài Phùng Tiểu Cường hy vọng được đề cử Oscar năm sau với Dạ Yến, báo Thể thao và Văn hoá, số 22, thứ ba, ngày 21/2/2006).

"Liang Liang, nhà phê bình phim Đài Loan, thì nhận định, chiến thắng của Lý An có thể sẽ là nguồn cảm hứng cho nhiều đạo diễn châu Á muốn thử vận may ở Hollywood,..." (trong bài Sau giải Oscar của Lý An, Hollywood không ưu ái hơn với các đao diễn châu Á, báo Thể thao và Văn hoá, số 29, thứ sáu, ngày 10/3/2006).

"Những ai muốn khám phá về các màn xiếc độc đáo của nhân vật dặc biệt Liu Jian Nan cũng như của đoàn xiếc Vương Trung Vương có thể đến Thảo Cầm Viên vào khoảng thời gian từ 17–22 giờ mỗi ngày để thưởng thức." (trong bài Đoàn xiếc mô tô bay Vương Trung Vương (Trung Quốc) đã "đáp" về Thảo Cầm Viên Sài Gòn, báo Thanh Niên, số 72, thứ hai, ngày 13/3/2006).

Từ những thí dụ trên, ta thấy rằng, những từ ngữ tiếng Hán được phiên ra âm Hán Việt hầu như đều là những từ ngữ quá đỗi quen thuộc với độc giả Việt Nam. Chẳng hạn như: Ngoạ hổ tàng long, Lý An, Chương Tử Di,... Thượng Hải, Tây An, Thiểm Tây, Tứ Xuyên,... Khi gặp các từ ngữ này, dù là ở dạng phiên âm trong văn bản ngoài chữ Hán, thì dịch giả, với vốn âm Hán Việt nào đó đã nằm lòng, vẫn thích đưa chúng quay trở về dạng từ ngữ Hán Việt đã quen thuộc đối với người Việt Nam. Và rõ ràng, khi tiếp xúc với những từ ngữ Hán Việt này, độc giả Việt Nam sẽ thấy gần gũi hơn rất nhiều so với những từ ngữ tiếng Hán viết theo lối phiên âm tự mẫu.

Ngoài ra, có một điều cần nói thêm rằng, trong những năm gần đây, không chỉ trên mặt báo, mà còn trên truyền hình hay trong những câu chuyện đời thường của người dân Việt Nam, ta vẫn thường nhìn thấy, nghe thấy những từ ngữ tiếng Hán vô cùng quen thuộc như wushu, sanshou, hay gần đây nhất là gongfu (trong bộ phim võ hiệp nổi tiếng của Trung Quốc – Gongfu – 功夫). Đây đều là những từ ngữ tiếng Hán chỉ các bộ môn võ thuật của Trung Quốc, đó là 武术,散手,功夫. Điều đáng chú ý là trong khi sanshou và gongfu còn được nhắc đến cả dưới dạng âm Hán Việt là tán thủ và công phu, thì ta không hề thấy wushu xuất hiện dưới hình thức âm Hán Việt tương ứng với nó là võ thuật. Nhất định phải gọi môn võ này là wushu theo chữ cái phiên âm. Bởi lẽ, trong tiếng Việt, võ thuật từ lâu đã là một danh từ chung dùng để chỉ các môn phái võ nghệ, chứ không phải đặc chỉ môn phái wushu với những đặc điểm riêng của nó. Vậy là, trong trường hợp này, con đường du nhập của từ ngữ tiếng Hán theo lối phiên âm tự mẫu đã phát huy thêm một tác dụng quan trọng nữa, nó giúp ta khu biệt danh từ chỉ một môn võ cụ thể với một danh từ chỉ võ nghệ nói chung.

Như vậy là, từ ngữ tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt cho dù là bằng con đường khẩu ngữ, con đường sách vở hay là dạng phiên âm theo tự mẫu, thì từ thời xa xưa cho đến thời hiện đại cũng đều hết sức mạnh mẽ và bền bỉ. Cùng với sự trôi đi của thời gian, khi mà tình trạng cộng cư của người Hoa và người Việt không còn vị thế nổi bật trong sinh hoạt kinh tế thời hiện đại, khi mà tầng lớp nho sĩ am hiểu âm Hán Việt thưa thớt dần, thì sự du nhập của từ ngữ tiếng Hán vào tiếng Việt theo con đường khẩu ngữ hoặc con đường phiên âm Hán Việt sẽ không còn đậm nét như trong quá khứ nữa. Bù lại, xu hướng sử dụng ngữ tố Hán Việt để tạo từ mới ngày càng được hưởng ứng, và một con đường mới mẻ cho sự du nhập từ ngữ tiếng Hán vào tiếng Việt – con đường dùng "phiên âm tự mẫu" đang hình thành. Trên con đường mới mẻ này, số phận của các từ ngữ Hán phiên âm trong văn bản Việt sẽ ra sao? Chắc chắn chúng sẽ vấp phải không ít khó khăn để được tiếp nhận, song triển vọng của chúng cũng khá rõ ràng, vì sự tiện lợi và cần thiết của chúng ở những tình cảnh nhất định là không thể phủ nhận.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lý Hành Kiện (chủ biên). Xiandai Hanyu Guifan Cidian (现代汉语规范词典). Nxb Ngoại ngữ Giáo học dữ Nghiên cứu & Nxb Ngoại văn, Bắc Kinh, 2004.
Nguyễn Tài Cẩn. Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt (tái bản có sửa chữa). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.
Nguyễn Quang Hồng. Âm tiết và loại hình ngôn ngữ (tái bản). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.
Nguyễn Quang Hồng. Giữ gìn và phát triển tiếng Việt, ngôn ngữ chung của các dân tộc Việt Nam. Tạp chí "Ngôn ngữ & Đời sống", số 1+2/2004.
Phòng Từ điển Viện Ngôn ngữ học Trung Quốc biên soạn (tu đính bản). Xiandai Hanyu Cidian (现代汉语词典). Nhà in Thương Vụ, Bắc Kinh, 1999.

Theo Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 5/2006, trang 34–37

Vĩnh biệt thi sĩ Hoàng Anh Tuấn

Tôi kiếm hồn tôi xưa. Hà Nội
Thuở còn trong vắt gió vào Thu
Thoảng nghe ngọt tiếng cô hàng cốm
Chênh vênh đâu cuối phố Sinh Từ
Hoàng Anh Tuấn (phải) còn là tác giả của các vở kịch như Ly Nước Lọc, Hà Nội 48, phim Ngàn Năm Mây Bay, Xa Lộ Không Đèn…

Đó là những vần thơ trác tuyệt của thi sĩ Hoàng Anh Tuấn.

Ông vừa ra đi lúc 8 giờ sáng ngày 1 tháng 9 năm 2006 tại viện dưỡng lão Mission De La Casa, thành phố San Jose-California.Hưởng thọ 74 tuổi.

Hoàng Anh Tuấn sinh ngày 7-5-1932 tại Hà Nội. Ngoài làm thơ, viết văn, viết kịch với những vở kịch như: Ly Nước Lọc, Hà Nội 48, ông còn là đạo diễn điện ảnh với những phim: Ngàn Năm Mây Bay, Xa Lộ Không Đèn…

Năm 1949 ông du học bên Pháp và lập gia đình tại đó, vợ ông là bà Ngô Thị Liên.

Hai người có với nhau sáu người con là: Hoàng Hôn Thắm, Hoàng Ánh Thép, Hoàng Thu Thuyền, Hoàng Hương Thao, Hoàng Mạc Tiên, và cô gái út là Hoàng Thái Trang kết duyên cùng anh Trần Văn Học, con trai của cố thi sĩ Nguyên Sa.

Thời gian sau này ông sống chung với bà Khương Thị Phương Trâm.

Suốt thời gian ông bị bệnh bà Trâm là người cận kề chăm sóc ông.

Về nước thành danh

Năm 1958 thi sĩ Hoàng Anh Tuấn về Việt Nam cộng tác với các tạp chí văn nghệ, cùng nhiều tuần báo và nhật báo ở Sàigòn.

Ông là một trong những thi sĩ được cố nhà văn Mai Thảo yêu mến nhất.

Trước đó, mặc dù ông chưa có một thi phẩm nào ấn hành nhưng thơ của ông rất được mọi người yêu mến và nhìn nhận ở ông là một tài thơ lớn. Với Hoàng Anh Tuấn lúc nào cũng là bạn hữu. Tính ông thích bông đùa. Người lớn tuổi hoặc nhỏ tuổi hơn ông cũng xưng hô với nhau là 'tao-mày'.

Nữ tài tử Kiều Chinh hay gọi đùa ông là đạo diễn 'trẻ mãi không già'. Thi sĩ Du Tử Lê gọi ông là 'Châu Bá Thông'. Còn tôi, thân mến gọi anh là 'Hoàng Công Tử'.Hoàng Anh Tuấn là một trường hợp vô cùng đặc biệt. Chưa có tác phẩm nhưng lại vô cùng nổi tiếng.

Người ta biết nhiều đến ông qua bản nhạc: 'Mưa Sàigòn, Mưa Hà Nội' viết chung với cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương trên một căn gác ở Sài Gòn. Những năm gần đây, nhạc sĩ Phan Nguyên Anh phổ nhạc bài thơ 'Yêu Em Hà Nội' của ông được ca sĩ Như Mai trình bày rất xuất sắc.

Năm 1965 ông làm quản đốc đài phát thanh Đà Lạt cho đến năm 1975.

Năm 1979 thì ông được qua Pháp.

Năm 1981 ông định cư tại Mỹ.

Năm 1987 ông lên San Jose để sống và làm việc với tôi. Ông xem tôi như người bạn vong niên của ông.

Hai anh em sống gần nhau trong một căn phòng nhỏ trên đường số 19, San Jose.

Năm 1988, ông cùng với ca sĩ Mai Hân chủ trương tờ báo 'Thung Lũng Tình Yêu', một vài tháng sau tờ báo này đình bản. Sau đó, tôi chuyển giao vai trò chủ bút tuần báo Yêu thuộc Hệ Thống Truyền Thông Viên Thao để ông và nhà văn Sao Biển phụ trách.

Năm 1992, tôi mời ông làm giám đốc đài phát thanh Sàigòn. Đây là chương trình phát thanh Việt ngữ đầu tiên trên làn sóng AM-1500 tại Hoa Kỳ.

Bị bệnh

Sau một thời gian dài cộng tác với Hệ Thống Truyền Thông Viên Thao đến năm 1998 thì ông bị bệnh, thường hay xỉu nơi làm việc. Chứng bệnh mà ông cũng không hiểu tại sao mỗi ngày bụng và người ông như bị 'trướng'. Ông mập ra nhiều. Tháng 1 năm 2005, bác sĩ phát hiện ông bị ung thư phổi.

Tháng 2 năm 2005, ông được đưa vào viện dưỡng lão Mission De La Casa - San Jose. Thời gian này nhà báo Phạm Huấn (đã mất đầu năm nay) là người bạn tri kỷ nằm cùng phòng với ông.

Tháng 4 năm 2005, người bạn đời sau này của ông là bà Phương Trâm và cô con gái lớn là Hoàng Hôn Thắm cùng với Phạm Hùng tổ chức ra mắt thi phẩm đầu tay 'Yêu Em, Hà Nội và những bài thơ khác' của Hoàng Anh Tuấn tại viện dưỡng lão này.

Buổi ra mắt tập thơ trong một phòng ăn của viện dưỡng lão diễn ra thật xúc động. Giới văn nghệ và bạn bè tham dự rất đông đủ.Hiện giờ linh cữu của ông đã được đưa về nhà quàn OakHill tại San Jose.

Sự ra đi của thi sĩ Hoàng Anh Tuấn đã để lại cho người yêu thơ - bằng hữu những nỗi nhớ và niềm xúc động. ( Đỗ Vẫn TrọnSan Jose - California)

Tuyển tập tiểu luận liên quan đến Nhà văn Trần Mạnh Hảo

Những bài, tài liệu, của ( hoặc liên quan ) đến Nhà văn Dương Thu Hương

(Những bản tin trên chúng tôi trích dịch từ BBC, Tân Hoa Xã, VOA, Reuters, Fox, Vietnamnet, Thanh Niên, Tuổi Trẻ...
Xin cám ơn các nguồn trên đã giúp chúng tôi chuyển gửi tin tức đến độc giả HNPĐ
)

.

Thiên cổ đoạn trường kim nhất tục.
Phiếm Đàm tòng thử kế Thừa sai.

Tìm kiếm tin đã đưa
Liên kết website
 

Tin mới nhất của BBC
Tin mới nhất của RFA
Tin mới nhất từ SBS
Tin mới nhất của VOA

Ca khúc ngày hôm nay

 

Âm Thanh

Nghe phiếm luận : Con gà cục tác lá chanh

Romance, Những Chặng Đường Lịch Sử
Hula, Vũ Điệu Truyền Thống Của Quần Đảo Hawaii.
- Em Có Bao Giờ Còn Nhớ Mùa Xuân của Ngô Thụy Miên.
Trầm Tử Thiêng Người Nhạc Sĩ Của Thời Cuộc
Trịnh Công Sơn, còn mãi dấu người
Lịch Sử Phong Trào Du Ca Việt Nam
Ðoàn Chuẩn: Nhạc sĩ của mùa thu.
Anh Hãy Về Bên Giòng Sông Cũ.

Nguyễn Đình Chiểu.
Phạm Ðình Chương, Một Nỗi Nhớ Khôn Nguôn.
Phạm Thiên Thư và Thi Phẩm Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng.
Người Phụ Nữ Việt Nam Trong Cuộc Đời và Trong Văn Chương.
 
 

 

ĐIẠ CHỈ: WWW.HAINGOAIPHIEMDAM.COM.

EMAIL: HAINGOAIPHIEMDAM@YAHOO.COM

|Tại sao? | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu | Du Lịch | Thư tín|TRÁI TIM HỒNG CHĂN GỐI | Rừng cười |Ẩm thực |MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn|CỔ THI | Nhân vật |Đó Đây| Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ | Đọc Truyện