| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Thi
hào Nguyễn Du viết Truyện Kiều khi nào?
TPCN
- Ban đầu người ta tin rằng Truyện Kiều được viết
vào khoảng 1813 đến 1820 vì hiểu chữ “hành thế”
trong câu: “Du trường ư thi, vưu thiện quốc âm,
Thanh sứ hoàn, dĩ Bắc hành thi tập cập Thúy Kiều
truyện hành thế” ở Đại Nam chính biên liệt truyện
là sáng tác.
Thực ra “hành thế” chỉ có nghĩa
là lưu truyền trong đời, tức là được mọi người biết
đến. Vả lại, “tận tín thư, bất như vô thư”, không
nên quá tin vào sách, GS Đào Duy Anh viết “sách
Liệt truyện, tuy là quốc sử, cũng không đủ cho ta
tin” (xin xem sách của Đào Duy Anh: Khảo luận về
Truyện Thuý Kiều, 1958).
Bởi vì ở đó tên các sách Thuý Kiều
truyện và Bắc hành thi tập chỉ là tên gọi tục; chính
xác thì hai áng văn này phải được gọi là Đoạn trường
tân thanh và Bắc hành tạp lục.
Rất nhiều bằng cứ cho thấy Truyện
Kiều được viết trước đó rất lâu.
Chúng tôi sẽ dẫn những bằng cứ này
ngược dòng thời gian lùi sâu vào quá khứ.
Học giả Hoàng Xuân Hãn có nhắc đến
Phạm Quý Thích là người đầu tiên đề thơ về Kiều
trên đường vào Kinh. Ông Vũ Thế Khôi cho biết bài
“Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường …” thật ra có
tên là Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm có trong
tập Lập Trai Tiên sinh di thi tục tập, ký hiệu A
2140.
Mới đây, Hà Thị Tuệ Thành, tiếp
tục công việc của ông Vũ Thế Khôi, tìm thấy bài
này trong Lập trai Phạm Tiên sinh thi tập, kí hiệu
A-400 và qua đó xác định được Phạm Quý Thích viết
bài thơ này vào năm 1811 (xin xem bài tham luận
tại Hội thảo Quốc tế về chữ Nôm, Huế, 31/5 đến 2/6/2006).
Truyện Kiều phải được viết trước đó.
Học giả Hoàng Xuân Hãn đã cho biết:
Nguyễn Lượng bị chết vào khoảng 1807. Vì có sự phê
bình của ông ấy nên biết rằng Truyện Kiều được viết
vào đầu đời Gia Long hoặc trước đời Gia Long (xin
xem tạp chí Văn học, số 3-1997). PGS Ngô Đức Thọ
thấy Đại Nam nhất thống chí viết Nguyễn Lượng bị
chết năm 1807 đúng như Học giả Hoàng Xuân Hãn nói.
Liên quan đến Nguyễn Lượng, gần
đây Phan Thanh Sơn và Hà Thị Tuệ Thành nhận thấy
trong lời bình bằng chữ Hán của ông có bốn chữ “bách
chủng hoan ngu”. Chắc chắn ông không dám viết chữ
CHủNG vào thời Nguyễn vì vào năm 1803 Gia long đã
có lệnh cấm dùng chữ CHủNG, khi viết phải thay bằng
chữ THựC (xin xem tạp chí Văn hóa Nghệ An số 71,
25/2/2006).
Trương Chính nhận xét rằng trong
Truyện Kiều có những câu “nghịch ngôn” như:
“Bó thân về với triều đình / Hàng
thần lơ láo phận mình ra đâu?”
“Chọc trời khuấy nước mặc dầu/ Dọc
ngang nào biết trên đầu có ai” (xin xem tạp chí
Văn học số 6 (12/1963).
Những câu này chỉ có thể được sáng
tác trước thời Nguyễn.
Ông Nguyễn Khắc Bảo nhận thấy bản
Liễu Văn Đường 1871 còn sót các chữ đáng lẽ phải
kiêng dưới thời Nguyễn. “Câu 853: Tuồng chi là giống
hôi tanh. Câu 1310: Thang lan rủ bức trướng hồng
tẩm hoa.
Câu 2750: Cỏ lan mặt đất rêu phong
dấu giày. Trong đó những chữ Chủng là tên vua Gia
Long hồi nhỏ, và chữ Lan là tên mẹ cả của vua Gia
Long tức Huy Gia từ phi” (xin xem tạp chí Ngôn ngữ
và đời sống, số 6 (56) 2000).
Đến nay, hầu như ai cũng thừa nhận:
Truyện Kiều được hoàn thành trước tiên; sau đó Nguyễn
Thiện theo văn Kiều mà nhuận sắc Hoa tiên, và cuối
cùng Nguyễn Huy Hổ theo văn Hoa tiên mà viết Mai
đình mộng ký. Tác phẩm sau cùng hoàn thành vào năm
1809.
Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã chứng
minh rằng Hoa tiên, tác phẩm thứ hai được nhuận
sắc trong khoảng mười năm cuối thế kỷ 18. Trong
Hoa tiên có bài thơ chữ Hán trong đó có chữ CHủNG,
tên của Gia Long (xin xem báo Văn nghệ, số 22).
Đây chính là một lý do để ta tin
rằng Truyện Kiều, tác phẩm thứ nhất phải được viết
trước việc nhuận sắc Hoa tiên vài năm.
Trước đây, nhiều người cho rằng
nhờ chuyến đi sứ Nguyễn Du mới được tiếp xúc với
Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để sau
đó viết Truyện Kiều. Điều này không đúng.
Có nhiều giả thuyết về thời điểm
Kim Vân Kiều truyện vào nước ta: học giả Hoàng Xuân
Hãn đoán rằng có thể do Nguyễn Nễ (có tên là Đề
và là anh ruột Nguyễn Du) hoặc Đoàn Nguyễn Tuấn
(anh vợ Nguyễn Du) cùng đi sứ thời Tây Sơn, khoảng
1792-1793 mang về.
PGS Thạch Giang lại cho rằng, có
thể trong chuyến đi sứ năm 1763, Thám hoa Nguyễn
Huy Oánh đã mang Hoa tiên và Kim Vân Kiều truyện
từ Trung Quốc về tàng trữ tại Phúc Giang thư viện.
Nhờ đó Nguyễn Huy Hổ có điều kiện
đọc Hoa tiên, Nguyễn Du do lui tới Phúc Giang thư
viện học tập, nấu sử sôi kinh sớm được đọc Kim Vân
Kiều truyện để sáng tác Truyện Kiều.
Song, điều này thì chắc chắn: ở
truyện “Liên Hồ quận quân” trong cuốn “Lan Trì kiến
văn lục”, viết vào khoảng 1793-1794 của Vũ Trinh,
có câu: “Thúy Kiều gieo mình sông lớn”.
Trước năm 1794 Vũ Trinh đã biết
đến Kim Vân Kiều truyện. Chắc chắn, Nguyễn Du đã
được tiếp cận với Kim Vân Kiều truyện không muộn
hơn Vũ Trinh (theo Nguyễn Hoàng Sơn, báo Văn nghệ,
số 35+36, 2/9/2004)...
Những chứng cứ trên cho phép ta
hình dung:
Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm
Tài Nhân đã vào nước ta vào những năm sáu mươi,
bảy mươi của thế kỷ 18. Nhờ đó Nguyễn Du sớm được
đọc và theo đó mà viết Truyện Kiều. Nguyễn Thiện
theo văn Kiều mà nhuận sắc Hoa tiên vào mười năm
cuối thế kỷ 18.
Nguyễn Huy Hổ theo văn Kiều và văn
Hoa tiên mà viết Mai đình mộng ký, hoàn thành vào
năm 1809. Như thế Truyện Kiều xong trước việc nhuận
sắc Hoa tiên nên phải được viết vào những năm cuối
đời Lê đầu đời Tây Sơn, trùng với kết luận của GS
Nguyễn Tài Cẩn rút ra được từ việc phát hiện chữ
húy thời Lê - Trịnh trong một số bản Kiều Nôm.
Lê Thanh Lân
Ngày 23/7/2006

|