Liên hệ

 
 

 

Âm Thanh

Nghe Nhạc

Tiếng thơ
Đọc Truyện
 

Tác giả Biệt ly và "chuyện giờ mới kể"...

Nguyễn Văn Tý với Dư âm

 
 

Những ca nhạc sĩ trước 75 sau 30 năm bây giờ ở đâu, ra sao ?:

Bài Số I

Bài Số II

Bài Số III

Bài Số IV

Bài Số V

Bài Số VI

Bài Số VII

Bài Số VIII

Tưởng nhớ nữ nghệ sĩ tài danh Thanh Nga

Tiếng hát nữ danh ca Thái Thanh

Hồ Dzếnh và Nỗi Sầu Vạn Cổ.

Thư Gửi Con Cháu.

Nhạc phẩm Du Xuân.

Mùa Xuân Đầu Tiên.

Nếu Anh Còn Trẻ.

Nhạc phẩm Bóng Người Đi.

Nhạc phẩm : Mấy Dặm Sơn Khê.

Phùng Cung Truyện và Thơ

Văn Cao - Tiếng Đàn Chơi Vơi.

 


Xem trang hội hoạ, nhiếp ảnh của Mù Sương ( Toronto, Canada)

 

 

Vĩnh biệt thi sĩ Hoàng Anh Tuấn

Tôi kiếm hồn tôi xưa. Hà Nội
Thuở còn trong vắt gió vào Thu
Thoảng nghe ngọt tiếng cô hàng cốm
Chênh vênh đâu cuối phố Sinh Từ
Hoàng Anh Tuấn (phải) còn là tác giả của các vở kịch như Ly Nước Lọc, Hà Nội 48, phim Ngàn Năm Mây Bay, Xa Lộ Không Đèn…
Đó là những vần thơ trác tuyệt của thi sĩ Hoàng Anh Tuấn. Ông vừa ra đi lúc 8 giờ sáng ngày 1 tháng 9 năm 2006 tại viện dưỡng lão Mission De La Casa, thành phố San Jose-California.Hưởng thọ 74 tuổi.

Hoàng Anh Tuấn sinh ngày 7-5-1932 tại Hà Nội. Ngoài làm thơ, viết văn, viết kịch với những vở kịch như: Ly Nước Lọc, Hà Nội 48, ông còn là đạo diễn điện ảnh với những phim: Ngàn Năm Mây Bay, Xa Lộ Không Đèn…

Năm 1949 ông du học bên Pháp và lập gia đình tại đó, vợ ông là bà Ngô Thị Liên.

Hai người có với nhau sáu người con là: Hoàng Hôn Thắm, Hoàng Ánh Thép, Hoàng Thu Thuyền, Hoàng Hương Thao, Hoàng Mạc Tiên, và cô gái út là Hoàng Thái Trang kết duyên cùng anh Trần Văn Học, con trai của cố thi sĩ Nguyên Sa.

Thời gian sau này ông sống chung với bà Khương Thị Phương Trâm.

Suốt thời gian ông bị bệnh bà Trâm là người cận kề chăm sóc ông.

Về nước thành danh

Năm 1958 thi sĩ Hoàng Anh Tuấn về Việt Nam cộng tác với các tạp chí văn nghệ, cùng nhiều tuần báo và nhật báo ở Sàigòn.

Ông là một trong những thi sĩ được cố nhà văn Mai Thảo yêu mến nhất.

Trước đó, mặc dù ông chưa có một thi phẩm nào ấn hành nhưng thơ của ông rất được mọi người yêu mến và nhìn nhận ở ông là một tài thơ lớn. Với Hoàng Anh Tuấn lúc nào cũng là bạn hữu. Tính ông thích bông đùa. Người lớn tuổi hoặc nhỏ tuổi hơn ông cũng xưng hô với nhau là 'tao-mày'.

Nữ tài tử Kiều Chinh hay gọi đùa ông là đạo diễn 'trẻ mãi không già'. Thi sĩ Du Tử Lê gọi ông là 'Châu Bá Thông'. Còn tôi, thân mến gọi anh là 'Hoàng Công Tử'.Hoàng Anh Tuấn là một trường hợp vô cùng đặc biệt. Chưa có tác phẩm nhưng lại vô cùng nổi tiếng.

Người ta biết nhiều đến ông qua bản nhạc: 'Mưa Sàigòn, Mưa Hà Nội' viết chung với cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương trên một căn gác ở Sài Gòn. Những năm gần đây, nhạc sĩ Phan Nguyên Anh phổ nhạc bài thơ 'Yêu Em Hà Nội' của ông được ca sĩ Như Mai trình bày rất xuất sắc.

Năm 1965 ông làm quản đốc đài phát thanh Đà Lạt cho đến năm 1975.

Năm 1979 thì ông được qua Pháp.

Năm 1981 ông định cư tại Mỹ.

Năm 1987 ông lên San Jose để sống và làm việc với tôi. Ông xem tôi như người bạn vong niên của ông.

Hai anh em sống gần nhau trong một căn phòng nhỏ trên đường số 19, San Jose.

Năm 1988, ông cùng với ca sĩ Mai Hân chủ trương tờ báo 'Thung Lũng Tình Yêu', một vài tháng sau tờ báo này đình bản. Sau đó, tôi chuyển giao vai trò chủ bút tuần báo Yêu thuộc Hệ Thống Truyền Thông Viên Thao để ông và nhà văn Sao Biển phụ trách.

Năm 1992, tôi mời ông làm giám đốc đài phát thanh Sàigòn. Đây là chương trình phát thanh Việt ngữ đầu tiên trên làn sóng AM-1500 tại Hoa Kỳ.

Bị bệnh

Sau một thời gian dài cộng tác với Hệ Thống Truyền Thông Viên Thao đến năm 1998 thì ông bị bệnh, thường hay xỉu nơi làm việc. Chứng bệnh mà ông cũng không hiểu tại sao mỗi ngày bụng và người ông như bị 'trướng'. Ông mập ra nhiều. Tháng 1 năm 2005, bác sĩ phát hiện ông bị ung thư phổi.

Tháng 2 năm 2005, ông được đưa vào viện dưỡng lão Mission De La Casa - San Jose. Thời gian này nhà báo Phạm Huấn (đã mất đầu năm nay) là người bạn tri kỷ nằm cùng phòng với ông.

Tháng 4 năm 2005, người bạn đời sau này của ông là bà Phương Trâm và cô con gái lớn là Hoàng Hôn Thắm cùng với Phạm Hùng tổ chức ra mắt thi phẩm đầu tay 'Yêu Em, Hà Nội và những bài thơ khác' của Hoàng Anh Tuấn tại viện dưỡng lão này.

Buổi ra mắt tập thơ trong một phòng ăn của viện dưỡng lão diễn ra thật xúc động. Giới văn nghệ và bạn bè tham dự rất đông đủ.Hiện giờ linh cữu của ông đã được đưa về nhà quàn OakHill tại San Jose.

Sự ra đi của thi sĩ Hoàng Anh Tuấn đã để lại cho người yêu thơ - bằng hữu những nỗi nhớ và niềm xúc động. ( Đỗ Vẫn TrọnSan Jose - California)

Tìm lại ược 2 kiệt tác của danh họa Edvard Munch, The Scream và Madonna

Bức tranh The Scream của Edvard Munch
Cảnh sát Na Uy cho hay họ đã thu hồi được các kiệt tác hội họa của Edvard Munch là bức “The Scream” và “Madonna” bị đạo chích ngang nhiên đột nhập vào viện bảo tàng Munch ở Oslo ngay giữa ban ngày ban mặt và lấy đi cách nay hai năm.

Giới chức cảnh sát cao cấp Iver Stensrud, dẫn đầu cuộc điều tra, cho biết nhà chức trách đã thu hồi được các họa phẩm này nhờ hành động của cảnh sát. Ông không cho biết rõ chi tiết, nhưng có nói rằng các họa phẩm này được giữ gìn trong tình trạng tốt hơn là họ dự kiến, và họ tin là chúng vẩn được cất giữ tại Oslo chứ không bị đem ra khỏi nước. Cảnh sát cho biết các chuyên gia về hội họa sẽ còn phải xem xét lại các họa phẩm, nhưng bày tỏ sự tin tưởng rằng nhà chức trách đã thu hồi được chính bản.

Hai tên đạo chích đã xông vào bảo tàng viện Oslo trong tháng 8 năm 2004, giựt các bức tranh đang treo trên tường, ôm chúng theo và nhảy lên một chiếc xe hơi đang chực sẵn rồi tẩu thoát.

Vào tháng 5, một tòa án Oslo đã kết án 3 người đàn ông,với những bản án đến 8 năm tù vì đã can dự vào vụ cướp này.

Mahfouz, người giành Nobel, qua đời

Naguib Mahfouz được kính trọng ở Trung Đông
Tiểu thuyết gia người Ai Cập, Naguib Mahfouz, đã mất tại Cairô ở tuổi 94.
Ông viết hơn 30 tiểu thuyết, và năm 1988 trở thành người Ảrập đầu tiên giành giải Nobel về văn học. Ông đã phải nằm bệnh viện vì chấn thương do bị ngã hồi tháng Bảy. Người ta vẫn cho rằng Naguib Mahfouz là tiểu thuyết gia Ảrập lớn nhất của thế kỷ 20.

Giành giải Nobel

Ông có thể được coi là một báu vật quốc gia của Ai-cập, nơi tên các nhân vật trong tiểu thuyết của ông trở thành tên người trong nhiều gia đình.

Ông cũng rất nổi tiếng trong thế giới Ả-rập, một phần vì nhiều tác phẩm của ông đã được chuyển thể thành phim và kịch truyền hình. Trên trường quốc tế, Mahfouz được biết đến vì ông giành được giải Nobel, sau khi nhiều tác phẩm của ông được dịch sang tiếng Anh và các ngữ khác.

Phong cách

Ông là người Ảrập duy nhất giành được giải này, và mặc dù đã có được nhiều danh tiếng nhưng ông vẫn không bao giờ rời khỏi căn hộ khiêm tốn của mình ở Cairô, bên cạnh dòng sông Nile, hay vẫn thường lui tới các quán cà phê để tranh luận về văn học.

Hầu hết các tiểu thuyết của Mahfouz đều tập trung nói về cuộc sống của những người dân Ai-cập bình thường ở Cairô. Phong cách hiện thực của ông đã đạt tới đỉnh cao với tác phẩm xuất bản vào cuối những năm 1950 nói về một gia tộc lớn. Sau đó, Mahfouz chuyển sang thử nghiệm một phong cách văn mang tính huyền bí hơn, đôi khi gây nên sự tức giận của những người bảo thủ tôn giáo.

Tiểu thuyết của ông với tên tiếng Anh 'Những đứa trẻ nhà Gebelawi' đã bị cấm ở Ai Cập, và ông bị buộc tội báng bổ.

Năm 1994, Mahfouz đã bị những kẻ cực đoan theo đạo Hồi tấn công bên ngoài ngôi nhà của ông do tức giận vì những điều ông viết về các chủ đề tôn giáo trong cuốn tiểu thuyết đó. Ngoài những thành tích văn học, Quỹ Nobel đã miêu tả Mahfouz như một người viết không biết đến mỏi mệt, và đó chính là lý do vì sao nhiều người Ai Cập sẽ còn nhớ đến ông.

Mưa còn rơi mãi

Bấm vào đây để nghe tiết mục này
Tháng mưa ngâu ướt át vừa trôi qua, trận mưa lũ cũng đã ngớt nhưng bên nhà vẫn ở giữa mùa mưa. Trong khung cảnh lướt thướt mưa rơi ấy, Thy Nga mời quý vị và các bạn cùng nghe một số ca khúc về mưa nhé.…

Những ngày này ở Việt Nam, Thy Nga còn nhớ, có khi mưa cả buổi, ướt và lạnh tuy nhiên đôi khi, ta chợt cảm thấy ấm áp khi bắt gặp đôi uyên ương nào đó, đứng nép vào nhau, trú mưa dưới mái hiên nhà ai.

Nhưng có lẽ dễ thương hơn cả, là hình ảnh chia nhau chiếc dù. Chắc hẳn chàng thanh niên thầm xin trời cứ mưa, để anh có dịp đi sát vào nàng, và giang vòng tay che cho người yêu bé nhỏ.

“Mưa rơi cuối tuần” qua giọng hát Hoàng Bách …

Chàng sau đây trong nhạc bản “Đường xa ướt mưa” của Đức Huy thì lại càng mong cho mưa đừng ngớt hạt để níu chân nàng lại. Bạo thật!

“Đường xa ướt mưa” do chính Đức Huy hát …

Ca khúc ướt át này rất được ưa thích, mà tác giả Đức Huy cũng cho rằng đó là một trong các sáng tác mà anh hài lòng nhất và được nhiều ca sĩ trình bày nhất.

Nhạc sĩ Đức Huy còn có các bài viết về mưa như “Cơn mưa phùn”, “Tiếng mưa đêm”, “Sao vẫn còn mưa rơi” đều hay, chắc anh phải thích mưa lắm đấy nhỉ.

Những nhạc bản của người Việt mình thường là buồn. Bên nhau chưa được bao ngày, đã phải chia tay, để thương để nhớ.

“Mưa phi trường” qua giọng hát Lam Trường …

“Em đi rồi, hồn tôi giông bão nổi
Cuối Hạ buồn, trời đất đã sang Thu
Mặt nhìn mặt, thương sao vầng tóc rối
tay cầm tay, thầm gọi giấc vàng xưa …”

(trích đoạn bài thơ “Giông bão hồn tôi” của Vương Đức Lệ )

“Cuối cùng cho một tình yêu” Khánh Ly hát …

“Như con lũ cuốn trôi cành củi mục
Anh còn gì trong nỗi nhớ riêng tư?
Đời chẳng phải đâu Em, thuần hạnh phúc
Tình lênh đênh theo sóng giạt xa bờ

Anh tít tắp trôi theo dòng nước lũ
Em xa vời lãng đãng cuối chân mây
Tình đã chết, chơ vơ sầu núi cũ
Chiều hoang vu thăm thẳm cõi lưu đày …” (trích đoạn bài thơ “Như con nước lũ quanh ta” của Hoàng Song Liêm)

Đó cũng là tâm tư của nhạc sĩ Huỳnh Anh trong các bản “Mưa rừng”, “Lạnh trọn đêm mưa”, “Gió núi mưa rừng”. Mỗi lần mưa về là gợi nhớ một hình bóng đã lìa xa nhưng còn vương mãi trong tâm tưởng.

“Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ?” mưa ngoài trời, mưa trên phố mà kẻ đau khổ vì Tình yêu cảm thấy như tâm hồn thấm ướt những giọt sầu.

“Tình đau về với ta buồn
buồn ta cũng tạt như nguồn mưa đông
mắt em có thấm lạnh hồn?
mưa ta có lệ ngoằn trên kiếng đời? ...”

(trích đoạn bài thơ “Mưa lăn trên kiếng cửa” của Nguyễn Tất Nhiên)

Và trong âm thanh ca khúc “Mưa thì thầm” của Tôn Thất Lập qua giọng hát Khánh Hà, Thy Nga chào tạm biệt các bạn nghe đài.Thy Nga, phóng viên đài RFA

Chuẩn bị tang lễ cho chủ nhiệm sáng lập báo Người Việt, ông Đỗ Ngọc Yến

Tại Quận Cam California, gia đình và bạn bè đang chuẩn bị tang lễ cho ông Đỗ Ngọc Yến, một nhà báo kỳ cựu của người Việt tại hải ngoại.Ông Đỗ Ngọc Yến qua đời hôm thứ Năm sau một thời gian dài mắc bệnh tiểu đường và suy thận, năm nay ông 65 tuổi.Ông Đỗ Ngọc Yến là người sáng lập tờ Người Việt, biến một tờ báo đánh máy và bỏ dấu bằng tay thành một tờ báo sử dụng máy tính hiện đại.

Tờ Người Việt cũng là tờ báo lớn nhất của cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, và là nơi quy tụ của nhiều nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ cả già lẫn trẻ, cả giàu lẫn nghèo.

Sáng lập viên báo Người Việt qua đời

Ông Đỗ Ngọc Yến sáng lập báo Người Việt năm 1978
Nhân vật sáng lập nhật báo đầu tiên và lớn nhất của người Việt ở Mỹ, ông Đỗ Ngọc Yến, đã qua đời hôm thứ Năm ở bệnh viện tại California, thọ 65 tuổi.
Theo tiểu sử, ông Ðỗ Ngọc Yến học trường Trung Học Trương Vĩnh Ký rồi tự học để đậu bằng Tú Tài. Ông ghi tên theo học tại Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn nhưng không theo đuổi một bằng cấp nào. Từ năm 1964, ông viết cho các nhật báo Sống, Sóng Thần, Ðại Dân Tộc, tạp chí Văn Nghệ, tuần báo Ðời, và nhiều tờ báo khác ở miền Nam.Bắt đầu từ thập niên 1970 ông trở thành người phiên dịch, cộng tác với nhiều phóng viên các báo nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

Năm 1978, ông sáng lập báo Người Việt. Ban đầu mới là một tập san bốn trang ra mỗi tuần được in trong một ga-ra ở quận Garden Grove, nhưng tờ báo đã phát triển để trở thành tờ báo quan trọng hàng đầu ở hải ngoại.

Ông và gia đình thuộc làn sóng di dân thứ nhất đến Mỹ sau ngày Sài Gòn sụp đổ năm 1975.

Giống như nhiều người khác, ông đến Mỹ với bàn tay trắng, ban đầu làm người rửa chén bát ở một nhà hàng trước khi chuyển sang Texas để tìm việc.

Nhưng ông nhanh chóng quay về miền nam California với ý tưởng thành lập một tờ báo phục vụ hàng trăm ngàn người Việt tị nạn.

Với 4000 đôla giành giụm, ông in 2000 bản của số báo đầu tiên ra ngày 6-12-1978.

Theo báo Los Angeles Times, ông Đỗ Ngọc Yến, người muốn đưa phong cách báo chí phương Tây vào tờ báo, từng bị những người Việt chống Cộng chỉ trích khi họ nghĩ nội dung trên báo chưa đủ 'cứng rắn'.

Năm 1989, 150 người biểu tình bên ngoài tòa sạn sau khi ông Yến cho đăng hình lăng ông Hồ Chí Minh.

Ngày hôm nay, báo Người Việt có hơn 70 nhân viên, với lượng phát hành chừng 18.000. Tờ báo cũng có trang tiếng Anh phục vụ những độc giả trẻ tuổi hơn.

Ngoài ra, tờ báo do ông Đỗ Ngọc Yến sáng lập đã phát triển thêm hoạt động về phát thanh, cùng một trang web trên mạng internet.

Paris Hilton có tên trong Sách Kỷ lục Guinness

Sau khi đoạt một giải Razzy cho nữ diễn viên phụ dở nhất trong phim “House of Wax” và một giải Ugly Award cho người mẫu tồi tệ nhất trong mục quảng cáo hamburger của hãng Carl’s Jr., lần này Paris Hilton sẽ được trao một danh hiệu vì toàn bộ sự nghiệp, thậm chí sẽ được ghi tên trong Sách Kỷ lục Guinness năm 2007.

Tuy nhiên Paris Hilton có vẻ không mặn mà với danh hiệu mới này, vì cô đứng nhất thế giới trong hạng mục “nhân vật được đánh giá quá cao so với giá trị thực”.

Việc bình chọn đã được thực hiện sau khi tham khảo nhiều cuộc thăm dò ở các tạp chí. Các độc giả được đề nghị bình chọn các nhân vật được đánh giá quá cao và Paris Hilton sẽ có tên đứng đầu danh sách trong Sách Kỷ lục Guinness.

Hilton cũng sẽ có mặt trên trang bìa tạp chí Blender và nghe đâu cô còn có ý định làm một ngôi sao nhạc rock.

Vườn thơ còn lại của Lưu Trọng Lư

Giá sách và những kỷ vật gia đình - Ảnh: L.Điền
TT - Ngày 12-8-2006, nhà lưu niệm Lưu Trọng Lư (19-6-1911 - 10-8-1991) đã được gia đình làm lễ khánh thành tại địa chỉ 75/5 Lâm Văn Bền, khu phố 4, phường Tân Thuận Tây, Q.7, TP.HCM.

Khu nhà nép mình cạnh những hàng cau hàng trúc. Bên trong, không gian đầy ắp kỷ niệm về nhà thơ tiên phong trong phong trào Thơ Mới (1930-1945).

Góc thơ gồm có các tác phẩm Lưu Trọng Lư viết từ thuở tuổi đôi mươi, đặc biệt có quyển Nhật ký đọc Kiều - tập tiểu luận về Nguyễn Du và Truyện Kiều, trong đó có những bài từng bút chiến với trường phái thơ cũ thời 1930.

Bút tích nhà thơ được các con nâng niu gìn giữ, còn có bản chép tay ba bài thơ: Tiếng thu, Thơ sầu rụng, Nắng mới - ba bài đưa tên tuổi nhà thơ vào lòng bạn đọc từ hơn 60 năm qua. Cuối đời, Lưu Trọng Lư tự tổng kết sự nghiệp thơ của mình bằng hai câu: “Đi giữa vườn nhân dạ ngẩn ngơ/ Vì thương người lắm mới say thơ”. Giờ đây thủ bút hai câu này kèm theo chữ ký được đặt trang trọng tại gian thờ.

Ông Lưu Trọng Hải - con của nhà thơ - tâm đắc một điều: “Cả đời bố tôi chuyên chú một chữ nhân, cho nên qua bao thăng trầm, ông vẫn giữ đạo nhân, để thanh thản”.

Chia sẻ với điều tâm niệm của Lưu Trọng Lư, nhà thơ Tố Hữu đã ứng tác bốn câu tại lễ viếng: “Lưu Trọng Lư ơi, biệt cõi trần/ Tiếng thu man mác nhạc trong ngần/ Nửa đêm sực tỉnh đời pha mộng/ Da diết lòng anh một chữ nhân”. Nay bốn câu thơ ấy cùng thủ bút của Tố Hữu cũng được trưng bày nơi nhà lưu niệm.

Trên giá sách có dựng một chiếc đàn tranh, đây là chiếc đàn kỷ vật của gia đình. Theo lời ông Lưu Trọng Văn, “khi cuối đời, mẹ tôi vẫn thường đàn cho ông cụ nghe vào mỗi buổi chiều bằng chiếc đàn này”.

Một chiếc ghế đặt bên bàn làm việc, cũ kỹ tự bao đời, chiếc ghế nhà thơ vẫn ngồi và viết nên nhiều tác phẩm giai đoạn cuối đời, một chiếc máy điện thoại cũ kỹ từ những năm 1950, những bức ký họa của Trịnh Cung, Việt Hải, những bức ảnh tư liệu chụp chung với học giả Đào Duy Anh và các bạn văn nghệ thời còn ở Khu Bốn...

Gia đình nhà thơ có ý định “sẽ thiết kế một “bức tường Thơ Mới” ngay trong khu vườn nhà lưu niệm, trên tường ốp đá khắc chân dung các nhà thơ mới của VN kèm theo các câu thơ được xem là “đại biểu” cho mỗi tác giả”.

Và như vậy, khu nhà lưu niệm Lưu Trọng Lư cũng chính là nơi tưởng niệm những bè bạn cùng thời với ông, thú vị hơn, “nơi này sẽ là không gian gặp gỡ của các nhóm thơ văn, có thể đàm đạo, uống trà, giới thiệu sách, luận văn chương... tùy thích” - ông Lưu Trọng Văn vui vẻ nói.LAM ĐIỀN@TUOITRE

Rolling Stones hát mừng sinh nhật Clinton

Cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton sẽ được ban nhạc lừng danh The Rolling Stones biểu diễn một đêm để chào mừng sinh nhật lần thứ 60 và gây quỹ nhân đạo. Đêm nhạc sẽ diễn ra ở New York. . Ban nhạc này đang lưu diễn ở châu Âu trong tour Bigger Bang. Dự kiến, The Rolling Stones sẽ tới nhà hát Rolling Stones hát mừng sinh nhật ClintonBeacon ở New York vào ngày 29/10.Đêm diễn này được coi là một bữa tiệc dành cho Clinton - tròn 60 tuổi vào ngày 19/8 - và gây quỹ cho tổ chức nhân đạo của ông. Đạo diễn Martin Scorsese sẽ chỉ đạo ghi hình lại đêm diễn. Ông từng giúp ca sĩ Bob Dylan làm bộ phim tư liệu No Direction Home năm ngoái. VNE

Phim World Trade Center thu 4 triệu 400 ngàn đôla ngày đầu tiên

Diễn viên Michael Pena và vợ
Bộ phim nói về vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 tại Hoa Kỳ đã thu về bộn bạc, có thể nói là vượt mức trông đợi, trong mấy ngày ra mắt đầu tiên.Bộ phim mang tên "World Trade Center," trung tâm thương mại thế giới , đã thu về 4 triệu 400 ngàn đôla trong ngày trình chiếu đầu tiên vào hôm thứ Tư, khiến các nhà sản xuất tin tưởng sẽ có số thu cao vào 2 ngày cuối tuần.

Một số thân nhân của những người tử nạn trong vụ khủng bố, cộng với một số cảnh sát viên và nhân viên cứu hỏa đã được mời đến xem một buổi chiếu phim miễn phí ở New York. Sau khi xem, một số người cho rằng bộ phim đã làm họ cảm thấy yên ổn tinh thần hơn; và một số người cho rằng bộ phim đã gợi lại cho họ một kỷ niệm đau buồn.

Một phần tiền lời của bộ phim sẽ được mang tăng cho các hội từ thiện có liên quan vụ khủng bố.

Chưa rõ sau khi nước Anh phát hiện vụ khủng bố bất thành hôm thứ Năm, khán giả khắp năm châu có còn chú ý đến bộ phim này nữa, hay lại muốn chuyển sang những món ăn nhẹ nhàng hơn. Bộ phim sẽ được phát hành khắp thế giới vào tháng 9.

Thế Lữ “Kẻ bộ hành phiêu lãng”

Ký hoạ về Thế Lữ của Phan Kế An, ảnh chân dung ông, ký hoạ của Phạm Hổ, Phạm Minh Hải, Hoàng Lập Ngôn. Sĩ Ngọc (từ trái sang, trên xuống).
Trong khi hầu hết những nhà thơ khác trong Phong trào Thơ Mới được coi chủ yếu là những tác giả văn chương thì Thế Lữ lại được tiếp cận cả ở khía cạnh con người xã hội - nghệ thuật, một nhân cách văn hóa.

Thế Lữ sinh ngày 6/10/1907 tại ấp Thái Hà, Hà Nội trong một gia đình viên chức nhỏ. Thuở nhỏ ở Lạng Sơn, sau đó về Hải Phòng học sơ học và thành chung. Năm 1929, học xong năm thứ ba bậc thành chung thì về Hà Nội thi đỗ dự thính vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học được một năm thì bỏ.

Khi còn ở tuổi mười tám đôi mươi, sống ở Hải Phòng, Thế Lữ đã viết truyện, làm thơ. Ông sắm vai kịch nói từ năm 1928. Năm 1932, Thế Lữ được mời làm báo Phong hóa, sau đó gia nhập Tự lực văn đoàn (TLVĐ), là người góp phần sáng lập phái này. Ông là nhà báo, người biên tập nòng cốt, mẫn cán của hai tờ báo Phong hóa và Ngày nay.

Khi gia nhập TLVĐ, Thế Lữ càng quan tâm đến nghệ thuật biểu diễn kịch nói nhiều hơn. Từ năm 1935, rõ nhất là từ năm 1937, ông chuyển hướng mạnh sang hoạt động biểu diễn kịch nói, mặc dù vẫn ở trong TLVĐ, đều đặn làm biên tập, viết báo, sáng tác và công bố tác phẩm văn chương.

Cuối năm 1938, ông kết hôn với người vợ sau là diễn viên Song Kim.
Thế Lữ sớm có tư tưởng tiến bộ. Năm 1928, khi 21 tuổi, ông tham gia Thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Hải Phòng. Trước cách mạng tháng Tám, khi TLVĐ vừa ngừng hoạt động, Thế Lữ chỉ đạo đoàn nghệ thuật đi biểu diễn ở nhiều nơi dọc đất nước. Sau đó ông có mặt ở chiến khu Việt Bắc, tiếp tục tổ chức kịch đoàn, biểu diễn phục vụ kháng chiến.

Năm 1957, Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam được thành lập, Thế Lữ được bầu làm chủ tịch, ông giữ cương vị này liên tục đến năm 1977. Cũng từ năm 1957, Thế Lữ là hội viên thế hệ sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam.

Năm 1977, Thế Lữ nghỉ hưu.

Năm 1979, sau nhiều năm xa cách gia đình đầu tiên, Thế Lữ vào thành phố Hồ Chí Minh sống với người vợ đầu và các con.

Ngày 3 tháng 6 năm 1989, do tuổi già, Thế Lữ qua đời tại thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 2001, Thế Lữ được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Thế Lữ là nhà thơ nổi tiếng, đã cùng Lưu Trọng Lư và một số người khác mở đầu Phong trào Thơ Mới (PTTM), trở nên nhà thơ tiêu biểu nhất của thơ mới buổi đầu, đánh dấu bước ngoặt thay đổi về cơ bản diện mạo thi ca nước nhà từ thời kỳ trung đại sang thời kỳ hiện đại.

Thế Lữ là một thành viên chủ chốt, có tư tưởng và hành động nghệ thuật tiến bộ vào bậc nhất trong TLVĐ. Khác hẳn và có ưu điểm hơn hẳn mọi thành viên khác trong TLVĐ, Thế Lữ là một nghệ sĩ duy nhất tham gia sâu vào cả ba thể loại giường cột của văn học, nghệ thuật hiện đại khi ấy: thơ trữ tình, văn xuôi nghệ thuật và sân khấu kịch nói. Ở lĩnh vực nào ông cũng đạt được những thành tựu đáng nể.

Ngoài vị trí là nhà thơ tiêu biểu nhất của Thơ Mới buổi đầu, Thế Lữ còn là một nhà thơ duy nhất trong TLVĐ xây dựng được cho mình một sự nghiệp văn xuôi nghệ thuật nổi danh. Thế Lữ là một trong số ít những nhà văn đầu tiên góp phần lớn hiện đại hóa truyện truyền kỳ, mở đầu truyện huyễn tưởng hiện đại và cũng mở đầu truyện trinh thám ở Việt nam.

Cùng với Đoàn Phú Tứ, Thế Lữ là một trong hai người đầu tiên đưa hoạt động nghệ thuật biểu diễn kịch nói nước ta trở thành chuyên nghiệp và riêng Thế Lữ, ông là người đầu tiên và duy nhất cách tân nghệ thuật biểu diễn kịch nói, kịch thơ, góp phần lớn đưa hoạt động sân khấu của nước nhà trở nên hoàn chỉnh theo hướng chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa.

Khi Thế Lữ mở đầu thơ mới, cũng là khi ông mở đầu một quan niệm nghệ thuật mới. Cái đẹp là hạt nhân của những quan niệm ấy.

Trong khi hầu hết những nhà thơ khác trong PTTM được coi chủ yếu là những tác giả văn chương thì Thế Lữ lại được tiếp cận cả ở khía cạnh người con người xã hội - nghệ thuật, một nhân cách văn hóa.

Là một nghệ sĩ đa tài, với bản lĩnh sáng tạo vững vàng, Thế Lữ sớm có tinh thần dân tộc và khát vọng xây dựng nền văn học, nghệ thuật nước nhà theo hướng hiện đại hóa. Cách mạng đã giúp ông xác định đúng đắn hơn, sâu sắc hơn vai trò, trách nhiệm lớn lao và vinh quang của người nghệ sĩ kiểu mới chân chính. Thế Lữ xứng đáng với Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật xuất sắc khác, đặc biệt là nghệ thuật biểu diễn kịch nói, thi sĩ kiêm văn sĩ, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam thế hệ sáng lập, đạo diễn, Nghệ sĩ Nhân dân Thế Lữ có vị trí quan trọng trong tiến trình văn học, nghệ thuật hiện đại Việt Nam (Phạm Đình Ân@ANTG )

Công nghệ “phỉnh”

Bìa đĩa của Lưu Việt Hùng
TP - Nhiều gia đình bỏ những số tiền khổng lồ đầu tư cho con em họ với ước mơ trở thành "sao" ca nhạc. Họ đâu biết mình đang rơi vào “công nghệ phỉnh” sinh ra giữa thời thị trường ca nhạc bão hòa…
Đầu tư lúc này cho con làm ca sĩ không khác gì nhà có người nghiện! Không thân tàn ma dại nhưng rất có thể khuynh gia bại sản. Nghe có vẻ nghiệt ngã nhưng đúng với nhiều trường hợp.

Những số tiền khổng lồ đang được nhiều gia đình bỏ ra (kể cả vay mượn) để mong một ngày con em họ mang về cả ngàn cây vàng hay xe hơi nhà lầu, theo “lý thuyết” hát 2 bài bỏ túi vài chục triệu đồng. Họ không biết rằng, mình đang rơi vào một “công nghệ phỉnh” đỉnh cao sinh ra giữa thời thị trường ca nhạc bão hòa…

Lưu Việt Hùng quê Hưng Yên, cha mất sớm, mẹ ở Hải Phòng với nghề dệt len, lương vài trăm ngàn đồng/tháng. Hùng lên Hà Nội quyết tâm học một nghề gì đó để đời, thế là học chung trường múa với Nguyễn Phi Hùng, sau luyện thêm thanh nhạc, đi hát tụ điểm, bar rồi gia nhập nhóm Giao Thời.

Giao Thời thành lập 2000, tới 2002 rã đám, có cái xe máy Hùng đem bán làm lộ phí khăn gói vào TPHCM tham gia cuộc thi tìm kiếm ngôi sao Close-up. Anh trai Hùng có thời đi bán dạo cho em học làm ca sĩ, nay anh và mẹ sức khỏe yếu, thu nhập gia đình chủ yếu trông vào ca sĩ trẻ này.

Nhưng giữa chốn Sài Gòn bạt ngàn ca sĩ hàng hát lót (hát lấp chỗ trống hoặc trước “giờ vàng” 9 -11 giờ hàng đêm để chờ ca sĩ hạng sao đến), làm thế nào chen chân chứ nói gì nổi tiếng?

Không biết có phải may mắn cho Hùng khi người quản lý là ông Ngô Đức Hòa giúp sức ra album VCD đầu tay Hoàng tử đại dương với hình ảnh hoàng tử cá cởi trần.

Báo chí kêu, Sở VH-TT TPHCM phạt, ông Hòa bảo chuyện ngoài ý muốn nhưng: “Hùng nổi lên một phần nhờ vụ đó”. Cùng với bài Không yêu thà rằng em nói một câu được chú ý, Hùng bắt đầu được mời biểu diễn trong Nam ngoài Bắc, coi như tạm biệt thời “vô danh”.

Nhưng đến thời điểm này, những cơ may kiểu Hoàng tử đại dương giờ trở nên hiếm hoi hơn bao giờ hết. Album DVD Chuyện tình Hoàng tử đại dương 2 mới phát hành tháng 7/2006 của Hùng với hình ảnh dắt một em bé nếu vài năm trước có thể gây tò mò kiểu “phải chăng Lưu Việt Hùng đã có con?” (thực ra đây là con gái 14 tháng tuổi của ông bầu Hòa), nhưng bây giờ tạo xì- căng-đan không dễ.

Một xì-căng-đan trên trời rơi xuống là điều rất nhiều người mong đợi, nhất là các ca sĩ lăm le muốn “thăng hạng”. Chuyện cởi trần phơi trên cột điện (poster) như Lưu Việt Hùng chỉ là một trong vô số chiêu thức được chuộng.

Đi kèm với những khiêu khích hình ảnh là những phát ngôn nhằm gây sốc, khiêu khích, chẳng hạn Vũ Quốc Việt nói trắng phớ rằng nhạc của tôi giờ rẻ tiền để còn “ăn” giới bình dân; hay cuộc “chiến tranh” khi lạnh khi nóng của Mỹ Tâm và Hồ Quỳnh Hương; hay trào lưu hát thứ ca khúc lảm nhảm vô duyên…

Tất cả quy về thứ “công nghệ” tạo tiếng vang, nhằm thu hút sự chú ý của dư luận giữa lúc thị trường đang ở mùa “ăn đong”. Nhưng khán giả được nghe quá nhiều lời lẽ giật đùng đùng ấy, giờ đã chán.

Ngay cả những công nghệ mang tính “chính quy” - đã được chứng thực hiệu quả qua cuộc lăng-xê Đan Trường của ông bầu Hoàng Tuấn, nay cũng đã quá date, hết “thời hạn sử dụng”.

Cuộc chia tay giữa H.T Production và Cao Thái Sơn không hẳn vì ông Tuấn bất lực không thể lập lại kỳ tích, mà ở trong tình trạng chung: Công nghệ ngày trước được ông áp dụng nay không phát huy hiệu quả nữa.

Nguyên nhân đơn giản: Thị trường đang ở mức bão hòa mọi nhu cầu - chính vì thế cơn sốt Duy Mạnh mới nguội nhanh - mà việc tạo ra một thị hiếu mới, một nhu cầu mới lại cần đến những công nghệ mới, cho tới thời điểm này vẫn chưa xuất hiện.

Người làm biểu diễn ở Việt Nam trước giờ vốn quen chạy theo thị hiếu đỏng đảnh, cố gắng thâm canh trên những mảnh đất hẹp và đã bạc màu, thay vì tìm ra và khai phá những vùng đất mới.

Trong tình hình đó, người ta chỉ biết trông chờ cơ may. Ca sĩ Triệu Hoàng tâm sự: “Nếu thầy Đỗ Quang có tiểu xảo thì Hoàng đã đoạt giải thưởng rồi, ví dụ tiểu xảo tự bình chọn gì gì đó, không giải lớn thì giải nhỏ.

Xì- căng- đan thì ca sĩ quốc tế cũng có, nhưng tôi không muốn. Biết mình với hình ảnh xấu để rồi nghe nhạc của mình thì hay ho gì. Có trường hợp không qua lăng-xê mà nổi, đó là Duy Mạnh, tôi phục anh ấy, nhưng trường hợp này rất hiếm”.

Và như thế người ta có thể hiểu rất nhiều ca sĩ, ví như trường hợp Phan Đinh Tùng (cựu thành viên nhóm MTV) sẵn sàng ngồi chờ cơ may để nổi được như Duy Mạnh. Nhưng, như đã nói, cơ may cũng đã bão hòa còn công nghệ thì đang “hết hạn sử dụng”.

Khán giả giờ đây thờ ơ trước mọi “biến cố” kể cả giật gân nhất. Có le, những vụ bê bối dồn dập trong năm 2004 đã quá dư thừa, nên giờ đây, mọi chiêu thức đều phó mặc cho… số phận.

Phan Đinh Tùng đi khắp nơi tuyên truyền về một cuộc lên ngôi của mình, về những bài hát “đỉnh đỉnh đỉnh”, nhưng hiệu quả thì vẫn… như không.

Một công nghệ khác, lập lờ đánh lận con đen: đĩa lậu, giờ cũng đã ở đoạn cuối của… thành công. Chuyện ca sĩ tự làm đĩa lậu, tự phát tán sản phẩm lậu đã trở thành bình thường ở TPHCM, thậm chí ai không thấy thị trường đĩa lậu có sản phẩm của mình thì lo ngay ngáy.

Với họ, chuyện lỗ lãi vài đồng bán đĩa không quan trọng bằng cái lỗ lãi tên tuổi, kể cả theo chiều hướng xấu. Nắm tâm lý ấy, giới làm đĩa lậu lại điều khiển ngược được nghệ sĩ, dẫn tới những ồn ào như vụ Cát Tuyền, đĩa pê-đê hay phim sex người mẫu vừa qua.

Không có gì đảm bảo rằng, đến một ngày nào đó, không xuất hiện một đĩa pê-đê khác trong đó gom toàn những ngôi sao hàng đầu hiện nay và gán cho họ cái nhãn “pê-đê” hay gì gì khác.

Đĩa lậu là thị trường bỏ ngỏ, cơ quan quản lý đã bất lực thì có điều gì mà đầu nậu không dám làm? Và khi quyền lực của nó đã lớn thì tham vọng lợi dụng nó để trục lợi về tên tuổi không còn là nhiệm vụ khả thi nữa. Chỉ có đĩa lậu lợi dụng ca sĩ mà thôi.

Phong Hào - Nguyễn Minh

Loạn... sáng tác ở Việt Nam ngày nay

Chưa bao giờ việc sáng tác bài hát lại nở rộ như hiện nay. Ngoài những nhạc sĩ chuyên nghiệp, giờ đây đã nổi lên một số nhạc công và ca sĩ. Nhóm nhạc, ban nhạc nào cũng có thể "bao sân" cả chục bài cho một chương trình, và ca sĩ lại càng "thuận lợi" cho việc sáng tác bài hát, bởi chính họ là người tự thể hiện tác phẩm của mình.

Sẽ đáng mừng nếu mọi bài hát của các nhạc công, ca sĩ ra đời có chất lượng được công chúng chấp nhận. Khi ấy rõ ràng là đời sống tinh thần nói chung, âm nhạc nói riêng của cộng đồng được cải thiện theo hướng phong phú thêm. Nhưng sự thật đã không như vậy: những người sáng tác không chuyên nói trên đã rất tùy tiện, dễ dãi cho ra đời những ca khúc nhiều khi không thể được coi là tác phẩm nghệ thuật đúng nghĩa. Bài hát đã không thành bài hát, chỉ là sự chắp nối những câu hát trong một giai điệu nhạt nhẽo, nhiều khi là sự ăn cắp hoặc bắt chước một đường nét trong các bài hát nước ngoài rồi cải biên, làm biến dạng đi chút ít để khỏi bị quy tội là “đạo”. Những quy chuẩn về khúc thức, phát triển chủ đề, bố cục, kết cấu... đối với một bài hát đã không được người sáng tác biết tới. Nội dung lời lẽ thì đầy rẫy sáo mòn, cũ kỹ, chỉ quẩn quanh những tình cảm vụn vặt, riêng tư, không có chút giá trị xã hội nào.

So với những bài hát mà dân ta vẫn quen gọi là “nhạc vàng” trước đây thì những bài hát đang bàn còn thua kém xa. Cả hai phương diện nội dung lời ca và âm nhạc của bài hát này đều rất ít giá trị, nếu không muốn nói là sự bôi bác, phản nghệ thuật. Hãy nghe lời một trong những bài hát đó: “Anh nhìn em nhưng em quay đi. Đó là vì em ngượng. Đừng vì thế mà anh mất hứng. Thực ra em đang thèm khát anh và muốn dâng cho anh tất cả. Hãy đốt cháy em đi...”. Sống sượng hơn, tác giả khác viết: “Tình yêu là gì mà bước vào thấy khổ thế. Tình yêu là gì mà bước vào thấy đau thế. Càng đau, càng khổ lại càng sướng. Sướng đê mê, sướng ngây ngất, không còn gì trên đời sướng hơn. Bạn hãy yêu, hãy yêu đi sẽ thấy sướng như thế nào...”.

Sáng tác nghệ thuật nói chung, bài hát nói riêng là công việc cao quý, thiêng liêng và mọi người đều có thể thực hiện nếu có điều kiện. Trong quá khứ, từng đã có những bài hát nổi tiếng có giá trị bất hủ, không phải do nghệ sĩ chuyên nghiệp sáng tác đã sống mãi với thời gian: "Cùng nhau đi hùng binh" (Đinh Nhu); "Phất cờ Nam tiến" (Hoàng Văn Thái), "Vì nhân dân quên mình" (Doãn Quang Khải); "Tiểu đoàn 307" (Nguyễn Hữu Trí); "Nam Bộ kháng chiến" (Tạ Thanh Sơn)... Tác giả của những bài hát trên thậm chí làm những công việc không liên quan gì đến âm nhạc, là ngoại đạo 100%.

Lại từng có những ca sĩ sáng tác, tạo nên những bài hát mà bất cứ vị nhạc sĩ tài danh nào cũng phải kính nể: Quốc Hương với "Tầm Vu"; Trần Khánh với "Tiếng sáo người địa chất", "Nắng ấm về trên Tổ quốc", "Lời ru theo sóng"; Trần Thụ với "Nhanh tay lưới, chắc tay súng"; Tường Vi với "Phi đội ta xuất kích"; Thịnh Trường với "Cô thợ hàn...". Riêng hai ca sĩ Trần Khánh và Thịnh Trường, với số lượng và chất lượng đặc biệt của những sáng tác, từ lâu đã được coi là nhạc sĩ, chứ không phải chỉ là ca sĩ.

Xuất phát từ yêu cầu phục vụ, các ca sĩ nổi tiếng trên đều tìm đến sáng tác bằng khát vọng sáng tạo của mình. Họ đã tạo nên những bài hát chất lượng, đạt được yêu cầu cao của những chuẩn mực thẩm mỹ dẫn đến việc công chúng chỉ biết thích thú mà không để ý tác giả là ai - nhạc sĩ hay ca sĩ sáng tác. Đó thực sự là những ca sĩ có trình độ hiểu biết cao về âm nhạc, về lý thuyết sáng tác ca khúc. Nhưng ngay cả khi sự hiểu biết đó chưa có điều kiện chín muồi thì người sáng tác phải tự khó tính với mình để tác phẩm ra đời không bị công chúng tẩy chay, mà sẵn sàng đón nhận. Trường hợp ca sĩ Trung Đức sáng tác "Em đi chùa Hương" dựa vào thơ của Nguyễn Nhược Pháp đáng được trân trọng. Bài hát ngay từ khi ra đời đã chiếm được cảm tình của người nghe.

Đáng tiếc, một số nhạc công, một vài “sao” biểu diễn trong lĩnh vực thanh nhạc đã tỏ ra thiếu tôn trọng công chúng, đã dễ dãi cho ra đời những ca khúc như đã nói - không thành bài hát, phản nghệ thuật. Có lẽ xuất phát từ tâm lý: ta đã là “sao”, đã có fan ái mộ thì hát gì cũng được. Đúng là công chúng ở nước ta vốn dĩ có phần dễ dãi: đã ưa thích ai thì cũng dễ chấp nhận họ, ngay cả khi họ bộc lộ những điểm không hay. Và họ đã lợi dụng điều đó để cho phép mình thao túng sân khấu ca nhạc với nhiều mục đích. Càng là “sao” lại càng thuận tiện làm việc này hơn.

Mặt bằng ca khúc mới ra đời hiện nay đang xuống cấp nghiêm trọng. Đã có nhiều lời cảnh báo về hiện trạng này xuất hiện trên các báo, các cuộc hội thảo và dư luận xã hội. Đóng góp vào tình trạng đáng lo ngại này, ngoài những người sáng tác chuyên nghiệp ít tài năng và thiếu trách nhiệm còn có một bộ phận là các nhạc công và các “sao” ca sĩ. Mong rằng sự loạn... sáng tác bài hát như hiện nay sớm được chấm dứt. Việc này không khó, chỉ cần các cơ quan tổ chức biểu diễn, in ấn, xuất bản, phổ biến, phát hành kỹ tính hơn trong việc duyệt chương trình, kiên quyết không cho ra mắt những sáng tác non kém. Dĩ nhiên, bản thân những người có trách nhiệm này phải có trình độ chuyên môn đạt yêu cầu nhất định và phải có trách nhiệm cao trước công chúng

Vĩnh long xưa – một địa chí văn hóa thu nhỏ của đất nam bộ

1. Vài nét về địa lý hành chính của Vĩnh Long xưa:

Cũng như bao tỉnh miền Tây khác, Vĩnh Long vốn do đất phù sa cấu tạo, phì nhiêu thích hợp để trồng lúa các loại cây ăn trái và cây kỹ nghệ như: bố, bông vải. Đa số người dân sống bằng nghề nông. Vĩnh Long nằm ở vị trí trung tâm của Nam phần Việt Nam, giáp ranh với các tỉnh: Kiến Tường, Định Tường, Phong Dinh, Vĩnh Bình, Kiến Hoà và An Giang.

Khảo sát về lịch sử tỉnh Vĩnh Long qua nhiều giai đoạn, chúng tôi nhận thấy: từ 1658 trở về trước, Vĩnh Long thuộc địa phận nước Chân Lạp; từ 1658 -1730 Vĩnh Long được đặt dưới sự bảo trợ của chúa Nguyễn; từ 1730 -1759 là thuộc địa của chúa Nguyễn; từ 1760 trở về sau, vua Chân Lạp nhượng đứt cho Việt Nam; từ 1867 bị đặt dưới chế độ thuộc địa của Pháp. Năm 1867, quân Pháp từ Định Tường (Mỹ Tho) kéo đến chiếm thành Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên, dân tình sống trong cảnh lầm than, Vĩnh Long đầy tang tóc. Cụ Phan Thanh Giản tử tiết trên mảnh đất này, làm cho mọi người xúc động, cảm phục sự hy sinh cao quý của cụ, thà chết chứ không bao giờ khuất phục trước vũ lực bạo tàn của kẻ xâm lăng.

2. Những di tích lịch sử - văn hoá:

2.1. Đình:

Khi nói đến một làng xưa Việt Nam thì tâm điểm trọng yếu đầu tiên mà ai cũng nghĩ đến là đình làng. Ngôi đình là nét đặc trưng hay có thể gọi là bản sắc của làng xã truyền thống Việt Nam. Đình là nơi tôn thờThành hoàng, vị thần bảo hộ cho làng, là trái tim điều khiển chi phối những hoạt động đời sống cộng đồng của đơn vị hành chính cơ sở tạo nên đất nước. Ngôi đình không chỉ là cơ sở tín ngưỡng quyền lực siêu nhiên mà còn là nơi hội họp bàn bạc tất cả những vấn đề to nhỏ liên quan đến làng. Đời sống cộng đồng hưng thịnh hay suy bại, cư dân có an khang phú quý hay không, phong tục thuần hậu tốt đẹp hay không, tất cả đều liên quan đến tâm điểm thiêng liêng – ngôi đình. Đó là nơi biểu hiện chỉnh thể kinh tế, văn hoá, xã hội của một địa phương.

Các triều đại hưng rồi vong, đất nước có thể thăng trầm nhưng đình vẫn sừng sững đứng đó và làng không thể mất đi, làng lại kết tụ thành đất nước. Qua hai cuộc chiến tranh kháng Pháp và chống Mỹ, có biết bao đình, chùa của làng quê Việt Nam đã bị huỷ hoại. Sau 1975, do thiếu ý thức bảo vệ, chúng ta đã tự làm mất đi không ít ngôi đình. Ngoài ra, sự tác động hàng trăm năm của văn hoá phương Tây, tinh thần thiêng liêng của ngôi đình cũng không tránh khỏi mờ khuất, dần dần bị mai một và biến dạng. May thay, có một ngôi đình cổ ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn giữ được khá toàn vẹn diện mạo ban sơ – đình Tân Giai (một ngôi đình cổ kính từ thời Gia Long). Bên cạnh đình Khao cổ kính, Vĩnh Long còn có nhiều ngôi đình mang nhiều sắc thái độc đáo và lạ kỳ. Đình Tân Giai là ngôi đình lớn nhất trong tỉnh Vĩnh Long.

Được biết, vào đời Gia Long, nhận thấy dân chúng địa phương rất nặng lòng tín ngưỡng, chính quyền tán thành công cuộc xây dựng một ngôi đình thần. Đình toạ lạc trên vuông đất công điền, nằm sát mé sông Cổ Chiên, tại Vàm Cái Cá, mặt tiền hướng về phía bờ sông. Dân chúng đều hoan hỉ, tới nơi sùng phụng, tưởng niệm đất nước, tiền nhân, khói hương chiêm bái không ngớt. Đặc biệt nhất là vào những ngày đáo lệ Kỳ Yên, đủ mọi tầng lớp nhân dân hội họp cung thỉnh sắc thần, cực kỳ long trọng và tôn nghiêm.

Trải qua cuộc binh biến, ngôi đình vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, biểu dương tinh thần dân tộc. Chạnh lòng hoài cổ, các ông Phó tổng Ngô Văn Lân, hương cả Tống Hữu Viên là thân phụ ông Tống Hữu Trung có công lập làng Tân Giai, các vị kỳ lão trong làng cùng nhau đứng ra lo việc tu bổ ngôi đình, nối tiếp phụng thờ.

Năm 1924, vì bị dòng nước sông Cửu Long đổ xuống sông Cổ Chiên, làm lở mé hữu ngạn sông này, từ trên Vàm Tuần Bắc Mỹ Thuận chạy xuống Vàm Cái Cá và sông Long Hồ, làm ảnh hưởng đến ngôi đình. Quý vị hương chức hội tề bèn lo việc dời ngôi đình vào trong giữa đất liền của làng Tân Giai, gần mé rạch Cái Cá, cầu Kinh Cụt.

Hiện nay, nhằm đáp ứng niềm sùng kính của nhân dân địa phương, các vị trong ban hội hương đã đứng ra trông nom và tái thiết lại ngôi đình. Trước hết là để bảo tồn cổ tích, sau nữa là nơi tôn nghiêm thờ phụng trong làng, gợi tinh thần yêu nước thương nòi, nhen nhúm lửa thiêng nơi lòng đồng bào không quên đất nước, tiền nhân.

2.2. Miếu:

Miếu Văn Thánh là dấu tích cổ xưa nhất ở Vĩnh Long (theo Địa phương chí tỉnh Vĩnh Long). Với lòng nhiệt thành của mình, Đề học Nguyễn Thông đã đứng ra vận động và xây cất Văn Thánh Miếu để thờ Đức Khổng Tử và các bậc hiền triết là môn đệ của đức Khổng. Công trình được khởi công năm Giáp Tý 1864 và hoàn thành vào cuối năm Bính Dần 1866 với kiểu kiến trúc truyền thống Việt Nam:

1) Chánh điện: Thờ Đức Khổng Tử. Hai bên Tả ban, Hữu ban thờ Tứ phối, Thập triết.

2) Hai miếu nhỏ hai bên: Tả vu, Hữu vu thờ Thất thập nhị hiền.

3) Văn Xương Các: Phía trước và bên tả Văn Thánh Miếu có xây dựng toà Văn Xương Các. Tầng trên lầu thờ 3 vị Văn Xương Đế Quân. Tầng dưới lầu, căn giữa để một cái khánh sơn son thiếp vàng, để bài vị thờ cụ Võ Trường Toản và hình cụ Phan Thanh Giản, phía ngoài cái khánh có khắc một đôi liễn với nội dung: "Hoàng phong xử sĩ thanh cao lão. Tự hiệu thư sinh tiết liệt thần" (Câu trên nói về cụ Võ Trường Toản, là một ông già thanh cao, ở ẩn dạy học, không chịu ra làm quan, được vua Gia Long cho là "Sùng đức xử sĩ". Câu dưới nói về cụ Phan Thanh Giản, vốn là bề tôi tiết liệt, khi sắp chết, dặn ghi trong tấm triện là "lão thư sinh" mà thôi)

2.3. Danh nhân:

Theo Địa phương chí tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Long xưa vốn là một dinh, một trấn lớn, bao trùm một góc miền Tây. Biết bao nhân vật ưu tú đã làm rạng danh đất Vĩnh. Ngày nay, nhiều di tích vẫn còn lưu lại trên đất Sa Đéc (Đồng Tháp), Bến Tre, là những vùng thuộc Long Hồ dinh ngày trước. Chẳng hạn như: Nguyễn Cư Trinh và Trương Phúc Du – hai nhân tài đã dày công khai phá Long Hồ dinh; quốc công Tống Phước Hiệp – quan lưu phủ Long Hồ dinh đầy đủ ân oai được dân chúng xưng phục; Lâm thao quận công Châu Văn Tiếp; Kinh môn quận công Nguyễn Văn Nhơn; Nguyễn Khoa Thuyên – cai bộ Long Hồ dinh, từng sát cánh với Tống Phước Hiệp xông pha chiến trận, Nam Kỳ kinh lược đại thần Phan Thanh Giản; Trương Vĩnh Ký – nhà bác học, nhân tài của nước Việt Nam; Đốc binh Lê Cẩn và Nguyễn Giao – hai vị hào kiệt chống thực dân Pháp; Lê Long An - vị tiền hiền có công khai mở ba thôn: Mỹ Thạnh, Mỹ Hưng và Mỹ Hội; Tri huyện Tống Hữu Trung - một viên quan gương mẫu được nhiều người cảm đức; Bà Trần Thị Thọ - nhà từ thiện nổi tiếng khắp ba kỳ, được vua Khải Định tặng Kim Bảng "Háo Nghĩa Khả Gia",.v.v…

2.4. Văn hoá - Nghệ thuật:

2.4.1. Văn học:

Nếu xưa kia Hà tiên từng nổi tiếng là nơi văn học do Mạc Thiên Tích chấn hưng nền văn hoá thì vĩnh Long cũng chẳng kém chi phong khí nho văn. Mặt khác, khi họ Mạc bị suy sụp, nhóm Chiêu Anh Các phân tán, nền văn học Hà Tiên cũng dần sút kém, trong khi đó ở Vĩnh Long lại rất hưng khởi dẫn đầu 3 tỉnh miền Tây lúc bấy giờ.

Từ lúc Vĩnh Long bắt đầu thiết lập "Nền văn" và miếu Văn Thánh, hằng năm sĩ phu miền Tây tề tựu về đây để nhóm họp đàm luận vă chương, giảng binh kinh sách tạo nên học phong sĩ khí đáng ca ngợi.

Trong lĩnh vực văn học không ai lại chẳng nghe tên, biết tiếng những tao nhân mặc khách đất Vĩnh như: Đỗ Minh Giám (Nhiêu Tâm), Đỗ Văn Sỏi (Bồng Dinh), Nguyễn Hữu Đức, nữ sĩ Trần Ngọc Lầu, Tống Hữu Định… Ông Phan Quốc Sang – tác giả 10 bài "Khuê phụ thán" nổi tiếng, ông Nguyễn Văn Dần – tác giả hai quyển sưu khảo "Vĩnh Long nhân vật chí" và "Sa Đéc nhân vật chí" . Ngoài ra, còn có các ông Nguyễn Phú Toàn (Nhập Vương Thị), Lê Ngũ Bá, Bùi Văn Khánh, Bùi Văn Triều, Lương Tử Mạnh, Nguyễn Phan Tần đều là những trang văn học tiếng tăm.

2.4.2. Sân khấu cải lương:

Ở bộ môn sân khấu, Vĩnh Long cũng có nhhiều nhân tài đặc sắc. Trong đó, ông Tống Hữu Định được biết đến như người có công đầu trong việc sáng tác tuồng và cũng là ngưồi đầu tiên đưa vở tuồng cải lương lên sân khấu trình diễn. Ông Tống Hữu Định xuất thân là một Phó tổng, tổng Bình Long, thường gọi là ông Phó Mười Hai, đặc biệt có năng khiếu văn chương, luôn yêu mến và quý trọng nghệ thuật. Ông họp bạn đồng điệu lại để cùng trao đổi ý kiến rồi sáng chế ra điệu ca ra bộ, đặt để bài ca cho hoà rập với dàn đờn thêm vui tai, làm thích ý những người mộ điệu ca cầm.

Bên cạnh đó, còn có ông Trần Quan Quờn, thường gọi là ông Kinh Lịch Quờn, nổi tiếng là bậc ưu tú về cổ nhạc, sáng tác rất nhiều bài vọng cổ nổi tiếng. Có thể nói, Vĩnh Long là "cái nôi" của nhệ thuật ca kịch, cùng với các nghệ sĩ ở Sa Đéc, Mỹ Tho đã đẩy mạnh sân khấu cải lương phát triển.

Ngoài ra, có thể kể đến nữ sĩ Bảy Ngọc – ca sĩ hữu danh nổi tiếng nhất ở Vĩnh Long xưa nay. Soạn giả nổi tiếng có ông Năm Mãn với vở "Phật Tổ Thích Ca đắc đạo". Lớp hậu bối có kịch sĩ Duy Lân, nhạc sĩ Bửu, danh ca Út Trà Ôn lừng danh với bài vọng cổ "Tình anh bán chiếu" của soạn giả Viễn Châu. Nữ ca sĩ Thanh Tùng với làn hơi thiên phú và độc đáo làm say lòng khách mộ điệu cầm ca. Cô đã từng vô dĩa phô trương tài nghệ góp công tô điểm nền ca kịch nước nhà nói chung, Vĩnh Long nói riêng.

Nhắc đến Vĩnh Long, chúng ta không thể không hoài niệm về các nhân vật: Nguyễn Văn Nhơn, Tống Phước Hiệp, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông,v,v… lại thêm đình Khao, Nền Văn, Văn Thánh Miếu… Tất cả những nét cổ kính và khả ái ấy ngày nay hãy còn di tích. Điều đó đã chứng tỏ đất Long Hồ là nơi văn hiến, đầy vượng khí. Có thể nói, nhân dân Vĩnh Long nói riêng, người Nam bộ nói chung đã trải qua mấy trăm năm văn hiến rạng rỡ và xứng đáng để thế hệ sau tưởng niệm với tấc lòng cảm khái, miên man niềm hoài cổ, xứng đáng là địa chí văn hoá của vùng đất phương Nam.

NGUYỄN BÌNH ĐÔNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

- Vĩnh Long xưa, Huỳnh Minh, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2002.

- Địa phương chí tỉnh Vĩnh Long.

- Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long, Khoa Ngữ Văn Đại học Cần Thơ, Nhà xuất bản Giáo dục, 1997.

Madonna nhận nuôi 100 con nuôi

Nữ hoàng nhạc pop Madonna (ảnh) khiến cho hàng ngàn người phải ngỡ ngàng khi tuyên bố nhận nuôi cả 100 đứa trẻ của làng Malawi ở Trung Phi.Hiện cô đang tiến hành xây dựng một trường học và một ngôi nhà lớn đủ để cho 100 đứa trẻ cùng chung sống với nhau. Trước đó không lâu, Madonna từng ngỏ ý tìm một đứa con nuôi nhưng cuối cùng cô đã quyết định nhận nuôi tất cả trẻ em của ngôi làng Malawi (Trung Phi) với khoảng 100 trẻ em. Như vậy, tổng cộng Madonna đã có 102 đứa con (1 con riêng 9 tuổi và cậu bé Rocco 5 tuổi, kết quả của mối tình giữa cô với đạo diễn Guy Ritchie).

Britney Spears lại gây sốc

Dường như tự cảm thấy quá tẻ nhạt, Britney Spears lại tuyên bố kết hôn. Và người sẽ cùng cô sánh bước trong nhà thờ không ai khác ngoài Kevin Federline, người chồng hiện tại của cô, nhằm chấm dứt mọi đồn thổi không hay về mối quan hệ của hai người.Dự kiến, đám cưới này sẽ được tổ chức vào tháng tới. Tuy nhiên, xem ra quyết định ngộ nghĩnh này của Britney vẫn không lôi kéo được sự tò mò của dư luận bởi đây đã là lần thứ 3 Britney tổ chức đám cưới mà lại là với người cũ.

Tân Hoa Hậu Hoàn Vũ ngất xỉu, phải đưa đi cấp cứu

Chỉ 40 phút sau khi biết mình là tân Hoa Hậu Hoàn Vũ, cô Zuleyka Rivera Mendoza của Puerto Rico đã té ngất xỉu trong cuộc họp báo và nhanh chóng được đưa đi cứu cấp. Sau đó các viên chức của Cuộc Thi Hoa Hậu Miss Universe 2006 cho biết là người đẹp nhất thế giới cao 5 feet 9 và mới 18 tuổi này đã bình phục và cô chỉ bị ngất mà thôi.Đại diện Lark Anton của Cuộc Thi hoa Hậu nói với Reuters: “Cô ấy OK rồi, không sao đâu. Cô bị choáng váng, thời tiết quá nóng và cái áo cô đang mặc lại chật chội và nặng nề.”

Anton cho biết trong ngày thứ hai Hoa Hậu Mendoza phải ăn uống nhiều.” Sau khi tỉnh lại, cô Mendoza, Hoa Hậu Miss Universe thứ 55 đã tham dự trở lại lễ hội Coronation Ball. Ông tỉ phú Donald Trump, một trong hai nhà Tổ chức cuộc Thi Hoa Hậu cho hay: “Vâng, cô ấy khỏe rồi!”.

Á Hậu là Hoa Hậu Nhật Bản Kurara Chibana, 24 tuổi. Á Hậu Thứ Nhì là Hoa Hậu Thụy Sĩ Lauriane Gillieron, 21 tuổi còn Hoa Hậu Mendoza lại là thí sinh trẻ tuổi nhất trong số những người lọt vào vòng chung kết.

Cô đã tỏ ra tươi cười, tuy có xúc động mạnh trong lễ đăng quang, cũng may là đa số giới báo chí rời phòng họp vào lúc cô té xỉu. Có người hét lớn: “Có ai là y tá không?”

Nhưng cô đã hồi phục chỉ khoảng vài phút sau và tuyên bố cô sẽ lên đường thi hành sứ mệnh của một Miss Universe trong năm nay. Kỳ thi đầu tiên của Miss Universe là vào năm 1952 ở Long Beach, California.

Miss Puerto Rico đoạt vương miện Hoa hậu Hoàn vũ

Zuleyka Rivera Mendoza, đại diện của đảo quốc vùng Caribe, đã đăng quang trong đêm chung kết cuộc tranh tài sắc đẹp diễn ra vào 23/7 tại Los Angeles (Mỹ). Cô gái 18 tuổi này mơ ước trở thành một ngôi sao của điện ảnh Mỹ Latin.
Khi nghe tên mình được xướng lên, Mendoza xúc động đến nghẹn ngào và ôm chầm lấy Hoa hậu Nhật Bản Kurara Chibana. Tay cô bưng chặt lấy miệng, dường như không tin nổi vào tai mình nữa. Hôm nay, thí sinh Puerto Rico diện bộ váy màu ngà, được làm hoàn toàn bằng dây kim loại.

"Tôi luôn luôn tự tin, nhưng chưa bao giờ nghĩ mình sẽ là người chiến thắng", Mendoza phát biểu những lời đầu tiên sau khi đăng quang bằng tiếng Tây Ban Nha. Cô tuyên bố sẽ kiên trì thực hiện nhiệm vụ của một sứ giả sắc đẹp là tuyên truyền để nâng cao nhận thức của người dân toàn thế giới về HIV/AIDS. "Tôi muốn nói với mọi người rằng trong cuộc sống ai cũng gặp khó khăn, nhưng cũng luôn luôn có cách để giải quyết vấn đề", người đẹp nói.

Kurara Chibana (Nhật Bản) giành vị trí Á hậu thứ nhất của cuộc thi lần thứ 55 này. Ngôi Á hậu thứ hai thuộc về thí sinh Thụy Sĩ - Lauriane Gillieron. Đại diện Paraguay - Lourdes Arevalos - về thứ ba. Á hậu thứ tư là Miss Mỹ - Tara Conner.

Lia Andrea Ramos, người đẹp Philippines, được bầu là Hoa hậu ăn ảnh qua một cuộc bình chọn trên mạng. Angela Asare của Ghana giành danh hiệu Hoa hậu thân thiện. Kurara Chibana, thí sinh đến từ xứ sở anh đào, là người có trang phục dân tộc đẹp nhất. "Nếu không trao cho Miss Nhật Bản giải này, chắc cô ấy sẽ đụng dao đụng kiếm mất", bình luận viên Carson Kressley của chương trình TV Queer Eye đùa.

Tara Conner, người đẹp của nước chủ nhà, được xướng danh trong số 10 thí sinh cuối cùng của cuộc tranh tài sắc đẹp đang diễn ra tại Los Angeles (Mỹ). 9 suất khác thuộc về Hoa hậu Bolivia, Canada, Colombia, Nhật Bản, Mexico, Paraguay, Puerto Rico, Thụy Sĩ, Trinidad & Tobago.

Người đẹp tóc vàng đến từ Kentucky (Mỹ) đã mặc bộ đồ cưỡi ngựa 3 màu đỏ - trắng - xanh và cầm một cây roi trong đêm trình diễn trang phục dân tộc. Thí sinh từ các nước khác thì giới thiệu những bộ đồ đầy màu sắc, mang đậm bản sắc quê hương, trang trí bằng lông chim, lông thú, đồng tiền, những chiếc mũ vĩ đại. Riêng Hoa hậu Nhật Bản còn mang bên mình một thanh kiếm Samurai.

Đại diện của 86 quốc gia và vùng lãnh thổ đã trình diễn hết mình trong hai đêm thi bikini và trang phục dạ hội cùng phần phỏng vấn để cạnh tranh 20 suất vào đêm chung kết 23/7. 20 người đó là thí sinh các nước: Bolivia, Canada, Colombia, Nhật Bản, Mexico, Paraguay, Puerto Rico, Thụy Sĩ, Trinidad & Tobago, Mỹ, Đan Mạch, Ethiopia, Nga, Brazin, Thụy Điển, Thái Lan, Hungary, Ấn Độ, Argentina, Ukraine.

Vòng thi áo tắm diễn ra hôm 18/7, còn phần thi trang phục dạ hội tổ chức tối 21/7. Tuy nhiên, kết quả của các vòng thi này chỉ được thông báo trong đêm chung kết. Điểm của các thí sinh cũng không công khai. Từ 20 người, Ban giám khảo chọn tiếp 10 người vào vòng trong. 5 người nổi trội hơn sẽ nằm trong top cuối cùng, gồm 1 Hoa hậu và 4 Á hậu. Người giành vương miện có cơ hội được đi du lịch khắp thế giới để làm từ thiện trong vòng 1 năm.

Kết thúc đêm chung kết, Hoa hậu Hoàn vũ 2005 Natalie Glebova sẽ trao chiếc vương miện đính kim cương và ngọc trai trị giá 250.000 USD cho người kế vị. “Một năm đi khắp thế giới với vai trò Hoa hậu Hoàn vũ có ý nghĩa hơn rất nhiều so với điều tôi chờ đợi”, Glebova tâm sự. Người đẹp Canada đã bắt đầu “triều đại” của mình bằng chuyến đi tới Nam Phi và làm xét nghiệm HIV ở đây.

Đây là lần đầu tiên sau 7 năm, cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ được tổ chức tại quê hương của Nữ thần Tự Do. Hoa hậu Mỹ Tara Conner đang được kỳ vọng trở thành người đẹp xứ sở cờ hoa đầu tiên đăng quang sau Brook Lee năm 1997. MC Nancy O'Dell và ca sĩ Carlos Ponce đảm nhiệm vai trò dẫn chương trình.V.H. (theo AP, Missosology

Đôi nét về tân Hoa hậu Hoàn vũ:

Zuleyka Rivera Mendoza sinh ngày 19/3/1987 tại Barrio Parcelas Vázquez, Salinas, Puerto Rico. Là chị cả của hai cậu em trai trong gia đình có 3 chị em.

Mendoza đang là sinh viên báo chí Đại học Puerto Rico. Cô từng đoạt giải Hoa hậu tuổi teen của quốc đảo này.

Khi được hỏi, hiện tại người cô muốn gặp nhất là ai, Mendoza cho biết đó là Angelina Jolie. Cô mê bộ phim truyền hình Friends với diễn viên chính là Jennifer Aniston, thích phiên bản Latin của chương trình "American Idol".

Khi được hỏi về lợi thế của mình trước các người đẹp khác, Mendoza trả lời: "Một số bạn bè và những người làm trong ngành thời trang cho rằng, tôi sở hữu một gương mặt rất Latin. Tất cả những đường nét trên gương mặt tôi đều mang hơi thở của những đặc trưng văn hóa dân tộc, âm nhạc và sự đa chủng tộc của Puerto Rico. Cá nhân tôi tự thấy mình là một phụ nữ biết hoạch định cho mình những mục tiêu cụ thể và rõ ràng. Quyết tâm, mạnh dạn và tự tin là những phẩm chất làm nên sự khác biệt ở tôi".

Văn hóa… ngủ của người Việt

Một trong những tính cách đáng trân trọng trong truyền thống người Việt là tính cộng đồng. Từ xưa, ông cha ta đã có hội làng, hội xã, cùng ăn, cùng uống, cùng múa hát, vui chơi. Phải chăng vì thế mà người Việt ngày nay cũng nhiễm luôn tật… ngủ giữa cộng đồng?

Có lẽ trong số những nhu cầu cơ bản của con người, chẳng có nhu cầu nào bức thiết bằng chuyện ngủ. Bạn dỗi bố mẹ, dỗi bà xã, bạn có thể nhịn ăn hẳn vài ngày. Chán uống nước, bạn đi uống bia rồi về nhà… ngủ. Nhưng bạn thử nhìn vào gương xem bạn là ai nếu bạn thức trắng một đêm để xem World Cup, hay vì một lý do nào đó mà không thể ngủ một giấc ra trò.

Thế nhưng, chớ vì thế mà bảo chuyện ngủ là chuyện riêng, rằng mắt là của tôi, tôi muốn thức lúc nào thì thức, ngủ lúc nào thì ngủ.

Nếu bạn ngủ trên giường hay sôpha nhà bạn thì không sao, nhưng những lúc cơn buồn ngủ ập đến khi bạn đang ở trên tàu xe, công viên, công sở hay bất kỳ một nơi công cộng nào, thì giấc ngủ của bạn lại trở thành chuyện làng chuyện xã, hay xa hơn là chuyện văn hóa.

Tôi nói không ngoa, chỉ cần bạn để ý một chút thì xung quanh bạn lúc nào cũng có những người đang… ngủ. Trong văn phòng, trong nhà chờ xe buýt, trước cửa nhà bạn, trong công viên, thậm chí ngay trên đường quốc lộ, đâu đâu cũng có người đang ngủ.

Cá biệt hơn, có không ít người ngủ ở những nơi “nhạy cảm” nhất, như trong phòng thi, trong lúc chờ bạn gái (trai), hoặc đơn giản nhất là mấy bác xe ôm ngủ lăn chiêng đổ đèn trên xe trong khi chờ khách, và khi giật mình tỉnh dậy thì thấy khách đã ngồi lên xe đồng nghiệp tỉnh ngủ hơn.

Người ta ngủ thật ngon, cứ như từ thuở cha sinh mẹ đẻ ra chưa bao giờ được ngủ. Tôi cam đoan rằng nếu bạn là người bị bệnh mất ngủ kinh niên, bạn sẽ nuốt nước bọt ừng ực khi thấy người ta ngủ ngon lành đến thế
Với tính sáng tạo của người Việt, gầm xe hay bãi biển đều có thể trở thành những thiên đường để… ngủ.

Chiếc nón lá biểu trưng của người Việt, không chỉ để che nắng che mưa, để người thiếu nữ làm duyên, mà còn là vật che mắt lúc ngủ
Năm 8 tuổi, tôi có nghe cụ nhà ví von: “Khổ như đợi tàu”, hay “Khổ như đi tàu chợ”, đến bây giờ mới hiểu tại sao.

Bàn tán về cái chuyện ngủ giữa cộng đồng, có người khen sao mà người ta giỏi ngủ, có người lại chê rằng là hớ hênh, là mất mỹ quan, có người chỉ tặc lưỡi cảm thông.

Nước ta không có luật cấm ngủ ngoài đường, hoặc nếu có thì cũng chỉ nằm đâu đó trên giấy tờ, cho nên chưa thấy ai bị bắt bớ, xử phạt vì chuyện ngủ. Do đó lúc buồn ngủ, bạn cứ ngủ cho nó thỏa thích, nhưng nhớ làm sao để bạn ngon con mắt, còn người khác đừng có cay con mắt là được ấy mà.(Nguồn ảnh: giaiphapmang.net

Văn hoá ở VN thời mở cửa: Khi “tục” ngữ đến từ trên mạng...

Từ ngày có cái “quán” internet về mọc ngay ở đầu xóm, đám thanh niên choai choai xóm tôi ăn nói đến lạ. Ngay như ông tổ trưởng dân phố đã ngoài sáu mươi tuổi cũng có lần than thở: “Thằng cháu tôi bây giờ hễ mở mồm ra là cừu sát, hảo hữu, huynh đệ… hở ra là nói tục như ranh. Hỏi nó lớn lên làm gì thì nó bảo đi tù thuê. Tôi cũng chẳng hiểu mô tê ra làm sao”. Có người biết chuyện thưa lại: “Đó là ông không biết đấy thôi, nó nói vậy là do nó chơi “Võ lâm truyền kỳ” trên mạng internet ấy mà”. “Ôi giời, nét gì thì nét nhưng cứ như thế này thì hỏng hết nết người”.

Câu nói “nghề đi tù thuê” của thằng bé khiến tôi cũng cảm thấy tò mò, liền lân la dò hỏi. Chủ quán internet là một thanh niên chừng 25 tuổi nhìn tôi với con mắt thông cảm “Anh cứ tập chơi đi, bảo đảm chỉ một tuần là anh nói giống… nó. Em đang có “con” Lệnh Hồ Xung phái Ngũ Độc, đã luyện lên tới cấp 20, kỷ niệm anh luôn”. Tôi lần mò gõ tên account cùng mật khẩu vào máy tính. Trên màn hình, “nhân vật” của tôi hiện ra ngơ ngẩn và yếu đuối. Đang chưa biết phải làm gì, cô bé ngồi máy bên cạnh giục: “Anh điều khiển cho nó đi đi, phải “hành tẩu giang hồ” nhiều mới tăng được kinh nghiệm”. “À tớ chưa chơi bao giờ nên không rành lắm, bạn chỉ cho mình với”. “Ô kê con gà đen, anh làm “đệ” (đệ tử) của em nhé, để em bật “me nu” kết giao bằng hữu với anh”. Cô bé điều khiển nhân vật của cô đến gần nhân vật của tôi. So với nhân vật kia, Lệnh Hồ Xung của tôi chỉ như một gã đầy tớ hạng bét. “Nhân vật của em tên gì?"-Tôi hỏi. “Béc-khăm”. “Tên gì nghe quái lạ vậy?”. "Ơ, cầu thủ bóng đá mà anh cũng không biết à”. “Biết, nhưng nghe nó kì cục làm sao ấy…”. Cô bé bĩu môi: “Làm gì mà đã lạ, hôm qua em gặp “con” tên là “deptraidatinh” (Đẹp trai đa tình), hay “nguoimau89” (Người mẫu 89) còn chưa bảo lạ…”. Tôi im lặng điều khiển nhân vật của mình “theo đuôi” Béc-khăm. Béc-khăm luôn tay chém giết những nhân vật khác, nhân vật của tôi chỉ đứng nhìn, vì rằng tôi không biết chơi, và cũng vì rằng đối với những nhân vật khác thì Lệnh Hồ Xung của tôi chỉ là “con tép-phẩy cái chết” như lời cô bé nói.

Sau một hồi “đánh đấm”, Béc-khăm vứt cho tôi một mớ đồ “chiến lợi phẩm”. Tôi hỏi cô bé: “Tại sao em giết nhiều thế, “nó” có làm gì em đâu”. “Để kiếm đồ, tăng kinh nghiệm… với lại trông bọn nó ngứa mắt. À, em giết nhiều người, có nhiều “cừu nhân” nên “tổn hao chân khí” lắm, anh đi tù hộ em nhé”. “Ô kê"-Tôi mau mắn nhận lời. Chúng tôi-hai nhân vật-đi đến “ngục thất”, sau một vài thao tác, nhân vật của tôi đã trở thành tù nhân. “Bây giờ anh phải làm gì?"-Tôi hỏi. “Anh ngồi đó ăn năn hối cải”. “Vậy còn em?”. “Tiếp tục hành tẩu giang hồ tìm “gà” mới-nói đến đây cô bé cười rinh rích”. Á à, té ra tôi là con “gà” đi tù hộ cô bé. Đúng là “giang hồ hiểm ác” thật. Sau “vụ” đó, Lệnh Hồ Xung tôi tiếp tục “hành tẩu giang hồ” và bắt gặp không ít những lời chửi bới, thóa mạ, khiêu khích, (những lời nói mà “chỉ nghe thôi đã thấy bẩn”), dính những “quả lừa” tinh vi, xảo quyệt.

Rời quán nét, trong đầu tôi vẫn “loảng xoảng” với đủ những loại ngôn từ của “thế giới ảo” Võ lâm truyền kỳ, từ những lời lẽ hoa mỹ tới đủ thứ “ngoại ngữ” thô tục, bậy bạ mà người chơi cứ thả sức “xả” đầy trên mạng. Mặc dù người quản trị mạng (admin) đã không ít lần nhắc nhở người chơi không nói tục, chửi bậy nhưng xem ra không hiệu quả. Người chơi, người quản trị mạng không biết mặt nhau, nhắc nhở nhiều lại bị chửi. Đúng là thế giới ảo, thế giới không thể giữ trật tự.

Từ “lóng”, từ tục dễ “lây nhiễm” vậy, bảo sao giới trẻ chẳng nói, bảo sao chẳng “quen mồm”. Mong rằng, các bạn trẻ khi vui chơi giải trí với những trò chơi trực tuyến đừng học tập những ngôn từ như vậy, đừng để ngôn từ trong thế giới ảo ảnh hưởng trở thành một nết xấu. Còn những người trưởng thành, hãy đừng "bỏ ngoài tai", đừng bỏ qua những lời ăn tiếng nói kệch cỡm, cùng lối vui chơi quá đà của con trẻ.Đông Hà

Nhạc trẻ VN qua rồi thời vàng son?

Ca sĩ săn tìm ca khúc hay nhưng các nhà sáng tác ngày càng lâm vào bế tắc. Ảnh: C.T.V
Chưa bao giờ tình hình sáng tác lại nở rộ nhưng lại đầy... bế tắc như hiện nay. Các ca khúc mang đầy tính học thuật không được công chúng số đông đón nhận, còn những ca khúc thuộc “số đông” thì bị các nhà chuyên môn chỉ trích Ca khúc không phải là tất cả những gì có trên thị trường âm nhạc, thế nhưng khi thiếu vắng những ca khúc “hit” thì thị trường âm nhạc dường như vắng lặng, không còn sôi động nữa. Từ nhà sản xuất đến ca sĩ và khán giả đều trông ngóng sự xuất hiện ca khúc hay từng giờ từng phút. Nhưng các “nhà sáng tác” ngày càng lâm vào bế tắc.

Dự án nối tiếp dự án vẫn bế tắc

Chính vì vậy, các nhạc sĩ sáng tác đã tự đi tìm công chúng cho chính mình bằng những dự án âm nhạc mà mới nghe qua, ai cũng phải giật mình. Người thì “nghiêng ngả” theo số đông, người thì “chọn lọc” người nghe quá kỹ. Các nhạc sĩ càng xoay xở thì dường như càng bế tắc. Nhiều nhạc sĩ cứ nhập nhằng không biết mình là “người sang” hay “kẻ chợ”, cứ lơ mơ nghe ngóng thị trường và sau đó chạy theo nó đến mệt nhoài. Chính bài toán áo cơm đã đưa các nhạc sĩ đến “ngã ba” đầy khắc nghiệt mà nếu là nhà kinh tế thì sẽ dễ lựa chọn hơn khi đứng trước những dự án chỉ tốn vài chục triệu mà có thể đáp ứng thị hiếu – dĩ nhiên là bình dân – của mấy triệu người nghe. Và có quá lãng phí hay không khi một dự án âm nhạc tốn tiền tỉ chỉ để phục vụ cho mấy trăm người thưởng thức (!?). Và còn nhiều dự án âm nhạc với những tác phẩm tầm cỡ “xuyên quốc gia”, hay phục vụ “đa quốc gia” vẫn còn bế tắc nằm trên bàn giấy.

Ca khúc hay: Chỉ còn trong hoài niệm

Những tên tuổi lừng lẫy một thời như Thanh Tùng, Trần Tiến, Dương Thụ, Trọng Đài, Phó Đức Phương, Ngọc Châu... dường như đã lui về “ở ẩn” hoặc sáng tác thưa dần. Thị trường âm nhạc khó có thể tìm được những Giọt nắng bên thềm, Chị tôi, Cho em một ngày, Không thể và có thể, Hoa cỏ mùa xuân... như những ngày xưa ấy. Cái không khí bi quan phủ trùm lên bầu trời âm nhạc. Các nhạc sĩ trung niên giờ cũng đã già, còn các nhạc sĩ trẻ thì không chịu “lớn” lên. Thị trường âm nhạc rơi vào tình trạng khủng hoảng ca khúc trầm trọng: thiếu các ca khúc đủ “chất lượng” nhưng lại thừa số lượng người tham gia sáng tác. Nguyên nhân là các nhạc sĩ tên tuổi không còn “sung” như trước đây. Mặt khác, một thị trường âm nhạc “phi chuẩn” như hiện nay đã làm cho những nhạc sĩ có tên tuổi thực sự phải chùn tay. Nhạc sĩ Phú Quang đã từng lên tiếng về sự “phi chuẩn” này khi nói về danh xưng nhạc sĩ. Dường như hiện nay các nhạc sĩ thực thụ đã bị đánh đồng với những người viết ca khúc không chuyên, không có hội chuyên ngành nào công nhận mà phần đông là các “nhạc sĩ”... tự công nhận chính mình và khi có một người “ăn may” với một ca khúc nào đó ồn ào trên thị trường thì kéo theo hệ lụy “người người sáng tác, nhà nhà sáng tác” làm cho danh xưng “nhạc sĩ” bị hạ thấp đến đau lòng.

Định hướng sáng tác: Công chúng bình dân

Hoạt động âm nhạc càng “khát” những ca khúc hay khi ngày càng có nhiều các nhạc sĩ trẻ, hay “nhạc sĩ” mới lăm le vào nghề đã quên đi lòng tự trọng mà “sinh sản vô tính” hàng loạt tác phẩm chất lượng kém chỉ để bán kiếm tiền. Dù chỉ có một nội dung hoặc một “mô típ” xuất hiện trong một ca khúc nào đó, khi tung ra thị trường, được người nghe chú ý là lập tức sau đó, hàng chục “phiên bản” nối đuôi nhau xuất hiện. Hiện nay các Sở VHTT chỉ duyệt nội dung, chủ yếu là ca từ của ca khúc, trước khi cấp phép phát hành chứ không thể kiểm định được chất lượng chuyên môn của một tác phẩm âm nhạc.

Chính vì vậy, “ngọn gió thị hiếu” của công chúng bình dân đã xô ngã “bức tường nghệ thuật”, lôi kéo nhiều nhạc sĩ chạy theo “nguyên tắc số đông”, vô hình trung, các “trung tâm đĩa lậu” và những bầu sô ca nhạc hoạt động ở các tỉnh đã trở thành “cơ quan thẩm định” không chính thức cho độ “hot” các ca khúc trên thị trường. Nhưng có một điều đáng buồn là trong số những nhạc sĩ “sáng tác dễ dãi” đó không phải ai cũng là người non nớt, mà có người đã từng được giới chuyên môn công nhận, là hội viên chính thức của hội âm nhạc hẳn hoi, nay cũng nghiêng theo “chủ nghĩa ăn may” của âm nhạc thị trường.

Và để cứu vãn tình hình bế tắc ca khúc hay như hiện nay, các hội chuyên ngành như Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Hội Âm nhạc TPHCM đã có những cuộc vận động sáng tác và hỗ trợ các nhạc sĩ phổ biến tác phẩm. Thế nhưng các bài hát hay vẫn “biệt vô âm tín”. Cả VTV và HTV cũng đã vào cuộc với hai “cuộc chơi” lớn là Bài hát Việt và Sài Gòn tình ca, được quảng bá liên tục trên sóng truyền hình với hàng trăm ca khúc của mỗi chương trình, chất lượng chuyên môn được “bảo chứng” bởi hội đồng nghệ thuật hẳn hoi. Thế nhưng những ca khúc trên, dù được chăm chút rất kỹ từ khâu dàn dựng, hòa âm và được các “sao” thể hiện, vẫn chưa chinh phục được khán giả số đông và chưa được xem là các ca khúc “hit” trong đời sống âm nhạc.

Giờ đây nhạc trẻ chỉ còn những ca khúc gây được sự chú ý trên thị trường vì khả năng... gây sốc trong ca từ, hay ngay trong chính những xì căng đan của tác giả. Tìm một ca khúc “hit” trong thời buổi hiện nay còn khó hơn chuyện đãi cát tìm vàng. Có bi quan lắm không khi nói cái thời vàng son của nhạc trẻ đã qua và... không bao giờ trở lại! Đó không chỉ là câu chuyện “trà dư tửu hậu” bên bàn cà phê buổi sáng tại 81 Trần Quốc Thảo (trụ sở của Hội Âm nhạc TPHCM) nữa mà là vấn đề chung của mỗi chúng ta, những người tâm huyết với nền nhạc trẻ Việt Nam. ( Nguyễn Nhất Huy@NG.L.D)

Những thi sĩ túc cầu

TP - Nếu ví mỗi trận túc cầu là một vở kịch thì đó là một vở kịch thơ, mà mỗi cầu thủ là một nhà thơ tự viết nên những câu thơ của mình. Nhưng trong số biết bao nhà thơ như thế, dường như để tìm ra những thi sĩ tầm cỡ giải Nobel thì người ta cảm thấy không có nhiều. Trong cuốn sách “Từ Pele tới Maradona” của nhà báo Yên Ba vừa cho ra mắt bạn đọc nhân World Cup 2006 – World Cup lần thứ 18, anh đã chọn ra được 17 thi sĩ túc cầu như thế. Có vẻ như anh đang để dành cho kỳ World Cup này chàng thi sĩ túc cầu thứ 18, để dành cho chúng ta chọn lựa.

Cho đến hôm nay, khi trái bóng đã lăn vào các trận tứ kết đầy kịch tính thì dường như chàng thi sĩ túc cầu thứ 18 ấy đã được định hình. Chẳng phải ai khác mà chính là “người ngoài hành tinh”, là “gã béo” – gọi theo cách yêu chiều – Ronaldo.

Tham gia World Cup đầu tiên (1994) ở tuổi 18, Ronaldo chỉ ngồi trên ghế dự bị. Vậy mà World Cup sau (1998), Ronaldo đã tỏa sáng dù mắc cơn động kinh trước trận chung kết.

Đến World Cup 2002, Ronaldo đã cùng đồng đội giành Cúp vàng lần thứ 6 về cho đất nước của vũ điệu Sam Ba và đến World Cup này, vừa cùng đội Brazil vượt qua vòng Knock – out, Ronaldo vừa phá kỷ lục ghi bàn suốt 32 năm qua của Gerd Mueller – một thi sĩ túc cầu người Đức với 14 bàn thắng các kỳ World Cup.

Còn với Ronaldo thì bàn thắng ngày 27/6/2006 là bàn thắng thứ 15 trong các kỳ World Cup mà anh có mặt. Và có lẽ anh sẽ lập kỷ lục mới ở những trận cầu tiếp theo.

Giống như các thi sĩ trước mình, Ronaldo không phải dễ dàng tìm ra thi pháp riêng để khẳng định đẳng cấp. Những dấn thân trên đấu trường châu Âu ở Inter Milan, ở Barcelona… đã khiến cho Ronaldo nhanh chóng tỏa sáng.

Những đường bóng của Ronaldo như những câu thơ hiện đại, tước bỏ những hoa mỹ theo lối cũ, không ngại va chạm để đi thẳng tới đích là ghi bàn thắng. Chính vì sự độc đáo của mình, Ronaldo đã không ngừng bị những trọng tài khắc nghiệt thổi còi, không ngừng bị các đối thủ đốn ngã khiến anh bị chấn thương nặng nề.

Những chấn thương có thể dìm sâu Ronaldo vào cái đáy của sự lãng quên. Nhưng bản chất mạnh mẽ và ý chí ngoan cường của một thi sĩ không chịu khuất phục đã khiến anh không chịu lùi bước, vượt qua mọi rào cản.

Người ta cứ ngỡ sau chung kết World Cup 1998, Ronaldo đã phải nhường vị trí thi sĩ túc cầu này cho Zidane song trong thực tế, World Cup 2002 đã là một tiếng trả lời rắn đanh của tài năng đích thực này khi đội tuyển Brazil lại đăng quang Cúp vàng, còn đội tuyển Pháp thì lủi thủi ra về từ vòng loại.

Đến World Cup này, dường như không ai tin một “gã béo” chạy lang thang không bóng, mờ nhạt trong trận đấu mở đầu lại hiện sáng trở lại một sát thủ ghi bàn bằng rất nhiều kỹ thuật và tốc độ ở những trận đấu sau.

Trong trận đọ sức với Nhật Bản, màn trình diễn phối hợp nhỏ giữa Ronaldo và Ronadinho đột phá vào trung lộ tuy không ghi bàn thắng là màn trình diễn cực kỳ ngoạn mục của bóng đá hiện đại cũng như thơ vụt hiện cách tân hôm nay.

Ronaldo đã tạo ra lịch sử cho thi sĩ túc cầu thứ 18, đã bước vào lịch sử túc cầu và đã là lịch sử của môn nghệ thuật viết nên giai điệu bằng đôi chân huyền thoại, như Fontaine, như Kossis, như Gerd Mueller…

Giống như thơ ca, không biết bao nhiêu nhà thơ đã có những lóe sáng thần hứng, nhưng để tạo ra một sự nghiệp thơ ca đồ sộ mang tầm cỡ nhân loại thì số thi sĩ ấy quả thật là không nhiều.

Sự nghiệp của các thi sĩ túc cầu còn có chỗ khắc nghiệt hơn bởi họ chỉ có thể tạo dựng bằng những năm tháng tuổi trẻ trên dưới một thập kỷ. Tới World Cup sau, nếu tái bản, có lẽ cuốn sách của nhà báo Yên Ba sẽ có thêm thi sĩ thứ 18 và có tên là “Từ Pele tới Ronaldo” chăng? Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha

Thủ Tướng Nhật thăm tư dinh cố ca sĩ Elvis Presley

Từ trái sang phải: Tổng thống Bush, thủ tướng Nhật, vợ cũ Elvis, Lisa Marie Presley và con gái Elvis Presley, Priscilla Presley
Trong chuyến đi thăm tư dinh cố ca sĩ Elvis Presley tại bang Tennessee ở miền Nam nước Mỹ, Tổng Thống Bush và đoàn tháp tùng đã được thưởng thức giọng ca của Thủ Tướng Nhật Bản, ông Junichiro Koizumi, khi ông trình bày một số ca khúc nổi tiếng nhất của Elvis Presley, kể cả bài "Love Me Tender."Tin cho hay Thủ Tướng Nhật Bản còn đeo thử một cặp kiếng mắt của Elvis, đồng thời bắt chước dáng điệu độc đáo của ông vua rock and roll này khi được chụp ảnh và quay hình.

Ngoài Tổng Thống Bush, còn có Đệ Nhất phu nhân Laura Bush trong chuyến đi Memphis với Thủ Tướng Koizumi. Đích thân Priscilla Presley, vợ cũ của Elvis và cô con gái Lisa-Marie đã hướng dẫn phái đoàn đi thăm khu trang trại rộng 5,6 hécta của ông vua nhạc rock quá cố.

Tổng Thống Bush nói ông không ngờ vị khách quý đến từ Nhật Bản lại ái mộ Elvis đến thế, và nhà lãnh đạo Mỹ khen rằng Thủ Tướng Koizumi hát nhạc Elvis khá hay.

Chuyến đi thăm Memphis đã kết thúc hai ngày họp mặt giữa Tổng Thống Hoa Kỳ với nhà lãnh đạo Nhật Bản

Michael Jackson lại ra tòa

Mới đây Michael Jackson đã xuất hiện trong lễ trao giải MTV ở Nhật Bản
Một phiên tòa do cựu đồng sự làm ăn của ca sỹ Michael Jackson khởi kiện ngôi sao này sắp bắt đầu.Ông Marc Schaffel cáo buộc Michael Jackson còn thiếu nợ ông khoảng 3,8 triệu đôla. Michael Jackson kiện ngược lại ông Schaffel.Ca sỹ này sẽ không xuất hiện tại phiên tòa diễn ra tại Santa Monica, bang California, thế nhưng các chứng cớ trên băng video sẽ được chiếu trước tòa. Phiên xử của bồi thẩm đoàn sẽ diễn ra vào thứ Tư.

Phát ngôn nhân của Michael Jackson nói ca sỹ 47 tuổi này có kế hoạch biểu diễn trở lại và chuyển sang ở châu Âu.

Bà Raymone Bain nói: "Michael Jackson đã tới thăm Ireland và Pháp, đồng thời có các cuộc gặp với nhiều người để bàn về tương lai âm nhạc của mình".Bà cũng nói thêm ngôi sao nhạc pop vẫn còn giữ ngôi nhà tại Bahrain và chưa có kế hoạch bán trang trại Neverland tại bang California.

Michael Jackson đã hình thành một công ty mới và cắt quan hệ với một số nhà quản lý kinh doanh và tài chính của mình.Ông Marc Schaffel cáo buộc Michael Jackson nợ ông tiền làm một băng nhạc dùng cho mục đích nhân đạo và hai phim tài liệu. Ngoài ra ông nói còn nhiều khoản tiền công tác phí và vay nợ chưa được thanh toán.

Michael Jackson thì cáo buộc ông Marc Schaffel đã không trả thù lao ca sỹ và chi phí cho một cuốn băng mà hai người đồng sản xuất. Ông Schaffel cũng bị buộc là đã dùng danh tiếng của Michael Jackson để làm ăn ngay cả sau khi hai người đã chấm dứt hợp đồng.

Michael Jackson mới thoát khỏi cáo buộc lạm dụng tình dục

Harry Potter đến đây là chấm dứt

Nữ nhà văn JK Rowling nói bà có cảm giác 'siêu thực' khi vào thăm ĐiệnBuckingham
Nhà văn JK Rowling tiết lộ rằng bà cảm thấy buồn vì phải để cho câu chuyện về cậu bé phù thủy Harry Potter đến hồi kết nhưng bà sẽ không kéo dài nó ra nữa.
Phát biểu trong lễ sinh nhật Nữ Hoàng Anh 80 tuổi tại Điện Buckingham Palace, bà nói bà hài lòng với quá trình viết cuốn sách nhưng không tiết lộ ngày ra mắt.

Bà chỉ nói đây sẽ là tập cuối cùng dù chưa thể cho biết rõ khi nào sẽ viết xong: "Tôi không thể nào nói được điều gì cụ thể chừng nào chưa hoàn tất sách."Bà đã đọc một số đoạn từ cuốn Potter mới nhất cho các em nhỏ đến dự lễ cùng nghe.

Nhưng các em nhỏ sẽ còn phải chờ một thời gian nữa mới có thể biết tên tập cuối cùng của Harry Potter chưa có tên.

Năm nay 40 tuổi, JK Rowling dự sinh nhật Nữ Hoàng Elizabeth II với các văn nghệ sĩ như Michael Bond, Jacqueline Wilson, Philip Pullman, Ronnie Corbett, Martin Clunes và cả tay đầu bếp nổi danh Jamie Oliver.

Nói về cảm tưởng buổi lễ hôm 25.06 tại cung của Nữ Hoàng ở Luân Đôn có sự tham gia của 2000 trẻ em, nhà văn chuyên viết cho thiếu nhi nói “Thật là siêu thực khi có mặt tại Điện Buckingham."Là mẹ của ba đứa con, bà JK Rowling đã nổi tiếng thế giới bằng truyện Harry Potter. Bà viết tập đầu của Harry Potter trong cảnh sống nghèo khó, không có việc làm.

Nay bà là triệu phú và được coi là nhà văn Anh vĩ đại nhất đang sống. Bí quyết của Harry Potter là gợi ra các ước mơ của trẻ thơ.

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện

Bấm vào đây để nghe tiết mục này
Tập thơ Hoa Ðịa Ngục của Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện.[
Từ hơn 20 năm qua, tên của Nguyễn Chí Thiện được công chúng biết đến như một nhà thơ của lao tù. Ông lấy chất liệu cho thơ từ những đoạn đời khổ ải, những mảnh đời tan nát, từ những ngày, những tháng, và những năm trong ngục tối trong cùng cực, đói khát và hận thù không phải chỉ của ông mà của những bạn tù cùng cảnh ngộ. Ông tâm sự như thế này về sự hình thành của thơ:
Chịu cuộc đời khổ oan
Nát tan trăm ngàn mảnh
Chấp lại mới hóa thành
Mấy vần thơ ai oán

Lời thơ của ông không yêu kiều, diễm lệ mà là một nàng thơ khố khổ, nhục nhằn, đói khát và hèn mọn
Nàng thơ của tôi
Khát thèm rau muống
Mộng bát cơm gầy
Quỷ đói hay ma

Nhưng chính cái đơn sơ, giản dị mà lại không tầm thường của thơ Nguyễn Chí Thiện đã khiến cho thơ ông đi thẳng vào tâm hồn người đọc và được độc giả khắp nơi đón nhận như một người thân. Không rào đón, không lễ nghi, không cần giới thiệu.
Trước khi tên Nguyễn Chí Thiện được biết đến, người Việt hải ngoại đã xúc động trước một tập thơ không tên, không tác giả được phổ biến dưới nhan đề được lấy từ một câu thơ trong tập là Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực, rồi Chúc Thư Của Một Người Việt Nam, lúc đó là tháng 9-1980.Nguyễn An, phóng viên đài RFA

Tranh của danh họa người Áo Gustav Klimt được bán với giá cao kỷ lục

Bức tranh vẽ chân dung của bà Adele Bloch-Bauer
Một bức tranh có mạ vàng của danh họa người Áo Gustav Klimt, đã được bán với giá cao chưa từng thấy, tại một gallery ở New York.Bức tranh vẽ chân dung của bà Adele Bloch-Bauer, được thực hiện vào năm 1907. Bà này thuộc một gia đình có tên tuổi trong ngành sản xuất đường của Áo.Người mua bức tranh đó là ông Ronald Lauder, một tên tuổi quen thuộc trong ngành sản xuất mỹ phẩm. Ông Lauder chỉ nói rằng mình mua bức tranh để tặng lại cho viện bảo tàng New York, chứ không nói mua với giá bao nhiêu.

Tuy nhiên, có tin nói rằng giá của bức tranh đó cao hơn bức tranh “Cậu bé và ống vố” của họa sĩ Picasso được bán cách nay 2 năm với giá 104 triệu đôla. Bức tranh chân dung của bà Adele Bloch-Bauer đã bị Đức Quốc Xã lấy ra khỏi bộ sưu tập của gia đình khi đạo quân của Hitler xâm lăng nước Áo vào năm 1938.

Sau đó chính phủ Áo đã đòi lại được và mang ra trưng bày ở Vienne.Bức tranh đã được chuyển về Hoa Kỳ cho một thân nhân trong gia đình Bloch-Bauer đang sinh sống ở Mỹ, sau một thời gian dài kiện tụng giữa người bà con này và chính phủ Áo.

Phim hoạt hình “Cars” đạt doanh thu cao nhất tại Bắc Mỹ

“Cars”, bộ phim hoạt hình mới của Hãng Disney-Pixar đã dẫn đầu các bộ phim ăn khách nhất trong cuối tuần qua tại Bắc Mỹ với doanh thu 62,8 triệu USD.

Đây là lần thứ bảy liên tiếp một bộ phim của Disney-Pixar chiếm vị trí hàng đầu khi vừa được công chiếu. Nếu các con số được xác định,“Cars” được xem là phim hoạt hình đạt doanh thu cao thứ ba trước “Monsters & Cie” và sau “The Indestructibles” và “Finding Nemo”. Hai bộ phim này đã thu khoảng 70 triệu USD khi mới được công chiếu.

Đứng ở vị trí thứ hai là “The Break-Up” với 20,4 triệu USD trong tuần lễ thứ hai. Hai diễn viên chính trong bộ phim hài lãng mạn này là Vince Vaughn và Jennifer Aniston trong vai một cặp tình nhân vừa chia tay nhưng vẫn phải sống chung.

“X-Men 3: The Last Stand” của đạo diễn Brett Ratner chiếm vị trí thứ ba với 5,55 triệu USD trong cuối tuần đã thu tổng cộng 101,7 triệu USD. Bộ phim với các diễn viên chính là Hugh Jackman, Halle Berry, Framke Janssen và Ian McKellen đề cập về những anh hùng đột biến gien với sứ mệnh bảo vệ loài người.

“The Omen” tác phẩm làm lại của bộ phim ma quỷ cùng tên nổi tiếng năm 1976 đã được công chiếu vào tuần lễ thứ hai và thu được 15,45 triệu USD, đứng thứ tư trong danh sách với các diễn viễn chính Live Schreiber và Julia Stibes.

“Over the Hedge”, một bộ phim hoạt hình khác đứng hạng 5 với 10,3 triệu USD trước “A Prairie Home Companion” (4,6 triệu USD).

Tom Cruise vẫn là ngôi sao đắt khách nhất của Hollywood

Tom Cruise vẫn là ngôi sao đắt khách nhất Hollywood
Tạp chí Forbes của Mỹ vừa chấm điểm những nhân vật nổi tiếng và có sức thu hút nhất thế giới, người đứng đầu danh sách là nam diễn viên điện ảnh Tom Cruise.Danh sách thường niên của tạp chí Forbes về những người vừa giàu có vừa nổi danh, cho rằng mặc dù Tom Cruise gặp nhiều lời chê trách về thái độ của anh trong thời gian gần đây, nhưng họ vẫn để anh đứng đầu bảng, và gọi anh là ngôi sao đắt khách nhất của Hollywood.

Năm ngoái, thu nhập do đóng phim xi-nê của Tom Cruise là 67 triệu đôla.
Các bộ phim thu về nhiều tiền nhất của anh trong thời gian qua là "War of the Worlds" và "Mission Impossible III".

Trong một show phỏng vấn truyền hình, anh đã nhảy lên ngồi chồm hổm trên ghế bành để tuyên bố những lời tỏ tình với nữ diễn viên điện ảnh Katie Holmes. Hành động này khiến cho anh bị nhiều người chế diễu là có hơi sến, hoặc cải lương, hoặc không thích hợp.

Đứng thứ nhì trong danh sách nổi danh nhất thế giới là ban nhạc Rolling Stones của Anh, thứ 3 là bà Oprah Winfrey, người dẫn chương trình của một show mang tên bà; thứ Tư là ban nhạc U2, và thứ 5 là danh thủ đánh golf Tiger Woods.

Tiểu thuyết “The Master” của Toibin đoạt Giải thưởng Impac

Nhà văn Toibin và tác phẩm "The Master" ở London năm 2004.
Ngày 13-6, Ban giám khảo Impac - giải thưởng văn học quốc tế có giá trị 100.000 euro (tương đương 125.000 USD), đã công bố người được tôn vinh năm 2006 là nhà văn Colm Toibin với cuốn tiểu thuyết nổi tiếng The Master.
Vượt qua chín tác giả lọt vòng chung khảo được chọn từ danh sách đề cử gồm 132 nhà văn thuộc 43 quốc gia, trong đó có nhà văn Anh Jonathan Coe và người đồng hương Ronan Bennett, Toibin là nhà văn Ireland đầu tiên đoạt giải thưởng này.
The Master miêu tả sinh động một quãng thời gian đặc biệt khoảng bốn năm trong cuộc đời của nhà văn Mỹ nổi tiếng Henry James (1843-1916). Tác phẩm này đã được đề cử Giải Booker năm 2004 và đoạt giải Meilleur Livre Etranger của Pháp dành cho tiểu thuyết nước ngoài hay nhất năm 2005.
Một thành viên ban giám khảo Impac, nhà văn Andrew O'Hagan nhận xét, The Master là tác phẩm hoàn hảo nhất trong sự nghiệp của Toibin.
“Đây là một tác phẩm bộc lộ tất cả những đặc tính tuyệt vời của tiểu thuyết cổ điển. Nó thể hiện sức mạnh biểu đạt tâm lý, hết sức tinh tế và chính xác qua từng trang hư cấu tuyệt vời. Chúng tôi đã rất xúc động khi đọc tác phẩm này và cũng rất sung sướng trao giải thưởng cho nó”. - Ông nói.
Nhà văn Toibin nói: “Thật là tuyệt vời khi nhận giải thưởng này, bởi tôi từng rất ấn tượng với những người có tác phẩm đoạt giải vào các năm trước”. Ông đánh giá cao Alastair MacLeod, người đoạt giải năm 2001 với cuốn No Great Mischief và Edward Jones, tác giả vừa đoạt giải năm trước với cuốn The Known World.
Về cuốn sách của mình, Toibin cho biết, ông đã cố gắng tạo nên một tác phẩm để người đọc dù chưa hề đọc một cuốn sách nào của Henry James cũng có thể cảm thấy thích thú.
Ngoài The Master, Colm Toibin còn là tác giả của các tiểu thuyết khác như The South và The Blackwater Lightship.
Impac là giải thưởng văn học quốc tế thường niên được sáng lập cách đây 11 năm tại thành phố Dublin (Ireland), mở rộng cửa cho tất cả các tiểu thuyết gia thuộc bất cứ quốc gia nào và viết bằng bất cứ ngôn ngữ nào, nhưng tác phẩm phải được dịch và xuất bản bằng tiếng Anh.

Trao quyền thừa kế di sản của John Steinbeck

Nhà văn John Steinbeck,Giải Nobel Văn học năm 1962.
Chánh án một toà án liên bang Mỹ vừa quyết định trao quyền sở hữu tác quyền một số tác phẩm của nhà văn nổi tiếng John Steinbeck cho con trai và cháu gái của ông.Theo đó, con trai ông là Thomas Steinbeck và cháu gái Blake Smyle sẽ được nhận toàn bộ quyền sở hữu đối với mười tác phẩm, trong đó có Chùm nho phẫn nộ. Tác quyền những tác phẩm này trước đó thuộc về Nhà xuất bản Penguin và bà quả phụ Elaine, người vợ thứ ba của nhà văn.
Nhà xuất bản Penguin có kế hoạch chuyển giao tác quyền Của chuột và người vào năm 2012 và Chùm nho phẫn nộ vào năm 2014.
Thomas Steinbeck và Blake Smyle cũng đồng thời được nhận quyền sở hữu bộ phim The Long Valley và The Red Pony từ hãng Paramount.
Luật sư của Thomas Steinbeck và Blake Smyle nói rằng họ muốn “bảo vệ và gìn giữ di sản của John Steinbeck”. Họ đã có kế hoạch thương lượng lại các bản hợp đồng xuất bản các tiểu thuyết này với nhà xuất bản Penguin hoặc các nhà xuất bản khác.
Nhà văn John Steinbeck sinh tại California năm 1902. Cốc vàng, cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông, được xuất bản vào năm 1929. Ông mất tại New York năm 1968, sáu năm sau khi nhận giải Nobel văn học.

The History Boys được tuyên dương là Vở Kịch hay nhất tại Broadway

Vở kịch “The History Boys” của Anh được tuyên dương là Vở Kịch hay nhất tại sân khấu Broadway trong buổi trao giải Tony nhiều uy tín trong năm nay. Vở kịch chứa đựng những phân tích đầy khôn ngoan và nồng nhiệt của tác giả Alan Bennet trong ngành giáo dục Anh này đã đoạt được tất cả 6 giải Tony, nhiều hơn bất cứ kịch bản nào khác. Trong số những giải thưởng này có một giải diễn viên xuất sắc nhất cho Richard Griffiths trong vai một giáo sư lập dị nhưng được học sinh yêu chuộng.

Ông Nicholas Hytner được trao giải đạo diễn hay nhất. Nữ tài tử Frances de la Tour được trao giải diễn viên phụ hay nhất.

Kịch bản này cũng được những giải thưởng nhất về dàn dựng và ánh sáng.

Một vở kịch thắng giải hàng đầu nữa ngày hôm qua là “Jersey Boys,” mô tả cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc của thần tượng nhạc pop Frankie Valli và The Four Seasons. “Jersey Boys” giành được bốn giải Tonys trong đó có giải Nhạc hay nhất.

Nhạc kịch Canada “The Drowsy Chaperone” giành được 5 giải thưởng.

Tiếc cho Huế

Diễn ra từ ngày 3-6, Festival Huế đang ở thời điểm kết thúc (11-6). Nhìn lại chặng đường 9 ngày liên tục với rất nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, lễ hội phong phú với hơn 130 suất diễn tại trên 40 địa điểm người ta có cảm nhận rằng Thừa Thiên - Huế rất “kiên cường” đeo bám mục tiêu biến Huế thành một thành phố Festival có tầm cao và trí tuệ, mang đẳng cấp quốc tế. Được vậy, một kho tàng văn hóa truyền thống Việt Nam, những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của nước ta và của nhân loại sẽ được giữ gìn, phát huy.

Tuy nhiên, nhìn ở một góc độ khác, nhiều người không khỏi chạnh lòng khi chứng kiến cảnh luộm thuộm, kém hiệu quả dẫn tới sự tốn kém không cần thiết trong một số hoạt động của Festival Huế lần này.

Trước hết, phải thấy rằng có quá nhiều hoạt động diễn ra đồng thời và lịch hoạt động của một số chương trình cũng bị thay đổi gấp gáp mà thiếu sự thông báo kịp thời đã khiến du khách hết sức vất vả. Cụ thể, chương trình “Âm vang Trường Sơn” được tổ chức tại khu du lịch suối nước nóng Thanh Tân (KM26, QL1A, xã Phong An, huyện Phong Điền), cách Huế khoảng 30km diễn ra chỉ phục vụ một số người làm vườn và lác đác du khách.

Có buổi diễn của chương trình nghệ thuật Pháp hoành tráng, chất lượng cao, nhưng chúng tôi đếm được chỉ có 12 khán giả, nghĩa là số lượng người xem gần bằng số người diễn. Cùng cảm nhận chung của nhiều người, ai cũng thấy tiếc cho một số hoạt động văn hóa nghệ thuật rất quy mô nhưng lại vắng người xem, trong đó có lễ hội Truyền lô- vinh quy bái tổ, mang ý nghĩa đề cao việc học, khuyến khích nhân tài ra giúp nước. Khu triển lãm “Gian nhà chung” sau ngày khai mạc cũng lưa thưa người xem… Nghĩa là nhiều chương trình được đầu tư tốn kém mà không đem lại hiệu quả vì quá ít khách tham quan, dẫn đến sự lãng phí và cũng chưa đạt yêu cầu về việc quảng bá thương hiệu. Riêng trong đêm khai mạc, chúng tôi thấy rất nhiều người bán hàng rong đứng ngồi nhếch nhác vây quanh khu vực biểu diễn, thậm chí họ bán ở ngay sát lối soát vé vào sân khấu làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp của Festival. Dạ tiệc trong “Đêm Hoàng cung” chất lượng thức ăn thấp so với giá cả, thái độ phục vụ chưa thật lịch sự… Do quá nhiều hoạt động trùng thời gian hoặc cách xa nhau, một số ngày giờ diễn có thay đổi… và lại diễn ra trên một địa bàn quá rộng (làng nghề Phước Tích, Phong Sơn, Thanh Tân, Lăng Cô, Phú Mậu, Thủy Thanh…) nên không thu hút được nhiều du khách. Có thể nói hiếm ai có đủ kiên nhẫn và thời gian chịu đựng cái nóng nung người của tháng 6 Huế để dự hết dù chỉ lướt qua. Ngoài phố, chúng tôi đã không thấy hình ảnh phụ nữ Huế mặc áo dài bán hàng quán bình thường để tôn “vẻ dịu dàng pha lẫn trầm tư” như được vận động trước Festival; bên cạnh đó, giá xe xích lô, taxi, ăn uống dọc phố xá và các dịch vụ du lịch lữ hành, khách sạn đã tăng giá quá mức.

Chúng ta mong Huế là một thành phố tiêu biểu của cả nước về hoạt động lễ hội. Chính những hoạt động văn hóa nghệ thuật đặc trưng được tổ chức quanh năm suốt tháng vẫn có thể thu hút du khách, chứ không phải 2 năm mới có một lần. Tất nhiên cách khoảng thời gian nhất định có những điểm nhấn lớn nhỏ khác nhau (Festival là một điểm nhấn lớn, ấn tượng nhất)… Bởi những loại hình như “Đêm Hoàng cung” chắc chắn sẽ thu hút khách du lịch rất mạnh nếu Huế biết triển khai thường nhật hơn, ít ra mỗi tháng một lần. Tại sao không? XUÂN THÁI

Ca sĩ Billy Preston qua đời

Billy Preston
Billy Preston, ca sĩ kiêm nhà soạn nhạc lừng danh của Hoa Kỳ vừa qua đời sau một thời gian dài mắc bệnh, năm nay ông 59 tuổi.Ông đã rơi vào cơn hôn mê hồi tháng 11 năm ngoái vì bị hư thân, tình hình này càng xấu đi vào cuối tuần vừa qua.Được nhiều người xem là thành viên thứ năm của ban the Beatles, ông là một trong số rất ít nhạc sĩ cùng góp mặt chung với cả ban The Beatles lẫn ban The Rolling Stones.

Vào đầu thập niên 1970, Billy Preston tách ra chơi riêng một mình soạn ra nhiều nhạc phẩm, trong đó có “Outta Space” một bản nhạc không lời đã đoạt được giải Grammy

NGUYỄN CÔNG HOAN VÀ THỂ TIỂU THUYẾT

Nguyễn Công Hoan thường nói về thơ với một sự nghiêm chỉnh hiếm có. Trong hồi ký Đời viết văn của tôi, ông tự hào kể: “ Ngay từ những năm tôi còn nói ngọng, tôi đã thuộc một số thơ cổ của Trung quốc. Rồi tôi học phương ngôn, tục ngữ ca dao của dân tộc. Rồi tôi thích nghe những vần thơ chống Pháp của những tác giả ẩn danh do cha tôi dạy truyền khẩu...”. Vai trò của thơ được ông diễn tả bằng những lời lẽ cảm động: “Lúc đầu tôi đọc thơ, nhưng chưa hiểu. Rồi sau, vì đọc đi đọc lại luôn, tôi hiểu dần, ý nghĩa của những bài ấy như thấm thía tí một vào trong người và rồi hình như những lời ấy là của chính tôi nói với người khác vậy”.

Những khi có điều gì không được như ý, sau khi làm vài chén rượu, ông không chỉ đọc thơ mà còn làm thơ giải buồn. Trong hồi ký, ông từng chép ra nguyên văn mấy bài thơ ông đã làm.

Xem ra lời lẽ của một người suốt đời sống với thơ cũng chỉ chân thành đến vậy!

Song trong thực tế, nhà văn này sống với lịch sử văn học bằng văn xuôi và cái tư duy văn xuôi của mình. Ngoài một sự nghiệp truyện ngắn đồ sộ, ông là người đã viết khá nhiều tiểu thuyết, viết đều đều, có lúc một tháng viết vài cuốn. Trong số này có cuốn đương thời đã trở thành đối tượng để tranh cãi một hồi như Cô giáo Minh, có cuốn đã từng làm điên đảo một lớp công chúng như Lá ngọc cành vàng, có cuốn đã từng được các nhà nghiên cứu sau 1945 đề lên cỡ một trong những tác phẩm tiêu biểu của thể loại tiểu thuyết hiện thực, như Bước đường cùng …

Người ta tỏ ra dè dặt khi đánh giá chất lượng các tiểu thuyết Nguyễn Công Hoan, và điều này không phải là vô lý. Trừ mấy cuốn được nói trên, các cuốn khác của ông thường mắc những lỗi khá nặng về mặt nghề nghiệp. Ví dụ như trường hợp cuốn Thanh Đạm. Không phải chỉ sau 1945, đứng trên lập trường mác xít, mọi người mới chê quyển sách này. Mà ngay khi mới ra đời, nó đã bị một số người xem là áp đặt, giả tạo.[1]

Có điều, muốn cho công bằng, mỗi khi xem xét quá trình phát triển của tiểu thuyết Việt Nam trước 1945, người ta bắt buộc phải dừng lại ở trường hợp Nguyễn Công Hoan. Đặt bên cạnh những tác giả có những thành tựu tương đối hoàn chỉnh như Hoàng Ngọc Phách với Tố Tâm, Khái Hưng với Hồn bướm mơ tiên, Vũ Trọng Phụng với Số đỏ, những người như Lê Văn Trương, Vũ Bằng, Lan Khai, Nguyễn Công Hoan có cách tồn tại riêng. Với họ viết tiểu thuyết là công việc hàng ngày. Hay dở chưa nói, chỉ biết những cái họ viết làm nên sinh hoạt đời thường của thể loại. Chính cái dông dài tầm thường của một thứ giải trí không quá tốn tiền đã được bộc lộ đầy đủ qua các tác phẩm mà họ sản xuất đều đều.

Ngoài số phận chung như thế, với cái khu vực mà mình lập nghiệp, Nguyễn Công Hoan lại có một sự biệt nhãn hiếm có. Ông là người đã dành nhiều giấy mực để bàn về cái thể tài mà ông thường xuyên sử dụng. Khi thì ông có bài giảng chung về công việc của người viết tiểu thuyết (bài nói ở Hội nghị viết văn trẻ lần thứ nhất,1959).

Khi thì ông kể lại kỹ càng cho mọi người biết một số tiểu thuyết của mình đã ra đời trong những trường hợp nào (hồi ký Đời viết văn của tôi ). Người ta không thể bàn kỹ đến như thế về một công việc mà người ta chỉ làm một cách vô tình. Hoá ra Nguyễn Công Hoan đã nặng lòng với tiểu thuyết hơn nhiều, so với chính ông vẫn tuyên bố.

Sự chuẩn bị tự nhiên

Khi kể về cuộc đời của mình, nhà văn Nguyễn Công Hoan không có lối mơn man gượng nhẹ. Ông gây ấn tượng bằng cách làm ra vẻ nói tuột hết mọi điều cả điều xấu lẫn điều tốt. Thậm chí, vượt lên thói thường ông còn bất chấp dư luận, sẵn sàng đến mức trâng tráo kể lể tỉ mỉ mọi điều xấu sẵn có ở mình. Con người ông trong Đời viết văn của tôi hiện ra với hai đặc điểm:

Thứ nhất là thói lê la chơi bời từ đó biết nhiều biết rộng, biết từ việc trong nhà cho đến việc kín đáo chốn quan trường, rồi việc làng quê, việc chợ búa học hành thi cử. Hãy nhớ lại đoạn Nguyễn Công Hoan kể rằng mình bỏ học xuống ngồi gác đùi gác vế nói chuyện với những người lính trong huyện đường. Những lần tiếp xúc này để lại trong ông ấn tượng không bao giờ quên nổi; nếu có thể nói đến một thứ vốn sống thì ở Nguyễn Công Hoan, cái vốn ấy đa tạp, vượt ra ngoài cái khả năng mà một người bình thường có thể có.

Thứ hai, là cái xu hướng nhìn đời theo lối khinh thế ngạo vật. Ông không coi cái gì là quan trọng, không thích tin ở những lời giáo huấn. Ông xa lạ với cách nhìn thiêng liêng theo kiểu lý tưởng hoá. Ông muốn nhìn gần nhìn thẳng nhìn tận tim đen mọi người mọi chuyện.

Cái vốn sống ấy, lối nhìn đời ấy quả thật là sự chuẩn bị tốt nhất để ông trở thành người viết tiểu thuyết. Tại sao ? Bởi có một đặc điểm của tiểu thuyết vốn gắn với thể tài này từ thuở ra đời, đấy là tính chất bình dân và khả năng sống lam lũ giữa đám chúng sinh. Như các nhà nghiên cứu lịch sử tiểu thuyết đã khẳng định, thể tài vốn bắt đầu từ những câu chuyện linh tinh người ta kể với nhau ngoài đường phố. Nó dông dài, nó ba vạ, nó có khả năng chứa chấp cả cái bi lẫn cái hài, cái cao cả lẫn cái thấp hèn. Với tạng Nguyễn Công Hoan, sự đa tạp đó rất thích hợp. (Đôi lúc Nguyễn Công Hoan được miêu tả như là ngòi bút chỉ quen viết về những người cùng khổ, những phần tử thuộc loại dưới đáy trong xã hội. Thật ra thì nhà văn này đã viết đủ thứ: về người giàu và người nghèo, về cùng đinh và quan lại, về những mối tình cành vàng lá ngọc và những pha ghẹo gái ghẹo gái thô lỗ của mấy anh lính lệ phố phủ... Hầu như động vào đâu, ông cũng có kinh nghiệm.)

Lại như cái việc Nguyễn Công Hoan mải viết đến mức ngại học. Nghiên cứu mấy tác phẩm của A. Dumas hoặc Maupassant để học theo, ông cũng chỉ đọc một lúc thì bỏ. Nói chung là ông không chịu được những quy củ ràng buộc, mà chỉ thích làm theo ý mình.

Trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XX còn đang ngổn ngang trăm mối, mới cũ khó phân, mọi người mải miết sống cho kịp với thời đại, cái tâm lý hăm hở sẵn sàng dậy non và cảm thấy cái gì cũng có thể làm được mà Nguyễn Công Hoan thú nhận ở đây là một điều dễ hiểu.

Sở dĩ Nguyễn Công Hoan có thể đến với tiểu thuyết một cách hoàn toàn tự nhiên một phần còn do những đặc điểm mỹ học của thể tài: Về nguyên tắc, tiểu thuyết luôn trong quá trình hình thành. Nó không bị cứng lại trong những quy phạm có sẵn. Tiểu thuyết là một thể tài tự do, các tài liệu nghiên cứu các nước phương Tây cũng như ở nước Nga xô-viết trước đây đều nói như vậy. Còn ở Trung quốc, người ta nói rằng tiểu thuyết cần phải dã sinh, tức là có một cuộc sống của các loại cây cỏ ngoài đồng chứ không phải thứ hoa trồng trong lồng kính. Chắc chắn Nguyễn Công Hoan không hề biết những lý luận ấy, nhưng cái tinh thần của nó thì ông cảm thấy một cách đầy đủ và rất thạo trong việc khai thác. Đằng sau cái vẻ đạo mạo của một người thuộc loại con nhà gia giáo,ở ông giáo tiểu học ấy luôn toát ra cái vẻ bất cần kỳ lạ. Hoặc nói cho sang, ở Nguyễn Công Hoan có một nhu cầu tự do nhất định, loại nhu cầu này là của chung của mọi thời kỳ lịch sử và đến xã hội hiện đại càng được khuyến khích. Mặc dù tự do nói ở đây được hiểu theo nghĩa đơn giản và có nhiều phần dung tục, song dẫu sao vẫn là nó, thứ tự do nó làm cho con người ta thêm tự tin ở mình. Đây là một đoạn đối thoại giữa nhà văn lúc mới làm nghề với một người bạn:

“Tương Huyền thấy tôi nghịch ngợm, nói chuyện có duyên, nên một lần đã bảo tôi:

-- Mày biết lắm chuyện buồn cười, và hay nói chuyện buồn cười, thì mày viết kịch.

Tôi đáp:

-- Viết kịch khó lắm …Nếu tao có viết, thì tao viết tiểu thuyết, dài ngắn tha hồ, đương cảnh nọ bật ra cảnh kia, đương năm này nhảy sang năm khác, không theo luật lệ nào cả" (Đời viết văn của tôi)

Như vậy là có sự gặp gỡ giữa nhà văn tương lai và thể loại, một sự gặp gỡ không hẹn mà nên, hoàn toàn tự nhiên, không đòi hỏi quá nhiều cố gắng của người trong cuộc. Điều này thấy ở nhiều nhà văn, nhưng với Nguyễn Công Hoan, nó dễ thấy nhất. Nó khiến cho ông mặc dầu không thành công trong thể tiểu thuyết, vẫn là một ví dụ nổi bật về sự tiếp nhận một thể tài vốn có nguồn gốc ở nước ngoài, với tất cả cái độc đáo trong tư duy nghệ thuật khá phổ biến ở hàng loạt người cầm bút thời tiền chiến.

Những điều trái ngược

Tác giả Bước đường cùng từng có lần khuyên những đồng nghiệp trẻ: Muốn viết văn thì hãy mạnh dạn bắt tay vào công việc. Như người muốn học bơi thì phải nhảy xuống nước. Chứ cứ đứng trên bờ thì cả đời cũng không bao giờ học bơi được.

Ấy vậy nhưng đọc hồi ký của ông, người ta thấy ông chả bừa bãi bao giờ. Ngược lại ông suy tính cẩn thận xem mình nên viết loại văn gì, và viết như thế nào người ta mới đọc. Sau khi viết xong, khi đưa cho bạn bè xem ông cũng hồi hộp, ai chê hay khen ông đều suy nghĩ để rút kinh nghiệm. Tóm lại trước khi bơi, ở ông có những sự chuẩn bị trên bờ khá kỹ.

Hoặc như ông hay nói rằng phải viết một cách tự nhiên và nói chung trong nghề chẳng có quy luật quy tắc gì cả. Nhưng trong cuốn hồi ký trên ba trăm trang của mình (con số của bản in Đời viết văn của tôi 1971 ), ông lại để đến vài chục trang để giảng về phép tắc mẹo mực mà ông đã từng khéo léo áp dụng trong công việc.

Cả trong những lúc cần nói về những vấn đề lớn lao hơn, ở ông cũng có những mâu thuẫn tương tự.

Nguyễn Công Hoan thường tự hào dẫn lại lời khen của một người bạn gái “Đúng là người Việt Nam viết truyện Việt Nam bằng văn Việt Nam”

Một lần khác ông phản ứng trước lời khen của một người rằng văn ông gợi nhớ đến một nhà văn nước ngoài: như thế có khác gì khen người Việt mà bảo họ tóc quăn mũi lõ.

Có người hồn nhiên nghĩ – cả tác giả có lúc cũng có lúc hồn nhiên tương tự – mà khái quát rằng: như vậy Nguyễn Công Hoan là một trường hợp thuần tuý bản địa, xứ sở tự động đẻ ra ông, con người và sáng tác của ông không liên quan gì đến cuộc Âu hoá là hướng vận động chủ yếu của xã hội và văn học VN nửa đầu thế kỷ XX.

Nhưng liệu có một người đứng ngoài thời đại như vậy không? Nhất định là không rồi.

Theo chúng tôi hiểu, quan hệ Nguyễn Công Hoan với xu thế Âu hoá hình thành qua nhiều phương diện, trong đó có việc sử dụng các hình thức nghệ thuật. Trong hoàn cảnh của nước Việt Nam từ thế kỷ XIX về trước, bước đi của văn xuôi gặp phải hai cái trở ngại to lớn: một mặt xã hội thiếu một thứ văn tự phổ thông để ai cũng dùng được. Mặt khác, các hoạt động mà thuật ngữ hiện đại gọi là mass media tức là những phương tiện giao tế công cộng bị hạn chế, sách không in hàng loạt, báo không có, và để cố định sản phẩm sáng tạo, người ta đành sử dụng một thể tài thông thường trong văn chương truyền miệng là các mẩu truyện, các mẩu này vẫn tồn tại độc lập mà lại có thể ráp nối vào nhau thành một chuỗi liên tục.

Bây giờ hãy thử nhìn vào các tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan và xác định cái ngôn ngữ thể loại mà tác giả sử dụng trong các tiểu thuyết đó. Như trong trường hợp cuốn Bước đường cùng. Bắt đầu là chuyện chị Pha đẻ, rồi gia đình Pha và Trương Thi kiện nhau, rồi Nghị Lại xui nguyên giục bị khiến cả hai người nông dân gia tài khánh kiệt riêng Pha vợ chết thân mình tù tội – tất cả những cảnh nói trên nối tiếp nhau như trong một cuốn phim, hoặc như một vở kịch có nhiều màn nhiều lớp. Không có lối mở đầu câu chuyện bằng cách kể lai lịch nhân vật như trong các truyện cổ. Không có những lời khuyến cáo đạo đức của tác giả. Đoạn kết bỏ lửng (Pha giơ cánh tay bị trói lên trời [ …] kệ cho dòng lệ cứ tuôn trào ra và kệ cho ba anh em theo mình không biết đến đâu mới trở lại.) Như thế tức là cách viết của Nguyễn Công Hoan đã vượt ra ngoài truyền thống mà ông xuất thân. Ông đã vận dụng khá thường xuyên và hiệu nghiệm những thành quả nghệ thuật của thời đại, cụ thể là nghệ thuật tiểu thuyết Pháp thế kỷ XIX.

Trong khi tiếp nối tinh thần vượt ra ngoài mọi quy phạm của văn chương bình dân, thì đồng thời Nguyễn Công Hoan hiện ra với một y phục hoàn toàn mới. Vậy thì có gì là oan khi nói rằng ông đã chịu ảnh hưởng thời đại, cụ thể là cái chuyện Âu hoá mà ông và nhiều đồng nghiệp vẫn thành tâm chế giễu.

Vầy vò tuỳ tiện, với ý thức “thể tài của mình”

Tìm hiểu tài năng Nguyễn Tuân, chúng ta biết rằng nhà văn và cái thể tuỳ bút độc đáo mà ông sử dụng chỉ có thể sinh ra trong điều kiện của một tư duy văn học cởi mở. Với tư cách một sản phẩm của xã hội được làm theo mô hình hiện đại đã đến độ chín, con người ông Nguyễn không vừa với những khuôn khổ cũ – ở đây là những thể tài cũ; thể tuỳ bút phải được du nhập, phải thay hình đổi dạng, phải được tái sinh để con người tác giả tự bộc lộ.

Tương tự như vậy, chúng tôi ngờ rằng thể tiểu thuyết chính là một công cụ hữu hiệu nhất để một người như Nguyễn Công Hoan trở thành chính ông. Nó như nằm gọn trong bàn tay ông. Ông đùa nhại nó ông giễu nó. Đây vừa là một khía cạnh thuộc về cá tính con người nhà văn, vừa là sự gặp gỡ hiếm thấy giữa ông với cái thể tài mà ông sử dụng.

Trường hợp của Cái lò gạch bí mật thường đã được các nhà nghiên cứu nói tới mỗi khi nhấn mạnh cái quan điểm nghệ thuật mà Nguyễn Công Hoan ngấm ngầm theo đuổi. Thiên truyện thường được xem như một ngón đòn “ đả kích khá trúng thứ văn chương” hiện đại “lai căng toàn những ly kỳ rẻ tiền”.[2] Điều đáng nói là cái ghi chú bên cạnh đầu đề “Truyện trinh thám An Nam”. Lại một lần nữa, Nguyễn Công Hoan muốn cho mọi người thấy rằng cái tinh thần chính mà ông noi theo là chẳng coi việc gì quan trọng, việc gì cũng là dung tục nhảm nhí. Mà nó – cái quan niệm hư vô ấy – không của riêng ông mà phải gọi là tinh thần chung của dân gian, ông chỉ là một đại diện có tên tuổi.

Để hiểu rõ hơn quan niệm về sự tự do và thói thích đùa bỡn này của Nguyễn Công Hoan, chúng ta còn có thể dừng lại ở một cuốn tiểu thuyết tác giả cho in ở NXB Đời mới vào thời gian ngay sau 2-9-1945 do đó mà ít người biết, là cuốn Người An nam. Tác phẩm xoay quanh câu chuyện một viên tướng Việt Nam thời nhà Lê bị bắt làm tù binh, rồi trở thành rể vua Chàm. Nhưng dòng máu Việt trong người viên tướng này vẫn chảy mạnh, cuối cùng khi quân Việt đánh vào thành, nhân vật này lập công quay về với Tổ quốc bằng cách quay ra giết vợ và làm nội ứng cho quân Việt tràn vào. Sau hành động yêu nước ấy, viên tướng phát điên.

Chúng ta biết rằng đôi lúc trong truyện ngắn, Nguyễn Công Hoan cũng viết về những đề tài mà ông chỉ biết qua tài liệu sách vở. Như năm 1939, ông có một thiên truyện mang tên Thiếu Hoa viết về một nhân vật phụ nữ miền nam Trung quốc. Lần này lại một sự xa lạ nữa, chắc chắn còn xa lạ hơn Thiếu Hoa vì là truyện về thời đã qua. Đối với một nhà văn từng nói chắc như đinh đóng cột rằng “người đọc truyện chỉ thích đọc những truyện gần với họ, gần về không gian về thời gian “ – thì đây quả là một ngoại lệ. Nhưng như lý luận về nhận thức luận đã chỉ rõ, chính các ngoại lệ lại bộc lộ bản chất rõ hơn là các trường hợp thông thường. Trong lời dẫn đặt ở đầu sách Người An Nam, sau dòng chữ Bạn đọc yêu quý, tác giả có hai trang tạm gọi là lời phi lộ trong đó có đoạn ông biện hộ cho cách viết của mình:

“Tôi không biết tiếng Chiêm Thành thì những người Hời của tôi chỉ được nói tiếng Nam bằng giọng đặc Việt Nam. Tôi không là người Chiêm Thành sống năm trăm năm về trước thì các chủ động trong truyện này cũng không thể tư tưởng theo lối họ về thời ấy. Và đến cả khung cảnh, ngôn ngữ, cách ăn mặc, cách sinh hoạt dù ngay của người mình về đời Lê, đã không ở vào thời đó thì tả sao nổi. Vả biết thế nào là đúng.”

Chúng ta cảm nghe trong câu nói nếu không phải một thoáng “bất khả tri” thì cũng là lời châm chọc đối với cái cốt tử của nghệ thuật tiểu thuyết, đó là tính chân thực. Thế thì biết làm thế nào bây giờ ?! Rất may là rồi người ta cũng được thở phào khi nghe tác giả tâm sự:

“Vậy tôi dùng tư tưởng của tôi. Tôi dùng tưởng tượng của tôi. Tôi dùng ngôn ngữ của tôi. Tôi trông ở sự rộng lượng của các bạn”

Tiếp đó, tác giả nói về mình theo cái lối thật thà đến mức ngạo mạn “Xin các bạn chớ đợi cuốn sách này một lịch sử tiểu thuyết hoặc một lịch sử ký sự. Tôi chỉ là một nhà tiểu thuyết, một nhà tiểu thuyết tầm thường, tồi hơn nữa một nhà tiểu thuyết ít đi, ít đọc. Bấy lâu nay sở dĩ được hân hạnh quen biết các bạn là do chỉ đã khai khẩn địa hạt nhà, đào trong trí nhớ lấy những cái mắt thấy tai nghe rồi dùng sức óc chắp nối, thêm bớt cho thành những câu chuyện nhăng nhít”

Tuy nhiên đằng sau những lời lẽ xô bồ và có vẻ lỡm đời đó, ngầm chứa một ý tưởng khác: tiểu thuyết đã là chuyện của tôi, tôi (tức Nguyễn Công Hoan) vầy vò nó thế nào nó cũng phải chịu, nói xuôi nói ngược thế nào thì rồi mọi người cũng phải nghe. Cái nháy mắt tinh nghịch đi kèm với một sự hể hả khoái trá không muốn và không thể che giấu.

Đến đây, có thể nói quá trình tiếp nhận tiểu thuyết như một thể loại đặc trưng cho thời Âu hoá, việc tiếp nhận đó ở Nguyễn Công Hoan đã hoàn thành. Nhìn lại những chặng đường mà ông đã qua, có thể tóm tắt cách tiếp nhận thể tiểu thuyết ở Nguyễn Công Hoan như sau:

– bởi thích quá nên làm theo, thấy hợp thì làm, cứ tự nhiên mà lấy của người làm của mình, không chút mặc cảm;

– tìm cách phát huy cái phần bản năng tự nhiên để làm theo hơn là học theo bài bản, không bị trói buộc bởi bất cứ chuẩn mực hoặc khuôn mẫu nào hết ;

– trong khi làm có một niềm tự tin kỳ lạ, tin rằng mình đã thông thạo đã lành nghề, đã nắm được tất cả, chính điều này góp phần giải phóng ở người viết văn mọi tiềm năng sẵn có.

Khó lòng nói đó là cách tiếp nhận lý tưởng, nhưng phải nhận đối với một tính cách như Nguyễn Công Hoan, đó là cách tiếp cận tối ưu.

Theo một sơ đồ thống nhất

Chung quanh mối quan hệ giữa Nguyễn Công Hoan và tiểu thuyết, điều cuối cùng chúng tôi muốn lưu ý: cái cách tiếp nhận thể loại ở đây vốn mang nặng tính truyền thống tức đã có từ các thế hệ trước.

Sử sách nước ta thường ghi từ thời trung đại ông cha ta đã truyền tay nhau đọc một cách dấm dúi các bản truyện do người Trung Hoa viết và theo chân các viên quan đi sứ mang về. Thế nhưng đọc thì cứ đọc, song nói chung các cụ vẫn rất bảo thủ với nghĩa chỉ xem thơ là đáng học theo, còn tiểu thuyết là thứ ngoại sử, dâm thư, tiểu gia chi thuyết, không thể để cho niềm say mê ma quái đó lôi cuốn. Và đến khi không cưỡng lại nổi, phải cầm bút viết các loại truyện (tiền thân của tiểu thuyết ), thì lại thấy nảy sinh tình trạng tâm lý lưỡng phân, tức là viết thì cứ viết, nhưng không thể để công tu luyện. Lối viết truyện nửa mô phỏng truyện Tàu, nửa tô vẽ thêm cho ra vẻ xuất phát từ hoàn cảnh Việt Nam, và cả cái tâm lý khi làm vừa tự hào vừa xấu hổ cộng lại, đã khiến cho công việc được làm thường còn dừng lại ở tình trạng dang dở.

Cái lối tiếp nhận như vậy đã ảnh hưởng sang thời hiện đại bao gồm cả thập kỷ ba mươi, bốn mươi thế kỷ XX như thế nào? Chúng tôi xin phép không chép lai đầy đủ dẫn chứng mà chỉ ghi lại đây một sự thực là trong các tiểu thuyết của Khái Hưng và Lê Văn Trương, Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng, các nhân vật mỗi khi nhắc đến tiểu thuyết thường tỏ thái độ coi thường, nếu không nói là mỉa mai, khinh rẻ. Có lẽ ngoài đời con người thường vẫn nghĩ thế, nên các nhà văn cũng tự nhiên mà ghi lại chăng. Sự lặp lại còn thấy cả trong tâm thế sáng tác của nhà văn. Một mặt nhiều người thích viết tiểu thuyết, hăm hở rủ nhau viết tiểu thuyết. Trong đội ngũ các tiểu thuyết gia làm đầy các báo, người ta thấy có mặt chẳng những các cây bút văn xuôi chuyên nghiệp mà còn thấy cả một thi sĩ tài hoa như Tản Đà (Giấc mộng lớn) một cụ đồ tân tiến và thường chỉ giỏi về tư duy tư biện như Phan Khôi (Trở vỏ lửa ra) một nhà thơ tính nết vốn bốc đồng như Lưu Trọng Lư (Khói lam chiều), một cây bút lý luận khá đa tạp như Trương Tửu (Khi chiếc yếm rơi). Mặt khác nghệ thuật tiểu thuyết thì chẳng ai coi là nghiêm chỉnh, chẳng ai đọc và nghiên cứu về bản chất thể tài này cho cẩn thận, tóm lại là chẳng ai làm việc cho đúng bài bản. Đương thời, Vũ Bằng có so sánh tiểu thuyết Việt Nam với tiểu thuyết Pháp ở phương diện sự khổ luyện của nhà văn để rồi nhận xét “ở Pháp, những ông hàn lâm và những nhà triết học thường băn khoăn đi kiếm những cái mới lạ để giúp ý kiến cho các nhà viết truyện; khi lại nói rõ cho những nhà viết truyện biết những kỹ thuật mới trong làng tiểu thuyết ngoại quốc để làm gương”; ngược lại ở ta, “thật hoàn toàn không có gì, toàn là học theo lối bắt chước cả kiểu như những người thợ không học trường chuyên môn một ngày nào mà cũng chữa được máy móc và chế được ra máy móc.”[3] Nói như ngôn ngữ bây giờ, tức trong khi các nhà văn Pháp đưa sáng tác lên lĩnh vực ý thức và tìm thấy sự hỗ trợ của giới nghiên cứu, thì nghề viết tiểu thuyết ở Việt Nam dừng lại ở tình trạng một nghề thủ công, dựa chính vào năng khiếu và thói quen. Nhiều người khác cũng có ý tương tự.[4]

Đó là những nhận xét có phần suồng sã, kết quả của một lối nhìn nhận tiểu thuyết ở khoảng cách gần gũi, song nó có khả năng giúp ta hiểu thêm tại sao việc vận dụng thể tài này lại có những hạn chế rõ rệt: những bài học ban đầu vận dụng rất nhanh (điều này khác với thơ), được khai thác đến mức gần như cạn kiệt; nhưng sau đó không khai phá tiếp tục, không làm giàu thêm cho nó được bao nhiêu.

Chính cái cách các nhà văn đến với thể tài đã giải thích một phần kết quả chúng ta đạt được. Trường hợp Nguyễn Công Hoan nói ở đây thực ra là tình trạng chung, cùng lúc thấy ở nhiều nhà văn khác./.2004


--------------------------------------------------------------------------------

[1]Theo Đinh Gia Trinh “Ông Nguyễn Công Hoan đã tả một người hoàn toàn quá nên quan huyện của ông chỉ như một vai tuồng vụng về không sống và không tiêu biểu cho một cái gì cả … Lỗi của tác giả là đã muốn dùng tiểu thuyết để diễn một quan niệm, mô tả một khuôn mẫu lý tưởng mà quên rằng nhân vật tiểu thuyết phải có hoạt động ăn nhịp với đời sống”. Xem bài Nay và mai, tạp chí Thanh nghị số 51-54,1944, in lại trong Đinh Gia Trinh, Hoài vọng của lý trí NXB Văn học,1996, tr. 235

[2] Nguyễn Hoành Khung, phần viết về Nguyễn Công Hoan, in trong Văn học Việt Nam 1930-1945 -- tập I, NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, H. 1988, tr 111

[3]Vũ Bằng, Khảo về tiểu thuyết in trong Những lời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt nam từ đầu thế kỷ XX đến 194, Vương Trí Nhàn sưu tầm và biên soạn NXB Hội nhà văn 2004, các trang 175-177

[4]Một văn sĩ có thiên về khảo cứu là Nguyễn Triệu Luật còn đưa ra những khái quát cực đoan hơn, xin được phép ghi lại để tham khảo:

“Hiện bây giờ, những người gọi là trí thức của ta đều đào tạo ở hai trường Tây và trường Tàu. Hạng đào tạo ở trường Tàu – nói là hạng học từ chương cử nghiệp cuôí mùa thì đúng hơn -- bây giờ tàn tạ rồi. Còn hạng ở trường Tây ra, vì phải uốn theo khuôn khổ Tây, không thành người Việt nữa …

Không ở hai trường ấy ra mà lại làm văn sĩ thì thành hạng văn sĩ quốc ngữ, hạng chẳng có trí thức chi chi hết, chỉ múa mép láo mấy câu sáo cũ, mấy lời rỗng tuyếch chẳng có ích gì cho văn học, văn hoá một nước nào cả. Văn sĩ ta bây giờ chỉ có thể rơi vào hai cái bị. Một là cái bị Tây là bị lơ lửng giữa trời, không tây không ta; hai là cái bị quốc ngữ.

Cổ lai không có nước nào mà cái nghề làm văn sĩ lại dễ dàng rẻ rúng quá như ở nước ta hiện giờ. Ta thử đọc những cuốn tiểu thuyết bình dân, những cuốn tiểu thuyết bên Pháp gọi là “tiểu thuyết của phường coi cổng”. Đọc những cuốn ấy, ta thấy rằng tác giả của chúng tỏ ra là người có trí thức ít ra cũng qua bậc trung học rồi, nghĩa là có phổ thông trí thức rồi. Những cuốn tiểu thuyết hay nhất của ta bây giờ, già lắm chỉ bằng những cuốn tiểu thuyết của phường coi cổng bên Pháp mà thôi! Xem Tao đàn 1939, sưu tập trọn bộ, NXB Văn học 1998 t.1, tr. 420 421

Đạo diễn Ken Loach giành giải Cành cọ Vàng ở Cannes

Đạo diễn Ken Loach giành giải Cành cọ Vàng ở Cannes
Liên hoan phim Cannes, kết thúc ngày hôm qua, đã trao giải cao nhất - Cành cọ Vàng - cho đạo diễn người Anh Ken Loach và phim The Wind That Shakes The Barley (Gió rung lúa mạch).Đây là một trong hai phim của Anh tham dự liên hoan phim uy tín này.Bộ phim kể lại thời kì đầu của Quân đội Cộng hòa Ireland trong thập niên 1920 và cuộc đấu tranh giành độc lập khỏi Anh.

Bộ phim không ngại bị chê là một chiều khi được kể hoàn toàn từ cái nhìn của một người Ireland tham gia đấu tranh vũ trang sau khi chứng kiến hành động tàn nhẫn của lính Anh.Đối với ông Loach và người bạn viết chung kịch bản thân thiết, Paul Laverty, bộ phim tượng trưng cho cuộc đấu tranh đòi tự do trước ách chiếm đóng trong lịch sử nhân loại.

Loach, người chống đối cuộc chiến ở Iraq, nói bộ phim tương hợp với các sự kiện gần đây.Ông nói: "Câu chuyện về cuộc đấu tranh giành độc lập cứ trở đi trở lại. Luôn luôn có thời điểm thích hợp để kể chuyện."Luôn có những đội quân chiếm đóng trên thế giới bị nhân dân bị trị chống lại.Người Anh, thật không may và phi pháp, đang có quân chiếm đóng ở Iraq."

Ông Loach gọi cuộc chiến ở Iraq là "phi pháp và không thể biện hộ."

Là một trong các đạo diễn được kính trọng nhất của Anh, ông từng tám lần được đề cử giải Cành cọ Vàng, giành giải giám khảo năm 1990 cho phim Hidden Agenda.Giống như mọi phim của Loach, các diễn viên đồng ý tham gia làm phim mà chưa cần xem kịch bạn trọn vẹn.

Diễn viên chính Cillian Murphy và các bạn diễn Padraic Delaney và Liam Cunningham chia sẻ với đạo diễn sự đam mê và với tư cách người Ireland, họ đem lịch sử cá nhân vào phim.Murphy nói: "Tôi vô cùng tự hào về bộ phim. Tôi biết nếu có người kể được chuyện này thì đó là Ken Loach."

Bộ phim sẽ được phát hành ở châu Âu nhưng chưa chiếu ở Anh.Nhà viết kịch bản phim, Paul Laverty, nói ông có cách để bán bộ phim cho Mỹ.

"Nhờ anh nói lại với George Bush là anh vừa xem một phim tuyệt vời về những người Cộng hòa," ông nói với một nhà báo Mỹ.

Lịch sử - văn hóa và sex trong văn chương

Nhà phê bình văn học Nguyễn Hòa.
(VietNamNet) - Sự có mặt một cách bất thường của sex trong đời sống văn chương vài năm gần đây đã được lý giải qua những nguyên cớ khác nhau, nhưng tựu trung, những người tán thưởng đều vô tình (cố tình?) lẩn tránh việc còn cần phải xem xét sex từ các quy chiếu văn hóa. Đặt vấn đề Khoảng nửa đầu những năm 60 của thế kỷ trước ở Hà Nội, đi qua hiệu sách nhỏ ở đầu phố Hồ Hoàn Kiếm hướng ra đường Đinh Tiên Hoàng, ngắm tủ kính bày năm bảy cuốn Đông Chu liệt quốc ngoài bìa có in hình mấy ông mặc áo giáp, vừa cưỡi ngựa vừa vung gươm mà tôi thích mê tơi. Liền về nhà “moi ruột” chú lợn đất đựng tiền tiết kiệm, ra mua được hai cuốn. Đọc chưa hết một cuốn thì cha tôi bắt gặp, ngay lập tức tôi xơi một cái bợp tai và hai cuốn sách bị tịch thu không bao giờ gặp lại.

Vài năm sau, lục lọi đống tài liệu sách vở của người anh trai, tôi lại vớ được bản in rônêô trích dịch Nàng Idơ và Đêcamêrông - Truyện mười ngày của Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Khoái quá, tôi chui vào chăn nằm đọc ngốn ngấu thì anh tôi phát hiện, tôi tiếp tục xơi một cái bợp tai và bản dịch nhanh chóng bị thu hồi.

Hai sự kiện trên làm tôi rất ấm ức, cố hỏi tại sao mà cha và anh đều không giải thích. Về sau tôi lớn lên, cha và anh mới trả lời vì đó là mấy cuốn sách “bậy bạ”, như chuyện của nàng Hạ Cơ, rồi các chuyện trai gái tùm lum…, tuổi nhỏ không được đọc.

Về phần mình, khi đến tuổi được đọc các tác phẩm này tôi lại thấy chúng không bậy bạ, thậm chí tôi còn thích thú như lúc đọc Gacgăngchuya và Păngtagruyen của Rabơle hay Truyện mười ngày của Bôcaxiô. Lại nghĩ, nếu cha tôi còn sống và lại biết tôi đã đọc Ngài tổng thống, Trăm năm cô đơn, Người lữ hành kỳ dị, Đời tỷ phú… - các tác phẩm dịch từ văn chương nước ngoài mà trong đó nhiều chi tiết sex có thể làm cho câu chuyện của nàng Hạ Cơ trở nên… chưa là gì, thì có lẽ tôi sẽ xơi vô khối bợp tai (!?).

Kể lại chuyện trên, tôi muốn nói rằng dẫu chỉ là khoảng cách một hai thế hệ nhưng giữa cha anh và tôi đã có sự sai chênh trong quan niệm về sex cũng như về thị hiếu. Với thị hiếu, tôi sẽ trở lại vào một dịp khác. Bài viết này tập trung phân tích trả lời câu hỏi: Sex trong văn chương có phải là đề tài quan thiết, hay chỉ là “giả vấn đề” do một số tác giả còn ở trong tình trạng thiếu thốn khả năng sáng tạo, thiếu thốn năng lực tư duy đã không thể khai sinh ra các ý tưởng mới mẻ hơn?

Mâu thuẫn giữa những giá trị đạo đức

Nghiên cứu về quan hệ giữa con người với xã hội, xã hội học văn hóa coi mỗi người luôn phải “mang vác trên vai” một tập các vai trò, và dù tương đối, thì tương ứng với mỗi vai trò thuộc về một quan hệ nhất định nào đó là một hệ tiêu chí có ý nghĩa làm cơ sở bảo đảm cho mỗi quan hệ có thể vận hành, bảo đảm cho mỗi quan hệ được xác lập theo kiểu này mà không theo kiểu kia (như không thể nhầm lẫn quan hệ cha - con với quan hệ anh - em, không thể lấy quan hệ thầy - trò thay thế cho quan hệ vợ - chồng…).

Căn cứ vào đó, con người thực thi mỗi vai trò xã hội thông qua hệ tiêu chí riêng, phù hợp với yêu cầu ứng xử riêng của từng loại quan hệ. Suy rộng ra, từ xã hội học văn hóa, dù quan thiết đến mức độ nào thì sex trong văn chương bao giờ cũng có tiêu chí riêng trong sự đánh giá. Và xét trong tổng thể các quan hệ xã hội thì quan hệ giữa con người với vấn đề sex trong văn chương chỉ là một trong nhiều kiểu (loại) quan hệ mà con người phải “mang vác trên vai”. Tuy nhiên theo tôi, do sex là một loại hiện tượng đa diện và đa trị nên xã hội - con người quy chiếu nó từ nhiều góc độ khác nhau. Người ta có thể đánh giá sex từ đạo đức học, tâm lý học, giáo dục học, y học, xã hội học, sinh học… thậm chí dân tộc học cũng dành một sự quan tâm tới sex. Và trong mọi sự đánh giá đó, các tiêu chí có ý nghĩa văn hóa thường giữ vị trí nổi trội.

Sau khi in ấn - phát hành, tác phẩm văn chương trở thành tài sản chung của xã hội.

Một khi nó đã trở thành tiêu điểm chú ý của người đọc thì từ quan hệ giữa tác phẩm với nhiều kiểu (loại) chủ thể cảm thụ khác nhau mà nhiều kiểu (loại) quan hệ xã hội khác nhau được xác lập. Khi sex có mặt trong tác phẩm văn chương, nó không đơn nghĩa chỉ là hành vi tình dục, nó còn bị quy chiếu bởi nhiều tiêu chí khác, ngoài văn chương song có liên quan, vốn đang tồn tại trong đời sống. Trong thực tế các tiêu chí này đôi khi đối lập nhau, như hệ tiêu chí đạo đức chẳng hạn. Ngoài một số giá trị chung, mang tính phổ biến và trường tồn, có thể nói hệ tiêu chí đạo đức là hệ thống giá trị luôn đi liền với sự vận động của các thời đại lịch sử, gắn liền với các triết thuyết cũng như gắn liền với quan niệm về đạo đức của mỗi chế độ chính trị - xã hội.

Trong một số trường hợp, thông qua quan niệm đạo đức, có thể đánh giá tính tích cực hay lạc hậu của một lý thuyết xã hội; đồng thời, qua đạo đức, người ta có thể nhận diện bản chất nhân văn của mỗi nền văn hóa. Cũng cần lưu ý, khi đánh giá mặt đạo đức của sự vật - hiện tượng, con người không chỉ dựa trên các chuẩn mực đạo đức đương đại và chính thống, mà nhiều lúc còn dựa trên các chuẩn mực đạo đức đã ra đời, tồn tại trong quá khứ, nổi bật là các chuẩn mực có nội dung thuộc về truyền thống và bản sắc cộng đồng… Chúng ta đã, đang và sẽ còn được chứng kiến các mâu thuẫn rất khó điều hoà giữa những giá trị đạo đức đang thịnh hành và hướng tới, với các giá trị đạo đức vốn từng tồn tại một cách có ý nghĩa trong quá khứ.

Mâu thuẫn này thể hiện qua sự khác nhau giữa các thế hệ trong khi đánh giá các hiện tượng, hành vi đạo đức. Với tình huống này, trong chừng mực nhất định và nếu không tỉnh táo, tinh thần “bảo thủ” hay “cấp tiến” đều có thể đưa tới tác hại (VNN nhấn mạnh). Vì thế sự xuất hiện các ý kiến ủng hộ hay phản đối sex trong văn chương không phải là cái gì đáng ngạc nhiên, đặc biệt là về đạo đức. Trong quan hệ giữa các yếu tố khách quan và các yếu tố chủ quan, tình trạng chưa thống nhất, chưa đồng thuận giữa các tiêu chí văn chương với các tiêu chí ngoài văn chương khi đánh giá sex là hoàn toàn có khả năng xảy ra, và điều đó dễ đẩy tới sự bàn cãi, tranh luận trên văn đàn.

Những cấm kỵ đối với sex

Từ nguồn cội của sự sinh tồn, dù đã phát triển đến trình độ nào, con người vẫn không thể bỏ qua các nhu cầu thiết yếu cơ bản là ăn - mặc - ở - duy trì và bảo toàn nòi giống. Xét đến cùng, xưa nay mọi hoạt động của con người đều có nguồn gốc từ yêu cầu thoả mãn các nhu cầu thiết yếu nói trên.

Từ thuở hồng hoang đến thời hiện đại, nhu cầu của con người luôn ở trong xu thế gia tăng về số lượng lẫn chất lượng và “tính người” - hay tính văn hóa-văn minh -. Nó đã trở thành tiêu chí đầu tiên, thước đo đầu tiên đánh giá bản chất hành vi thoả mãn nhu cầu của con người. Trong bối cảnh ấy, việc thoả mãn nhu cầu sex cũng không nằm ngoài tính tất yếu. Nó chịu sự chi phối của văn hóa, và đẹp - xấu, hay - dở như thế nào cũng đều được xã hội và con người đánh giá qua lăng kính văn hóa. Nói cách khác, cũng như ăn - mặc - ở, nhu cầu duy trì và bảo toàn nòi giống luôn phải đáp ứng đòi hỏi phải được “văn hóa hóa”. Theo tôi, việc chúng ta sử dụng trong sinh hoạt xã hội những tính - trạng từ như “bừa bộn, tạm bợ” khi đề cập tới sự ở, “nhếch nhác, luộm thuộm” khi đề cập tới sự mặc, “vục đầu vai vế” khi đề cập tới sự ăn, “bậy bạ, trụy lạc” khi đề cập tới một loại hành vi, xét cho cùng luôn có ý nghĩa tối thượng và tự nhiên là duy trì và bảo toàn nòi giống, đều xuất phát từ quan niệm văn hóa, mà trực tiếp là văn hóa đạo đức.

Trong lịch sử loài người, ở một số giai đoạn, việc thoả mãn nhu cầu ăn - mặc - ở còn trở thành tiêu chuẩn xác định “phận vị” xã hội của mỗi thành viên. Đã có thời vua quan và thứ dân không chỉ phải (được) ở trong các ngôi nhà khác nhau, mà ngay với sự “mặc”, người ta cũng chi tiết hóa sự khác nhau, thể chế hóa sự khác nhau về “phận vị” thông qua những quy định về kiểu cách, màu sắc. Xét lịch sử phát triển của nhu cầu cùng khả năng sáng tạo để đáp ứng nhu cầu của con người, ta có thể thấy, trong khi nhu cầu ngày càng được nâng cấp và phong phú, đa dạng thì đồng thời con người cũng cố gắng xây dựng các chuẩn mực, chế định hóa các chuẩn mực, để không chỉ quản lý mà còn để điều chỉnh, sao cho sự tăng phát của nhu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu có thể vận hành theo một quỹ đạo lành mạnh.

Với nhu cầu duy trì và bảo toàn nòi giống, có lẽ do tính chất “tế nhị” của nó, do nó có thể trỗi dậy một cách bản năng không cần tới một tác nhân môi giới nào, đặc biệt, có lẽ còn do sức ám ảnh của sex mà những cấm kỵ (tabu) dành cho sex cũng nhiều hơn, chặt chẽ hơn so với nhu cầu ăn, mặc, ở. Trước đây ở Việt Nam, từ vai trò chi phối của Nho giáo, việc công khai đề cập tới sex trong sinh hoạt chính thống của xã hội thường bị coi là “tà dâm”, là đáng xấu hổ, đáng bị lên án (Nhân đây cũng xin thử đề cập tới một tình thế theo tôi khó có lời giải là trong lịch sử, đã có nhiều tôn giáo nhấn mạnh vấn đề “diệt dục” và không ít nhà tu hành đã đi theo con đường này.

Vậy, xét từ phương diện nhu cầu tự nhiên, nhà tu hành có thể hạn chế ăn - mặc - ở, như không mặc quần áo, không sống ở nơi tiện nghi, uống nước lã ăn bánh mì hoặc không “xơi” một số thực phẩm có tính cấm kị… nhưng nhà tu hành quyết liệt chống lại một nhu cầu rất riêng tư là sex. Liệu có nên nói rằng cố gắng này có thể ảnh hưởng tới môi trường truyền giáo nói chung nếu tín đồ cũng noi gương họ và “diệt dục”, nghĩa là nếu có điều đó xảy ra thì sự lưu truyền nòi giống sẽ chấm dứt!?). Nhưng nghịch lý lại thể hiện ở chỗ xưa kia, ở cả phương Đông và phương Tây, sex công khai thường bị xem là cái gì đó đáng bị phê phán song người ta vẫn viết và lưu truyền Kamasutra, Tố nữ kinh (còn có một tên gọi khác là Khoái lạc và trường sinh), Kim Bình Mai… Khảo sát kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam, sẽ thấy số truyện có liên quan tới hai đề tài “ăn” và sex chiếm tỷ lệ áp đảo so với các đề tài khác.

Phải chăng đây là hai nỗi ám ảnh trong cuộc sống thường nhật của người Việt thời quá khứ? Và từ các chức năng của văn hóa dân gian, thì phải chăng đây là một cách thức, là sự bày tỏ thái độ của công chúng trước các quan niệm đạo đức khắc kỷ do Nho giáo truyền bá?

Sex và lựa chọn của nhà văn

Hơn năm thế kỷ trước, một trong những tiền đề tinh thần đẩy tới tư tưởng nhân văn thời Phục hưng là khát vọng làm thế nào để con người được là chính mình. Các tác giả lỗi lạc như Bôcaxiô, Rabơle… đã gửi gắm vào tác phẩm của họ lời ca ngợi tình yêu lứa đôi trong sáng, cùng thái độ phê phán đối với các giáo điều hà khắc và bạo lực xã hội thời Trung cổ. Qua thủ pháp nghệ thuật trào lộng có màu sắc sex, họ đã góp phần quan trọng tạo ra bước ngoặt trong đời sống tinh thần của loài người. Truyện mười ngày (Bôcaxiô) hay Gacgăngchuya, Păngtagruyen (Rabơle) được lưu giữ như tài sản vô giá của văn chương nhân loại là ở tinh thần khai phóng của chúng; người đọc các thế hệ sau đã không quan tâm nhiều tới yếu tố sex được thể hiện trong tác phẩm ra sao.

Ở Việt Nam thời Trung đại, có thể nói yếu tố sex hầu như vắng bóng trong các tác phẩm văn chương được coi là chính thống. Khi các quan niệm khắc kỷ về đạo đức đang thịnh hành trong xã hội thì dù có muốn, từ Truyền kỳ mạn lục, Thánh Tông di thảo… đến Truyện Kiều, tiền nhân cũng chỉ đề cập tới sex một cách bóng bẩy, mơ hồ. Và lịch sử văn chương Việt Nam đã không dung chứa trong nó những tác phẩm mà ở đó yếu tố sex được thể hiện trực tiếp và ít nhiều trần trụi như Hoa viên kỳ ngộ tập (thế kỷ 18) hoặc Hà hương phong nguyệt (đầu thế kỷ 20)… Ngoài các nhà nghiên cứu chuyên sâu, công chúng rộng rãi hầu như không biết tới các tác phẩm có tính chất “ngoài luồng” này. Một khi đến giai đoạn tiền hiện đại của văn chương Việt Nam, vẫn còn những tác giả coi Truyện Kiều là “dâm thư” thì, từ sự thấu triệt tính bảo thủ của ý thức xã hội, cũng nên chia sẻ với một số tác giả vài chục năm trước còn cho rằng Số đỏ, Làm đĩ, Giông tố… thậm chí đến thơ Hồ Xuân Hương là “dâm tục”.

Như đã trình bày ở trên, theo chiều dài lịch sử, sự phát triển của nhu cầu cùng với sự phát triển của khả năng đáp ứng nhu cầu của con người đã đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn điệu đến phong phú, đa dạng. Cùng với lịch sử, khái niệm “nhu cầu” không còn dừng lại trong phạm vi thuần túy vật chất như ở thời sơ khởi. Khả năng nhận thức tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người đã làm nảy sinh các nhu cầu mới, trong đó nổi lên là nhu cầu tinh thần. Nếu khảo sát trực tiếp và cụ thể, thì về hình thức đôi khi nhu cầu tinh thần dường như không có quan hệ với nội dung vật chất, song nếu xét đến cùng thì quan hệ là có thật. Người ta không thể lảng tránh thực tế đó khi có một cái nhìn biện chứng về quan hệ giữa con người với thế giới khách quan.

Cho tới ngày nay, trong hằng hà sa số cảm xúc và rung động thẩm mỹ của con người trong đời sống tinh thần, phải thừa nhận rằng những cảm xúc thánh thiện, thanh khiết về tình yêu, những khoái cảm nhân tính có nguồn gốc từ quan hệ tính giao đã có một vị trí nhất định trong sinh hoạt xã hội nói chung, trong văn chương nói riêng. Điều đó góp phần triệt tiêu tính bản năng trong sex, làm cho sex thăng hoa như là một loại hoạt động tinh thần được con người nâng niu, trân trọng. Nên ở các giai đoạn lịch sử trước, dẫu bị phê phán (thậm chí bị kết tội), nhu cầu hướng về tính yêu lứa đôi và những khoái cảm mà tình yêu lứa đôi đưa lại vẫn được bày tỏ bằng những cách thức khác nhau.

Quy chiếu vào văn chương, chúng ta thấy văn chương là sản phẩm của đời sống tinh thần, tác phẩm văn chương ra đời trước hết là nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần. Đối với văn chương, ý nghĩa tinh thần là hết sức đa dạng và không có giới hạn. Trong khi đó, sex trong văn chương thường chỉ khu biệt trên hai phương diện: nhà văn sử dụng sex trong tác phẩm như thế nào và công chúng tiếp nhận sex ra sao.

Về phía tác giả, nếu tác phẩm là nơi gửi gắm suy tư, nơi đưa ra thông điệp tinh thần… Còn về phía người đọc, họ đi tìm sự đồng vọng với suy tư của nhà văn và lĩnh hội thông điệp tinh thần từ tác phẩm để bổ sung, làm phong phú đời sống tinh thần của chính mình. Năng lực thực tế cùng cá tính sáng tạo của nhà văn cho phép mỗi người tìm thấy từ “tập vai trò xã hội” mà họ có được, đâu là vai trò phù hợp và cố gắng khai thác đặng tìm ra phương cách triển khai trong tác phẩm. Như vậy nhà văn luôn đứng trước rất nhiều khả năng; họ lựa chọn khả năng nào là tùy thuộc vào những yếu tố khách quan - chủ quan cụ thể. Nói như thế cũng có nghĩa, sex chỉ là một trong nhiều cách thức nhà văn sử dụng để gửi gắm ý nghĩa tinh thần. Do đó, sex không phải là phương tiện đặc hiệu duy nhất có khả năng mở ra cánh cửa thâm nhập vào thế giới nội tâm sinh động và tinh tế của con người (VNN nhấn mạnh).

Khảo sát lịch sử văn chương sẽ thấy vô số cách thức khác nhau để nhà văn lựa chọn, sử dụng. Song lựa chọn và sử dụng như thế nào trước sau đều phụ thuộc vào việc nhà văn có khả năng trừu xuất các thông điệp đó từ trí tuệ, từ suy tư của chính mình trước những biến cố, những số phận, những vấn đề xã hội - lịch sử - con người… hay không.

Ngày nay, cùng với sự phát triển, những mối quan tâm cùng khả năng nhận thức của con người đã được mở rộng về biên độ, nâng cao về trình độ đến mức phải nói rằng dù có muốn thì bất kỳ cá nhân hay nhóm cá nhân nào cũng không thể bao quát hết được. Điều đó làm phân tán sự quan tâm đến sex, và dường như sex lành mạnh đã và đang trở thành một loại hiện tượng bình thường trong sinh hoạt xã hội. Còn trong văn chương, khi sex được nhận thức - phản ánh phù hợp với lôgic nội tại của cuộc sống cũng như lôgic của bản thân tác phẩm; nói cách khác, nếu nhà văn không lạm dụng và không đề cao sex trong tác phẩm, không tỏ ra thích thú một cách bệnh hoạn với nó… thì không có gì đáng phải quan ngại. Còn nếu ai đó giải thích rằng nhà văn sử dụng sex trong tác phẩm để đưa ra một thông điệp về “giải phóng phụ nữ”, theo tôi, đó thật sự là một “giả vấn đề”, một ngụy biện nhiều hơn là một tường minh văn chương (VNN nhấn mạnh). Và tôi nghĩ, sự ấu trĩ trước các biến động lịch sử, sự thiếu vắng khả năng luận giải các biến động lịch sử trong tính tất yếu của nó hoàn toàn có thể đẩy người ta tới những ngộ nhận không đáng có trong sinh hoạt trí thức của xã hội.

Những ngộ nhận này, với ảnh hưởng của chúng, chỉ có khả năng làm “nhiễu loạn” các tiêu chí định giá mà thôi.

Cái thiếu của nhà văn Việt Nam khi viết về sex

Theo dõi văn đàn Việt Nam vài năm trở lại đây, liên quan đến “sex’, tôi nhận thấy có hai hiện tượng: một là sự xôn xao trước tác phẩm của một số cây bút nữ Trung Hoa, hai là sự xuất hiện một vài tác giả Việt Nam có xu hướng sử dụng sex trong tác phẩm. Hai hiện tượng trên là bình thường với một nền văn chương có nội lực “thâm hậu”, song, với đời sống văn hóa Việt Nam đương đại - trong đó văn chương là một bộ phận cấu thành -, chúng lại được nhiều người chú ý. Sự đồng tình hay không đồng tình của công chúng trước hai hiện tượng này, một mặt cho thấy tính chất phức tạp của thị hiếu văn chương đương thời, một mặt qua đó liệu có thể đặt ra câu hỏi về khả năng thật sự của một vài nhà văn cùng nỗ lực tỏ ra ưu thời mẫn thế của một vài tác giả viết phê bình (VNN nhấn mạnh).

Thật ra, không chờ đến ý kiến tán thưởng của một số cây bút phê bình cùng lời thanh minh của một hai tác giả về tác phẩm của họ tôi mới biết tới tham vọng sử dụng sex để chuyển tải một (những) thông điệp tinh thần. Trong Lời tựa tiểu thuyết Ổ rơm (NXB Hội Nhà văn, H.2002) Trần Quốc Tiến từng viết: “Các phó thường dân nói rằng đệ nhất khoái là nằm ôm vợ trên Ổ Rơm. Rồi từ cái Ổ Rơm ấy hàng vạn hàng triệu tiếng khóc chào đời. Không ít các thiên tài chui ra từ Ổ Rơm”. Song triết lý “ổ rơm” đã không chứa đựng điều mà tác giả ngỡ đã làm được, cuối cùng thì cuốn tiểu thuyết lấy “ổ rơm” làm điểm tựa tinh thần đã sớm yểu mệnh cùng các “scène sex” phản cảm. Trong khi đó, với tiểu thuyết Dòng sông mía (NXB Hội Nhà văn, H.2004), dù một số chi tiết sex được đề cập khá trần trụi thì vẫn không gợi lên sự phản cảm, chưa thấy dư luận đánh giá về mặt đạo đức. Dường như giải A cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam được trao cho Dòng sông mía ít nhiều đã phản ánh một cái nhìn khoáng đạt, hợp lý hơn đối với vấn đề sex trong tác phẩm?

Quả thật trước mắt, tôi cũng chưa chuẩn bị thấu đáo để có thể bắt tay triển khai một chuyên luận về sex trong lịch sử văn chương. Trong bài viết này, tôi cũng không có ý định phân tích và đánh giá một số tác phẩm có đề cập tới sex đã xuất bản ở Việt Nam trong những năm qua. Vả lại nếu có viết cũng khó lòng vượt qua đánh giá của một số đồng nghiệp, như gần đây nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn viết trên báo Khoa học và đời sống:

Không may cho tôi là đến giờ phút này bản thân không tìm thấy cái cảm giác tốt đẹp và cái lý do vững chắc nói trên khi đọc một số trang sách có ít nhiều liên quan tới tính dục của các tác giả trong nước, nhất là mấy bạn trẻ. Về nguyên tắc, tôi biết lớp trẻ hiện nay cũng đang có nhiều bức xúc. Họ không bằng lòng sống theo nếp cũ. Họ muốn thể nghiệm. Những khoái lạc muôn màu muôn vẻ của con người, họ muốn hưởng thụ và giúp nhau hưởng thụ. Song có lẽ là vì chúng ta được chuẩn bị quá sơ sài, nên những nỗ lực nóng vội của chúng ta dẫn đến tình trạng lê lết trong tuyệt vọng, thậm chí có phần gần với bệnh hoạn. Nói đơn giản là đọc nhiều trang sách nói tới sex tôi thấy nó không phải là nhu cầu chân chính của người viết mà nhiều khi như là học đòi. Hoặc trong một số trường hợp, thoáng bắt gặp ở người viết một cái gì như là thèm thuồng, viết ra để mơn trớn vuốt ve chiều chuộng mình, đáp ứng những nhu cầu bản năng có phần thấp của mình mà không nối nó được với những nhu cầu cao đẹp nhất thiết phải có.

Tôi đồng tình với nhận xét của nhà phê bình họ Vương, bởi tôi vẫn cho rằng sự thiếu thốn khả năng tư duy sâu sắc và triệt để của đa số nhà văn Việt Nam hôm nay chỉ có thể đưa tới cái gì đó gần gũi với “ăn may”, chưa tạo điều kiện giúp họ đi xa hơn trong nghề nghiệp.

Tương tự như thế, sau khi đọc các tác phẩm như Cô gái đánh cờ vây, Búp bê Bắc Kinh… tôi đã đoán định tác giả của chúng được chuẩn bị tinh thần khá cơ bản trước khi cầm bút. So sánh với tác phẩm của một số cây bút trẻ trong nước, tôi nghĩ rằng giữa họ, ngoài hai đặc điểm chung là cùng đề cập đến sex và chủ yếu là các cây bút nữ, còn lại là một khoảng cách khá xa về khả năng tư duy để phát hiện ý tưởng. Nông cạn, hời hợt trong suy nghĩ, lười nhác trong trải nghiệm… thì khó lòng tìm thấy một (các) ý tưởng ra trò. Do vừa coi sex như một nhu cầu tự nhiên - văn hóa của con người cần được trân trọng, vừa quan niệm sex không phải là tất cả, không phải là phương tiện ưu thắng để chuyển tải ý nghĩa tinh thần trong tác phẩm văn chương, tôi dự đoán một ngày nào đó trào lưu của những tác giả như Sơn Táp, Xuân Thụ, Thiết Ngưng… sẽ “xẹp” dần. Cuộc sống xã hội - con người hiện đại với tính muôn màu của nó, trong những tình thế và các biến thể phức tạp của nó… đang đòi hỏi ở nhà văn nhiều hơn là những câu chuyện xác thịt. Dù nhà văn có làm cho sex mùi mẫm và ngất ngây, dù nhà văn có buộc sex phải è cổ còng lưng mang vác “thông điệp” thì cũng không thể cung cấp lời giải có ý nghĩa tham chiếu cho các tình thế. Mặt khác, trước sự mở rộng và ngày càng mở rộng của thế giới tinh thần con người, văn chương cần theo kịp với sự mở rộng ấy. Loanh quanh với bức xúc và sở thích, sở đoản thì nhà văn sẽ nhanh chóng tụt hậu, tác phẩm cũng nhanh chóng trở nên lạc lõng. Cái gì thuộc về “mốt” thì cũng sẽ qua đi.

Và xem chừng dự đoán của tôi về tác phẩm của Thiết Ngưng, Cửu Đan, Xuân Tụ… là có lý nếu ai đó đã đọc bài Sự thoái trào của tiểu thuyết tình ái Trung Quốc (Phạm Tú Châu dịch, laođộng.com.vn, ngày 29/4/2006). Xin trích một đoạn:

Tiểu thuyết tình ái năm 2005 dường như đã chứng tỏ sự thoái trào đó, mặc dù dấu vết của dục vọng vẫn còn. Thân xác cũng thường xuyên có mặt nhưng đã bị một số tiểu thuyết tình ái kêu gọi tình cảm chân thực, theo đuổi tình yêu chân chính dần dần làm cho nhạt nhoà. Sự chuyển hướng này trong sáng tác của nhà văn nữ càng nổi bật.

Tốc độ thời đại và bản lĩnh nhà văn

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà bản thân nó thật sự là một cuộc chạy nước rút dường như không biết ngừng nghỉ. Sự kiện nối tiếp sự kiện, thông tin nối tiếp thông tin… tất cả cùng hối hả, dồn dập. Nhiều sự kiện - con người tưởng chừng sẽ còn ám ảnh lâu dài thì ngoảnh đi ngoảnh lại đã trở thành quá vãng. Bộ nhớ tự nhiên của con người đang đứng trước một thách thức: làm thế nào để vừa có thể thâu nhận thông tin mới một cách cập nhật, vừa phải chọn lọc để lưu giữ, vừa phải dọn chỗ để nạp thông tin mới hơn. Vừa hôm qua đây thôi, cánh trẻ còn đang say sưa với hip-hop. Và trong khi lớp người lớn tuổi chưa kịp tìm hiểu hip-hop là gì thì cái sự quay cuồng kia đã bị thay thế bằng alternative-rock. Chỉ sau gần chục năm, các bậc cha mẹ ở Việt Nam đã phải thích ứng với khá nhiều thói quen đang hình thành trong lớp trẻ. Cuộc sống của chúng ta đã và đang có những biến động mới với những tiết tấu mới, làm xuất hiện những giá trị mới đôi khi nằm ngoài tầm kiểm soát của những chuẩn mực thế hệ.

Hôm nay, tinh thần dân chủ, tính năng động cùng khả năng liên tục thay đổi của các sản phẩm văn minh thời đại đã thâm nhập, tác động vào mọi ngóc ngách của cuộc sống. Văn chương không phải là ngoại lệ. Khi mọi thứ đều có thể trở thành hàng hóa, nếu không có bản lĩnh và sự sáng suốt, người ta khó có thể gìn giữ cho văn chương cái dáng vẻ thuần khiết vốn có. Gia nhập thị trường trong sự hồn nhiên nghề nghiệp, xem chừng không ít nhà văn Việt Nam còn ngơ ngác như lần đầu tiên có mặt chỗ đông người. Và trong khi nhiều nhà văn còn tỏ ra e dè, thì lại có nhà văn cố gắng chiếm lĩnh, hoặc theo tinh thần trục lợi, hoặc nhằm thoả mãn mong muốn được là “người của công chúng”.

Cứ thế, ở nhiều thời điểm, xem ra văn đàn cũng hối hả, quay cuồng với các tác phẩm, các tên tuổi mà những tính từ “lỗi lạc”, “tài năng” được sử dụng một cách dễ dãi. Năm bảy năm qua, đã có sự “lên ngôi” của hàng chục tác phẩm, hàng chục tác giả mà căn cứ vào những gì báo chí đã đăng, đồng nghiệp đã viết, những tưởng chúng và họ sẽ mãi mãi lưu danh. Tiếc thay, mọi chuyện lại nhanh chóng đi vào quên lãng! Từ quan sát và chứng kiến, tôi đã đặt ra và hy vọng một ngày không xa sẽ trả lời một số câu hỏi, đại loại như: Với kinh tế hàng hóa, văn chương Việt Nam có điều kiện được “thăng hoa”? Liệu có thể kết luận trong một số trường hợp, tác phẩm - tác giả văn chương đã trở thành “cái gì đó” tương tự những ngôi sao nhạc “sến” với các ca khúc hát hôm nay rồi ngày mai quên?

Kết luận

Từ góc nhìn xã hội học, sau 20 năm đổi mới, dường như đang có sự sắp xếp lại để hình thành nên những nhóm bạn đọc khác nhau. Vào các cửa hàng sách tự chọn, quan sát cách công chúng chọn mua sách vở, có thể hình dung về nhiều kiểu thị hiếu. Qua các quầy bán báo lại thấy tủi thân thay cho báo chí văn chương, vì chúng hoặc bị xếp sau những tờ báo đang “ăn khách”, hoặc lấp ló góc quầy, hoặc nhận được câu trả lời không có báo vì không bán được! Nói vậy song mỗi năm vài lần, các tờ báo liên quan đến văn chương bán hết veo ngay sau khi phát hành. Ấy là khi có “sự vụ văn chương” vừa mới xảy ra và mấy năm nay đôi lúc là “sự vụ” ít nhiều có liên quan đến sex! Báo chí quan tâm, bạn đọc quan tâm, đến cả “đầu nậu” sách cũng tỏ ra sốt sắng…, có lẽ chủ yếu vì cái đề tài sex nhạy cảm vừa làm nhóm bạn đọc này thích thú, vừa làm lớp bạn đọc kia nhăn mày. Rồi từ một hai cuộc tranh luận, bỗng nhiên mọc ra một "ngôi sao văn chương” với các cuộc phỏng vấn nếu không lặp đi lặp lại một “tuyên ngôn” thường là sáo rỗng. Trong ánh hào quang theo tôi là giả tạo đó, đáng tiếc lại có nhà văn đã không nhận ra chính họ đang trở thành nạn nhân trong trò chơi tung hứng của báo chí và biết đâu, sex chỉ là cái cớ để người ta tăng số lượng phát hành.

Sự có mặt một cách bất thường của sex trong đời sống văn chương vài năm gần đây đã được lý giải qua những nguyên cớ khác nhau, nhưng tựu trung, những người tán thưởng đều vô tình (cố tình?) lẩn tránh việc còn cần phải xem xét sex từ các quy chiếu văn hóa. Về phần mình, đến nay tôi vẫn không thể tự thuyết phục được mình rằng trên đời này lại có một sự vật - hiện tượng “thiếu văn hóa” mà có khả năng chứa đựng một giá trị tinh thần tích cực. Cứ cho là sex chỉ tồn tại với ý nghĩa là phương tiện, thì thử hỏi một thứ “sex bẩn” liệu có khả năng chuyển tải một “thông điệp sạch” hay không? (VNN nhấn mạnh). Tôi nghĩ, chỉ với trí tưởng tượng nghèo nàn, với động cơ văn chương đáng ngờ... người ta mới có thể phô bày sex vượt ra khỏi sự chi phối của văn hóa. Một tác phẩm có yếu tố sex sẽ không có gì là xấu nếu nó đem tới những rung cảm trong sáng và lành mạnh. Nhưng một tác phẩm sẽ trở nên ghê tởm nếu nó chỉ đưa tới sự nhầy nhụa và phản cảm.

Như đã nói, sự sai chênh về quan niệm, thị hiếu văn chương giữa các thế hệ người đọc là điều khó tránh khỏi trong tiến trình phát triển của một xã hội, nhất là ở Việt Nam vào thời đoạn thang bậc giá trị xã hội - con người đang có những dịch chuyển. Nói như thế không có nghĩa những gì thuộc về thế hệ trước là bảo thủ, những gì thuộc về thế hệ sau mới là tiến bộ, văn minh. Dẫu khác nhau đến thế nào thì giữa các thế hệ vẫn có mẫu số chung, đó là: sự hướng thiện, sống chân thực và trân trọng cái đẹp. Nói cách khác, mọi thế hệ luôn biết tự ý thức về vấn đề “văn hóa hóa” hành vi sáng tạo và cảm thụ, qua đó kế tiếp nhau làm nên tính liên tục của văn hóa. Các tuyên ngôn văn chương nông cạn và đại ngôn, những tác phẩm văn chương cố lên gân để tỏ ra thời thượng… sẽ nhanh chóng bị lãng quên, bởi xét đến cùng chỉ là trò chơi văn chương chưa đến độ.

Hơn lúc nào hết, chính lúc này, nhà văn cần tỉnh táo để xây dựng khả năng phân biệt sự khác nhau về bản chất giữa văn chương của muôn đời với văn chương của những thời khắc. Khi xã hội manh nha hình thành thói quen chú ý đến các sản phẩm hàng hóa thời thượng, thì trong cuộc mưu sinh, nhà văn có thể sản xuất ra loại sản phẩm văn chương đáp ứng thị hiếu tức thời của một vài cá nhân, một nhóm xã hội nào đó và nhận được sự tán thưởng. Nhưng đó chưa phải là tất cả, nhà văn tài năng là nhà văn thuộc về mọi người. Còn về phía một số nhà phê bình, nhân đây tôi muốn gửi đến họ một ý kiến chân thành: hãy dành sự quan tâm nhiều hơn nữa tới góc nhìn văn hóa về tác phẩm, chớ lấy cái chủ quan thay thế cho cái khách quan… để làm cho tác giả tự huyễn hoặc về tác phẩm và tài năng của họ. Cuối cùng, xin nhắc lại điều tôi đã đọc và đã viết ở đâu đó rằng: “Hãy bằng lòng với những gì tác giả cho ta, đừng bắt anh ta cho cái mà anh ta không có.”.

5/2006

Nguyễn Hòa

Tuyển tập tiểu luận liên quan đến Nhà văn Trần Mạnh Hảo

Những bài, tài liệu, của ( hoặc liên quan ) đến Nhà văn Dương Thu Hương

(Những bản tin trên chúng tôi trích dịch từ BBC, Tân Hoa Xã, VOA, Reuters, Fox, Vietnamnet, Thanh Niên, Tuổi Trẻ...
Xin cám ơn các nguồn trên đã giúp chúng tôi chuyển gửi tin tức đến độc giả HNPĐ
)

.

Thiên cổ đoạn trường kim nhất tục.
Phiếm Đàm tòng thử kế Thừa sai.

Tìm kiếm tin đã đưa
Liên kết website
 

Tin mới nhất của BBC
Tin mới nhất của RFA
Tin mới nhất từ SBS
Tin mới nhất của VOA

Ca khúc ngày hôm nay

 

Âm Thanh

Nghe phiếm luận : Con gà cục tác lá chanh

Romance, Những Chặng Đường Lịch Sử
Hula, Vũ Điệu Truyền Thống Của Quần Đảo Hawaii.
- Em Có Bao Giờ Còn Nhớ Mùa Xuân của Ngô Thụy Miên.
Trầm Tử Thiêng Người Nhạc Sĩ Của Thời Cuộc
Trịnh Công Sơn, còn mãi dấu người
Lịch Sử Phong Trào Du Ca Việt Nam
Ðoàn Chuẩn: Nhạc sĩ của mùa thu.
Anh Hãy Về Bên Giòng Sông Cũ.

Nguyễn Đình Chiểu.
Phạm Ðình Chương, Một Nỗi Nhớ Khôn Nguôn.
Phạm Thiên Thư và Thi Phẩm Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng.
Người Phụ Nữ Việt Nam Trong Cuộc Đời và Trong Văn Chương.
 
 

 

ĐIẠ CHỈ: WWW.HAINGOAIPHIEMDAM.COM.

EMAIL: HAINGOAIPHIEMDAM@YAHOO.COM

|Tại sao? | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu | Du Lịch | Thư tín|TRÁI TIM HỒNG CHĂN GỐI | Rừng cười |Ẩm thực |MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn|CỔ THI | Nhân vật |Đó Đây| Động Vật | Vườn hồng