| 
Madonna
nhận nuôi 100 con nuôi
Nữ
hoàng nhạc pop Madonna (ảnh) khiến cho hàng ngàn
người phải ngỡ ngàng khi tuyên bố nhận nuôi cả 100
đứa trẻ của làng Malawi ở Trung Phi.Hiện cô đang
tiến hành xây dựng một trường học và một ngôi nhà
lớn đủ để cho 100 đứa trẻ cùng chung sống với nhau.
Trước đó không lâu, Madonna từng ngỏ ý tìm một đứa
con nuôi nhưng cuối cùng cô đã quyết định nhận nuôi
tất cả trẻ em của ngôi làng Malawi (Trung Phi) với
khoảng 100 trẻ em. Như vậy, tổng cộng Madonna đã
có 102 đứa con (1 con riêng 9 tuổi và cậu bé Rocco
5 tuổi, kết quả của mối tình giữa cô với đạo diễn
Guy Ritchie).
Britney
Spears lại gây sốc
Dường
như tự cảm thấy quá tẻ nhạt, Britney Spears lại
tuyên bố kết hôn. Và người sẽ cùng cô sánh bước
trong nhà thờ không ai khác ngoài Kevin Federline,
người chồng hiện tại của cô, nhằm chấm dứt mọi đồn
thổi không hay về mối quan hệ của hai người.Dự kiến,
đám cưới này sẽ được tổ chức vào tháng tới. Tuy
nhiên, xem ra quyết định ngộ nghĩnh này của Britney
vẫn không lôi kéo được sự tò mò của dư luận bởi
đây đã là lần thứ 3 Britney tổ chức đám cưới mà
lại là với người cũ.
Tân
Hoa Hậu Hoàn Vũ ngất xỉu, phải đưa đi cấp cứu
Chỉ
40 phút sau khi biết mình là tân Hoa Hậu Hoàn Vũ,
cô Zuleyka Rivera Mendoza của Puerto Rico đã té
ngất xỉu trong cuộc họp báo và nhanh chóng được
đưa đi cứu cấp. Sau đó các viên chức của Cuộc Thi
Hoa Hậu Miss Universe 2006 cho biết là người đẹp
nhất thế giới cao 5 feet 9 và mới 18 tuổi này đã
bình phục và cô chỉ bị ngất mà thôi.Đại diện Lark
Anton của Cuộc Thi hoa Hậu nói với Reuters: “Cô
ấy OK rồi, không sao đâu. Cô bị choáng váng, thời
tiết quá nóng và cái áo cô đang mặc lại chật chội
và nặng nề.”
Anton cho biết trong ngày thứ hai
Hoa Hậu Mendoza phải ăn uống nhiều.” Sau khi tỉnh
lại, cô Mendoza, Hoa Hậu Miss Universe thứ 55 đã
tham dự trở lại lễ hội Coronation Ball. Ông tỉ phú
Donald Trump, một trong hai nhà Tổ chức cuộc Thi
Hoa Hậu cho hay: “Vâng, cô ấy khỏe rồi!”.
Á Hậu là Hoa Hậu Nhật Bản Kurara
Chibana, 24 tuổi. Á Hậu Thứ Nhì là Hoa Hậu Thụy
Sĩ Lauriane Gillieron, 21 tuổi còn Hoa Hậu Mendoza
lại là thí sinh trẻ tuổi nhất trong số những người
lọt vào vòng chung kết.
Cô đã tỏ ra tươi cười, tuy có xúc
động mạnh trong lễ đăng quang, cũng may là đa số
giới báo chí rời phòng họp vào lúc cô té xỉu. Có
người hét lớn: “Có ai là y tá không?”
Nhưng cô đã hồi phục chỉ khoảng
vài phút sau và tuyên bố cô sẽ lên đường thi hành
sứ mệnh của một Miss Universe trong năm nay. Kỳ
thi đầu tiên của Miss Universe là vào năm 1952 ở
Long Beach, California.
Miss
Puerto Rico đoạt vương miện Hoa hậu Hoàn vũ
Zuleyka
Rivera Mendoza, đại diện của đảo quốc vùng Caribe,
đã đăng quang trong đêm chung kết cuộc tranh tài
sắc đẹp diễn ra vào 23/7 tại Los Angeles (Mỹ). Cô
gái 18 tuổi này mơ ước trở thành một ngôi sao của
điện ảnh Mỹ Latin.
Khi nghe tên mình được xướng lên, Mendoza xúc động
đến nghẹn ngào và ôm chầm lấy Hoa hậu Nhật Bản Kurara
Chibana. Tay cô bưng chặt lấy miệng, dường như không
tin nổi vào tai mình nữa. Hôm nay, thí sinh Puerto
Rico diện bộ váy màu ngà, được làm hoàn toàn bằng
dây kim loại.
"Tôi luôn luôn tự tin, nhưng
chưa bao giờ nghĩ mình sẽ là người chiến thắng",
Mendoza phát biểu những lời đầu tiên sau khi đăng
quang bằng tiếng Tây Ban Nha. Cô tuyên bố sẽ kiên
trì thực hiện nhiệm vụ của một sứ giả sắc đẹp là
tuyên truyền để nâng cao nhận thức của người dân
toàn thế giới về HIV/AIDS. "Tôi muốn nói với
mọi người rằng trong cuộc sống ai cũng gặp khó khăn,
nhưng cũng luôn luôn có cách để giải quyết vấn đề",
người đẹp nói.
Kurara Chibana (Nhật Bản) giành
vị trí Á hậu thứ nhất của cuộc thi lần thứ 55 này.
Ngôi Á hậu thứ hai thuộc về thí sinh Thụy Sĩ - Lauriane
Gillieron. Đại diện Paraguay - Lourdes Arevalos
- về thứ ba. Á hậu thứ tư là Miss Mỹ - Tara Conner.
Lia Andrea Ramos, người đẹp Philippines,
được bầu là Hoa hậu ăn ảnh qua một cuộc bình chọn
trên mạng. Angela Asare của Ghana giành danh hiệu
Hoa hậu thân thiện. Kurara Chibana, thí sinh đến
từ xứ sở anh đào, là người có trang phục dân tộc
đẹp nhất. "Nếu không trao cho Miss Nhật Bản
giải này, chắc cô ấy sẽ đụng dao đụng kiếm mất",
bình luận viên Carson Kressley của chương trình
TV Queer Eye đùa.
Tara Conner, người đẹp của nước
chủ nhà, được xướng danh trong số 10 thí sinh cuối
cùng của cuộc tranh tài sắc đẹp đang diễn ra tại
Los Angeles (Mỹ). 9 suất khác thuộc về Hoa hậu Bolivia,
Canada, Colombia, Nhật Bản, Mexico, Paraguay, Puerto
Rico, Thụy Sĩ, Trinidad & Tobago.
Người đẹp tóc vàng đến từ Kentucky
(Mỹ) đã mặc bộ đồ cưỡi ngựa 3 màu đỏ - trắng - xanh
và cầm một cây roi trong đêm trình diễn trang phục
dân tộc. Thí sinh từ các nước khác thì giới thiệu
những bộ đồ đầy màu sắc, mang đậm bản sắc quê hương,
trang trí bằng lông chim, lông thú, đồng tiền, những
chiếc mũ vĩ đại. Riêng Hoa hậu Nhật Bản còn mang
bên mình một thanh kiếm Samurai.
Đại diện của 86 quốc gia và vùng
lãnh thổ đã trình diễn hết mình trong hai đêm thi
bikini và trang phục dạ hội cùng phần phỏng vấn
để cạnh tranh 20 suất vào đêm chung kết 23/7. 20
người đó là thí sinh các nước: Bolivia, Canada,
Colombia, Nhật Bản, Mexico, Paraguay, Puerto Rico,
Thụy Sĩ, Trinidad & Tobago, Mỹ, Đan Mạch, Ethiopia,
Nga, Brazin, Thụy Điển, Thái Lan, Hungary, Ấn Độ,
Argentina, Ukraine.
Vòng thi áo tắm diễn ra hôm 18/7,
còn phần thi trang phục dạ hội tổ chức tối 21/7.
Tuy nhiên, kết quả của các vòng thi này chỉ được
thông báo trong đêm chung kết. Điểm của các thí
sinh cũng không công khai. Từ 20 người, Ban giám
khảo chọn tiếp 10 người vào vòng trong. 5 người
nổi trội hơn sẽ nằm trong top cuối cùng, gồm 1 Hoa
hậu và 4 Á hậu. Người giành vương miện có cơ hội
được đi du lịch khắp thế giới để làm từ thiện trong
vòng 1 năm.
Kết thúc đêm chung kết, Hoa hậu
Hoàn vũ 2005 Natalie Glebova sẽ trao chiếc vương
miện đính kim cương và ngọc trai trị giá 250.000
USD cho người kế vị. “Một năm đi khắp thế giới với
vai trò Hoa hậu Hoàn vũ có ý nghĩa hơn rất nhiều
so với điều tôi chờ đợi”, Glebova tâm sự. Người
đẹp Canada đã bắt đầu “triều đại” của mình bằng
chuyến đi tới Nam Phi và làm xét nghiệm HIV ở đây.
Đây là lần đầu tiên sau 7 năm, cuộc
thi Hoa hậu Hoàn vũ được tổ chức tại quê hương của
Nữ thần Tự Do. Hoa hậu Mỹ Tara Conner đang được
kỳ vọng trở thành người đẹp xứ sở cờ hoa đầu tiên
đăng quang sau Brook Lee năm 1997. MC Nancy O'Dell
và ca sĩ Carlos Ponce đảm nhiệm vai trò dẫn chương
trình.V.H. (theo AP, Missosology
Đôi nét về tân Hoa hậu Hoàn vũ:
Zuleyka Rivera Mendoza sinh ngày
19/3/1987 tại Barrio Parcelas Vázquez, Salinas,
Puerto Rico. Là chị cả của hai cậu em trai trong
gia đình có 3 chị em.
Mendoza đang là sinh viên báo chí
Đại học Puerto Rico. Cô từng đoạt giải Hoa hậu tuổi
teen của quốc đảo này.
Khi được hỏi, hiện tại người cô
muốn gặp nhất là ai, Mendoza cho biết đó là Angelina
Jolie. Cô mê bộ phim truyền hình Friends với diễn
viên chính là Jennifer Aniston, thích phiên bản
Latin của chương trình "American Idol".
Khi được hỏi về lợi thế của mình
trước các người đẹp khác, Mendoza trả lời: "Một
số bạn bè và những người làm trong ngành thời trang
cho rằng, tôi sở hữu một gương mặt rất Latin. Tất
cả những đường nét trên gương mặt tôi đều mang hơi
thở của những đặc trưng văn hóa dân tộc, âm nhạc
và sự đa chủng tộc của Puerto Rico. Cá nhân tôi
tự thấy mình là một phụ nữ biết hoạch định cho mình
những mục tiêu cụ thể và rõ ràng. Quyết tâm, mạnh
dạn và tự tin là những phẩm chất làm nên sự khác
biệt ở tôi".
Văn
hóa… ngủ của người Việt
Một
trong những tính cách đáng trân trọng trong truyền
thống người Việt là tính cộng đồng. Từ xưa, ông
cha ta đã có hội làng, hội xã, cùng ăn, cùng uống,
cùng múa hát, vui chơi. Phải chăng vì thế mà người
Việt ngày nay cũng nhiễm luôn tật… ngủ giữa cộng
đồng?
Có lẽ trong số những nhu cầu cơ
bản của con người, chẳng có nhu cầu nào bức thiết
bằng chuyện ngủ. Bạn dỗi bố mẹ, dỗi bà xã, bạn có
thể nhịn ăn hẳn vài ngày. Chán uống nước, bạn đi
uống bia rồi về nhà… ngủ. Nhưng bạn thử nhìn vào
gương xem bạn là ai nếu bạn thức trắng một đêm để
xem World Cup, hay vì một lý do nào đó mà không
thể ngủ một giấc ra trò.
Thế nhưng, chớ vì thế mà bảo chuyện
ngủ là chuyện riêng, rằng mắt là của tôi, tôi muốn
thức lúc nào thì thức, ngủ lúc nào thì ngủ.
Nếu bạn ngủ trên giường hay sôpha
nhà bạn thì không sao, nhưng những lúc cơn buồn
ngủ ập đến khi bạn đang ở trên tàu xe, công viên,
công sở hay bất kỳ một nơi công cộng nào, thì giấc
ngủ của bạn lại trở thành chuyện làng chuyện xã,
hay xa hơn là chuyện văn hóa.
Tôi nói không ngoa, chỉ cần bạn
để ý một chút thì xung quanh bạn lúc nào cũng có
những người đang… ngủ. Trong văn phòng, trong nhà
chờ xe buýt, trước cửa nhà bạn, trong công viên,
thậm chí ngay trên đường quốc lộ, đâu đâu cũng có
người đang ngủ.
Cá biệt hơn, có không ít người
ngủ ở những nơi “nhạy cảm” nhất, như trong phòng
thi, trong lúc chờ bạn gái (trai), hoặc đơn giản
nhất là mấy bác xe ôm ngủ lăn chiêng đổ đèn trên
xe trong khi chờ khách, và khi giật mình tỉnh dậy
thì thấy khách đã ngồi lên xe đồng nghiệp tỉnh ngủ
hơn.
Người ta ngủ thật ngon, cứ như
từ thuở cha sinh mẹ đẻ ra chưa bao giờ được ngủ.
Tôi cam đoan rằng nếu bạn là người bị bệnh mất ngủ
kinh niên, bạn sẽ nuốt nước bọt ừng ực khi thấy
người ta ngủ ngon lành đến thế
Với tính sáng tạo của người Việt, gầm xe hay bãi
biển đều có thể trở thành những thiên đường để…
ngủ.
Chiếc nón lá biểu trưng của người
Việt, không chỉ để che nắng che mưa, để người thiếu
nữ làm duyên, mà còn là vật che mắt lúc ngủ
Năm 8 tuổi, tôi có nghe cụ nhà ví von: “Khổ như
đợi tàu”, hay “Khổ như đi tàu chợ”, đến bây giờ
mới hiểu tại sao.
Bàn tán về cái chuyện ngủ giữa cộng
đồng, có người khen sao mà người ta giỏi ngủ, có
người lại chê rằng là hớ hênh, là mất mỹ quan, có
người chỉ tặc lưỡi cảm thông.
Nước ta không có luật cấm ngủ ngoài
đường, hoặc nếu có thì cũng chỉ nằm đâu đó trên
giấy tờ, cho nên chưa thấy ai bị bắt bớ, xử phạt
vì chuyện ngủ. Do đó lúc buồn ngủ, bạn cứ ngủ cho
nó thỏa thích, nhưng nhớ làm sao để bạn ngon con
mắt, còn người khác đừng có cay con mắt là được
ấy mà.(Nguồn ảnh: giaiphapmang.net
Văn
hoá ở VN thời mở cửa: Khi “tục” ngữ đến từ trên
mạng...
Từ
ngày có cái “quán” internet về mọc ngay ở đầu xóm,
đám thanh niên choai choai xóm tôi ăn nói đến lạ.
Ngay như ông tổ trưởng dân phố đã ngoài sáu mươi
tuổi cũng có lần than thở: “Thằng cháu tôi bây giờ
hễ mở mồm ra là cừu sát, hảo hữu, huynh đệ… hở ra
là nói tục như ranh. Hỏi nó lớn lên làm gì thì nó
bảo đi tù thuê. Tôi cũng chẳng hiểu mô tê ra làm
sao”. Có người biết chuyện thưa lại: “Đó là ông
không biết đấy thôi, nó nói vậy là do nó chơi “Võ
lâm truyền kỳ” trên mạng internet ấy mà”. “Ôi giời,
nét gì thì nét nhưng cứ như thế này thì hỏng hết
nết người”.
Câu nói “nghề đi tù thuê” của thằng
bé khiến tôi cũng cảm thấy tò mò, liền lân la dò
hỏi. Chủ quán internet là một thanh niên chừng 25
tuổi nhìn tôi với con mắt thông cảm “Anh cứ tập
chơi đi, bảo đảm chỉ một tuần là anh nói giống…
nó. Em đang có “con” Lệnh Hồ Xung phái Ngũ Độc,
đã luyện lên tới cấp 20, kỷ niệm anh luôn”. Tôi
lần mò gõ tên account cùng mật khẩu vào máy tính.
Trên màn hình, “nhân vật” của tôi hiện ra ngơ ngẩn
và yếu đuối. Đang chưa biết phải làm gì, cô bé ngồi
máy bên cạnh giục: “Anh điều khiển cho nó đi đi,
phải “hành tẩu giang hồ” nhiều mới tăng được kinh
nghiệm”. “À tớ chưa chơi bao giờ nên không rành
lắm, bạn chỉ cho mình với”. “Ô kê con gà đen, anh
làm “đệ” (đệ tử) của em nhé, để em bật “me nu” kết
giao bằng hữu với anh”. Cô bé điều khiển nhân vật
của cô đến gần nhân vật của tôi. So với nhân vật
kia, Lệnh Hồ Xung của tôi chỉ như một gã đầy tớ
hạng bét. “Nhân vật của em tên gì?"-Tôi hỏi.
“Béc-khăm”. “Tên gì nghe quái lạ vậy?”. "Ơ,
cầu thủ bóng đá mà anh cũng không biết à”. “Biết,
nhưng nghe nó kì cục làm sao ấy…”. Cô bé bĩu môi:
“Làm gì mà đã lạ, hôm qua em gặp “con” tên là “deptraidatinh”
(Đẹp trai đa tình), hay “nguoimau89” (Người mẫu
89) còn chưa bảo lạ…”. Tôi im lặng điều khiển nhân
vật của mình “theo đuôi” Béc-khăm. Béc-khăm luôn
tay chém giết những nhân vật khác, nhân vật của
tôi chỉ đứng nhìn, vì rằng tôi không biết chơi,
và cũng vì rằng đối với những nhân vật khác thì
Lệnh Hồ Xung của tôi chỉ là “con tép-phẩy cái chết”
như lời cô bé nói.
Sau một hồi “đánh đấm”, Béc-khăm
vứt cho tôi một mớ đồ “chiến lợi phẩm”. Tôi hỏi
cô bé: “Tại sao em giết nhiều thế, “nó” có làm gì
em đâu”. “Để kiếm đồ, tăng kinh nghiệm… với lại
trông bọn nó ngứa mắt. À, em giết nhiều người, có
nhiều “cừu nhân” nên “tổn hao chân khí” lắm, anh
đi tù hộ em nhé”. “Ô kê"-Tôi mau mắn nhận lời.
Chúng tôi-hai nhân vật-đi đến “ngục thất”, sau một
vài thao tác, nhân vật của tôi đã trở thành tù nhân.
“Bây giờ anh phải làm gì?"-Tôi hỏi. “Anh ngồi
đó ăn năn hối cải”. “Vậy còn em?”. “Tiếp tục hành
tẩu giang hồ tìm “gà” mới-nói đến đây cô bé cười
rinh rích”. Á à, té ra tôi là con “gà” đi tù hộ
cô bé. Đúng là “giang hồ hiểm ác” thật. Sau “vụ”
đó, Lệnh Hồ Xung tôi tiếp tục “hành tẩu giang hồ”
và bắt gặp không ít những lời chửi bới, thóa mạ,
khiêu khích, (những lời nói mà “chỉ nghe thôi đã
thấy bẩn”), dính những “quả lừa” tinh vi, xảo quyệt.
Rời quán nét, trong đầu tôi vẫn
“loảng xoảng” với đủ những loại ngôn từ của “thế
giới ảo” Võ lâm truyền kỳ, từ những lời lẽ hoa mỹ
tới đủ thứ “ngoại ngữ” thô tục, bậy bạ mà người
chơi cứ thả sức “xả” đầy trên mạng. Mặc dù người
quản trị mạng (admin) đã không ít lần nhắc nhở người
chơi không nói tục, chửi bậy nhưng xem ra không
hiệu quả. Người chơi, người quản trị mạng không
biết mặt nhau, nhắc nhở nhiều lại bị chửi. Đúng
là thế giới ảo, thế giới không thể giữ trật tự.
Từ
“lóng”, từ tục dễ “lây nhiễm” vậy, bảo sao giới
trẻ chẳng nói, bảo sao chẳng “quen mồm”. Mong rằng,
các bạn trẻ khi vui chơi giải trí với những trò
chơi trực tuyến đừng học tập những ngôn từ như vậy,
đừng để ngôn từ trong thế giới ảo ảnh hưởng trở
thành một nết xấu. Còn những người trưởng thành,
hãy đừng "bỏ ngoài tai", đừng bỏ qua những
lời ăn tiếng nói kệch cỡm, cùng lối vui chơi quá
đà của con trẻ.Đông Hà
Nhạc
trẻ VN qua rồi thời vàng son?
Ca
sĩ săn tìm ca khúc hay nhưng các nhà sáng tác ngày
càng lâm vào bế tắc. Ảnh: C.T.V
Chưa bao giờ tình hình sáng tác lại nở rộ nhưng
lại đầy... bế tắc như hiện nay. Các ca khúc mang
đầy tính học thuật không được công chúng số đông
đón nhận, còn những ca khúc thuộc “số đông” thì
bị các nhà chuyên môn chỉ trích Ca khúc không phải
là tất cả những gì có trên thị trường âm nhạc, thế
nhưng khi thiếu vắng những ca khúc “hit” thì thị
trường âm nhạc dường như vắng lặng, không còn sôi
động nữa. Từ nhà sản xuất đến ca sĩ và khán giả
đều trông ngóng sự xuất hiện ca khúc hay từng giờ
từng phút. Nhưng các “nhà sáng tác” ngày càng lâm
vào bế tắc.
Dự án nối tiếp dự án vẫn bế tắc
Chính vì vậy, các nhạc sĩ sáng tác
đã tự đi tìm công chúng cho chính mình bằng những
dự án âm nhạc mà mới nghe qua, ai cũng phải giật
mình. Người thì “nghiêng ngả” theo số đông, người
thì “chọn lọc” người nghe quá kỹ. Các nhạc sĩ càng
xoay xở thì dường như càng bế tắc. Nhiều nhạc sĩ
cứ nhập nhằng không biết mình là “người sang” hay
“kẻ chợ”, cứ lơ mơ nghe ngóng thị trường và sau
đó chạy theo nó đến mệt nhoài. Chính bài toán áo
cơm đã đưa các nhạc sĩ đến “ngã ba” đầy khắc nghiệt
mà nếu là nhà kinh tế thì sẽ dễ lựa chọn hơn khi
đứng trước những dự án chỉ tốn vài chục triệu mà
có thể đáp ứng thị hiếu – dĩ nhiên là bình dân –
của mấy triệu người nghe. Và có quá lãng phí hay
không khi một dự án âm nhạc tốn tiền tỉ chỉ để phục
vụ cho mấy trăm người thưởng thức (!?). Và còn nhiều
dự án âm nhạc với những tác phẩm tầm cỡ “xuyên quốc
gia”, hay phục vụ “đa quốc gia” vẫn còn bế tắc nằm
trên bàn giấy.
Ca khúc hay: Chỉ còn trong hoài
niệm
Những tên tuổi lừng lẫy một thời
như Thanh Tùng, Trần Tiến, Dương Thụ, Trọng Đài,
Phó Đức Phương, Ngọc Châu... dường như đã lui về
“ở ẩn” hoặc sáng tác thưa dần. Thị trường âm nhạc
khó có thể tìm được những Giọt nắng bên thềm, Chị
tôi, Cho em một ngày, Không thể và có thể, Hoa cỏ
mùa xuân... như những ngày xưa ấy. Cái không khí
bi quan phủ trùm lên bầu trời âm nhạc. Các nhạc
sĩ trung niên giờ cũng đã già, còn các nhạc sĩ trẻ
thì không chịu “lớn” lên. Thị trường âm nhạc rơi
vào tình trạng khủng hoảng ca khúc trầm trọng: thiếu
các ca khúc đủ “chất lượng” nhưng lại thừa số lượng
người tham gia sáng tác. Nguyên nhân là các nhạc
sĩ tên tuổi không còn “sung” như trước đây. Mặt
khác, một thị trường âm nhạc “phi chuẩn” như hiện
nay đã làm cho những nhạc sĩ có tên tuổi thực sự
phải chùn tay. Nhạc sĩ Phú Quang đã từng lên tiếng
về sự “phi chuẩn” này khi nói về danh xưng nhạc
sĩ. Dường như hiện nay các nhạc sĩ thực thụ đã bị
đánh đồng với những người viết ca khúc không chuyên,
không có hội chuyên ngành nào công nhận mà phần
đông là các “nhạc sĩ”... tự công nhận chính mình
và khi có một người “ăn may” với một ca khúc nào
đó ồn ào trên thị trường thì kéo theo hệ lụy “người
người sáng tác, nhà nhà sáng tác” làm cho danh xưng
“nhạc sĩ” bị hạ thấp đến đau lòng.
Định hướng sáng tác: Công chúng
bình dân
Hoạt động âm nhạc càng “khát” những
ca khúc hay khi ngày càng có nhiều các nhạc sĩ trẻ,
hay “nhạc sĩ” mới lăm le vào nghề đã quên đi lòng
tự trọng mà “sinh sản vô tính” hàng loạt tác phẩm
chất lượng kém chỉ để bán kiếm tiền. Dù chỉ có một
nội dung hoặc một “mô típ” xuất hiện trong một ca
khúc nào đó, khi tung ra thị trường, được người
nghe chú ý là lập tức sau đó, hàng chục “phiên bản”
nối đuôi nhau xuất hiện. Hiện nay các Sở VHTT chỉ
duyệt nội dung, chủ yếu là ca từ của ca khúc, trước
khi cấp phép phát hành chứ không thể kiểm định được
chất lượng chuyên môn của một tác phẩm âm nhạc.
Chính vì vậy, “ngọn gió thị hiếu”
của công chúng bình dân đã xô ngã “bức tường nghệ
thuật”, lôi kéo nhiều nhạc sĩ chạy theo “nguyên
tắc số đông”, vô hình trung, các “trung tâm đĩa
lậu” và những bầu sô ca nhạc hoạt động ở các tỉnh
đã trở thành “cơ quan thẩm định” không chính thức
cho độ “hot” các ca khúc trên thị trường. Nhưng
có một điều đáng buồn là trong số những nhạc sĩ
“sáng tác dễ dãi” đó không phải ai cũng là người
non nớt, mà có người đã từng được giới chuyên môn
công nhận, là hội viên chính thức của hội âm nhạc
hẳn hoi, nay cũng nghiêng theo “chủ nghĩa ăn may”
của âm nhạc thị trường.
Và để cứu vãn tình hình bế tắc ca
khúc hay như hiện nay, các hội chuyên ngành như
Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Hội Âm nhạc TPHCM đã có những
cuộc vận động sáng tác và hỗ trợ các nhạc sĩ phổ
biến tác phẩm. Thế nhưng các bài hát hay vẫn “biệt
vô âm tín”. Cả VTV và HTV cũng đã vào cuộc với hai
“cuộc chơi” lớn là Bài hát Việt và Sài Gòn tình
ca, được quảng bá liên tục trên sóng truyền hình
với hàng trăm ca khúc của mỗi chương trình, chất
lượng chuyên môn được “bảo chứng” bởi hội đồng nghệ
thuật hẳn hoi. Thế nhưng những ca khúc trên, dù
được chăm chút rất kỹ từ khâu dàn dựng, hòa âm và
được các “sao” thể hiện, vẫn chưa chinh phục được
khán giả số đông và chưa được xem là các ca khúc
“hit” trong đời sống âm nhạc.
Giờ đây nhạc trẻ chỉ còn những ca
khúc gây được sự chú ý trên thị trường vì khả năng...
gây sốc trong ca từ, hay ngay trong chính những
xì căng đan của tác giả. Tìm một ca khúc “hit” trong
thời buổi hiện nay còn khó hơn chuyện đãi cát tìm
vàng. Có bi quan lắm không khi nói cái thời vàng
son của nhạc trẻ đã qua và... không bao giờ trở
lại! Đó không chỉ là câu chuyện “trà dư tửu hậu”
bên bàn cà phê buổi sáng tại 81 Trần Quốc Thảo (trụ
sở của Hội Âm nhạc TPHCM) nữa mà là vấn đề chung
của mỗi chúng ta, những người tâm huyết với nền
nhạc trẻ Việt Nam. ( Nguyễn Nhất Huy@NG.L.D)
Những
thi sĩ túc cầu
TP
- Nếu ví mỗi trận túc cầu là một vở kịch thì đó
là một vở kịch thơ, mà mỗi cầu thủ là một nhà thơ
tự viết nên những câu thơ của mình. Nhưng trong
số biết bao nhà thơ như thế, dường như để tìm ra
những thi sĩ tầm cỡ giải Nobel thì người ta cảm
thấy không có nhiều. Trong cuốn sách “Từ Pele tới
Maradona” của nhà báo Yên Ba vừa cho ra mắt bạn
đọc nhân World Cup 2006 – World Cup lần thứ 18,
anh đã chọn ra được 17 thi sĩ túc cầu như thế. Có
vẻ như anh đang để dành cho kỳ World Cup này chàng
thi sĩ túc cầu thứ 18, để dành cho chúng ta chọn
lựa.
Cho đến hôm nay, khi trái bóng đã
lăn vào các trận tứ kết đầy kịch tính thì dường
như chàng thi sĩ túc cầu thứ 18 ấy đã được định
hình. Chẳng phải ai khác mà chính là “người ngoài
hành tinh”, là “gã béo” – gọi theo cách yêu chiều
– Ronaldo.
Tham gia World Cup đầu tiên (1994)
ở tuổi 18, Ronaldo chỉ ngồi trên ghế dự bị. Vậy
mà World Cup sau (1998), Ronaldo đã tỏa sáng dù
mắc cơn động kinh trước trận chung kết.
Đến World Cup 2002, Ronaldo đã cùng
đồng đội giành Cúp vàng lần thứ 6 về cho đất nước
của vũ điệu Sam Ba và đến World Cup này, vừa cùng
đội Brazil vượt qua vòng Knock – out, Ronaldo vừa
phá kỷ lục ghi bàn suốt 32 năm qua của Gerd Mueller
– một thi sĩ túc cầu người Đức với 14 bàn thắng
các kỳ World Cup.
Còn với Ronaldo thì bàn thắng ngày
27/6/2006 là bàn thắng thứ 15 trong các kỳ World
Cup mà anh có mặt. Và có lẽ anh sẽ lập kỷ lục mới
ở những trận cầu tiếp theo.
Giống như các thi sĩ trước mình,
Ronaldo không phải dễ dàng tìm ra thi pháp riêng
để khẳng định đẳng cấp. Những dấn thân trên đấu
trường châu Âu ở Inter Milan, ở Barcelona… đã khiến
cho Ronaldo nhanh chóng tỏa sáng.
Những đường bóng của Ronaldo như
những câu thơ hiện đại, tước bỏ những hoa mỹ theo
lối cũ, không ngại va chạm để đi thẳng tới đích
là ghi bàn thắng. Chính vì sự độc đáo của mình,
Ronaldo đã không ngừng bị những trọng tài khắc nghiệt
thổi còi, không ngừng bị các đối thủ đốn ngã khiến
anh bị chấn thương nặng nề.
Những chấn thương có thể dìm sâu
Ronaldo vào cái đáy của sự lãng quên. Nhưng bản
chất mạnh mẽ và ý chí ngoan cường của một thi sĩ
không chịu khuất phục đã khiến anh không chịu lùi
bước, vượt qua mọi rào cản.
Người ta cứ ngỡ sau chung kết World
Cup 1998, Ronaldo đã phải nhường vị trí thi sĩ túc
cầu này cho Zidane song trong thực tế, World Cup
2002 đã là một tiếng trả lời rắn đanh của tài năng
đích thực này khi đội tuyển Brazil lại đăng quang
Cúp vàng, còn đội tuyển Pháp thì lủi thủi ra về
từ vòng loại.
Đến World Cup này, dường như không
ai tin một “gã béo” chạy lang thang không bóng,
mờ nhạt trong trận đấu mở đầu lại hiện sáng trở
lại một sát thủ ghi bàn bằng rất nhiều kỹ thuật
và tốc độ ở những trận đấu sau.
Trong trận đọ sức với Nhật Bản,
màn trình diễn phối hợp nhỏ giữa Ronaldo và Ronadinho
đột phá vào trung lộ tuy không ghi bàn thắng là
màn trình diễn cực kỳ ngoạn mục của bóng đá hiện
đại cũng như thơ vụt hiện cách tân hôm nay.
Ronaldo đã tạo ra lịch sử cho thi
sĩ túc cầu thứ 18, đã bước vào lịch sử túc cầu và
đã là lịch sử của môn nghệ thuật viết nên giai điệu
bằng đôi chân huyền thoại, như Fontaine, như Kossis,
như Gerd Mueller…
Giống như thơ ca, không biết bao
nhiêu nhà thơ đã có những lóe sáng thần hứng, nhưng
để tạo ra một sự nghiệp thơ ca đồ sộ mang tầm cỡ
nhân loại thì số thi sĩ ấy quả thật là không nhiều.
Sự nghiệp của các thi sĩ túc cầu còn có chỗ khắc
nghiệt hơn bởi họ chỉ có thể tạo dựng bằng những
năm tháng tuổi trẻ trên dưới một thập kỷ. Tới World
Cup sau, nếu tái bản, có lẽ cuốn sách của nhà báo
Yên Ba sẽ có thêm thi sĩ thứ 18 và có tên là “Từ
Pele tới Ronaldo” chăng? Nhà thơ Nguyễn
Thụy Kha
Thủ
Tướng Nhật thăm tư dinh cố ca sĩ Elvis Presley
Từ
trái sang phải: Tổng thống Bush, thủ tướng Nhật,
vợ cũ Elvis, Lisa Marie Presley và con gái Elvis
Presley, Priscilla Presley
Trong chuyến đi thăm tư dinh cố ca sĩ Elvis Presley
tại bang Tennessee ở miền Nam nước Mỹ, Tổng Thống
Bush và đoàn tháp tùng đã được thưởng thức giọng
ca của Thủ Tướng Nhật Bản, ông Junichiro Koizumi,
khi ông trình bày một số ca khúc nổi tiếng nhất
của Elvis Presley, kể cả bài "Love Me Tender."Tin
cho hay Thủ Tướng Nhật Bản còn đeo thử một cặp kiếng
mắt của Elvis, đồng thời bắt chước dáng điệu độc
đáo của ông vua rock and roll này khi được chụp
ảnh và quay hình.
Ngoài Tổng Thống Bush, còn có Đệ
Nhất phu nhân Laura Bush trong chuyến đi Memphis
với Thủ Tướng Koizumi. Đích thân Priscilla Presley,
vợ cũ của Elvis và cô con gái Lisa-Marie đã hướng
dẫn phái đoàn đi thăm khu trang trại rộng 5,6 hécta
của ông vua nhạc rock quá cố.
Tổng Thống Bush nói ông không ngờ
vị khách quý đến từ Nhật Bản lại ái mộ Elvis đến
thế, và nhà lãnh đạo Mỹ khen rằng Thủ Tướng Koizumi
hát nhạc Elvis khá hay.
Chuyến đi thăm Memphis đã kết thúc
hai ngày họp mặt giữa Tổng Thống Hoa Kỳ với nhà
lãnh đạo Nhật Bản
Michael
Jackson lại ra tòa
Mới
đây Michael Jackson đã xuất hiện trong lễ trao
giải MTV ở Nhật Bản
Một phiên tòa do cựu đồng sự làm ăn của ca
sỹ Michael Jackson khởi kiện ngôi sao này sắp
bắt đầu.Ông Marc Schaffel cáo buộc Michael Jackson
còn thiếu nợ ông khoảng 3,8 triệu đôla. Michael
Jackson kiện ngược lại ông Schaffel.Ca sỹ này
sẽ không xuất hiện tại phiên tòa diễn ra tại
Santa Monica, bang California, thế nhưng các chứng
cớ trên băng video sẽ được chiếu trước tòa.
Phiên xử của bồi thẩm đoàn sẽ diễn ra vào
thứ Tư.
Phát ngôn nhân của Michael Jackson
nói ca sỹ 47 tuổi này có kế hoạch biểu diễn
trở lại và chuyển sang ở châu Âu.
Bà Raymone Bain nói: "Michael
Jackson đã tới thăm Ireland và Pháp, đồng thời
có các cuộc gặp với nhiều người để bàn
về tương lai âm nhạc của mình".Bà cũng
nói thêm ngôi sao nhạc pop vẫn còn giữ ngôi
nhà tại Bahrain và chưa có kế hoạch bán trang
trại Neverland tại bang California.
Michael Jackson đã hình thành
một công ty mới và cắt quan hệ với một số
nhà quản lý kinh doanh và tài chính của mình.Ông
Marc Schaffel cáo buộc Michael Jackson nợ ông
tiền làm một băng nhạc dùng cho mục đích
nhân đạo và hai phim tài liệu. Ngoài ra ông
nói còn nhiều khoản tiền công tác phí và
vay nợ chưa được thanh toán.
Michael Jackson thì cáo buộc
ông Marc Schaffel đã không trả thù lao ca sỹ
và chi phí cho một cuốn băng mà hai người
đồng sản xuất. Ông Schaffel cũng bị buộc là
đã dùng danh tiếng của Michael Jackson để làm
ăn ngay cả sau khi hai người đã chấm dứt hợp
đồng.
Michael Jackson mới thoát khỏi
cáo buộc lạm dụng tình dục
Harry
Potter đến đây là chấm dứt
Nữ
nhà văn JK Rowling nói bà có cảm giác 'siêu
thực' khi vào thăm ĐiệnBuckingham
Nhà văn JK Rowling tiết lộ rằng bà cảm thấy
buồn vì phải để cho câu chuyện về cậu bé
phù thủy Harry Potter đến hồi kết nhưng bà
sẽ không kéo dài nó ra nữa.
Phát biểu trong lễ sinh nhật Nữ Hoàng Anh
80 tuổi tại Điện Buckingham Palace, bà nói
bà hài lòng với quá trình viết cuốn sách
nhưng không tiết lộ ngày ra mắt.
Bà chỉ nói đây sẽ là tập cuối
cùng dù chưa thể cho biết rõ khi nào sẽ viết
xong: "Tôi không thể nào nói được điều
gì cụ thể chừng nào chưa hoàn tất sách."Bà
đã đọc một số đoạn từ cuốn Potter mới nhất
cho các em nhỏ đến dự lễ cùng nghe.
Nhưng các em nhỏ sẽ còn phải
chờ một thời gian nữa mới có thể biết tên
tập cuối cùng của Harry Potter chưa có tên.
Năm nay 40 tuổi, JK Rowling dự
sinh nhật Nữ Hoàng Elizabeth II với các văn
nghệ sĩ như Michael Bond, Jacqueline Wilson, Philip
Pullman, Ronnie Corbett, Martin Clunes và cả tay
đầu bếp nổi danh Jamie Oliver.
Nói về cảm tưởng buổi lễ hôm
25.06 tại cung của Nữ Hoàng ở Luân Đôn có
sự tham gia của 2000 trẻ em, nhà văn chuyên
viết cho thiếu nhi nói “Thật là siêu thực
khi có mặt tại Điện Buckingham."Là mẹ
của ba đứa con, bà JK Rowling đã nổi tiếng
thế giới bằng truyện Harry Potter. Bà viết
tập đầu của Harry Potter trong cảnh sống nghèo
khó, không có việc làm.
Nay bà là triệu phú và được
coi là nhà văn Anh vĩ đại nhất đang sống.
Bí quyết của Harry Potter là gợi ra các ước
mơ của trẻ thơ.
Nhà
thơ Nguyễn Chí Thiện
Bấm
vào đây để nghe tiết mục này 
Tập thơ Hoa Ðịa Ngục của Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện.[
Từ hơn 20 năm qua, tên của Nguyễn Chí Thiện được
công chúng biết đến như một nhà thơ của lao tù.
Ông lấy chất liệu cho thơ từ những đoạn đời khổ
ải, những mảnh đời tan nát, từ những ngày, những
tháng, và những năm trong ngục tối trong cùng cực,
đói khát và hận thù không phải chỉ của ông mà của
những bạn tù cùng cảnh ngộ. Ông tâm sự như thế này
về sự hình thành của thơ:
Chịu cuộc đời khổ oan
Nát tan trăm ngàn mảnh
Chấp lại mới hóa thành
Mấy vần thơ ai oán
Lời thơ của ông không yêu kiều, diễm lệ mà là một
nàng thơ khố khổ, nhục nhằn, đói khát và hèn mọn
Nàng thơ của tôi
Khát thèm rau muống
Mộng bát cơm gầy
Quỷ đói hay ma
Nhưng chính cái đơn sơ, giản dị mà lại không tầm
thường của thơ Nguyễn Chí Thiện đã khiến cho thơ
ông đi thẳng vào tâm hồn người đọc và được độc giả
khắp nơi đón nhận như một người thân. Không rào
đón, không lễ nghi, không cần giới thiệu.
Trước khi tên Nguyễn Chí Thiện được biết đến, người
Việt hải ngoại đã xúc động trước một tập thơ không
tên, không tác giả được phổ biến dưới nhan đề được
lấy từ một câu thơ trong tập là Tiếng Vọng Từ Ðáy
Vực, rồi Chúc Thư Của Một Người Việt Nam, lúc đó
là tháng 9-1980.Nguyễn An, phóng viên đài RFA
Tranh
của danh họa người Áo Gustav Klimt được bán với
giá cao kỷ lục
Bức
tranh vẽ chân dung của bà Adele Bloch-Bauer
Một bức tranh có mạ vàng của danh họa người Áo Gustav
Klimt, đã được bán với giá cao chưa từng thấy, tại
một gallery ở New York.Bức tranh vẽ chân dung của
bà Adele Bloch-Bauer, được thực hiện vào năm 1907.
Bà này thuộc một gia đình có tên tuổi trong ngành
sản xuất đường của Áo.Người mua bức tranh đó là
ông Ronald Lauder, một tên tuổi quen thuộc trong
ngành sản xuất mỹ phẩm. Ông Lauder chỉ nói rằng
mình mua bức tranh để tặng lại cho viện bảo tàng
New York, chứ không nói mua với giá bao nhiêu.
Tuy nhiên, có tin nói rằng giá của
bức tranh đó cao hơn bức tranh “Cậu bé và ống vố”
của họa sĩ Picasso được bán cách nay 2 năm với giá
104 triệu đôla. Bức tranh chân dung của bà Adele
Bloch-Bauer đã bị Đức Quốc Xã lấy ra khỏi bộ sưu
tập của gia đình khi đạo quân của Hitler xâm lăng
nước Áo vào năm 1938.
Sau đó chính phủ Áo đã đòi lại được
và mang ra trưng bày ở Vienne.Bức tranh đã được
chuyển về Hoa Kỳ cho một thân nhân trong gia đình
Bloch-Bauer đang sinh sống ở Mỹ, sau một thời gian
dài kiện tụng giữa người bà con này và chính phủ
Áo.
Phim
hoạt hình “Cars” đạt doanh thu cao nhất tại Bắc
Mỹ
“Cars”,
bộ phim hoạt hình mới của Hãng Disney-Pixar đã dẫn
đầu các bộ phim ăn khách nhất trong cuối tuần qua
tại Bắc Mỹ với doanh thu 62,8 triệu USD.
Đây là lần thứ bảy liên tiếp một
bộ phim của Disney-Pixar chiếm vị trí hàng đầu khi
vừa được công chiếu. Nếu các con số được xác định,“Cars”
được xem là phim hoạt hình đạt doanh thu cao thứ
ba trước “Monsters & Cie” và sau “The Indestructibles”
và “Finding Nemo”. Hai bộ phim này đã thu khoảng
70 triệu USD khi mới được công chiếu.
Đứng ở vị trí thứ hai là “The Break-Up”
với 20,4 triệu USD trong tuần lễ thứ hai. Hai diễn
viên chính trong bộ phim hài lãng mạn này là Vince
Vaughn và Jennifer Aniston trong vai một cặp tình
nhân vừa chia tay nhưng vẫn phải sống chung.
“X-Men 3: The Last Stand” của đạo
diễn Brett Ratner chiếm vị trí thứ ba với 5,55 triệu
USD trong cuối tuần đã thu tổng cộng 101,7 triệu
USD. Bộ phim với các diễn viên chính là Hugh Jackman,
Halle Berry, Framke Janssen và Ian McKellen đề cập
về những anh hùng đột biến gien với sứ mệnh bảo
vệ loài người.
“The Omen” tác phẩm làm lại của
bộ phim ma quỷ cùng tên nổi tiếng năm 1976 đã được
công chiếu vào tuần lễ thứ hai và thu được 15,45
triệu USD, đứng thứ tư trong danh sách với các diễn
viễn chính Live Schreiber và Julia Stibes.
“Over the Hedge”, một bộ phim hoạt
hình khác đứng hạng 5 với 10,3 triệu USD trước “A
Prairie Home Companion” (4,6 triệu USD).
Tom
Cruise vẫn là ngôi sao đắt khách nhất của Hollywood
Tom
Cruise vẫn là ngôi sao đắt khách nhất Hollywood
Tạp chí Forbes của Mỹ vừa chấm điểm những nhân vật
nổi tiếng và có sức thu hút nhất thế giới, người
đứng đầu danh sách là nam diễn viên điện ảnh Tom
Cruise.Danh sách thường niên của tạp chí Forbes
về những người vừa giàu có vừa nổi danh, cho rằng
mặc dù Tom Cruise gặp nhiều lời chê trách về thái
độ của anh trong thời gian gần đây, nhưng họ vẫn
để anh đứng đầu bảng, và gọi anh là ngôi sao đắt
khách nhất của Hollywood.
Năm
ngoái, thu nhập do đóng phim xi-nê của Tom Cruise
là 67 triệu đôla.
Các bộ phim thu về nhiều tiền nhất của anh trong
thời gian qua là "War of the Worlds" và
"Mission Impossible III".
Trong một show phỏng vấn truyền
hình, anh đã nhảy lên ngồi chồm hổm trên ghế bành
để tuyên bố những lời tỏ tình với nữ diễn viên điện
ảnh Katie Holmes. Hành động này khiến cho anh bị
nhiều người chế diễu là có hơi sến, hoặc cải lương,
hoặc không thích hợp.
Đứng thứ nhì trong danh sách nổi
danh nhất thế giới là ban nhạc Rolling Stones của
Anh, thứ 3 là bà Oprah Winfrey, người dẫn chương
trình của một show mang tên bà; thứ Tư là ban nhạc
U2, và thứ 5 là danh thủ đánh golf Tiger Woods.
Tiểu
thuyết “The Master” của Toibin đoạt Giải thưởng
Impac
Nhà
văn Toibin và tác phẩm "The Master" ở
London năm 2004.
Ngày 13-6, Ban giám khảo Impac - giải thưởng văn
học quốc tế có giá trị 100.000 euro (tương đương
125.000 USD), đã công bố người được tôn vinh năm
2006 là nhà văn Colm Toibin với cuốn tiểu thuyết
nổi tiếng The Master.
Vượt qua chín tác giả lọt vòng chung khảo được chọn
từ danh sách đề cử gồm 132 nhà văn thuộc 43 quốc
gia, trong đó có nhà văn Anh Jonathan Coe và người
đồng hương Ronan Bennett, Toibin là nhà văn Ireland
đầu tiên đoạt giải thưởng này.
The Master miêu tả sinh động một quãng thời gian
đặc biệt khoảng bốn năm trong cuộc đời của nhà văn
Mỹ nổi tiếng Henry James (1843-1916). Tác phẩm này
đã được đề cử Giải Booker năm 2004 và đoạt giải
Meilleur Livre Etranger của Pháp dành cho tiểu thuyết
nước ngoài hay nhất năm 2005.
Một thành viên ban giám khảo Impac, nhà văn Andrew
O'Hagan nhận xét, The Master là tác phẩm hoàn hảo
nhất trong sự nghiệp của Toibin.
“Đây là một tác phẩm bộc lộ tất cả những đặc tính
tuyệt vời của tiểu thuyết cổ điển. Nó thể hiện sức
mạnh biểu đạt tâm lý, hết sức tinh tế và chính xác
qua từng trang hư cấu tuyệt vời. Chúng tôi đã rất
xúc động khi đọc tác phẩm này và cũng rất sung sướng
trao giải thưởng cho nó”. - Ông nói.
Nhà văn Toibin nói: “Thật là tuyệt vời khi nhận
giải thưởng này, bởi tôi từng rất ấn tượng với những
người có tác phẩm đoạt giải vào các năm trước”.
Ông đánh giá cao Alastair MacLeod, người đoạt giải
năm 2001 với cuốn No Great Mischief và Edward Jones,
tác giả vừa đoạt giải năm trước với cuốn The Known
World.
Về cuốn sách của mình, Toibin cho biết, ông đã cố
gắng tạo nên một tác phẩm để người đọc dù chưa hề
đọc một cuốn sách nào của Henry James cũng có thể
cảm thấy thích thú.
Ngoài The Master, Colm Toibin còn là tác giả của
các tiểu thuyết khác như The South và The Blackwater
Lightship.
Impac là giải thưởng văn học quốc tế thường niên
được sáng lập cách đây 11 năm tại thành phố Dublin
(Ireland), mở rộng cửa cho tất cả các tiểu thuyết
gia thuộc bất cứ quốc gia nào và viết bằng bất cứ
ngôn ngữ nào, nhưng tác phẩm phải được dịch và xuất
bản bằng tiếng Anh.
Trao
quyền thừa kế di sản của John Steinbeck
Nhà
văn John Steinbeck,Giải Nobel Văn học năm 1962.
Chánh án một toà án liên bang Mỹ vừa quyết định
trao quyền sở hữu tác quyền một số tác phẩm của
nhà văn nổi tiếng John Steinbeck cho con trai và
cháu gái của ông.Theo đó, con trai ông là Thomas
Steinbeck và cháu gái Blake Smyle sẽ được nhận toàn
bộ quyền sở hữu đối với mười tác phẩm, trong đó
có Chùm nho phẫn nộ. Tác quyền những tác phẩm này
trước đó thuộc về Nhà xuất bản Penguin và bà quả
phụ Elaine, người vợ thứ ba của nhà văn.
Nhà xuất bản Penguin có kế hoạch chuyển giao tác
quyền Của chuột và người vào năm 2012 và Chùm nho
phẫn nộ vào năm 2014.
Thomas Steinbeck và Blake Smyle cũng đồng thời được
nhận quyền sở hữu bộ phim The Long Valley và The
Red Pony từ hãng Paramount.
Luật sư của Thomas Steinbeck và Blake Smyle nói
rằng họ muốn “bảo vệ và gìn giữ di sản của John
Steinbeck”. Họ đã có kế hoạch thương lượng lại các
bản hợp đồng xuất bản các tiểu thuyết này với nhà
xuất bản Penguin hoặc các nhà xuất bản khác.
Nhà văn John Steinbeck sinh tại California năm 1902.
Cốc vàng, cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông, được
xuất bản vào năm 1929. Ông mất tại New York năm
1968, sáu năm sau khi nhận giải Nobel văn học.
The
History Boys được tuyên dương là Vở Kịch hay nhất
tại Broadway
Vở
kịch “The History Boys” của Anh được tuyên dương
là Vở Kịch hay nhất tại sân khấu Broadway trong
buổi trao giải Tony nhiều uy tín trong năm nay.
Vở kịch chứa đựng những phân tích đầy khôn ngoan
và nồng nhiệt của tác giả Alan Bennet trong ngành
giáo dục Anh này đã đoạt được tất cả 6 giải Tony,
nhiều hơn bất cứ kịch bản nào khác. Trong số những
giải thưởng này có một giải diễn viên xuất sắc nhất
cho Richard Griffiths trong vai một giáo sư lập
dị nhưng được học sinh yêu chuộng.
Ông Nicholas Hytner được trao giải
đạo diễn hay nhất. Nữ tài tử Frances de la Tour
được trao giải diễn viên phụ hay nhất.
Kịch bản này cũng được những giải
thưởng nhất về dàn dựng và ánh sáng.
Một vở kịch thắng giải hàng đầu
nữa ngày hôm qua là “Jersey Boys,” mô tả cuộc đời
và sự nghiệp âm nhạc của thần tượng nhạc pop Frankie
Valli và The Four Seasons. “Jersey Boys” giành được
bốn giải Tonys trong đó có giải Nhạc hay nhất.
Nhạc kịch Canada “The Drowsy Chaperone”
giành được 5 giải thưởng.
Tiếc
cho Huế
Diễn
ra từ ngày 3-6, Festival Huế đang ở thời điểm kết
thúc (11-6). Nhìn lại chặng đường 9 ngày liên tục
với rất nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, lễ
hội phong phú với hơn 130 suất diễn tại trên 40
địa điểm người ta có cảm nhận rằng Thừa Thiên -
Huế rất “kiên cường” đeo bám mục tiêu biến Huế thành
một thành phố Festival có tầm cao và trí tuệ, mang
đẳng cấp quốc tế. Được vậy, một kho tàng văn hóa
truyền thống Việt Nam, những di sản văn hóa vật
thể và phi vật thể của nước ta và của nhân loại
sẽ được giữ gìn, phát huy.
Tuy nhiên, nhìn ở một góc độ khác, nhiều người không
khỏi chạnh lòng khi chứng kiến cảnh luộm thuộm,
kém hiệu quả dẫn tới sự tốn kém không cần thiết
trong một số hoạt động của Festival Huế lần này.
Trước hết, phải thấy rằng có quá
nhiều hoạt động diễn ra đồng thời và lịch hoạt động
của một số chương trình cũng bị thay đổi gấp gáp
mà thiếu sự thông báo kịp thời đã khiến du khách
hết sức vất vả. Cụ thể, chương trình “Âm vang Trường
Sơn” được tổ chức tại khu du lịch suối nước nóng
Thanh Tân (KM26, QL1A, xã Phong An, huyện Phong
Điền), cách Huế khoảng 30km diễn ra chỉ phục vụ
một số người làm vườn và lác đác du khách.
Có buổi diễn của chương trình nghệ
thuật Pháp hoành tráng, chất lượng cao, nhưng chúng
tôi đếm được chỉ có 12 khán giả, nghĩa là số lượng
người xem gần bằng số người diễn. Cùng cảm nhận
chung của nhiều người, ai cũng thấy tiếc cho một
số hoạt động văn hóa nghệ thuật rất quy mô nhưng
lại vắng người xem, trong đó có lễ hội Truyền lô-
vinh quy bái tổ, mang ý nghĩa đề cao việc học, khuyến
khích nhân tài ra giúp nước. Khu triển lãm “Gian
nhà chung” sau ngày khai mạc cũng lưa thưa người
xem… Nghĩa là nhiều chương trình được đầu tư tốn
kém mà không đem lại hiệu quả vì quá ít khách tham
quan, dẫn đến sự lãng phí và cũng chưa đạt yêu cầu
về việc quảng bá thương hiệu. Riêng trong đêm khai
mạc, chúng tôi thấy rất nhiều người bán hàng rong
đứng ngồi nhếch nhác vây quanh khu vực biểu diễn,
thậm chí họ bán ở ngay sát lối soát vé vào sân khấu
làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp của Festival. Dạ tiệc trong
“Đêm Hoàng cung” chất lượng thức ăn thấp so với
giá cả, thái độ phục vụ chưa thật lịch sự… Do quá
nhiều hoạt động trùng thời gian hoặc cách xa nhau,
một số ngày giờ diễn có thay đổi… và lại diễn ra
trên một địa bàn quá rộng (làng nghề Phước Tích,
Phong Sơn, Thanh Tân, Lăng Cô, Phú Mậu, Thủy Thanh…)
nên không thu hút được nhiều du khách. Có thể nói
hiếm ai có đủ kiên nhẫn và thời gian chịu đựng cái
nóng nung người của tháng 6 Huế để dự hết dù chỉ
lướt qua. Ngoài phố, chúng tôi đã không thấy hình
ảnh phụ nữ Huế mặc áo dài bán hàng quán bình thường
để tôn “vẻ dịu dàng pha lẫn trầm tư” như được vận
động trước Festival; bên cạnh đó, giá xe xích lô,
taxi, ăn uống dọc phố xá và các dịch vụ du lịch
lữ hành, khách sạn đã tăng giá quá mức.
Chúng ta mong Huế là một thành phố
tiêu biểu của cả nước về hoạt động lễ hội. Chính
những hoạt động văn hóa nghệ thuật đặc trưng được
tổ chức quanh năm suốt tháng vẫn có thể thu hút
du khách, chứ không phải 2 năm mới có một lần. Tất
nhiên cách khoảng thời gian nhất định có những điểm
nhấn lớn nhỏ khác nhau (Festival là một điểm nhấn
lớn, ấn tượng nhất)… Bởi những loại hình như “Đêm
Hoàng cung” chắc chắn sẽ thu hút khách du lịch rất
mạnh nếu Huế biết triển khai thường nhật hơn, ít
ra mỗi tháng một lần. Tại sao không? XUÂN THÁI
Ca
sĩ Billy Preston qua đời
Billy
Preston
Billy Preston, ca sĩ kiêm nhà soạn nhạc lừng danh
của Hoa Kỳ vừa qua đời sau một thời gian dài mắc
bệnh, năm nay ông 59 tuổi.Ông đã rơi vào cơn hôn
mê hồi tháng 11 năm ngoái vì bị hư thân, tình hình
này càng xấu đi vào cuối tuần vừa qua.Được nhiều
người xem là thành viên thứ năm của ban the Beatles,
ông là một trong số rất ít nhạc sĩ cùng góp mặt
chung với cả ban The Beatles lẫn ban The Rolling
Stones.
Vào đầu thập niên 1970, Billy Preston
tách ra chơi riêng một mình soạn ra nhiều nhạc phẩm,
trong đó có “Outta Space” một bản nhạc không lời
đã đoạt được giải Grammy
NGUYỄN
CÔNG HOAN VÀ THỂ TIỂU THUYẾT
Nguyễn
Công Hoan thường nói về thơ với một sự nghiêm chỉnh
hiếm có. Trong hồi ký Đời viết văn của tôi, ông
tự hào kể: “ Ngay từ những năm tôi còn nói ngọng,
tôi đã thuộc một số thơ cổ của Trung quốc. Rồi tôi
học phương ngôn, tục ngữ ca dao của dân tộc. Rồi
tôi thích nghe những vần thơ chống Pháp của những
tác giả ẩn danh do cha tôi dạy truyền khẩu...”.
Vai trò của thơ được ông diễn tả bằng những lời
lẽ cảm động: “Lúc đầu tôi đọc thơ, nhưng chưa hiểu.
Rồi sau, vì đọc đi đọc lại luôn, tôi hiểu dần, ý
nghĩa của những bài ấy như thấm thía tí một vào
trong người và rồi hình như những lời ấy là của
chính tôi nói với người khác vậy”.
Những khi có điều gì không được như ý, sau khi làm
vài chén rượu, ông không chỉ đọc thơ mà còn làm
thơ giải buồn. Trong hồi ký, ông từng chép ra nguyên
văn mấy bài thơ ông đã làm.
Xem ra lời lẽ của một người suốt đời sống với thơ
cũng chỉ chân thành đến vậy!
Song trong thực tế, nhà văn này sống với lịch sử
văn học bằng văn xuôi và cái tư duy văn xuôi của
mình. Ngoài một sự nghiệp truyện ngắn đồ sộ, ông
là người đã viết khá nhiều tiểu thuyết, viết đều
đều, có lúc một tháng viết vài cuốn. Trong số này
có cuốn đương thời đã trở thành đối tượng để tranh
cãi một hồi như Cô giáo Minh, có cuốn đã từng làm
điên đảo một lớp công chúng như Lá ngọc cành vàng,
có cuốn đã từng được các nhà nghiên cứu sau 1945
đề lên cỡ một trong những tác phẩm tiêu biểu của
thể loại tiểu thuyết hiện thực, như Bước đường cùng
…
Người ta tỏ ra dè dặt khi đánh giá chất lượng các
tiểu thuyết Nguyễn Công Hoan, và điều này không
phải là vô lý. Trừ mấy cuốn được nói trên, các cuốn
khác của ông thường mắc những lỗi khá nặng về mặt
nghề nghiệp. Ví dụ như trường hợp cuốn Thanh Đạm.
Không phải chỉ sau 1945, đứng trên lập trường mác
xít, mọi người mới chê quyển sách này. Mà ngay khi
mới ra đời, nó đã bị một số người xem là áp đặt,
giả tạo.[1]
Có điều, muốn cho công bằng, mỗi khi xem xét quá
trình phát triển của tiểu thuyết Việt Nam trước
1945, người ta bắt buộc phải dừng lại ở trường hợp
Nguyễn Công Hoan. Đặt bên cạnh những tác giả có
những thành tựu tương đối hoàn chỉnh như Hoàng Ngọc
Phách với Tố Tâm, Khái Hưng với Hồn bướm mơ tiên,
Vũ Trọng Phụng với Số đỏ, những người như Lê Văn
Trương, Vũ Bằng, Lan Khai, Nguyễn Công Hoan có cách
tồn tại riêng. Với họ viết tiểu thuyết là công việc
hàng ngày. Hay dở chưa nói, chỉ biết những cái họ
viết làm nên sinh hoạt đời thường của thể loại.
Chính cái dông dài tầm thường của một thứ giải trí
không quá tốn tiền đã được bộc lộ đầy đủ qua các
tác phẩm mà họ sản xuất đều đều.
Ngoài số phận chung như thế, với cái khu vực mà
mình lập nghiệp, Nguyễn Công Hoan lại có một sự
biệt nhãn hiếm có. Ông là người đã dành nhiều giấy
mực để bàn về cái thể tài mà ông thường xuyên sử
dụng. Khi thì ông có bài giảng chung về công việc
của người viết tiểu thuyết (bài nói ở Hội nghị viết
văn trẻ lần thứ nhất,1959).
Khi thì ông kể lại kỹ càng cho mọi người biết một
số tiểu thuyết của mình đã ra đời trong những trường
hợp nào (hồi ký Đời viết văn của tôi ). Người ta
không thể bàn kỹ đến như thế về một công việc mà
người ta chỉ làm một cách vô tình. Hoá ra Nguyễn
Công Hoan đã nặng lòng với tiểu thuyết hơn nhiều,
so với chính ông vẫn tuyên bố.
Sự chuẩn bị tự nhiên
Khi kể về cuộc đời của mình, nhà văn Nguyễn Công
Hoan không có lối mơn man gượng nhẹ. Ông gây ấn
tượng bằng cách làm ra vẻ nói tuột hết mọi điều
cả điều xấu lẫn điều tốt. Thậm chí, vượt lên thói
thường ông còn bất chấp dư luận, sẵn sàng đến mức
trâng tráo kể lể tỉ mỉ mọi điều xấu sẵn có ở mình.
Con người ông trong Đời viết văn của tôi hiện ra
với hai đặc điểm:
Thứ nhất là thói lê la chơi bời từ đó biết nhiều
biết rộng, biết từ việc trong nhà cho đến việc kín
đáo chốn quan trường, rồi việc làng quê, việc chợ
búa học hành thi cử. Hãy nhớ lại đoạn Nguyễn Công
Hoan kể rằng mình bỏ học xuống ngồi gác đùi gác
vế nói chuyện với những người lính trong huyện đường.
Những lần tiếp xúc này để lại trong ông ấn tượng
không bao giờ quên nổi; nếu có thể nói đến một thứ
vốn sống thì ở Nguyễn Công Hoan, cái vốn ấy đa tạp,
vượt ra ngoài cái khả năng mà một người bình thường
có thể có.
Thứ hai, là cái xu hướng nhìn đời theo lối khinh
thế ngạo vật. Ông không coi cái gì là quan trọng,
không thích tin ở những lời giáo huấn. Ông xa lạ
với cách nhìn thiêng liêng theo kiểu lý tưởng hoá.
Ông muốn nhìn gần nhìn thẳng nhìn tận tim đen mọi
người mọi chuyện.
Cái vốn sống ấy, lối nhìn đời ấy quả thật là sự
chuẩn bị tốt nhất để ông trở thành người viết tiểu
thuyết. Tại sao ? Bởi có một đặc điểm của tiểu thuyết
vốn gắn với thể tài này từ thuở ra đời, đấy là tính
chất bình dân và khả năng sống lam lũ giữa đám chúng
sinh. Như các nhà nghiên cứu lịch sử tiểu thuyết
đã khẳng định, thể tài vốn bắt đầu từ những câu
chuyện linh tinh người ta kể với nhau ngoài đường
phố. Nó dông dài, nó ba vạ, nó có khả năng chứa
chấp cả cái bi lẫn cái hài, cái cao cả lẫn cái thấp
hèn. Với tạng Nguyễn Công Hoan, sự đa tạp đó rất
thích hợp. (Đôi lúc Nguyễn Công Hoan được miêu tả
như là ngòi bút chỉ quen viết về những người cùng
khổ, những phần tử thuộc loại dưới đáy trong xã
hội. Thật ra thì nhà văn này đã viết đủ thứ: về
người giàu và người nghèo, về cùng đinh và quan
lại, về những mối tình cành vàng lá ngọc và những
pha ghẹo gái ghẹo gái thô lỗ của mấy anh lính lệ
phố phủ... Hầu như động vào đâu, ông cũng có kinh
nghiệm.)
Lại như cái việc Nguyễn Công Hoan mải viết đến mức
ngại học. Nghiên cứu mấy tác phẩm của A. Dumas hoặc
Maupassant để học theo, ông cũng chỉ đọc một lúc
thì bỏ. Nói chung là ông không chịu được những quy
củ ràng buộc, mà chỉ thích làm theo ý mình.
Trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam những thập niên
đầu thế kỷ XX còn đang ngổn ngang trăm mối, mới
cũ khó phân, mọi người mải miết sống cho kịp với
thời đại, cái tâm lý hăm hở sẵn sàng dậy non và
cảm thấy cái gì cũng có thể làm được mà Nguyễn Công
Hoan thú nhận ở đây là một điều dễ hiểu.
Sở dĩ Nguyễn Công Hoan có thể đến với tiểu thuyết
một cách hoàn toàn tự nhiên một phần còn do những
đặc điểm mỹ học của thể tài: Về nguyên tắc, tiểu
thuyết luôn trong quá trình hình thành. Nó không
bị cứng lại trong những quy phạm có sẵn. Tiểu thuyết
là một thể tài tự do, các tài liệu nghiên cứu các
nước phương Tây cũng như ở nước Nga xô-viết trước
đây đều nói như vậy. Còn ở Trung quốc, người ta
nói rằng tiểu thuyết cần phải dã sinh, tức là có
một cuộc sống của các loại cây cỏ ngoài đồng chứ
không phải thứ hoa trồng trong lồng kính. Chắc chắn
Nguyễn Công Hoan không hề biết những lý luận ấy,
nhưng cái tinh thần của nó thì ông cảm thấy một
cách đầy đủ và rất thạo trong việc khai thác. Đằng
sau cái vẻ đạo mạo của một người thuộc loại con
nhà gia giáo,ở ông giáo tiểu học ấy luôn toát ra
cái vẻ bất cần kỳ lạ. Hoặc nói cho sang, ở Nguyễn
Công Hoan có một nhu cầu tự do nhất định, loại nhu
cầu này là của chung của mọi thời kỳ lịch sử và
đến xã hội hiện đại càng được khuyến khích. Mặc
dù tự do nói ở đây được hiểu theo nghĩa đơn giản
và có nhiều phần dung tục, song dẫu sao vẫn là nó,
thứ tự do nó làm cho con người ta thêm tự tin ở
mình. Đây là một đoạn đối thoại giữa nhà văn lúc
mới làm nghề với một người bạn:
“Tương
Huyền thấy tôi nghịch ngợm, nói chuyện có duyên,
nên một lần đã bảo tôi:
--
Mày biết lắm chuyện buồn cười, và hay nói chuyện
buồn cười, thì mày viết kịch.
Tôi
đáp:
--
Viết kịch khó lắm …Nếu tao có viết, thì tao viết
tiểu thuyết, dài ngắn tha hồ, đương cảnh nọ bật
ra cảnh kia, đương năm này nhảy sang năm khác, không
theo luật lệ nào cả" (Đời viết văn của tôi)
Như
vậy là có sự gặp gỡ giữa nhà văn tương lai và thể
loại, một sự gặp gỡ không hẹn mà nên, hoàn toàn
tự nhiên, không đòi hỏi quá nhiều cố gắng của người
trong cuộc. Điều này thấy ở nhiều nhà văn, nhưng
với Nguyễn Công Hoan, nó dễ thấy nhất. Nó khiến
cho ông mặc dầu không thành công trong thể tiểu
thuyết, vẫn là một ví dụ nổi bật về sự tiếp nhận
một thể tài vốn có nguồn gốc ở nước ngoài, với tất
cả cái độc đáo trong tư duy nghệ thuật khá phổ biến
ở hàng loạt người cầm bút thời tiền chiến.
Những điều trái ngược
Tác giả Bước đường cùng từng có lần khuyên những
đồng nghiệp trẻ: Muốn viết văn thì hãy mạnh dạn
bắt tay vào công việc. Như người muốn học bơi thì
phải nhảy xuống nước. Chứ cứ đứng trên bờ thì cả
đời cũng không bao giờ học bơi được.
Ấy vậy nhưng đọc hồi ký của ông, người ta thấy ông
chả bừa bãi bao giờ. Ngược lại ông suy tính cẩn
thận xem mình nên viết loại văn gì, và viết như
thế nào người ta mới đọc. Sau khi viết xong, khi
đưa cho bạn bè xem ông cũng hồi hộp, ai chê hay
khen ông đều suy nghĩ để rút kinh nghiệm. Tóm lại
trước khi bơi, ở ông có những sự chuẩn bị trên bờ
khá kỹ.
Hoặc như ông hay nói rằng phải viết một cách tự
nhiên và nói chung trong nghề chẳng có quy luật
quy tắc gì cả. Nhưng trong cuốn hồi ký trên ba trăm
trang của mình (con số của bản in Đời viết văn của
tôi 1971 ), ông lại để đến vài chục trang để giảng
về phép tắc mẹo mực mà ông đã từng khéo léo áp dụng
trong công việc.
Cả trong những lúc cần nói về những vấn đề lớn lao
hơn, ở ông cũng có những mâu thuẫn tương tự.
Nguyễn Công Hoan thường tự hào dẫn lại lời khen
của một người bạn gái “Đúng là người Việt Nam viết
truyện Việt Nam bằng văn Việt Nam”
Một lần khác ông phản ứng trước lời khen của một
người rằng văn ông gợi nhớ đến một nhà văn nước
ngoài: như thế có khác gì khen người Việt mà bảo
họ tóc quăn mũi lõ.
Có người hồn nhiên nghĩ – cả tác giả có lúc cũng
có lúc hồn nhiên tương tự – mà khái quát rằng: như
vậy Nguyễn Công Hoan là một trường hợp thuần tuý
bản địa, xứ sở tự động đẻ ra ông, con người và sáng
tác của ông không liên quan gì đến cuộc Âu hoá là
hướng vận động chủ yếu của xã hội và văn học VN
nửa đầu thế kỷ XX.
Nhưng liệu có một người đứng ngoài thời đại như
vậy không? Nhất định là không rồi.
Theo chúng tôi hiểu, quan hệ Nguyễn Công Hoan với
xu thế Âu hoá hình thành qua nhiều phương diện,
trong đó có việc sử dụng các hình thức nghệ thuật.
Trong hoàn cảnh của nước Việt Nam từ thế kỷ XIX
về trước, bước đi của văn xuôi gặp phải hai cái
trở ngại to lớn: một mặt xã hội thiếu một thứ văn
tự phổ thông để ai cũng dùng được. Mặt khác, các
hoạt động mà thuật ngữ hiện đại gọi là mass media
tức là những phương tiện giao tế công cộng bị hạn
chế, sách không in hàng loạt, báo không có, và để
cố định sản phẩm sáng tạo, người ta đành sử dụng
một thể tài thông thường trong văn chương truyền
miệng là các mẩu truyện, các mẩu này vẫn tồn tại
độc lập mà lại có thể ráp nối vào nhau thành một
chuỗi liên tục.
Bây giờ hãy thử nhìn vào các tiểu thuyết của Nguyễn
Công Hoan và xác định cái ngôn ngữ thể loại mà tác
giả sử dụng trong các tiểu thuyết đó. Như trong
trường hợp cuốn Bước đường cùng. Bắt đầu là chuyện
chị Pha đẻ, rồi gia đình Pha và Trương Thi kiện
nhau, rồi Nghị Lại xui nguyên giục bị khiến cả hai
người nông dân gia tài khánh kiệt riêng Pha vợ chết
thân mình tù tội – tất cả những cảnh nói trên nối
tiếp nhau như trong một cuốn phim, hoặc như một
vở kịch có nhiều màn nhiều lớp. Không có lối mở
đầu câu chuyện bằng cách kể lai lịch nhân vật như
trong các truyện cổ. Không có những lời khuyến cáo
đạo đức của tác giả. Đoạn kết bỏ lửng (Pha giơ cánh
tay bị trói lên trời [ …] kệ cho dòng lệ cứ tuôn
trào ra và kệ cho ba anh em theo mình không biết
đến đâu mới trở lại.) Như thế tức là cách viết của
Nguyễn Công Hoan đã vượt ra ngoài truyền thống mà
ông xuất thân. Ông đã vận dụng khá thường xuyên
và hiệu nghiệm những thành quả nghệ thuật của thời
đại, cụ thể là nghệ thuật tiểu thuyết Pháp thế kỷ
XIX.
Trong khi tiếp nối tinh thần vượt ra ngoài mọi quy
phạm của văn chương bình dân, thì đồng thời Nguyễn
Công Hoan hiện ra với một y phục hoàn toàn mới.
Vậy thì có gì là oan khi nói rằng ông đã chịu ảnh
hưởng thời đại, cụ thể là cái chuyện Âu hoá mà ông
và nhiều đồng nghiệp vẫn thành tâm chế giễu.
Vầy vò tuỳ tiện, với ý thức “thể tài của mình”
Tìm hiểu tài năng Nguyễn Tuân, chúng ta biết rằng
nhà văn và cái thể tuỳ bút độc đáo mà ông sử dụng
chỉ có thể sinh ra trong điều kiện của một tư duy
văn học cởi mở. Với tư cách một sản phẩm của xã
hội được làm theo mô hình hiện đại đã đến độ chín,
con người ông Nguyễn không vừa với những khuôn khổ
cũ – ở đây là những thể tài cũ; thể tuỳ bút phải
được du nhập, phải thay hình đổi dạng, phải được
tái sinh để con người tác giả tự bộc lộ.
Tương tự như vậy, chúng tôi ngờ rằng thể tiểu thuyết
chính là một công cụ hữu hiệu nhất để một người
như Nguyễn Công Hoan trở thành chính ông. Nó như
nằm gọn trong bàn tay ông. Ông đùa nhại nó ông giễu
nó. Đây vừa là một khía cạnh thuộc về cá tính con
người nhà văn, vừa là sự gặp gỡ hiếm thấy giữa ông
với cái thể tài mà ông sử dụng.
Trường hợp của Cái lò gạch bí mật thường đã được
các nhà nghiên cứu nói tới mỗi khi nhấn mạnh cái
quan điểm nghệ thuật mà Nguyễn Công Hoan ngấm ngầm
theo đuổi. Thiên truyện thường được xem như một
ngón đòn “ đả kích khá trúng thứ văn chương” hiện
đại “lai căng toàn những ly kỳ rẻ tiền”.[2] Điều
đáng nói là cái ghi chú bên cạnh đầu đề “Truyện
trinh thám An Nam”. Lại một lần nữa, Nguyễn Công
Hoan muốn cho mọi người thấy rằng cái tinh thần
chính mà ông noi theo là chẳng coi việc gì quan
trọng, việc gì cũng là dung tục nhảm nhí. Mà nó
– cái quan niệm hư vô ấy – không của riêng ông mà
phải gọi là tinh thần chung của dân gian, ông chỉ
là một đại diện có tên tuổi.
Để hiểu rõ hơn quan niệm về sự tự do và thói thích
đùa bỡn này của Nguyễn Công Hoan, chúng ta còn có
thể dừng lại ở một cuốn tiểu thuyết tác giả cho
in ở NXB Đời mới vào thời gian ngay sau 2-9-1945
do đó mà ít người biết, là cuốn Người An nam. Tác
phẩm xoay quanh câu chuyện một viên tướng Việt Nam
thời nhà Lê bị bắt làm tù binh, rồi trở thành rể
vua Chàm. Nhưng dòng máu Việt trong người viên tướng
này vẫn chảy mạnh, cuối cùng khi quân Việt đánh
vào thành, nhân vật này lập công quay về với Tổ
quốc bằng cách quay ra giết vợ và làm nội ứng cho
quân Việt tràn vào. Sau hành động yêu nước ấy, viên
tướng phát điên.
Chúng ta biết rằng đôi lúc trong truyện ngắn, Nguyễn
Công Hoan cũng viết về những đề tài mà ông chỉ biết
qua tài liệu sách vở. Như năm 1939, ông có một thiên
truyện mang tên Thiếu Hoa viết về một nhân vật phụ
nữ miền nam Trung quốc. Lần này lại một sự xa lạ
nữa, chắc chắn còn xa lạ hơn Thiếu Hoa vì là truyện
về thời đã qua. Đối với một nhà văn từng nói chắc
như đinh đóng cột rằng “người đọc truyện chỉ thích
đọc những truyện gần với họ, gần về không gian về
thời gian “ – thì đây quả là một ngoại lệ. Nhưng
như lý luận về nhận thức luận đã chỉ rõ, chính các
ngoại lệ lại bộc lộ bản chất rõ hơn là các trường
hợp thông thường. Trong lời dẫn đặt ở đầu sách Người
An Nam, sau dòng chữ Bạn đọc yêu quý, tác giả có
hai trang tạm gọi là lời phi lộ trong đó có đoạn
ông biện hộ cho cách viết của mình:
“Tôi
không biết tiếng Chiêm Thành thì những người Hời
của tôi chỉ được nói tiếng Nam bằng giọng đặc Việt
Nam. Tôi không là người Chiêm Thành sống năm trăm
năm về trước thì các chủ động trong truyện này cũng
không thể tư tưởng theo lối họ về thời ấy. Và đến
cả khung cảnh, ngôn ngữ, cách ăn mặc, cách sinh
hoạt dù ngay của người mình về đời Lê, đã không
ở vào thời đó thì tả sao nổi. Vả biết thế nào là
đúng.”
Chúng
ta cảm nghe trong câu nói nếu không phải một thoáng
“bất khả tri” thì cũng là lời châm chọc đối với
cái cốt tử của nghệ thuật tiểu thuyết, đó là tính
chân thực. Thế thì biết làm thế nào bây giờ ?! Rất
may là rồi người ta cũng được thở phào khi nghe
tác giả tâm sự:
“Vậy
tôi dùng tư tưởng của tôi. Tôi dùng tưởng tượng
của tôi. Tôi dùng ngôn ngữ của tôi. Tôi trông ở
sự rộng lượng của các bạn”
Tiếp
đó, tác giả nói về mình theo cái lối thật thà đến
mức ngạo mạn “Xin các bạn chớ đợi cuốn sách này
một lịch sử tiểu thuyết hoặc một lịch sử ký sự.
Tôi chỉ là một nhà tiểu thuyết, một nhà tiểu thuyết
tầm thường, tồi hơn nữa một nhà tiểu thuyết ít đi,
ít đọc. Bấy lâu nay sở dĩ được hân hạnh quen biết
các bạn là do chỉ đã khai khẩn địa hạt nhà, đào
trong trí nhớ lấy những cái mắt thấy tai nghe rồi
dùng sức óc chắp nối, thêm bớt cho thành những câu
chuyện nhăng nhít”
Tuy nhiên đằng sau những lời lẽ xô bồ và có vẻ lỡm
đời đó, ngầm chứa một ý tưởng khác: tiểu thuyết
đã là chuyện của tôi, tôi (tức Nguyễn Công Hoan)
vầy vò nó thế nào nó cũng phải chịu, nói xuôi nói
ngược thế nào thì rồi mọi người cũng phải nghe.
Cái nháy mắt tinh nghịch đi kèm với một sự hể hả
khoái trá không muốn và không thể che giấu.
Đến đây, có thể nói quá trình tiếp nhận tiểu thuyết
như một thể loại đặc trưng cho thời Âu hoá, việc
tiếp nhận đó ở Nguyễn Công Hoan đã hoàn thành. Nhìn
lại những chặng đường mà ông đã qua, có thể tóm
tắt cách tiếp nhận thể tiểu thuyết ở Nguyễn Công
Hoan như sau:
– bởi thích quá nên làm theo, thấy hợp thì làm,
cứ tự nhiên mà lấy của người làm của mình, không
chút mặc cảm;
– tìm cách phát huy cái phần bản năng tự nhiên để
làm theo hơn là học theo bài bản, không bị trói
buộc bởi bất cứ chuẩn mực hoặc khuôn mẫu nào hết
;
– trong khi làm có một niềm tự tin kỳ lạ, tin rằng
mình đã thông thạo đã lành nghề, đã nắm được tất
cả, chính điều này góp phần giải phóng ở người viết
văn mọi tiềm năng sẵn có.
Khó lòng nói đó là cách tiếp nhận lý tưởng, nhưng
phải nhận đối với một tính cách như Nguyễn Công
Hoan, đó là cách tiếp cận tối ưu.
Theo một sơ đồ thống nhất
Chung quanh mối quan hệ giữa Nguyễn Công Hoan và
tiểu thuyết, điều cuối cùng chúng tôi muốn lưu ý:
cái cách tiếp nhận thể loại ở đây vốn mang nặng
tính truyền thống tức đã có từ các thế hệ trước.
Sử sách nước ta thường ghi từ thời trung đại ông
cha ta đã truyền tay nhau đọc một cách dấm dúi các
bản truyện do người Trung Hoa viết và theo chân
các viên quan đi sứ mang về. Thế nhưng đọc thì cứ
đọc, song nói chung các cụ vẫn rất bảo thủ với nghĩa
chỉ xem thơ là đáng học theo, còn tiểu thuyết là
thứ ngoại sử, dâm thư, tiểu gia chi thuyết, không
thể để cho niềm say mê ma quái đó lôi cuốn. Và đến
khi không cưỡng lại nổi, phải cầm bút viết các loại
truyện (tiền thân của tiểu thuyết ), thì lại thấy
nảy sinh tình trạng tâm lý lưỡng phân, tức là viết
thì cứ viết, nhưng không thể để công tu luyện. Lối
viết truyện nửa mô phỏng truyện Tàu, nửa tô vẽ thêm
cho ra vẻ xuất phát từ hoàn cảnh Việt Nam, và cả
cái tâm lý khi làm vừa tự hào vừa xấu hổ cộng lại,
đã khiến cho công việc được làm thường còn dừng
lại ở tình trạng dang dở.
Cái lối tiếp nhận như vậy đã ảnh hưởng sang thời
hiện đại bao gồm cả thập kỷ ba mươi, bốn mươi thế
kỷ XX như thế nào? Chúng tôi xin phép không chép
lai đầy đủ dẫn chứng mà chỉ ghi lại đây một sự thực
là trong các tiểu thuyết của Khái Hưng và Lê Văn
Trương, Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng, các
nhân vật mỗi khi nhắc đến tiểu thuyết thường tỏ
thái độ coi thường, nếu không nói là mỉa mai, khinh
rẻ. Có lẽ ngoài đời con người thường vẫn nghĩ thế,
nên các nhà văn cũng tự nhiên mà ghi lại chăng.
Sự lặp lại còn thấy cả trong tâm thế sáng tác của
nhà văn. Một mặt nhiều người thích viết tiểu thuyết,
hăm hở rủ nhau viết tiểu thuyết. Trong đội ngũ các
tiểu thuyết gia làm đầy các báo, người ta thấy có
mặt chẳng những các cây bút văn xuôi chuyên nghiệp
mà còn thấy cả một thi sĩ tài hoa như Tản Đà (Giấc
mộng lớn) một cụ đồ tân tiến và thường chỉ giỏi
về tư duy tư biện như Phan Khôi (Trở vỏ lửa ra)
một nhà thơ tính nết vốn bốc đồng như Lưu Trọng
Lư (Khói lam chiều), một cây bút lý luận khá đa
tạp như Trương Tửu (Khi chiếc yếm rơi). Mặt khác
nghệ thuật tiểu thuyết thì chẳng ai coi là nghiêm
chỉnh, chẳng ai đọc và nghiên cứu về bản chất thể
tài này cho cẩn thận, tóm lại là chẳng ai làm việc
cho đúng bài bản. Đương thời, Vũ Bằng có so sánh
tiểu thuyết Việt Nam với tiểu thuyết Pháp ở phương
diện sự khổ luyện của nhà văn để rồi nhận xét “ở
Pháp, những ông hàn lâm và những nhà triết học thường
băn khoăn đi kiếm những cái mới lạ để giúp ý kiến
cho các nhà viết truyện; khi lại nói rõ cho những
nhà viết truyện biết những kỹ thuật mới trong làng
tiểu thuyết ngoại quốc để làm gương”; ngược lại
ở ta, “thật hoàn toàn không có gì, toàn là học theo
lối bắt chước cả kiểu như những người thợ không
học trường chuyên môn một ngày nào mà cũng chữa
được máy móc và chế được ra máy móc.”[3] Nói như
ngôn ngữ bây giờ, tức trong khi các nhà văn Pháp
đưa sáng tác lên lĩnh vực ý thức và tìm thấy sự
hỗ trợ của giới nghiên cứu, thì nghề viết tiểu thuyết
ở Việt Nam dừng lại ở tình trạng một nghề thủ công,
dựa chính vào năng khiếu và thói quen. Nhiều người
khác cũng có ý tương tự.[4]
Đó là những nhận xét có phần suồng sã, kết quả của
một lối nhìn nhận tiểu thuyết ở khoảng cách gần
gũi, song nó có khả năng giúp ta hiểu thêm tại sao
việc vận dụng thể tài này lại có những hạn chế rõ
rệt: những bài học ban đầu vận dụng rất nhanh (điều
này khác với thơ), được khai thác đến mức gần như
cạn kiệt; nhưng sau đó không khai phá tiếp tục,
không làm giàu thêm cho nó được bao nhiêu.
Chính cái cách các nhà văn đến với thể tài đã giải
thích một phần kết quả chúng ta đạt được. Trường
hợp Nguyễn Công Hoan nói ở đây thực ra là tình trạng
chung, cùng lúc thấy ở nhiều nhà văn khác./.2004
--------------------------------------------------------------------------------
[1]Theo Đinh Gia Trinh “Ông Nguyễn Công Hoan đã
tả một người hoàn toàn quá nên quan huyện của ông
chỉ như một vai tuồng vụng về không sống và không
tiêu biểu cho một cái gì cả … Lỗi của tác giả là
đã muốn dùng tiểu thuyết để diễn một quan niệm,
mô tả một khuôn mẫu lý tưởng mà quên rằng nhân vật
tiểu thuyết phải có hoạt động ăn nhịp với đời sống”.
Xem bài Nay và mai, tạp chí Thanh nghị số 51-54,1944,
in lại trong Đinh Gia Trinh, Hoài vọng của lý trí
NXB Văn học,1996, tr. 235
[2] Nguyễn Hoành Khung, phần viết về Nguyễn Công
Hoan, in trong Văn học Việt Nam 1930-1945 -- tập
I, NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, H. 1988,
tr 111
[3]Vũ Bằng, Khảo về tiểu thuyết in trong Những lời
bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt nam từ đầu
thế kỷ XX đến 194, Vương Trí Nhàn sưu tầm và biên
soạn NXB Hội nhà văn 2004, các trang 175-177
[4]Một văn sĩ có thiên về khảo cứu là Nguyễn Triệu
Luật còn đưa ra những khái quát cực đoan hơn, xin
được phép ghi lại để tham khảo:
“Hiện bây giờ, những người gọi là trí thức của ta
đều đào tạo ở hai trường Tây và trường Tàu. Hạng
đào tạo ở trường Tàu – nói là hạng học từ chương
cử nghiệp cuôí mùa thì đúng hơn -- bây giờ tàn tạ
rồi. Còn hạng ở trường Tây ra, vì phải uốn theo
khuôn khổ Tây, không thành người Việt nữa …
Không ở hai trường ấy ra mà lại làm văn sĩ thì thành
hạng văn sĩ quốc ngữ, hạng chẳng có trí thức chi
chi hết, chỉ múa mép láo mấy câu sáo cũ, mấy lời
rỗng tuyếch chẳng có ích gì cho văn học, văn hoá
một nước nào cả. Văn sĩ ta bây giờ chỉ có thể rơi
vào hai cái bị. Một là cái bị Tây là bị lơ lửng
giữa trời, không tây không ta; hai là cái bị quốc
ngữ.
Cổ lai không có nước nào mà cái nghề làm văn sĩ
lại dễ dàng rẻ rúng quá như ở nước ta hiện giờ.
Ta thử đọc những cuốn tiểu thuyết bình dân, những
cuốn tiểu thuyết bên Pháp gọi là “tiểu thuyết của
phường coi cổng”. Đọc những cuốn ấy, ta thấy rằng
tác giả của chúng tỏ ra là người có trí thức ít
ra cũng qua bậc trung học rồi, nghĩa là có phổ thông
trí thức rồi. Những cuốn tiểu thuyết hay nhất của
ta bây giờ, già lắm chỉ bằng những cuốn tiểu thuyết
của phường coi cổng bên Pháp mà thôi! Xem Tao đàn
1939, sưu tập trọn bộ, NXB Văn học 1998 t.1, tr.
420 421
Đạo
diễn Ken Loach giành giải Cành cọ Vàng ở
Cannes
Đạo
diễn Ken Loach giành giải Cành cọ Vàng ở
Cannes
Liên hoan phim Cannes, kết thúc ngày hôm qua,
đã trao giải cao nhất - Cành cọ Vàng - cho
đạo diễn người Anh Ken Loach và phim The Wind
That Shakes The Barley (Gió rung lúa mạch).Đây
là một trong hai phim của Anh tham dự liên hoan
phim uy tín này.Bộ phim kể lại thời kì đầu
của Quân đội Cộng hòa Ireland trong thập niên
1920 và cuộc đấu tranh giành độc lập khỏi
Anh.
Bộ phim không ngại bị chê là
một chiều khi được kể hoàn toàn từ cái nhìn
của một người Ireland tham gia đấu tranh vũ
trang sau khi chứng kiến hành động tàn nhẫn
của lính Anh.Đối với ông Loach và người bạn
viết chung kịch bản thân thiết, Paul Laverty,
bộ phim tượng trưng cho cuộc đấu tranh đòi
tự do trước ách chiếm đóng trong lịch sử
nhân loại.
Loach, người chống đối cuộc
chiến ở Iraq, nói bộ phim tương hợp với các
sự kiện gần đây.Ông nói: "Câu chuyện về
cuộc đấu tranh giành độc lập cứ trở đi trở
lại. Luôn luôn có thời điểm thích hợp để
kể chuyện."Luôn có những đội quân chiếm
đóng trên thế giới bị nhân dân bị trị chống
lại.Người Anh, thật không may và phi pháp,
đang có quân chiếm đóng ở Iraq."
Ông Loach gọi cuộc chiến ở Iraq
là "phi pháp và không thể biện hộ."
Là một trong các đạo diễn được
kính trọng nhất của Anh, ông từng tám lần
được đề cử giải Cành cọ Vàng, giành giải
giám khảo năm 1990 cho phim Hidden Agenda.Giống
như mọi phim của Loach, các diễn viên đồng
ý tham gia làm phim mà chưa cần xem kịch bạn
trọn vẹn.
Diễn viên chính Cillian Murphy
và các bạn diễn Padraic Delaney và Liam Cunningham
chia sẻ với đạo diễn sự đam mê và với tư
cách người Ireland, họ đem lịch sử cá nhân
vào phim.Murphy nói: "Tôi vô cùng tự hào
về bộ phim. Tôi biết nếu có người kể được
chuyện này thì đó là Ken Loach."
Bộ phim sẽ được phát hành ở
châu Âu nhưng chưa chiếu ở Anh.Nhà viết kịch
bản phim, Paul Laverty, nói ông có cách để
bán bộ phim cho Mỹ.
"Nhờ anh nói lại với George
Bush là anh vừa xem một phim tuyệt vời về
những người Cộng hòa," ông nói với một
nhà báo Mỹ.
Lịch
sử - văn hóa và sex trong văn chương
Nhà
phê bình văn học Nguyễn Hòa.
(VietNamNet) - Sự có mặt một cách bất thường của
sex trong đời sống văn chương vài năm gần đây đã
được lý giải qua những nguyên cớ khác nhau, nhưng
tựu trung, những người tán thưởng đều vô tình (cố
tình?) lẩn tránh việc còn cần phải xem xét sex từ
các quy chiếu văn hóa. Đặt vấn đề
Khoảng nửa đầu những năm 60 của thế kỷ trước ở Hà
Nội, đi qua hiệu sách nhỏ ở đầu phố Hồ Hoàn Kiếm
hướng ra đường Đinh Tiên Hoàng, ngắm tủ kính bày
năm bảy cuốn Đông Chu liệt quốc ngoài bìa có in
hình mấy ông mặc áo giáp, vừa cưỡi ngựa vừa vung
gươm mà tôi thích mê tơi. Liền về nhà “moi ruột”
chú lợn đất đựng tiền tiết kiệm, ra mua được hai
cuốn. Đọc chưa hết một cuốn thì cha tôi bắt gặp,
ngay lập tức tôi xơi một cái bợp tai và hai cuốn
sách bị tịch thu không bao giờ gặp lại.
Vài năm sau, lục lọi đống tài liệu
sách vở của người anh trai, tôi lại vớ được bản
in rônêô trích dịch Nàng Idơ và Đêcamêrông - Truyện
mười ngày của Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà
Nội. Khoái quá, tôi chui vào chăn nằm đọc ngốn ngấu
thì anh tôi phát hiện, tôi tiếp tục xơi một cái
bợp tai và bản dịch nhanh chóng bị thu hồi.
Hai sự kiện trên làm tôi rất ấm
ức, cố hỏi tại sao mà cha và anh đều không giải
thích. Về sau tôi lớn lên, cha và anh mới trả lời
vì đó là mấy cuốn sách “bậy bạ”, như chuyện của
nàng Hạ Cơ, rồi các chuyện trai gái tùm lum…, tuổi
nhỏ không được đọc.
Về phần mình, khi đến tuổi được
đọc các tác phẩm này tôi lại thấy chúng không bậy
bạ, thậm chí tôi còn thích thú như lúc đọc Gacgăngchuya
và Păngtagruyen của Rabơle hay Truyện mười ngày
của Bôcaxiô. Lại nghĩ, nếu cha tôi còn sống và lại
biết tôi đã đọc Ngài tổng thống, Trăm năm cô đơn,
Người lữ hành kỳ dị, Đời tỷ phú… - các tác phẩm
dịch từ văn chương nước ngoài mà trong đó nhiều
chi tiết sex có thể làm cho câu chuyện của nàng
Hạ Cơ trở nên… chưa là gì, thì có lẽ tôi sẽ xơi
vô khối bợp tai (!?).
Kể lại chuyện trên, tôi muốn nói
rằng dẫu chỉ là khoảng cách một hai thế hệ nhưng
giữa cha anh và tôi đã có sự sai chênh trong quan
niệm về sex cũng như về thị hiếu. Với thị hiếu,
tôi sẽ trở lại vào một dịp khác. Bài viết này tập
trung phân tích trả lời câu hỏi: Sex trong văn chương
có phải là đề tài quan thiết, hay chỉ là “giả vấn
đề” do một số tác giả còn ở trong tình trạng thiếu
thốn khả năng sáng tạo, thiếu thốn năng lực tư duy
đã không thể khai sinh ra các ý tưởng mới mẻ hơn?
Mâu
thuẫn giữa những giá trị đạo đức
Nghiên cứu về quan hệ giữa con người
với xã hội, xã hội học văn hóa coi mỗi người luôn
phải “mang vác trên vai” một tập các vai trò, và
dù tương đối, thì tương ứng với mỗi vai trò thuộc
về một quan hệ nhất định nào đó là một hệ tiêu chí
có ý nghĩa làm cơ sở bảo đảm cho mỗi quan hệ có
thể vận hành, bảo đảm cho mỗi quan hệ được xác lập
theo kiểu này mà không theo kiểu kia (như không
thể nhầm lẫn quan hệ cha - con với quan hệ anh -
em, không thể lấy quan hệ thầy - trò thay thế cho
quan hệ vợ - chồng…).
Căn cứ vào đó, con người thực thi
mỗi vai trò xã hội thông qua hệ tiêu chí riêng,
phù hợp với yêu cầu ứng xử riêng của từng loại quan
hệ. Suy rộng ra, từ xã hội học văn hóa, dù quan
thiết đến mức độ nào thì sex trong văn chương bao
giờ cũng có tiêu chí riêng trong sự đánh giá. Và
xét trong tổng thể các quan hệ xã hội thì quan hệ
giữa con người với vấn đề sex trong văn chương chỉ
là một trong nhiều kiểu (loại) quan hệ mà con người
phải “mang vác trên vai”. Tuy nhiên theo tôi, do
sex là một loại hiện tượng đa diện và đa trị nên
xã hội - con người quy chiếu nó từ nhiều góc độ
khác nhau. Người ta có thể đánh giá sex từ đạo đức
học, tâm lý học, giáo dục học, y học, xã hội học,
sinh học… thậm chí dân tộc học cũng dành một sự
quan tâm tới sex. Và trong mọi sự đánh giá đó, các
tiêu chí có ý nghĩa văn hóa thường giữ vị trí nổi
trội.
Sau
khi in ấn - phát hành, tác phẩm văn chương trở thành
tài sản chung của xã hội.
Một khi nó đã trở thành tiêu điểm
chú ý của người đọc thì từ quan hệ giữa tác phẩm
với nhiều kiểu (loại) chủ thể cảm thụ khác nhau
mà nhiều kiểu (loại) quan hệ xã hội khác nhau được
xác lập. Khi sex có mặt trong tác phẩm văn chương,
nó không đơn nghĩa chỉ là hành vi tình dục, nó còn
bị quy chiếu bởi nhiều tiêu chí khác, ngoài văn
chương song có liên quan, vốn đang tồn tại trong
đời sống. Trong thực tế các tiêu chí này đôi khi
đối lập nhau, như hệ tiêu chí đạo đức chẳng hạn.
Ngoài một số giá trị chung, mang tính phổ biến và
trường tồn, có thể nói hệ tiêu chí đạo đức là hệ
thống giá trị luôn đi liền với sự vận động của các
thời đại lịch sử, gắn liền với các triết thuyết
cũng như gắn liền với quan niệm về đạo đức của mỗi
chế độ chính trị - xã hội.
Trong một số trường hợp, thông qua
quan niệm đạo đức, có thể đánh giá tính tích cực
hay lạc hậu của một lý thuyết xã hội; đồng thời,
qua đạo đức, người ta có thể nhận diện bản chất
nhân văn của mỗi nền văn hóa. Cũng cần lưu ý, khi
đánh giá mặt đạo đức của sự vật - hiện tượng, con
người không chỉ dựa trên các chuẩn mực đạo đức đương
đại và chính thống, mà nhiều lúc còn dựa trên các
chuẩn mực đạo đức đã ra đời, tồn tại trong quá khứ,
nổi bật là các chuẩn mực có nội dung thuộc về truyền
thống và bản sắc cộng đồng… Chúng ta đã, đang và
sẽ còn được chứng kiến các mâu thuẫn rất khó điều
hoà giữa những giá trị đạo đức đang thịnh hành và
hướng tới, với các giá trị đạo đức vốn từng tồn
tại một cách có ý nghĩa trong quá khứ.
Mâu thuẫn này thể hiện qua sự khác
nhau giữa các thế hệ trong khi đánh giá các hiện
tượng, hành vi đạo đức. Với tình huống này, trong
chừng mực nhất định và nếu không tỉnh táo, tinh
thần “bảo thủ” hay “cấp tiến” đều có thể đưa tới
tác hại (VNN nhấn mạnh). Vì thế sự xuất hiện các
ý kiến ủng hộ hay phản đối sex trong văn chương
không phải là cái gì đáng ngạc nhiên, đặc biệt là
về đạo đức. Trong quan hệ giữa các yếu tố khách
quan và các yếu tố chủ quan, tình trạng chưa thống
nhất, chưa đồng thuận giữa các tiêu chí văn chương
với các tiêu chí ngoài văn chương khi đánh giá sex
là hoàn toàn có khả năng xảy ra, và điều đó dễ đẩy
tới sự bàn cãi, tranh luận trên văn đàn.
Những
cấm kỵ đối với sex
Từ nguồn cội của sự sinh tồn, dù
đã phát triển đến trình độ nào, con người vẫn không
thể bỏ qua các nhu cầu thiết yếu cơ bản là ăn -
mặc - ở - duy trì và bảo toàn nòi giống. Xét đến
cùng, xưa nay mọi hoạt động của con người đều có
nguồn gốc từ yêu cầu thoả mãn các nhu cầu thiết
yếu nói trên.
Từ thuở hồng hoang đến thời hiện
đại, nhu cầu của con người luôn ở trong xu thế gia
tăng về số lượng lẫn chất lượng và “tính người”
- hay tính văn hóa-văn minh -. Nó đã trở thành tiêu
chí đầu tiên, thước đo đầu tiên đánh giá bản chất
hành vi thoả mãn nhu cầu của con người. Trong bối
cảnh ấy, việc thoả mãn nhu cầu sex cũng không nằm
ngoài tính tất yếu. Nó chịu sự chi phối của văn
hóa, và đẹp - xấu, hay - dở như thế nào cũng đều
được xã hội và con người đánh giá qua lăng kính
văn hóa. Nói cách khác, cũng như ăn - mặc - ở, nhu
cầu duy trì và bảo toàn nòi giống luôn phải đáp
ứng đòi hỏi phải được “văn hóa hóa”. Theo tôi, việc
chúng ta sử dụng trong sinh hoạt xã hội những tính
- trạng từ như “bừa bộn, tạm bợ” khi đề cập tới
sự ở, “nhếch nhác, luộm thuộm” khi đề cập tới sự
mặc, “vục đầu vai vế” khi đề cập tới sự ăn, “bậy
bạ, trụy lạc” khi đề cập tới một loại hành vi, xét
cho cùng luôn có ý nghĩa tối thượng và tự nhiên
là duy trì và bảo toàn nòi giống, đều xuất phát
từ quan niệm văn hóa, mà trực tiếp là văn hóa đạo
đức.
Trong lịch sử loài người, ở một
số giai đoạn, việc thoả mãn nhu cầu ăn - mặc - ở
còn trở thành tiêu chuẩn xác định “phận vị” xã hội
của mỗi thành viên. Đã có thời vua quan và thứ dân
không chỉ phải (được) ở trong các ngôi nhà khác
nhau, mà ngay với sự “mặc”, người ta cũng chi tiết
hóa sự khác nhau, thể chế hóa sự khác nhau về “phận
vị” thông qua những quy định về kiểu cách, màu sắc.
Xét lịch sử phát triển của nhu cầu cùng khả năng
sáng tạo để đáp ứng nhu cầu của con người, ta có
thể thấy, trong khi nhu cầu ngày càng được nâng
cấp và phong phú, đa dạng thì đồng thời con người
cũng cố gắng xây dựng các chuẩn mực, chế định hóa
các chuẩn mực, để không chỉ quản lý mà còn để điều
chỉnh, sao cho sự tăng phát của nhu cầu và khả năng
đáp ứng nhu cầu có thể vận hành theo một quỹ đạo
lành mạnh.
Với nhu cầu duy trì và bảo toàn
nòi giống, có lẽ do tính chất “tế nhị” của nó, do
nó có thể trỗi dậy một cách bản năng không cần tới
một tác nhân môi giới nào, đặc biệt, có lẽ còn do
sức ám ảnh của sex mà những cấm kỵ (tabu) dành cho
sex cũng nhiều hơn, chặt chẽ hơn so với nhu cầu
ăn, mặc, ở. Trước đây ở Việt Nam, từ vai trò chi
phối của Nho giáo, việc công khai đề cập tới sex
trong sinh hoạt chính thống của xã hội thường bị
coi là “tà dâm”, là đáng xấu hổ, đáng bị lên án
(Nhân đây cũng xin thử đề cập tới một tình thế theo
tôi khó có lời giải là trong lịch sử, đã có nhiều
tôn giáo nhấn mạnh vấn đề “diệt dục” và không ít
nhà tu hành đã đi theo con đường này.
Vậy, xét từ phương diện nhu cầu
tự nhiên, nhà tu hành có thể hạn chế ăn - mặc -
ở, như không mặc quần áo, không sống ở nơi tiện
nghi, uống nước lã ăn bánh mì hoặc không “xơi” một
số thực phẩm có tính cấm kị… nhưng nhà tu hành quyết
liệt chống lại một nhu cầu rất riêng tư là sex.
Liệu có nên nói rằng cố gắng này có thể ảnh hưởng
tới môi trường truyền giáo nói chung nếu tín đồ
cũng noi gương họ và “diệt dục”, nghĩa là nếu có
điều đó xảy ra thì sự lưu truyền nòi giống sẽ chấm
dứt!?). Nhưng nghịch lý lại thể hiện ở chỗ xưa kia,
ở cả phương Đông và phương Tây, sex công khai thường
bị xem là cái gì đó đáng bị phê phán song người
ta vẫn viết và lưu truyền Kamasutra, Tố nữ kinh
(còn có một tên gọi khác là Khoái lạc và trường
sinh), Kim Bình Mai… Khảo sát kho tàng truyện tiếu
lâm Việt Nam, sẽ thấy số truyện có liên quan tới
hai đề tài “ăn” và sex chiếm tỷ lệ áp đảo so với
các đề tài khác.
Phải chăng đây là hai nỗi ám ảnh
trong cuộc sống thường nhật của người Việt thời
quá khứ? Và từ các chức năng của văn hóa dân gian,
thì phải chăng đây là một cách thức, là sự bày tỏ
thái độ của công chúng trước các quan niệm đạo đức
khắc kỷ do Nho giáo truyền bá?
Sex
và lựa chọn của nhà văn
Hơn năm thế kỷ trước, một trong
những tiền đề tinh thần đẩy tới tư tưởng nhân văn
thời Phục hưng là khát vọng làm thế nào để con người
được là chính mình. Các tác giả lỗi lạc như Bôcaxiô,
Rabơle… đã gửi gắm vào tác phẩm của họ lời ca ngợi
tình yêu lứa đôi trong sáng, cùng thái độ phê phán
đối với các giáo điều hà khắc và bạo lực xã hội
thời Trung cổ. Qua thủ pháp nghệ thuật trào lộng
có màu sắc sex, họ đã góp phần quan trọng tạo ra
bước ngoặt trong đời sống tinh thần của loài người.
Truyện mười ngày (Bôcaxiô) hay Gacgăngchuya, Păngtagruyen
(Rabơle) được lưu giữ như tài sản vô giá của văn
chương nhân loại là ở tinh thần khai phóng của chúng;
người đọc các thế hệ sau đã không quan tâm nhiều
tới yếu tố sex được thể hiện trong tác phẩm ra sao.
Ở Việt Nam thời Trung đại, có thể
nói yếu tố sex hầu như vắng bóng trong các tác phẩm
văn chương được coi là chính thống. Khi các quan
niệm khắc kỷ về đạo đức đang thịnh hành trong xã
hội thì dù có muốn, từ Truyền kỳ mạn lục, Thánh
Tông di thảo… đến Truyện Kiều, tiền nhân cũng chỉ
đề cập tới sex một cách bóng bẩy, mơ hồ. Và lịch
sử văn chương Việt Nam đã không dung chứa trong
nó những tác phẩm mà ở đó yếu tố sex được thể hiện
trực tiếp và ít nhiều trần trụi như Hoa viên kỳ
ngộ tập (thế kỷ 18) hoặc Hà hương phong nguyệt (đầu
thế kỷ 20)… Ngoài các nhà nghiên cứu chuyên sâu,
công chúng rộng rãi hầu như không biết tới các tác
phẩm có tính chất “ngoài luồng” này. Một khi đến
giai đoạn tiền hiện đại của văn chương Việt Nam,
vẫn còn những tác giả coi Truyện Kiều là “dâm thư”
thì, từ sự thấu triệt tính bảo thủ của ý thức xã
hội, cũng nên chia sẻ với một số tác giả vài chục
năm trước còn cho rằng Số đỏ, Làm đĩ, Giông tố…
thậm chí đến thơ Hồ Xuân Hương là “dâm tục”.
Như đã trình bày ở trên, theo chiều
dài lịch sử, sự phát triển của nhu cầu cùng với
sự phát triển của khả năng đáp ứng nhu cầu của con
người đã đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức
tạp, từ đơn điệu đến phong phú, đa dạng. Cùng với
lịch sử, khái niệm “nhu cầu” không còn dừng lại
trong phạm vi thuần túy vật chất như ở thời sơ khởi.
Khả năng nhận thức tự nhiên, xã hội và chính bản
thân con người đã làm nảy sinh các nhu cầu mới,
trong đó nổi lên là nhu cầu tinh thần. Nếu khảo
sát trực tiếp và cụ thể, thì về hình thức đôi khi
nhu cầu tinh thần dường như không có quan hệ với
nội dung vật chất, song nếu xét đến cùng thì quan
hệ là có thật. Người ta không thể lảng tránh thực
tế đó khi có một cái nhìn biện chứng về quan hệ
giữa con người với thế giới khách quan.
Cho tới ngày nay, trong hằng hà
sa số cảm xúc và rung động thẩm mỹ của con người
trong đời sống tinh thần, phải thừa nhận rằng những
cảm xúc thánh thiện, thanh khiết về tình yêu, những
khoái cảm nhân tính có nguồn gốc từ quan hệ tính
giao đã có một vị trí nhất định trong sinh hoạt
xã hội nói chung, trong văn chương nói riêng. Điều
đó góp phần triệt tiêu tính bản năng trong sex,
làm cho sex thăng hoa như là một loại hoạt động
tinh thần được con người nâng niu, trân trọng. Nên
ở các giai đoạn lịch sử trước, dẫu bị phê phán (thậm
chí bị kết tội), nhu cầu hướng về tính yêu lứa đôi
và những khoái cảm mà tình yêu lứa đôi đưa lại vẫn
được bày tỏ bằng những cách thức khác nhau.
Quy chiếu vào văn chương, chúng
ta thấy văn chương là sản phẩm của đời sống tinh
thần, tác phẩm văn chương ra đời trước hết là nhằm
đáp ứng nhu cầu tinh thần. Đối với văn chương, ý
nghĩa tinh thần là hết sức đa dạng và không có giới
hạn. Trong khi đó, sex trong văn chương thường chỉ
khu biệt trên hai phương diện: nhà văn sử dụng sex
trong tác phẩm như thế nào và công chúng tiếp nhận
sex ra sao.
Về phía tác giả, nếu tác phẩm là
nơi gửi gắm suy tư, nơi đưa ra thông điệp tinh thần…
Còn về phía người đọc, họ đi tìm sự đồng vọng với
suy tư của nhà văn và lĩnh hội thông điệp tinh thần
từ tác phẩm để bổ sung, làm phong phú đời sống tinh
thần của chính mình. Năng lực thực tế cùng cá tính
sáng tạo của nhà văn cho phép mỗi người tìm thấy
từ “tập vai trò xã hội” mà họ có được, đâu là vai
trò phù hợp và cố gắng khai thác đặng tìm ra phương
cách triển khai trong tác phẩm. Như vậy nhà văn
luôn đứng trước rất nhiều khả năng; họ lựa chọn
khả năng nào là tùy thuộc vào những yếu tố khách
quan - chủ quan cụ thể. Nói như thế cũng có nghĩa,
sex chỉ là một trong nhiều cách thức nhà văn sử
dụng để gửi gắm ý nghĩa tinh thần. Do đó, sex không
phải là phương tiện đặc hiệu duy nhất có khả năng
mở ra cánh cửa thâm nhập vào thế giới nội tâm sinh
động và tinh tế của con người (VNN nhấn mạnh).
Khảo sát lịch sử văn chương sẽ thấy
vô số cách thức khác nhau để nhà văn lựa chọn, sử
dụng. Song lựa chọn và sử dụng như thế nào trước
sau đều phụ thuộc vào việc nhà văn có khả năng trừu
xuất các thông điệp đó từ trí tuệ, từ suy tư của
chính mình trước những biến cố, những số phận, những
vấn đề xã hội - lịch sử - con người… hay không.
Ngày nay, cùng với sự phát triển,
những mối quan tâm cùng khả năng nhận thức của con
người đã được mở rộng về biên độ, nâng cao về trình
độ đến mức phải nói rằng dù có muốn thì bất kỳ cá
nhân hay nhóm cá nhân nào cũng không thể bao quát
hết được. Điều đó làm phân tán sự quan tâm đến sex,
và dường như sex lành mạnh đã và đang trở thành
một loại hiện tượng bình thường trong sinh hoạt
xã hội. Còn trong văn chương, khi sex được nhận
thức - phản ánh phù hợp với lôgic nội tại của cuộc
sống cũng như lôgic của bản thân tác phẩm; nói cách
khác, nếu nhà văn không lạm dụng và không đề cao
sex trong tác phẩm, không tỏ ra thích thú một cách
bệnh hoạn với nó… thì không có gì đáng phải quan
ngại. Còn nếu ai đó giải thích rằng nhà văn sử dụng
sex trong tác phẩm để đưa ra một thông điệp về “giải
phóng phụ nữ”, theo tôi, đó thật sự là một “giả
vấn đề”, một ngụy biện nhiều hơn là một tường minh
văn chương (VNN nhấn mạnh). Và tôi nghĩ, sự ấu trĩ
trước các biến động lịch sử, sự thiếu vắng khả năng
luận giải các biến động lịch sử trong tính tất yếu
của nó hoàn toàn có thể đẩy người ta tới những ngộ
nhận không đáng có trong sinh hoạt trí thức của
xã hội.
Những ngộ nhận này, với ảnh hưởng
của chúng, chỉ có khả năng làm “nhiễu loạn” các
tiêu chí định giá mà thôi.
Cái
thiếu của nhà văn Việt Nam khi viết về sex
Theo dõi văn đàn Việt Nam vài năm
trở lại đây, liên quan đến “sex’, tôi nhận thấy
có hai hiện tượng: một là sự xôn xao trước tác phẩm
của một số cây bút nữ Trung Hoa, hai là sự xuất
hiện một vài tác giả Việt Nam có xu hướng sử dụng
sex trong tác phẩm. Hai hiện tượng trên là bình
thường với một nền văn chương có nội lực “thâm hậu”,
song, với đời sống văn hóa Việt Nam đương đại -
trong đó văn chương là một bộ phận cấu thành -,
chúng lại được nhiều người chú ý. Sự đồng tình hay
không đồng tình của công chúng trước hai hiện tượng
này, một mặt cho thấy tính chất phức tạp của thị
hiếu văn chương đương thời, một mặt qua đó liệu
có thể đặt ra câu hỏi về khả năng thật sự của một
vài nhà văn cùng nỗ lực tỏ ra ưu thời mẫn thế của
một vài tác giả viết phê bình (VNN nhấn mạnh).
Thật ra, không chờ đến ý kiến tán
thưởng của một số cây bút phê bình cùng lời thanh
minh của một hai tác giả về tác phẩm của họ tôi
mới biết tới tham vọng sử dụng sex để chuyển tải
một (những) thông điệp tinh thần. Trong Lời tựa
tiểu thuyết Ổ rơm (NXB Hội Nhà văn, H.2002) Trần
Quốc Tiến từng viết: “Các phó thường dân nói rằng
đệ nhất khoái là nằm ôm vợ trên Ổ Rơm. Rồi từ cái
Ổ Rơm ấy hàng vạn hàng triệu tiếng khóc chào đời.
Không ít các thiên tài chui ra từ Ổ Rơm”. Song triết
lý “ổ rơm” đã không chứa đựng điều mà tác giả ngỡ
đã làm được, cuối cùng thì cuốn tiểu thuyết lấy
“ổ rơm” làm điểm tựa tinh thần đã sớm yểu mệnh cùng
các “scène sex” phản cảm. Trong khi đó, với tiểu
thuyết Dòng sông mía (NXB Hội Nhà văn, H.2004),
dù một số chi tiết sex được đề cập khá trần trụi
thì vẫn không gợi lên sự phản cảm, chưa thấy dư
luận đánh giá về mặt đạo đức. Dường như giải A cuộc
thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam được trao
cho Dòng sông mía ít nhiều đã phản ánh một cái nhìn
khoáng đạt, hợp lý hơn đối với vấn đề sex trong
tác phẩm?
Quả thật trước mắt, tôi cũng chưa
chuẩn bị thấu đáo để có thể bắt tay triển khai một
chuyên luận về sex trong lịch sử văn chương. Trong
bài viết này, tôi cũng không có ý định phân tích
và đánh giá một số tác phẩm có đề cập tới sex đã
xuất bản ở Việt Nam trong những năm qua. Vả lại
nếu có viết cũng khó lòng vượt qua đánh giá của
một số đồng nghiệp, như gần đây nhà phê bình văn
học Vương Trí Nhàn viết trên báo Khoa học và đời
sống:
Không may cho tôi là đến giờ phút
này bản thân không tìm thấy cái cảm giác tốt đẹp
và cái lý do vững chắc nói trên khi đọc một số trang
sách có ít nhiều liên quan tới tính dục của các
tác giả trong nước, nhất là mấy bạn trẻ. Về nguyên
tắc, tôi biết lớp trẻ hiện nay cũng đang có nhiều
bức xúc. Họ không bằng lòng sống theo nếp cũ. Họ
muốn thể nghiệm. Những khoái lạc muôn màu muôn vẻ
của con người, họ muốn hưởng thụ và giúp nhau hưởng
thụ. Song có lẽ là vì chúng ta được chuẩn bị quá
sơ sài, nên những nỗ lực nóng vội của chúng ta dẫn
đến tình trạng lê lết trong tuyệt vọng, thậm chí
có phần gần với bệnh hoạn. Nói đơn giản là đọc nhiều
trang sách nói tới sex tôi thấy nó không phải là
nhu cầu chân chính của người viết mà nhiều khi như
là học đòi. Hoặc trong một số trường hợp, thoáng
bắt gặp ở người viết một cái gì như là thèm thuồng,
viết ra để mơn trớn vuốt ve chiều chuộng mình, đáp
ứng những nhu cầu bản năng có phần thấp của mình
mà không nối nó được với những nhu cầu cao đẹp nhất
thiết phải có.
Tôi đồng tình với nhận xét của nhà
phê bình họ Vương, bởi tôi vẫn cho rằng sự thiếu
thốn khả năng tư duy sâu sắc và triệt để của đa
số nhà văn Việt Nam hôm nay chỉ có thể đưa tới cái
gì đó gần gũi với “ăn may”, chưa tạo điều kiện giúp
họ đi xa hơn trong nghề nghiệp.
Tương tự như thế, sau khi đọc các
tác phẩm như Cô gái đánh cờ vây, Búp bê Bắc Kinh…
tôi đã đoán định tác giả của chúng được chuẩn bị
tinh thần khá cơ bản trước khi cầm bút. So sánh
với tác phẩm của một số cây bút trẻ trong nước,
tôi nghĩ rằng giữa họ, ngoài hai đặc điểm chung
là cùng đề cập đến sex và chủ yếu là các cây bút
nữ, còn lại là một khoảng cách khá xa về khả năng
tư duy để phát hiện ý tưởng. Nông cạn, hời hợt trong
suy nghĩ, lười nhác trong trải nghiệm… thì khó lòng
tìm thấy một (các) ý tưởng ra trò. Do vừa coi sex
như một nhu cầu tự nhiên - văn hóa của con người
cần được trân trọng, vừa quan niệm sex không phải
là tất cả, không phải là phương tiện ưu thắng để
chuyển tải ý nghĩa tinh thần trong tác phẩm văn
chương, tôi dự đoán một ngày nào đó trào lưu của
những tác giả như Sơn Táp, Xuân Thụ, Thiết Ngưng…
sẽ “xẹp” dần. Cuộc sống xã hội - con người hiện
đại với tính muôn màu của nó, trong những tình thế
và các biến thể phức tạp của nó… đang đòi hỏi ở
nhà văn nhiều hơn là những câu chuyện xác thịt.
Dù nhà văn có làm cho sex mùi mẫm và ngất ngây,
dù nhà văn có buộc sex phải è cổ còng lưng mang
vác “thông điệp” thì cũng không thể cung cấp lời
giải có ý nghĩa tham chiếu cho các tình thế. Mặt
khác, trước sự mở rộng và ngày càng mở rộng của
thế giới tinh thần con người, văn chương cần theo
kịp với sự mở rộng ấy. Loanh quanh với bức xúc và
sở thích, sở đoản thì nhà văn sẽ nhanh chóng tụt
hậu, tác phẩm cũng nhanh chóng trở nên lạc lõng.
Cái gì thuộc về “mốt” thì cũng sẽ qua đi.
Và xem chừng dự đoán của tôi về
tác phẩm của Thiết Ngưng, Cửu Đan, Xuân Tụ… là có
lý nếu ai đó đã đọc bài Sự thoái trào của tiểu thuyết
tình ái Trung Quốc (Phạm Tú Châu dịch, laođộng.com.vn,
ngày 29/4/2006). Xin trích một đoạn:
Tiểu thuyết tình ái năm 2005 dường
như đã chứng tỏ sự thoái trào đó, mặc dù dấu vết
của dục vọng vẫn còn. Thân xác cũng thường xuyên
có mặt nhưng đã bị một số tiểu thuyết tình ái kêu
gọi tình cảm chân thực, theo đuổi tình yêu chân
chính dần dần làm cho nhạt nhoà. Sự chuyển hướng
này trong sáng tác của nhà văn nữ càng nổi bật.
Tốc
độ thời đại và bản lĩnh nhà văn
Chúng ta đang sống trong một thời
đại mà bản thân nó thật sự là một cuộc chạy nước
rút dường như không biết ngừng nghỉ. Sự kiện nối
tiếp sự kiện, thông tin nối tiếp thông tin… tất
cả cùng hối hả, dồn dập. Nhiều sự kiện - con người
tưởng chừng sẽ còn ám ảnh lâu dài thì ngoảnh đi
ngoảnh lại đã trở thành quá vãng. Bộ nhớ tự nhiên
của con người đang đứng trước một thách thức: làm
thế nào để vừa có thể thâu nhận thông tin mới một
cách cập nhật, vừa phải chọn lọc để lưu giữ, vừa
phải dọn chỗ để nạp thông tin mới hơn. Vừa hôm qua
đây thôi, cánh trẻ còn đang say sưa với hip-hop.
Và trong khi lớp người lớn tuổi chưa kịp tìm hiểu
hip-hop là gì thì cái sự quay cuồng kia đã bị thay
thế bằng alternative-rock. Chỉ sau gần chục năm,
các bậc cha mẹ ở Việt Nam đã phải thích ứng với
khá nhiều thói quen đang hình thành trong lớp trẻ.
Cuộc sống của chúng ta đã và đang có những biến
động mới với những tiết tấu mới, làm xuất hiện những
giá trị mới đôi khi nằm ngoài tầm kiểm soát của
những chuẩn mực thế hệ.
Hôm nay, tinh thần dân chủ, tính
năng động cùng khả năng liên tục thay đổi của các
sản phẩm văn minh thời đại đã thâm nhập, tác động
vào mọi ngóc ngách của cuộc sống. Văn chương không
phải là ngoại lệ. Khi mọi thứ đều có thể trở thành
hàng hóa, nếu không có bản lĩnh và sự sáng suốt,
người ta khó có thể gìn giữ cho văn chương cái dáng
vẻ thuần khiết vốn có. Gia nhập thị trường trong
sự hồn nhiên nghề nghiệp, xem chừng không ít nhà
văn Việt Nam còn ngơ ngác như lần đầu tiên có mặt
chỗ đông người. Và trong khi nhiều nhà văn còn tỏ
ra e dè, thì lại có nhà văn cố gắng chiếm lĩnh,
hoặc theo tinh thần trục lợi, hoặc nhằm thoả mãn
mong muốn được là “người của công chúng”.
Cứ thế, ở nhiều thời điểm, xem ra
văn đàn cũng hối hả, quay cuồng với các tác phẩm,
các tên tuổi mà những tính từ “lỗi lạc”, “tài năng”
được sử dụng một cách dễ dãi. Năm bảy năm qua, đã
có sự “lên ngôi” của hàng chục tác phẩm, hàng chục
tác giả mà căn cứ vào những gì báo chí đã đăng,
đồng nghiệp đã viết, những tưởng chúng và họ sẽ
mãi mãi lưu danh. Tiếc thay, mọi chuyện lại nhanh
chóng đi vào quên lãng! Từ quan sát và chứng kiến,
tôi đã đặt ra và hy vọng một ngày không xa sẽ trả
lời một số câu hỏi, đại loại như: Với kinh tế hàng
hóa, văn chương Việt Nam có điều kiện được “thăng
hoa”? Liệu có thể kết luận trong một số trường hợp,
tác phẩm - tác giả văn chương đã trở thành “cái
gì đó” tương tự những ngôi sao nhạc “sến” với các
ca khúc hát hôm nay rồi ngày mai quên?
Kết
luận
Từ góc nhìn xã hội học, sau 20 năm
đổi mới, dường như đang có sự sắp xếp lại để hình
thành nên những nhóm bạn đọc khác nhau. Vào các
cửa hàng sách tự chọn, quan sát cách công chúng
chọn mua sách vở, có thể hình dung về nhiều kiểu
thị hiếu. Qua các quầy bán báo lại thấy tủi thân
thay cho báo chí văn chương, vì chúng hoặc bị xếp
sau những tờ báo đang “ăn khách”, hoặc lấp ló góc
quầy, hoặc nhận được câu trả lời không có báo vì
không bán được! Nói vậy song mỗi năm vài lần, các
tờ báo liên quan đến văn chương bán hết veo ngay
sau khi phát hành. Ấy là khi có “sự vụ văn chương”
vừa mới xảy ra và mấy năm nay đôi lúc là “sự vụ”
ít nhiều có liên quan đến sex! Báo chí quan tâm,
bạn đọc quan tâm, đến cả “đầu nậu” sách cũng tỏ
ra sốt sắng…, có lẽ chủ yếu vì cái đề tài sex nhạy
cảm vừa làm nhóm bạn đọc này thích thú, vừa làm
lớp bạn đọc kia nhăn mày. Rồi từ một hai cuộc tranh
luận, bỗng nhiên mọc ra một "ngôi sao văn chương”
với các cuộc phỏng vấn nếu không lặp đi lặp lại
một “tuyên ngôn” thường là sáo rỗng. Trong ánh hào
quang theo tôi là giả tạo đó, đáng tiếc lại có nhà
văn đã không nhận ra chính họ đang trở thành nạn
nhân trong trò chơi tung hứng của báo chí và biết
đâu, sex chỉ là cái cớ để người ta tăng số lượng
phát hành.
Sự có mặt một cách bất thường của
sex trong đời sống văn chương vài năm gần đây đã
được lý giải qua những nguyên cớ khác nhau, nhưng
tựu trung, những người tán thưởng đều vô tình (cố
tình?) lẩn tránh việc còn cần phải xem xét sex từ
các quy chiếu văn hóa. Về phần mình, đến nay tôi
vẫn không thể tự thuyết phục được mình rằng trên
đời này lại có một sự vật - hiện tượng “thiếu văn
hóa” mà có khả năng chứa đựng một giá trị tinh thần
tích cực. Cứ cho là sex chỉ tồn tại với ý nghĩa
là phương tiện, thì thử hỏi một thứ “sex bẩn” liệu
có khả năng chuyển tải một “thông điệp sạch” hay
không? (VNN nhấn mạnh). Tôi nghĩ, chỉ với trí tưởng
tượng nghèo nàn, với động cơ văn chương đáng ngờ...
người ta mới có thể phô bày sex vượt ra khỏi sự
chi phối của văn hóa. Một tác phẩm có yếu tố sex
sẽ không có gì là xấu nếu nó đem tới những rung
cảm trong sáng và lành mạnh. Nhưng một tác phẩm
sẽ trở nên ghê tởm nếu nó chỉ đưa tới sự nhầy nhụa
và phản cảm.
Như đã nói, sự sai chênh về quan
niệm, thị hiếu văn chương giữa các thế hệ người
đọc là điều khó tránh khỏi trong tiến trình phát
triển của một xã hội, nhất là ở Việt Nam vào thời
đoạn thang bậc giá trị xã hội - con người đang có
những dịch chuyển. Nói như thế không có nghĩa những
gì thuộc về thế hệ trước là bảo thủ, những gì thuộc
về thế hệ sau mới là tiến bộ, văn minh. Dẫu khác
nhau đến thế nào thì giữa các thế hệ vẫn có mẫu
số chung, đó là: sự hướng thiện, sống chân thực
và trân trọng cái đẹp. Nói cách khác, mọi thế hệ
luôn biết tự ý thức về vấn đề “văn hóa hóa” hành
vi sáng tạo và cảm thụ, qua đó kế tiếp nhau làm
nên tính liên tục của văn hóa. Các tuyên ngôn văn
chương nông cạn và đại ngôn, những tác phẩm văn
chương cố lên gân để tỏ ra thời thượng… sẽ nhanh
chóng bị lãng quên, bởi xét đến cùng chỉ là trò
chơi văn chương chưa đến độ.
Hơn lúc nào hết, chính lúc này,
nhà văn cần tỉnh táo để xây dựng khả năng phân biệt
sự khác nhau về bản chất giữa văn chương của muôn
đời với văn chương của những thời khắc. Khi xã hội
manh nha hình thành thói quen chú ý đến các sản
phẩm hàng hóa thời thượng, thì trong cuộc mưu sinh,
nhà văn có thể sản xuất ra loại sản phẩm văn chương
đáp ứng thị hiếu tức thời của một vài cá nhân, một
nhóm xã hội nào đó và nhận được sự tán thưởng. Nhưng
đó chưa phải là tất cả, nhà văn tài năng là nhà
văn thuộc về mọi người. Còn về phía một số nhà phê
bình, nhân đây tôi muốn gửi đến họ một ý kiến chân
thành: hãy dành sự quan tâm nhiều hơn nữa tới góc
nhìn văn hóa về tác phẩm, chớ lấy cái chủ quan thay
thế cho cái khách quan… để làm cho tác giả tự huyễn
hoặc về tác phẩm và tài năng của họ. Cuối cùng,
xin nhắc lại điều tôi đã đọc và đã viết ở đâu đó
rằng: “Hãy bằng lòng với những gì tác giả cho ta,
đừng bắt anh ta cho cái mà anh ta không có.”.
5/2006
Nguyễn
Hòa
Tuyển tập tiểu luận liên quan
đến Nhà văn Trần Mạnh Hảo
Những
bài, tài liệu, của ( hoặc liên quan ) đến
Nhà văn Dương
Thu Hương
(Những
bản tin trên chúng tôi trích dịch từ BBC, Tân Hoa
Xã, VOA, Reuters, Fox, Vietnamnet, Thanh Niên, Tuổi
Trẻ...
Xin cám ơn các nguồn trên đã giúp chúng tôi chuyển
gửi tin tức đến độc giả HNPĐ
)

|