| 
Củng
Lợi giành ngôi đệ nhất mỹ nhân Trung Quốc
Diễn
viên Củng Lợi.
Sau 20 năm làm nữ hoàng điện ảnh, nàng Thu Cúc chứng
tỏ, cô chưa chịu trao “vương miện” cho đàn em Chương
Tử Di, khi được bầu là người phụ nữ đẹp nhất nước
này. Xếp thứ hai là Li Yuchun, ca sĩ nổi tiếng nghịch
ngợm như con trai chứ không mang vẻ liễu yếu đào
tơ.Li Yuchun là người giành chiến thắng trong cuộc
thi âm nhạc Super Girl 2005. Châu Tấn - người đẹp
nổi danh trong 2 lĩnh vực điện ảnh và ca nhạc -
đứng thứ ba trong danh sách.
Điều bất ngờ nhất của cuộc bình
chọn này là Chương Tử Di chỉ xếp thứ tư. Cô là nữ
diễn viên đã chinh phục khán giả trong các phim
Anh hùng, Thập diện mai phục, Hồi ức một Geisha
và đang xây dựng danh tiếng tại thị trường Mỹ.
Khoảng 50 minh tinh của cả 2 giới
đã được xếp hạng sau cuộc bình chọn dành cho công
chúng. Củng Lợi được tôn vinh nhờ vẻ đẹp phương
Đông kết hợp với phong cách hiện đại phương Tây.
Việc Li Yuchun, người có vẻ đẹp khỏe mạnh và “bụi”
như một chàng trai nhận số phiếu bầu chỉ ít hơn
Củng Lợi chứng tỏ, vẻ đẹp truyền thống không còn
thống trị tư tưởng thẩm mỹ của người Trung Quốc
Bộ
phim ”Mật mã Da Vinci” đã thu được 224 triệu USD
trên toàn thế giới
Từ
khi được công chiếu, bộ phim “Mật mã Da Vinci"
tuy gặp nhiều chỉ trích trong giới phê bình đã thu
đuợc 224 triệu USD trên khắp thế giới, chiếm kỷ
lục thứ hai sau “Chíến tranh giữa các vì sao tập
3 – Sự trả thù của người Sith” (253 triệu USD).
Sau khi mở màn Liên hoan phim Cannes ngày 17/5 vừa
qua, “Mật mã Da Vinci” với ngân sách 125 triệu USD
đã được trình chiếu tại khoảng 90 nước. Tại
Bắc Mỹ, bộ phim dựa theo tiểu thuyết của Dan Brown
này đã thu được 77 triệu USD chỉ trong 3 ngày cuối
tuần, dẫn đầu các bộ phim đạt doanh thu cao nhất
trong năm, trước Kỷ băng hà 2: Thời băng tan (Ice
Age: The Meltdown) đã thu được 68 triệu USD trong
3 ngày công chiếu đầu tiên.
Tại Italia, bộ phim này cũng đã
đạt doanh thu kỷ lục là 2 triệu euro, vượt qua bộ
phim “Cuộc đời tươi đẹp” của Roberto Benigni với
doanh thu gần 1 triệu euro khi mới ra mắt khán giả
vào năm 1997.
Phỏng
vấn bà Mai Trâm, tài tử chính trong phim ‘Chúng
tôi muốn sống’
Một
cảnh trích trong phim Chúng Tôi Muốn Sống.
Bấm vào đây để nghe cuộc
phỏng vấn này 
Cuối chương trình là tạp chí Văn Học Nghệ Thụât
do nhà văn Hoàng Khởi Phong thực hiện, kỳ này nói
về cuốn phim ‘Chúng tôi muốn sống’ và phỏng vấn
bà Mai Trâm, phu nhân của đạo diễn Vĩnh Noãn và
cũng là tài tử chính trong phim.Mùa
hè năm 1956, là một học sinh miền Bắc di cư vào
Nam, tôi háo hức theo cha tôi bước vào rạp xi nê
Vĩnh Lợi, để xem phim "Chúng Tôi Muốn Sống",
một cuốn phim do đạo diễn Vĩnh Noãn thực hiện với
bối cảnh là cuộc chiến giữa Việt Minh và người Pháp,
tại Bắc phần vào năm 1952, mà trong đó hình ảnh
của tòa án nhân dân trong chiến dịch "cải cách
ruộng đất", của CSVN với phương châm "trí,
phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ" là
những đoạn phim ám ảnh đa số khán gia miền Nam,
nhất là những người Bắc di cư đã từng nếm qua các
cảnh man rợ của những cuộc đấu tố địa chủ, cường
hào, ác bá trong vùng châu thổ sông Hồng.
Gần năm chục năm sau, năm 2004 cuốn
phim Chúng Tôi Muốn Sống từ dạng phim 35 ly đã được
đạo diễn Vĩnh Noãn chuyển thành hàng ngàn ấn bản
DVD, được phát hành rộng rãi cùng một lúc với cuốn
sách, trong cộng đồng VN hải ngoại. Chỉ vài tháng
sau khi hoàn tất cuốn sách cùng ấn bản DVD của cuốn
phim này, đạo diễn Vĩnh Noãn đã qua đời ở Quận Cam
hưởng thọ 76 tuổi.
Để đóng góp vào loạt bài có chủ
đề "Cải Cách Ruộng Đất" do đài RFA thực
hiện, và được sự đồng ý của nữ tài tử Mai Trâm,
vai nữ chính trong cuốn phim này, dưới đây là nguyên
văn cuộc mạn đàm với tài tử Mai Trâm về cuốn phim
này:
Năm 2006, tôi coi lại ấn bản DVD
của phim Chúng Tôi Muốn Sống tại nhà riêng ở Quận
Cam. Giờ đây tôi không còn là một cậu học sinh di
cư của miền Nam, mà là một người dân tị nạn sinh
sống ở Hoa Kỳ. Trước khi mở máy coi lại phim Chúng
Tôi Vẫn Sống, những ấn tượng của lần coi phim này
lần đầu tại rạp Đại Nam nửa thế kỷ trước vẫn còn
vương vấn ở trong đầu.
Tôi nhớ lại năm chục năm trước,
cuốn phim đã tác động rất mạnh đến cha tôi. Ông
không ngớt lời ca tụng cuốn phim với những người
quen biết, ông hệt như là người quảng cáo không
công cho cuốn phim này, vì gia đình tôi nếu không
may mắn kẹt lại ngoài Bắc, thì có thể cha tôi cũng
sẽ chịu chung cảnh đấu tố như địa chủ Long trước
tòa án nhân dân trong phim.
Anh tôi thì có thể không được đối
xử như Đại Đội Trưởng Vinh trong phim, vì nhân vật
Vinh tuy là người có khuynh hướng quốc gia, nhưng
chiến đấu chống Pháp trong hàng ngũ Việt Minh, trong
khi đó ở ngoài đời anh tôi bị động viên, và trở
thành một sĩ quan của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam,
một quân đội vừa mới được thành hình trong vài năm,
và bị Cộng Sản liệt vào tội phản quốc, tay sai thực
dân Pháp .
Trong bối cảnh lịch sử của những
năm đầu đất nước bị qua phân, nhìn chung phim Chúng
Tôi Muốn Sống không phải là một cuốn phim được thực
hiện vì nhu cầu nghệ thuật, mà có thể cuốn phim
này được thực hiện vì nhu cầu chính trị của miền
Nam.
Chính vì vậy mà thành phần diễn
viên chính gồm Lê Quỳnh, Mai Trâm và Thu Trang là
những người chưa bao giờ diễn xuất dưới ống kính
điện ảnh. Ngay cả đạo diễn Vĩnh Noãn, linh hồn của
cuốn phim này tuy có được đào tạo để hoạt động trong
ngành điện ảnh, song ông là một kỹ sư, một chuyên
viên về âm thanh chứ không phải là đạo diễn trước
đó có tay nghề.
Nửa thế kỷ trước, Chiến dịch Cải
Cách Ruộng Đất do người Cộng Sản thực hiện ở miền
Bắc Việt Nam là một tội ác, bởi vì nói cho cùng
ở Trung Hoa có thể có một giai cấp được gọi là địa
chủ liên kết với nhau trên một địa bàn rộng, song
ở Việt Nam những người có một chút đất đai ở mỗi
làng là những cá nhân đơn lẻ của từng địa phuong,
những người có một chút đất này chưa bao giờ cấu
kết với nhau thành một giai cấp.
Do đó phim Chúng Tôi Muốn Sống nên
được coi là một thông điệp chính trị, hơn là một
sản phẩm nghệ thuật. Nếu nghĩ như vậy thì Chúng
Tôi Muốn Sống quả đã thực hiện tốt được mục đích
của nó: Nói lên những gì đã xẩy ra ở châu thổ sông
Hồng nửa thế trước.
Xin thành thực cám ơn thính giả
và xin hẹn gặp thính giả trong kỳ phát thanh tới.(Hoàng
Khởi Phong)
Tính
dục trong văn học hôm nay
Nỗi
cô đơn - một trong những tên ma cô của sex - thường
nằm khểnh trong tâm hồn người ta như một ông “khách
ở quê ra” khệnh khạng rất khó chịu.1.
Chiều mưa phố Huế một mình.Nỗi
cô đơn - một trong những tên ma cô của sex - thường
nằm khểnh trong tâm hồn người ta như một ông “khách
ở quê ra” khệnh khạng rất khó chịu. Sinh thời, Đồng
Đức Bốn hay đến nhà tôi trong những lúc “chán đời”
để đọc cho tôi nghe những câu thơ buồn của anh.
“Chiều mưa trên phố Huế” là một bài thơ như thế.
“Chiều
trên phố Huế ra đi
Mưa mùa đông cứ rù rì bên tôi”
Đấy
là một buổi chiều mùa đông xám nhạt giống như cách
miêu tả của Nguyên Hồng “xám như nỗi buồn, như màu
xi-măng, xám buốt ruột”. Cái tiếng rù rì của những
âm thanh phố chợ, của tiếng mưa mà Đồng Đức Bốn
nghễnh ngãng nghe thấy thực ra chỉ là tiếng lòng
của hắn đang bồn chồn sôi réo:
“Cây
thì vẫn đứng thế thôi
Hàng thì bán đứng bán ngồi chen nhau”
Cảnh
tượng phố phường đập vào mắt hắn, lướt trong đầu
hắn như những thước phim quay chậm. Hắn quan sát
bâng quơ lấy lệ. Trong cái đầu nóng bỏng và u u
mê mê không thật tỉnh táo, trí não hắn chỉ lọc ra
được một hai tình huống tượng trưng ước lệ:
“Người
thì áo rách đã lâu
Người thì xe cúp đua nhau từng hàng”
Nhìn
thấy mặt đường ướt lép nhép, đôi dép lê rách, những
chiếc móng chân cáu bẩn và sần sùi, hắn ngán ngẩm
thở dài, nhận ra “tình trạng hiện thực” của bản
thân mình, thoáng một nụ cười lạnh lẽo nhợt nhạt
nở bên khoé mép:
“Tôi
thì xe đạp lang thang
Nhìn dọc đã chán nhìn ngang lại buồn”
Đúng
lúc ấy, từ trong lồng ngực hắn, không, có lẽ từ
sâu hơn, từ trong tâm hồn - một tiếng kêu thất thanh
hốt hoảng bật lên thổn thức.
Tiếng
kêu nghẹn lại, chuyển thành những tiếng thì thầm
nghẹn ngào. Đến đây, những câu thơ lục bát đứng
khựng lại, không còn vần điệu gì nữa. Trong những
câu thơ thuộc loại hay nhất của Đồng Đức Bốn, tôi
đã coi câu thơ này như một câu thơ ngoại hạng. Thực
tế, nó chỉ là một câu hỏi bình thường nhưng nó đích
thị là một câu hỏi oái oăm của tha nhân đối với
tha nhân, một câu hỏi đối với cả “thiên hạ” ngoài
kia lạnh lùng. Nó là câu hỏi của một người mong
được trông thấy tình người, một thứ không thấy bày
ra ở trên các sạp hàng hai bên phố Huế.
Để
hiểu ra âm hưởng của câu hỏi người ta phải đọc lại
những câu thơ dẫn dụ trên kia:
“Chiều
trên phố Huế ra đi
Mưa mùa đông cứ rù rì bên tôi.
Cây thì vẫn đứng thế thôi,
Hàng thì bán đứng bán ngồi chen nhau.
Người thì áo rách đã lâu,
Người thì xe cúp đua nhau từng hàng.
Tôi thì xe đạp lang thang,
Nhìn dọc đã chán, nhìn ngang lại buồn.
Chiều mưa phố Huế một mình,
Biết đâu là chỗ ân tình đến chơi?”
Sự
an ủi lớn nhất mà Thượng đế ban cho con người chính
là tình dục. Tôi đã từng nói với Đồng Đức Bốn điều
ấy nhưng khi còn sống anh không để ý cho lắm. Bây
giờ, ở suối vàng, dưới ba thước đất, không chắc
Đồng Đức Bốn cũng đã hiểu ra điều tôi “cầm lòng
vậy, đành lòng vậy” mà nói với anh mỗi khi “ông
khách ở quê ra” ấy lẩm bẩm hỏi dò:
-
Này, bác Cả, thế con đường nào dẫn đến thiên đàng?
2.
Sex, sự thành thực giản dị
Có
một triết gia cổ đại từng nói: “Để đời sống con
người không hoàn toàn buồn thảm, Thượng đế đã cho
nó dục tính nhiều hơn lý trí”. Câu ấy đúng. Sex,
sự thành thực giản dị không cần nhiều lời.
Viết về sex, cũng như viết về bất cứ đề tài nào
ở trong xã hội, nếu người viết không thành thực
giản dị đều rất khó thành công. Không ở đâu người
ta lại đòi hỏi sự chân thực lớn lao và khắc nghiệt
như là văn học.
Nhân
nói về lý trí, chúng ta cũng cần thấy rõ: Khi người
ta kêu gọi lý trí thì thực chất đó chính là người
ta đòi hỏi trí tuệ và sự hiểu biết. Không thể có
lý trí nếu không có trí tuệ và sự hiểu biết.
Sự
loanh quanh của nhận thức giống như ở cây đèn cù.
Dù cho viết về chính trị, kinh tế, sex hay gì gì
đi nữa, thực chất vẫn là ở chỗ cần có những nhà
văn có tài, có trí tuệ và có tâm trong sáng.
3.
Ai sẽ viết về tính dục? viết cho ai? viết để làm
gì và viết như thế nào?
Trong
thâm mỗi nhà văn ai cũng muốn viết ra được những
cuốn sách hay. Thực ra đề tài không phải là điều
quan trọng nhất đối với họ. Tuy nhiên, mỗi một thời,
xã hội vẫn có những “đơn đặt hàng khẩn thiết” đối
với lương tâm của mỗi người viết. Thường những nhà
văn có tài họ đều “ngửi” thấy hơi thở nồng nặc của
thời đại phảng phất nơi đâu đó.
Thời
đại mà chúng ta đang sống được người ta cho là “thời
mạt pháp”: đây là thời của sóng thần, của ô nhiễm
toàn cầu, thời của đạo đức suy đồi và tham nhũng,
thời của ngày tận thế cuối cùng. Trong văn học,
đây không còn là thời của Iliat và Ôđixê, thời của
Aivanhô và Ba người ngự lâm pháo thủ... Đây là thời
của Harry Poxter, thời của Mật mã DaVinci, những
cuốn sách được coi là của phù thuỷ và quỷ dữ. Văn
học càng ngày càng khó khăn, nó phải tìm ra một
cách thức khác để thực hiện và để làm tròn chức
năng của nó. Nó không thể đi theo “con đường cổ
điển”.
Gần
đây, trong một bài báo (Văn nghệ số 17,18 ra ngày
6/5/2006) nhà nghiên cứu phê bình văn học Đặng Anh
Đào khi nói về truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn
Ngọc Tư (một truyện ngắn cũng có đôi chút dính líu
đến tính dục) đã cho rằng (đại ý): để viết hay,
đối với nhà văn “hắn phải hơi bị bỏ đói, cũng có
thể đói cơm, nhưng quan trọng hơn là luôn phải cảm
thấy đói sự thật, đói cuộc sống”.
Ở
Việt Nam, truyền thống bỏ đói nhà văn vẫn là một
truyền thống được người ta bảo lưu bền vững và vẫn
được cổ xuý một cách trịch thượng và có phần hào
hứng nữa. Tôi không thích thế. Viết về sex, theo
kinh nghiệm riêng tôi, tôi cho rằng nên ăn no để
viết. Viết cho mình, cho mọi người. Viết cho chân
thực và giản dị. Viết để cứu rỗi những tâm hồn nếu
quả đúng là có những tâm hồn thật.
Nguyễn
Huy Thiệp (5/5/2006)
Liên
hoan phim Cannes 2006 : Hollywood chiếm thế áp đảo
Penelope
Cruz (trái) trong phim Volver
Ngày mai, 17-5, Liên hoan phim Cannes lần thứ 59
sẽ khai mạc. 55 tác phẩm của 30 quốc gia, trong
đó có 48 phim mới sẽ trình chiếu tại liên hoan Liên
hoan phim (LHP) Cannes 2006- một trong những sự
kiện điện ảnh uy tín nhất hành tinh- sẽ chính thức
mở màn vào đêm mai, 17-5, với việc trình chiếu bộ
phim được cả thế giới chờ đón: The Da Vinci code
của đạo diễn Ron Howard. Ước tính trong 12 ngày
diễn ra liên hoan (từ 17 đến 28-5) khoảng 4.000
phóng viên, 30.000 nhân vật trong ngành công nghiệp
giải trí thế giới cùng hàng chục ngàn du khách sẽ
được thưởng thức 55 tác phẩm của 30 quốc gia, trong
số đó có 48 phim mới trình chiếu lần đầu tiên.
Hai thế hệ đạo diễn so kè
Với số lượng 3 phim/nước, chủ nhà
Pháp và điện ảnh Hollywood áp đảo danh sách các
phim tranh giải Cành cọ vàng 2006. Các quốc gia
khác như Anh, Ý, Mexico mỗi nước dự 2 phim. Còn
lại là các tác phẩm của Tây Ban Nha, Bỉ, Algeria,
Argentina, Thổ Nhĩ Kỳ, Bồ Đào Nha, Trung Quốc và
Phần Lan. Nhìn qua danh sách 20 bộ phim tranh giải
Cành cọ vàng năm nay, người ta dễ dàng nhận thấy
sự so kè của hai thế hệ đạo diễn. Đó là những đạo
diễn kỳ cựu như Nanni Moretti (Ý), Pedro Almodovar
(Tây Ban Nha), Aki Kaurismaki (Phần Lan), Ken Loach
(Anh), Bruno Dumont (Pháp) và Nicole Garcia (Pháp)
và những đạo diễn trẻ đang tỏa sáng: Sofia Coppola
(Mỹ), Xavier Giannoli (Pháp), Richard Linklater
(Mỹ), Alejandro Gonzalez Inarritu (Mexico), Lưu
Diệp (Trung Quốc), Paolo Sorrentino (Ý), Rachid
Bouchareb (Algeria), Adrian Caetano (Argentina),
Guillermo del Toro (Mexico), Richard Kelly (Mỹ)...
Trong đó người trẻ nhất là Richard Kelly chỉ mới
30 tuổi.
Là nơi hội tụ “ngôn ngữ của những
giấc mơ” như lời chánh chủ khảo Vương Gia Vệ đã
nói, LHP Cannes lần này bao trùm một giấc mơ đậm
đặc màu sắc chính trị. Điều này không chỉ phản ánh
qua những phim tranh giải như The Cayman, Fast food
nation, Flanders, The Wind that shakes the Barley,
The Labyrinth, Southland Tales mà còn ở những tác
phẩm chiếu giới thiệu.
Một Cannes đầy “sao”
Sức hấp dẫn của LHP Cannes 2006
không chỉ nằm ở sự phong phú của các phim tranh
giải đến từ nền điện ảnh của nhiều nước, mà còn
bởi đa số dàn diễn viên trong các phim dự thi đều
là những ngôi sao sáng giá. Nam tài tử điển trai
Mỹ Brad Pitt sánh vai cùng kiều nữ Úc Cate Blanchett
trong phim Babel của đạo diễn Alejandro Gonzalez
Inarritu; cô đào gợi cảm Tây Ban Nha Penelope Cruz
có mặt trong Volver, đạo diễn Pedro Almodovar; Kristen
Dunst hóa thân thành hoàng hậu Pháp kiều diễm Marie
Antoinette trong bộ phim cùng tên của Sofia Coppola;
đặc biệt đạo diễn trẻ Richard Kelly đã quy tụ trong
phim Southland Tales của mình 3 ngôi sao: The Rock,
Sarah Michelle Gellar, Mandy Moore. Ngay 2 phim
chỉ chiếu giới thiệu mà không tranh giải, đội ngũ
“sao” còn dày đặc hơn cả: The Da Vinci code với
Tom Hanks cùng minh tinh Pháp Audrey Tautou, X-men:
the last stand với Halle Berry, Hugh Jackman, Ian
Mckellen, Patrick Steward, Anna Paquin.
Không chỉ xuất hiện trên màn ảnh
các minh tinh trên còn hiện diện tại TP biển Riviera
khiến cho Cannes 2006 còn lộng lẫy và hào nhoáng
hơn nữa. Ngoài ra, những tên tuổi trứ danh sau đây
cũng được chờ đợi tại Cannes: Bruce Willis, Samuel
L.Jackson, Gérard Dépardieu, Michele Placido (nổi
tiếng với vai thanh tra Cattani trong loạt phim
Con bạch tuộc)... cùng các nữ diễn viên xinh đẹp
Chương Tử Di, Monica Belluci, Juliette Binoche,
Sharon Stone... Không khí Cannes còn sôi động hơn
bởi danh thủ Pháp Zinedine Zidane cũng xuất hiện
nhưng không phải với vai trò cầu thủ mà là diễn
viên chính trong bộ phim tài liệu Zidane- Chân dung
của thế kỷ 21 chiếu giới thiệu trong khuôn khổ LHP.Nguyễn
Ngọc
Kim
Dung: “Tôi không muốn là người hữu danh vô thực”
Nhà
văn Kim Dung (đầu tiên bên trái) Mùa thu năm ngoái,
ở tuổi 80, nhà văn Hồng Kông chuyên viết truyện
chưởng Kim Dung đã tới trường đại học Cambridge
danh tiếng bên Anh quốc để học lấy bằng Tiến sỹ.
Khoan hãy nói về chuyện sức khoẻ, chỉ riêng chuyện
thủ tục nhập học đã rất phiền phức. Cambridge là
một trường đại học lâu đời, muốn bước qua cổng của
nó, nhà văn già không có cách nào khác là phải “nhập
gia tùy tục”.
Đầu tiên, phía nhà trường yêu cầu Kim Dung xuất
trình giấy khai sinh. Trung Quốc trước đây động
loạn liên miên, trẻ em sinh ra sống được còn khó,
nói chi đến chuyện có giấy chứng sinh, vả lại hồi
ông sinh Trung Quốc cũng chưa có chế độ cấp giấy
khai sinh.
Kim Dung đã phải bỏ tiền thuê một
luật sư ở Hồng Kông làm một văn bản cam kết rằng
tôi, Tra Lương Dung xin đảm bảo là đã sinh vào ngày
nọ tháng nọ năm nọ ở huyện Hải Ninh, tỉnh Chiết
Giang. Cuối cùng vấn đề giấy khai sinh cũng được
giải quyết.
Tiếp đó, Cambridge lại yêu cầu Kim
Dung phải đệ trình học bạ và bằng tốt nghiệp tiểu
học, trung học, đại học. ở Trung Quốc hồi xưa, Kim
Dung không có thành tích cao đẳng toàn ưu và cũng
chẳng có bằng tốt nghiệp đại học.
Vậy là Kim Dung phải mang các bằng
Tiến sỹ danh dự, Giáo sư danh dự ra, đồng thời trình
bày bằng văn bản rằng khi ông đang học đại học ở
Thượng Hải thì xảy ra nội chiến Quốc Cộng, Thượng
Hải nổ ra kịch chiến, khoá học phải kết thúc sớm
nên chả có bằng cấp gì.
Cambridge lại yêu cầu chuyên ngành
muốn học phải phù hợp với yêu cầu về ngôn ngữ. Thế
là Kim Dung lại phải nhờ ông Viện trưởng Học viện
Saint Antoni thuộc ĐH Oxford và một vị giáo sư của
đại học Cambridge đứng ra chứng minh ông có thể
đọc thông viết thạo cổ văn Trung Quốc, còn về Anh
văn thì ông không thể thi đỗ các bằng TOEFL như
giới trẻ bây giờ.
Thế là các giáo sư Cambridge liền
chuyển sang yêu cầu Kim Dung đệ trình cho họ một
bài báo hay công trình gì đó đã xuất bản bằng Anh
văn. Kim Dung liền trình ra một bài luận bàn về
vấn đề Hồng Kông trở về với Trung Quốc bằng Anh
văn đã được NXB ĐH Oxford ấn hành.
Các giáo sư Cambridge kết luận:
Dù bài viết không tốt lắm, văn phạm cũng là thứ
Anh ngữ cổ nhưng nếu dùng để học nghiên cứu sinh
thì cũng được, vậy là họ đã bỏ phiếu thu nhận ông.
Muốn vào Cambridge còn phải qua
một cửa ải vừa đơn giản lại vừa thực tế nữa: Kim
Dung phải chứng minh khả năng kinh tế của bản thân.
Kim Dung bèn nhờ ông Tổng giám đốc Ngân hàng Anh
quốc viết giấy chứng nhận khả năng tài chính của
ông.
Ông lại nhờ một chủ ngân hàng Hồng
Kông bảo lãnh cam kết trong quá trình học tập tại
trường, Kim Dung sẽ không thiếu một cắc tiền học
phí nào. Một người có tài sản tính bằng trăm triệu
USD như Kim Dung mà trước Cambridge vẫn không thể
tự đảm bảo cho mìnhcủa các bạn là được rồi”.
Có người hỏi thẳng Kim Dung: ông
đã được đại học Cambridge trao bằng Tiến sỹ danh
dự, đó cũng là học vị cao nhất của họ rồi, việc
gì phải mất tiền phí sức để học lấy cái bằng Tiến
sỹ phổ thông nữa?
Kim Dung tiên sinh nói, ông đến
Cambridge học là bởi rất tâm đắc lời của Tiên sinh
Trần Dần Lạc - một học giả nổi tiếng đã quá cố:
“Bất cầu học vị, chỉ cầu học vấn”.
Vì các sử gia cận đại như Trần Dần
Lạc, Vương Quốc Duy, Tiền Mục… đều thông kim bác
cổ, học đủ các nơi nhưng họ chẳng có học vị Thạc
sỹ hay Tiến sỹ.
Ông nói mình đã có quá nhiều danh
hiệu vinh dự như “Tiến sỹ danh dự”, “Viện sỹ danh
dự”, “Giáo sư danh dự” đủ cả, đó đều là những “hư
danh”.
Ông cảm thấy học vấn mình chưa đủ,
không xứng với các danh hiệu ấy, quả là “danh bất
như thực” nên quyết định đến Cambridge để học.
Kim Dung nói: “Phần lớn mọi người,
nhất là thanh thiếu niên và học sinh hễ nói đến
Kim Dung là khâm phục tôi học thức uyên bác, cái
gì cũng biết, nhưng thực ra tôi “cái gì cũng biết”
là giả.
Tôi “chỉ viết cái biết, không biết
không viết”, “không thể không biết, không biết thì
tra cứu”. Tôi họ Tra, bút danh là Kim Dung. Tôi
phải nắm giữ chữ “Tra” đó, học nhiều để hóa giải
chữ “Dung”.
Kim Dung còn nói: “Vương Sóc tiên
sinh nói tôi là một trong “Tứ đại tục”, tôi cũng
chả để bụng. Tôi viết tiểu thuyết thông tục, chữ
tục là khó tránh. Nhưng có người phê phán tôi học
vấn kém thì tôi rất coi trọng.
Học vấn kém là sự thực. Cách bổ
cứu tốt nhất là phải tìm cách nâng nó lên, không
phải cao hơn người khác mà là cao hơn mình hôm qua.
Chỉ cần mọi người chăm chỉ thì mỗi ngày sẽ khá lên
một ít”.
Cũng có người nhắc Kim Dung, đến
Cambridge học là ông tự vén áo cho người xem lưng.
Kim Dung tiên sinh đáp ngay: “Tôi đến Cambridge
học không phải để kiếm tiền hay thăng chức. Học
vấn là thứ để bồi dưỡng nhân cách, tu dưỡng nhân
phẩm, kiến thức chỉ là thứ yếu. Sách thì cả thế
giới đều có, nhưng Cambridge là trường hàng đầu
thế giới”.
Kim
Dung tiên sinh đi học Cambridge nay đã “trần ai
lạc định” (đã có kết quả). Tư tưởng cầu học “học
nhiên hậu tri bất túc, tri bất túc nhiên hậu học”
(học mới thấy mình thiếu, thấy mình thiếu rồi thì
phải học) thật có ý nghĩa tích cực trong thời buổi
xã hội “trọng học lực không trọng học vấn, cần học
lực không cần học vấn” như hiện nay. Thu Thủy
Tom
Hanks lập kỷ lục Guinness thế giới
Tom
Hanks trong "Giải cứu binh nhì Ryan",
phim có doanh thu cao nhất của anh
Sách Kỷ lục Guinness thế giới vừa công nhận Tom
Hanks là “Diễn viên có nhiều phim liên tục đoạt
doanh thu trên 100 triệu USD”. "Mật mã Da Vinci",
cuốn phim phát hành tuần tới của Hanks, mặc dù bị
giới tôn giáo tẩy chay, song hi vọng cũng vượt ngưỡng
doanh thu tương tự. Theo sách Guinnes thống kê,
Tom Hanks có một thành tựu đáng nể là 14 phim vượt
doanh thu 100 triệu USD, trong đó bảy phim liên
tục nhau 1998 - 2002, bao gồm "Catch Me If
You Can" (2002), "The Road to Perdition"
(2002), "Cast Away" (2000), "Toy
Story 2" (1999), "The Green Mile"
(1999), "You've Got Mail" (1998) và "Saving
Private Ryan" (1998, doanh thu cao nhất 216,5
triệu USD).
Diễn viên được yêu thích nhất nước
Mỹ có cát-sê cũng vào hạng cao nhất (25 triệu USD/phim)
còn chia sẻ thêm một kỉ lục Guinness với các tài
tử Spencer Tracy, Jack Nicholson, Dustin Hoffman,
Marlon Brando với danh hiệu “Nam diễn viên đoạt
giải Oscar vai chính nhiều lần nhất”, hai lần.
Tuy nhiên chỉ có Tracy (trong "Captains
Courageous", 1937 và Boys Town, 1938) và Hanks
(trong "Philadelphia",1993 và "Forrest
Gump", 1994) là đoạt giải Oscar hai lần liên
tiếp.
Nhà
văn Nguyễn Công Hoan được tăng lương sau khi… tạ
thế?
Nhà
văn Nguyễn Công Hoan.
"Nghĩa tử là nghĩa tận" - các cụ ta dạy
vậy. Nhưng cứ theo như mẩu chuyện có cái tên câu
khách: "Để được chôn khu A" thì quả là
nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) chết
rồi vẫn còn... long đong. Chuyện rằng, trước khi
hạ huyệt, ông "bị" người quản lý nghĩa
trang Văn Điển phản ứng quyết liệt, không chịu cho
chôn, vì theo tiêu chuẩn khu A (khu chôn vĩnh viễn)
thì mức lương của ông còn thiếu... một bậc.
Xin trích nguyên văn:
"Nguyễn Công Hoan mất. Khi
ban tổ chức lễ tang gọi điện đến ban quản lý nghĩa
trang Văn Điển để xin xe tang, người nhận điện nói
ậm ờ rằng chẳng biết tám giờ, chín giờ hay mười
giờ mới có xe.
- Vâng, tùy các anh. Chỉ xin báo
cho các anh biết hiện nay trực bên linh cữu nhà
văn có đồng chí Trần Quốc Hoàn, Ủy viên Bộ Chính
trị, Bộ trưởng Bộ Nội vụ (con trai nhà văn là Nguyễn
Công Tài lúc bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ); đồng
chí Tố Hữu, Ủy viên Bộ Chính trị; đồng chí Lê Văn
Lương, Bí thư Thành ủy Hà Nội và một số cán bộ cao
cấp khác.
Đầu kia điện thoại rối rít:
- Vâng, chúng tôi sẽ điều xe đến
ngay!
... Đến Văn Điển, một nhân viên
ban quản lý nghĩa trang đến hỏi mức lương của người
quá cố. Anh ta giãy nảy lên:
- Còn thiếu năm đồng mới được chôn
ở khu A!
Thế là Hội Nhà văn phải cho người
về làm quyết định tăng cho Nguyễn Công Hoan một
bậc lương mới đúng thủ tục!".
(Theo "Giai thoại làng văn
Việt Nam" - NXB Văn hóa Dân tộc, 1999).
Nhận thấy mẩu giai thoại trên có
một số tình tiết không đáng tin cậy, tôi liên hệ
xin được gặp và trao đổi với đồng chí Nguyễn Tài,
nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an),
con trai cụ Nguyễn Công Hoan. Đúng như tôi dự đoán,
ông Tài đưa mắt đọc suốt lượt bài viết rồi buông
sách xuống, nói ngay: "Tôi đề nghị người viết
phải cải chính và xin lỗi gia đình công khai trên
báo".
- Thưa bác, những chi tiết nào ở
bài viết mà bác thấy chưa chuẩn, cần phải nói lại?
- Ông Nguyễn Tài: Ngay với tên tôi
họ cũng in sai. Tôi tên thật là Nguyễn Tài Đông,
sau đi hoạt động bỏ tên chính, lấy tên Tài làm bí
danh. Chưa bao giờ có chữ Công ở giữa. Họ nhà tôi
có 8 chữ đệm: Đức, Đạo, Công, Tài, Trường, Thiên,
Thế, Tộ. Các cụ quy định mỗi thế hệ là một chữ đệm.
Đưa tên tôi thêm chữ Công là nâng tôi lên một thế
hệ, ngang với cha tôi là không đúng.
Thứ nữa, nói các anh Trần Quốc Hoàn,
Tố Hữu túc trực bên linh cữu cha tôi cũng là bịa.
Các anh ấy đại diện lãnh đạo Đảng, chỉ đến viếng
thôi. Còn túc trực bên linh cữu cha tôi là con cái
trong nhà, là đại diện Hội Nhà văn. Cái gì cũng
phải có nguyên tắc, có tôn ti trật tự chứ.
- Còn chuyện Ban tổ chức lễ tang
phải nói gần như "dọa", cán bộ quản lý
nghĩa trang mới cho điều xe đến chuyển linh cữu
cụ Hoan đi?
- Khi cha tôi mất, Hội Nhà văn đứng
ra lo hết. Cụ được quàn ở 51 Trần Hưng Đạo (trụ
sở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam). Tôi
không rõ Hội Nhà văn gọi xe ở đâu, nhưng chắc chắn
không phải ở nghĩa trang Văn Điển. Người viết rất
dốt về lịch sử. Tôi khẳng định: Từ khi thành lập,
nghĩa trang này chưa bao giờ có dịch vụ xe tang.
- Như vậy, việc Ban quản lý nghĩa
trang không đồng ý để cụ Hoan được chôn ở khu A
cũng là do người viết bịa ra?
- Không bao giờ có chuyện vớ vẩn
đó. Ông Hoan từng là Chủ tịch Hội Nhà văn, làm sao
không đủ tiêu chuẩn? Cha tôi mất ở Bệnh viện Việt
- Xô (nay là Bệnh viện Hữu Nghị). Bấy giờ chưa có
điều hòa, bệnh viện phải bảo quản xác cha tôi bằng
đá cây; tới ba, bốn hôm mới đưa đám. Như vậy, Hội
Nhà văn phải liên hệ với nghĩa trang từ trước khi
chôn chứ. Theo quy định, ông Hoan được "nằm"
ở khu A thì ở đấy người ta phải đào huyệt sẵn rồi.
Mọi người chỉ việc kéo nhau đến. Làm gì có chuyện
đến đó còn tranh cãi có được chôn hay không. Rồi
chuyện cán bộ Hội chạy về ký tăng lương. Hội Nhà
văn không làm chuyện trẻ con đó đâu.
- Thưa bác, hiện di hài của nhà
văn Nguyễn Công Hoan có còn ở nghĩa trang Văn Điển
hay đã chuyển vào nghĩa trang Mai Dịch - như trường
hợp nhà thơ Xuân Diệu?
- Không! Khi cải táng, gia đình
đã đưa cụ về quê rồi (thôn Tam Kỳ, xã Nghĩa Trụ,
huyện Văn Giang, Hưng Yên). Chúng tôi muốn để cụ
nằm bên mộ bà nội tôi cùng các chú, các em của cụ.
Tất cả một dãy bên nhau, rất tình cảm...
- Nhân việc này, bác có nhắn gửi
gì tới tác giả bài viết?
- Viết vui gì thì cũng phải trên
cơ sở sự thật, chứ bịa ra để "cù" người
đọc và kiếm tiền là không được. Bài viết không chỉ
xúc phạm gia đình tôi đâu, mà lớn hơn, là xúc phạm
tới chính sách của Đảng, Nhà nước đối với văn nghệ
sĩ. Tôi đề nghị người viết phải cải chính...Phạm
Khải
Tài
tử Ngọc Bảo Giọng ca vàng với những bản tình ca
bất hủ của Đoàn Chuẩn - Từ Linh đã ra đi
Tài
tử Ngọc Bảo
Giọng ca vàng làm mê đắm lòng người với những bản
tình ca bất hủ của Đoàn Chuẩn - Từ Linh đã ra đi
ở tuổi 82 vào lúc 15 giờ chiều hôm qua. Lúc
sinh thời, ở tài tử Ngọc Bảo, không bao giờ hiện
lên vẻ mệt mỏi trên sân khấu, ông từng nói vui rằng:
"60 tuổi mới ở ngưỡng dậy thì, 70 tuổi
chập chững mới lớn và 80 mới là ngưỡng trưởng thành"
để minh chứng cho sự nhiệt huyết với âm nhạc. Ông
không chuẩn bị cho sự ra đi của mình vì còn dự định
sẽ hát đến năm 2020. Cô cháu gái mà ông yêu quý
nhất, chị Hương Ly kể lại: "Ông tôi vẫn còn
muốn hát, còn muốn cống hiến cho khán giả nhiều
lắm nên không dặn dò gì con cháu cả. Trong các cuộc
nói chuyện của ông, những bài hát, những bản nhạc
luôn được nhắc đến".
Tài tử Ngọc Bảo phát hiện ra bệnh
ung thư phổi cách đây hơn 1 năm nhưng ông vẫn tỏ
ra lạc quan. Dù bệnh nhưng ông vẫn nhiệt tình tham
gia rất nhiều các chương trình âm nhạc và truyền
hình. Mãi thời gian gần đây, ông thấy ho nhiều và
đau, đi khám lại mới biết là đã di căn.
Nhạc sĩ Phú Quang nghẹn ngào khi
biết tin: "Nước mắt tôi cứ tự nhiên trào ra.
Đối với tôi, anh như một người bạn lớn, một người
anh và đôi lúc như một người cha. Anh lo lắng cho
từng bước đường nghệ thuật của tôi".
3 ngày trước, nhạc sĩ Phú Quang
đến thăm, ông vẫn còn tươi tỉnh, vui vẻ, rủ hút
thuốc lá và bảo "đằng nào cũng vậy". Nhưng
rồi trước lúc chia tay, ông lại bùi ngùi "Chắc
anh phải đi thôi chú ạ".
"Ông bảo "sáng mai, anh
đi xạ trị" tôi đã can ông chỉ nên dùng thuốc
giảm đau. Tôi bảo với Ánh, con gái út của ông: "Bố
em là một người đỏm dáng, chắc ông không chịu nổi
mình với một hình ảnh tiều tuỵ 39 cân, lơ thơ vài
ba sợi tóc đâu", nhưng Ánh bảo "bố em
nhất định đòi vậy". Tôi tiếc là anh đi nhanh
quá", nhạc sĩ Phú Quang tâm sự.
Tài tử Ngọc Bảo không học qua một
trường lớp nào về âm nhạc nhưng từ năm 16 tuổi ông
đã tìm niềm say mê trong những bài hát của Tino
Rossi, ca sĩ người Pháp vào Việt Nam. Giọng hát
du dương của Tino Rossi chính là động lực để ông
bước vào con đường ca hát và chinh phục những bản
tình ca lãng mạn. Trong những bước đường âm nhạc,
tài tử Ngọc Bảo cũng có rất nhiều mối tình mà ông
tiết lộ là không biết bao nhiêu cô mà kể nhưng những
cuộc tình không bao giờ kéo dài vì ông có một người
vợ chung thủy tuyệt vời.
Linh cữu của ông đang được quàn
tại Nhà tang lễ Phùng Hưng (Hà Nội). Lễ tang tổ
chức vào trưa 7-5.
Trường
hận ca - Hồng nhan phận bạc
Mượn
tên từ một bài thơ của thi sĩ Bạch Cư Dị, Trường
hận ca của Vương An Ức đi vào cuộc sống của những
ngõ nhỏ lắt léo, bên ngoài rộng mở nhưng bên trong
rất bí ẩn của thành phố Thượng Hải.
Đó là nơi cất giữ những câu chuyện đồn đại chẳng
đâu vào đâu, là địa điểm cư trú của những chú chim
câu sáng suốt nhưng lại âm thầm, và giữa cuộc sống
có phần mờ xám, u uẩn đó, nổi lên nhân vật Vương
Kỳ Dao.
Nàng được gọi là Người đẹp Thượng
Hải, từng gây xôn xao khi giành giải á khôi 2 trong
một cuộc thi sắc đẹp của thành phố. Giữa những cô
gái đẹp thi hoa hậu, nàng không phải là người nổi
bật nhất, chói lọi nhất trên sàn diễn, mà là người
có duyên. Trong phần thi áo cưới ngập tơ lụa gấm
vóc, chỉ có nàng là tạo nên vẻ cô dâu nhất. Danh
hiệu á hậu 2 của Kỳ Dao thật gần gũi với thực tế
đời thường.
Nhưng mọi trắc trở đã lần lượt săn
đuổi nàng từ đó. Một người đàn ông giàu có, bí ẩn,
tượng trưng cho quyền lực, ý chí kiên định đã lôi
cuốn nàng vào một cuộc tình ái. Kỳ Dao lập tức xuôi
lòng theo chủ nhiệm Lý ra ở riêng, bỏ qua những
rào cản gia đình, bỏ rơi tấm chân tình của chàng
nhiếp ảnh trẻ tuổi. Nhưng nàng vẫn phải sống trong
xót xa bởi yêu một người mà trước đó nàng gọi bằng
chú, bởi ông Lý còn có gia đình và bao việc hệ trọng
cần gánh vác. Nàng đi theo tiếng gọi của tình yêu
mà như sống trong sự bao bọc của cô đơn. Kỳ Dao
khó lòng nhận được sự đồng cảm từ phía người đời,
bởi những cuộc tình đến rồi đi, với đủ lớp người,
đủ lứa tuổi, thậm chí có người đàn ông còn trẻ hơn
nàng cả chục tuổi. Kỳ Dao an thường, thủ phận nhưng
vẫn biết đón nhận tình yêu, biết chấp nhận để tạo
cho mình những đốm sáng hạnh phúc. Chính vì thế
mà nàng trở nên gần gũi, thân thương trong vị trí
bé nhỏ của mình. Thế nhưng thật trớ trêu, quá khứ
huy hoàng đôi khi trở lại cùng những điều uẩn ức,
khiến nàng không thể giãi bày.
Một cái kết trong bế tắc là điều
tất phải đến, dù Kỳ Dao cố giãy giụa để tránh. Nàng
bị chết bởi chính một người đã đến chăm sóc nàng,
đã sắc thuốc, lau nhà cho nàng. Thật oái oăm, nàng
chết không phải vì tình, mà bởi vì tên trộm muốn
tìm vàng, trong phút túng bách đã bóp cổ khiến nàng
tắt thở. Dẫu đau lòng song có thể coi như sự giải
thoát khỏi kiếp người trầm luân.
Trường hận ca lôi cuốn bởi cách
kể chuyện có duyên, bởi sự khăng khít giữa tình
và cảnh, giữa con người với con người giữa bao la
vô thường. Tác giả chia nhỏ câu chuyện để tạo nên
những điểm nhấn, hút người đọc vào thân phận Vương
Kỳ Dao, bi kịch của một con người nhỏ bé. Nàng thuộc
về những ngõ hẻm tối tăm, nàng bị trói buộc bởi
sức mạnh của lời đồn đại, người hiểu nàng hơn cả
là những chú chim bồ câu chứng kiến niềm vui và
cái chết tức tưởi của nàng.
Từ vài thập kỷ nay, nhà văn Vương
An Ức được đánh giá cao trên văn đàn Trung Quốc.
Kể từ khi hoàn thành từ năm 1996 đến năm 2000, Trường
hận ca đã được tái bản nhiều lần với số lượng mỗi
lần 50.000-100.000 bản. Năm 2000, Trường hận ca
được trao giải Mao Thuẫn, giải thưởng lớn nhất của
Hội Nhà văn Trung Quốc dành cho tiểu thuyết. Sách
do NXB Hội Nhà văn và Công ty Nhã Nam phát hành
quý II/2006.Hoàng Dung@NG.L.D
Cuộc
trò chuyện với nhà văn Dương Thu Hương tại thư viện
New York
Nhà
văn Dương Thu Hương tại New York. Photo by Gia Minh/RFA
Bấm vào đây để nghe bài
tường trình này 
Nhà văn Dương Thu Hương của Việt Nam trong dịp tham
gia Festival Văn chương Quốc tế Pen World Voices
lần thứ hai tổ chức tại thành phố New York, vào
trưa ngày 30 tháng Tư vừa qua đã có cuộc trò chuyện
cùng hai nhà văn 1 của Hoa Kỳ và 1 của Pháp tại
thư viện New York. Biên tập viên Gia Minh của đài
chúng tôi có mặt tại chỗ và tường trình như sau:
Cuộc nói chuyện giữa nhà văn Dương Thu Hương cùng
nhà văn Robert Stone của Hoa Kỳ nằm trong hơn 50
sinh hoạt của Festival Văn chương Quốc tế lần thứ
2 kéo dài từ ngày 25 cho đến Chủ nhật 30 tháng tư
vừa qua.
Người điều hợp cuộc nói chuyện là
ông Antoine Audouand, từ Pháp sang. Ông cho biết
lý do được mời làm điều hợp viên cho cuộc nói chuyện
là vì ông có người thân từng tham gia cuộc chiến
Việt Nam. Từ chỗ có nhiều trăn trở và thắc mắc về
cuộc chiến đã qua, ông từng tìm tòi và qua nhà văn
Dương Thu Hương mà ông hiểu được nhiều điều về cuộc
chiến về con người, văn hóa và lịch sử Việt Nam.
Càn nhà văn Robert Stone của Hoa
Kỳ được giới thiệu là một tác giả nổi tiếng với
giải thưởng quốc gia cho tác phẩm Dog Soldiers.
Ông cũng từng được đề cử trao giải văn chương Pulitzer
cho tác phẩm Bear & His Daughter.
Các câu trao đổi của hai nhà văn
nước ngoài dành cho văn sĩ Dương Thu Hương của Việt
Nam có thể nói được xoay quanh hai chủ đề chính:
Thứ nhất là sự tham gia và một số cảm nhận của nhà
văn Dương Thu Hương về cuộc chiến mà bà từng tham
gia, cũng như đảng cộng sản mà bà từng là một thành
viên. Thứ hai là về chuyện văn chương của bà.
Trả lời cho câu hỏi vì sao bà từng
bỏ phiếu để ra khỏi đảng Cộng sản, nhà văn Dương
Thu Hương giải thích lý do bà vào Đảng và ra khỏi
Đảng: (xin theo dõi trong phần âm thanh phía trên)
Bà Dương Thu Hương cũng trả lời
câu hỏi về chuyển biến từ một người thuộc quân đội
miền Bắc đến trở thành một người 'làm giặc' như
trong nguyên văn. Nữ văn sĩ đến từ Việt Nam cũng
giải thích cho câu văn của bà là người dân Việt
Nam có can đảm để sống nhưng không có hướng để sống.
Trong số gần 170 người đến tham
dự cuộc trò chuyện giữa nhà văn Dương Thu Hương
và hai văn sĩ Robert Stone cũng Antoine Audouand
tại Thư viện New York ở trên đường 42 có một số
người Việt sinh sống tai Hoa Kỳ.
Có người từ miền Tây sang để nghe
bà nói chuyện. Họ cũng nêu ra một số câu hỏi về
văn chương cũng như chính kiến của tác giả Dương
Thu Hương.
Hầu hết thính giả tham gia cuộc
nói chuyện tỏ ra luyến tiếc vì chương trình quá
ngắn, trong khi họ muốn hỏi nhà văn Dương Thu Hương
thêm nhiều điều nữa.
Gia Minh tường trình từ New York.
Nhà
văn Dương Thu Hương vẫn giữ vững lập trường tranh
đấu cho dân chủ
Nhà
văn Dương Thu Hương
Nghe trực tiếp trên mạng
Bấm vào đây để nghe 
Nhà văn nữ Việt Nam được nhiều người ái mộ và cũng
gây rất nhiều tranh cãi, bà Dương Thu Hương, đã
thực hiện cuộc hành trình đầu tiên đến Hoa Kỳ. Tuần
trước tại thành phố New York, nhà văn Dương Thu
Hương đã được giới thiệu cùng với một số tác giả
nổi tiếng thế giới tham dự Liên Hoan Văn Học do
Hội Văn Bút Quốc Tế tổ chức. Ngoài
việc trích dẫn một số câu thơ trong Truyện Kiều,
phần lớn nhà văn Dương Thu Hương đã giữ im lặng,
và lắng nghe những phát biểu của nhà văn Toni Morrisson,
khôi nguyên Giải Nobel, và nhà văn Salman Rushdie.
Nhưng hôm Chủ Nhật, nhà văn bất đồng chính kiến
nổi danh về những lời đả kích sắc bén của bà đối
với chế độ cộng sản Việt Nam trong các tác phẩm
Thiên Đường Mù và Bên Kia Bờ Ảo Vọng, những tác
phẩm đã bị cấm lưu hành tại Việt Nam, đã gây sôi
động tại hội trường Thư Viện thành phố New York
với những phát biểu nẩy lửa của bà về lý do vì sao
bà vẫn là một cái gai trước mắt nhà cầm quyền Việt
Nam.
Theo tường trình của trưởng ban
Việt Ngữ Đài VOA Michael Mathes, có mặt tại New
York hôm Chủ Nhật vừa rồi, thì mặc dù nhà văn Dương
Thu Hương có hơi choáng vì sự chú ý của cử tọa,
bà vẫn duy trì thái độ cương quyết và không hề nao
núng trong việc theo đuổi những thay đổi mà bà muốn
thấy tại Việt Nam.
Mời quí vị và các bạn theo dõi bài
tường trình sau đây:
Phỏng
vấn tác giả cuốn “Secret Army Secret War”
Hình
bìa cuốn sách "Secret Army Secret War"
Bấm vào đây để nghe
cuộc phỏng vấn này 
Hình bìa cuốn sách "Secret Army Secret War"
Sau khi Hoa Kỳ quyết định rút khỏi chiến trường
miền Nam năm 1973, một cựu quân nhân Hoa Kỳ từng
tham chiến ở Việt Nam, ông Sedgwick Tourison, trở
về Mỹ và bắt đầu thu thập dữ kiện cũng như tài liệu
về cuộc chiến Việt Nam.Ông
đã viết nhiều tác phẩm về chiến tranh Việt Nam,
trong đó có cuốn Secret Army Secret War tức Quân
Đội Bí Mật Chiến Tranh Bí Mật được Nhà Xuất Bản
Công An Nhân Dân ở Hà Nội phiên dịch và phổ biến
trong nước với nhiều chương bị cắt bỏ.
Nhân dịp 30 tháng Tư năm nay, nhớ
lại tâm trạng của mình khi nghe tin miền Nam thất
trận 31 năm về trước, ông Sedgwick Tourison trình
bày cảm tưởng trong cuộc phỏng vấn do Thanh Trúc
thực hiện:Thanh Trúc, phóng viên đài
RFA)
Sự
cứu rỗi cuối cùng
Lần
đầu tiên nhà văn Dương Thu Hương đã đến Mỹ
và hiện đang có mặt ở New York, tham dự một
liên hoan văn học do Hội Văn bút Quốc tế (PEN)
tổ chức.
Hôm thứ Tư, 26-4, bà Dương Thu Hương có bài
tham luận đọc tại liên hoan "Faith &
Reason: Writers Speak." Đi cùng bà là dịch
giả Nina McPherson, người dịch tác phẩm mới
nhất của Dương Thu Hương sang tiếng Anh, Chốn
vắng (No Man's Land, dịch chung với Phan Huy
Đường, 2005)
Chủ đề của liên hoan xoay quanh
lý trí và đức tin, và vai trò của văn học
trong mối quan hệ này.
Tham dự liên hoan này còn có
nhiều nhà văn nổi tiếng quốc tế như Chinua
Achebe, Martin Amis, Nadine Gordimer, Toni Morrison,
Salman Rushdie và Zadie Smith.
Theo lịch, vào Chủ nhật, tác
giả sẽ có buổi nói chuyện, với người dẫn
chương trình là nhà văn Mỹ Robert Stone, tại
Thư viện New York.
Được sự cho phép của tác giả,
chúng tôi xin đăng lại toàn văn bài tham luận
vừa đọc hôm thứ Tư, có tựa đề "Sự cứu
rỗi cuối cùng."
Nhu
cầu được cứu rỗi có lẽ là nhu cầu sớm nhất
của nhân loại. Nó xuất hiện cùng lúc với
con người đầu tiên đi bằng hai chân, lưng thẳng
đứng, quyết định rời bỏ cánh rừng để tiến
về chân trời phía trước. Chân trời hoang vắng
kia chính là định mệnh của loài người, vừa
cám dỗ vừa hàm chứa hiểm nguy, đem lại cùng
một lần hy vọng và lo âu, say đắm và khắc
khoải. Chính bởi con đường dẫn đến tương lai
bao giờ cũng được cắm mốc bởi những bất
an, nên con người cần có sự cứu rỗi. Nhu cầu
về sự cứu rỗi là một hằng số, kể từ con
người đầu tiên, đầu tóc đầy chấy rận, che
thân bằng lá rừng cho đến nhân loại ngày hôm
nay, một năm tiêu thụ hàng chục triệu lọ thuốc
nhuộm tóc và hàng chục vạn tấn quần jean.
Trên
con đường dài đặc của lịch sử, tấm áo giáp
tinh thần đầu tiên che chắn cho tâm hồn mong
manh của con người chính là niềm tin. Một
quyền năng tối cao phải ra đời để mang đến
cho họ sức mạnh đặng có thể vượt qua mọi
thử thách, đứng vững trước những chân trời
giông bão, trước những ngọn sóng thần, những
hỏa diệm sơn, những bệnh dịch ma quái và
những cuộc cạnh tranh sinh tồn khốc liệt.
Nhưng vì đã có tháp Baben để con người chịu
lời nguyền chia rẽ về ngôn ngữ nên phải có
một thứ Baben khác để con người chịu lời
nguyền thứ hai: Sự chia rẽ về niềm tin. Đấng
Omnipussant xuất hiện dưới những gương mặt
khác nhau, mặc những thứ trang phục khác nhau,
đòi những món ăn khác nhau trong ngày lễ và
sau rốt, ra những chỉ định khác nhau cho con
chiên của họ. Vì những khác biệt này, sự
cứu rỗi của nhân loại đã trở thành duyên
cớ cho biết bao cuộc chiến tranh kinh khủng,
tàn độc trong lịch sử.
Vì
cớ gì Chúa của người Do Thái khác Chúa của
người Thiên Chúa giáo, từ những dữ kiện nào,
được ghi nhận vào năm tháng nào, và do ai
chịu trách nhiệm về tính chân thật?...Dường
như không có lời giải đáp. Vậy mà trong gần
hai mươi thế kỉ, những cuộc tàn sát người
Do Thái diễn ra không ngưng nghỉ cho đến tận
ngày Giáo Hoàng Paul II chính thức nói lời
đề nghị tha thứ trước toàn thể dân cư trên
hành tinh.
Thêm
nữa, dưới chỉ định nào của Jesus mà suốt
mấy trăm năm những người Thiên Chúa giáo dồn
những người theo đạo tin Lành lên các vùng
núi trong một cuộc chiến tranh tàn khốc cho
đến nỗi những giáo dân Tin Lành chỉ được
quyền làm bánh mì một lần trong năm, chỉ
được ăn bánh mới một ngày độc nhất trong
365 ngày. Nhiều thế kỉ đã trôi qua, nhưng ngày
hội bánh mới vẫn còn và những ngôi nhà của
người Tin Lành trên các vùng núi nước Pháp
vẫn nguyên vẹn với những bức tường dày hơn
cả tường của các pháo đài xưa cũ.
Giờ
đây, nếu nhìn lại quá khứ, liệu có lý thuyết
nào xứng đáng để biện minh cho những tầng
xác chết của giáo dân vùi dưới lòng đất,
những con người cùng đeo thánh giá, cùng múc
những nguồn cảm xúc tinh thần trong Kinh Phúc
Âm và cùng quỳ gối trước một ông thánh bị
đóng đinh?
Chỉ
có thể lý giải: Mọi niềm tin đều có khả
năng điên rồ và chúng đã dẫn tới sự điên
rồ.
Có
lẽ vì mệt mỏi với những cuộc chiến tranh
tôn giáo, con người tìm nguồn cứu rỗi trong
lý trí trong sự khôn ngoan, trong các loại
biện chứng pháp, và sức mạnh thần kỳ của
nền kĩ trị. Vào thế kỷ 18 và 19, đã có
lúc con người của chủ nghĩa duy lý tin rằng
họ là những Pha-ra-on cuối cùng của nhân loại
và từ nay về sau, mọi chân trời đều khép
kín, hạnh phúc đã vĩnh định trong các sơ
đồ vẽ sẵn.
Từ
năm 1968 cho tới gần đây, nhiều giáo sư triết
học Pháp đã hớn hở tìm những vấn đề trong
tương lai còn khiến dân chúng quan tâm. Nói
cách khác, họ đặt từ cuối cùng cho nhân loại:
Người thì tin rằng từ đó là Tiện Nghi, người
gọi từ tối hậu là Sex…Họ tin chắc rằng sau
cuộc cách mạng tình dục, nước Pháp sẽ không
còn con bệnh tâm thần, và mọi cuộc cởi trói
sẽ biến xã hội Pháp thành cõi thiên đường
nơi hạ giới…
Nhưng
ngày hôm nay, người ta có thể gặp những người
mất thăng bằng tinh thần, những con bệnh tâm
thần thực thụ ngay trên đường phố Paris, ấy
là chưa kể đến những khu vực bidon-ville ở
ngoại ô.
Như
vậy là sự thông minh cũng có thể nhầm lẫn,
cũng có thể hàm hồ. Những hy vọng thái quá
ở sức mạnh của lý trí cũng dẫn đến một
sự điên rồ khác. Sự điên rồ của nền kĩ trị,
sức tàn phá không thể so sánh của nó trong
việc hủy hoại môi sinh và sỉ nhục con người.
Những vấn đề ấy không còn là mới mẻ.
Vậy
chúng ta sẽ sống ra sao đây giữa hai làn đạn
chéo? Sự điên rồ của niềm tin và Sức mạnh
phá hủy của sự duy lý?...Chúng ta sẽ sống
ra sao đây giữa các tầng mây nhiễm phóng xa
và tiếng gào thét của những phần tử cực
đoan đạo Hồi?
Liệu
chúng ta có thể lấp đầy vực thẳm phân ly
giữa niềm tin và lý trí? Câu hỏi này có
vẻ như ngớ ngẩn bởi dù đức tin hay lý trí,
chúng cũng đều xuất phát từ con người, cấu
thành một phần bản thể Người.
Đức
tin khi bị dẫn dắt bởi sự vị ngã sẽ dẫn
nhân loại tới sự suy đồi, độc ác. Bởi lúc
đó, dù là đấng Tối cao của người Do Thái,
chúa Jesus, hay thánh Allah thì họ cũng chỉ
là những cái cớ sang trọng để biện minh cho
sự phóng chiếu bản năng gốc của con người.
Nhân loại cần những ông thánh để hợp lý hóa
sự tham tàn của họ, nhu cầu thù ghét tha
nhân mà họ được nuôi dưỡng từ thuở hồng hoang
khi phải tranh cướp con mồi. Bản năng xâm kích
song sinh với bản năng tình dục, một kẻ dẫn
đường không kém phần uy lực trong suốt cuộc
tồn sinh.
Lý
trí khi bị dẫn dắt bởi vị ngã cũng dẫn
con người tới cùng một vực sâu như đức tin,
vì nó là thành phẩm của con người, do con
người sáng chế, nó không thể tránh khỏi vòng
quay ma quỷ của dục vọng. Dục vọng được biểu
tượng như một chiếc túi không có đáy. Với
số đông, ý thức được sự vô bờ bến của dục
vọng dường như quá khó khăn.
Nhưng
có lẽ nhiệm vụ của những người cầm bút
là ở nơi khó khăn này.
Họ
cần phải thức tỉnh lương tâm con người. Bởi
lương tâm thường mệt mỏi và luôn thiu thiu ngủ.
Họ cần kêu gọi lòng từ ái, bởi trước những
bản năng sâu xa nhất tồn tại vĩnh cửu nơi
con người, lòng từ ái, sự hy sinh quả là
điều rất đỗi mong manh.
Nếu
như cả đức tin lẫn lý trí đã chứng minh khả
năng tàn phá, hủy diệt với tất thảy những
chiều kích của sự điên rồ, thì chỉ còn lại
phẩm chất duy nhất có thể cứu rỗi chúng
sinh, ấy là lòng tốt. Một mai đây, nếu hành
tinh này còn có thể tồn tại được, chắc chắn
là nhờ ơn phước của những con người từ ái,
cao thượng, những người có Trái tim vàng,
chứ không thể là các lãnh tụ tôn giáo hoặc
các kĩ trị gia.
Để
kết thúc bài viết này, tôi xin được mượn
lời Nguyễn Du, nhà thơ lớn của dân tộc Việt
Nam:
Ngẫm
hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
Có đâu thiên vị người nào,
Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai,
Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Lời
quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh.
Dương
Thu Hương: Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
Bấm
vào đây để nghe 
Dương Thu Hương tại Ðại Hội Pen World Voices ở New
York
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần
Ðã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiên căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
Nhà văn Dương Thu Hương đã chọn
những câu thơ Kiều vừa rồi làm lời kết cho bài tham
luận đọc tối thứ tư tại Đại hội Pen World Voices
tổ chức tại thành phố New York từ ngày 25 đến ngày
30 tháng này.
Đây là lần đầu tiên tác giả những
tiểu thuyết đã được dịch ra một số ngoại ngữ như
Tiểu Thuyết Vô Đề và Chốn Vắng, và tác phẩm Những
Thiên Đường Mù đã bị cấm phổ biến tại Việt Nam,
đến Hoa Kỳ.
Trong khuôn khổ đề tài Niềm Tin
và Lý Lẽ, Tiếng nói của những người viết, bài tham
luận của bà Dương Thu Hương có tựa là Sự Cứu Rỗi
Cuối cùng đã được bà Nina McPherson trình bầy bằng
tiếng Anh.
Bà Dương Thu Hương cho rằng trên
con đường vô tận của lịch sử, niềm tin tôn giáo
là tấm chắn đầu tiên bảo vệ tâm hồn còn non yếu
của con người. Các quyền lực tối thượng đã nay sinh
để đem lại sứ mạnh cho con người nhằm chống chọi
với các thiên tai, dịch bệnh và ngay cả cuộc đấu
tranh hàng ngày để sống còn.
Dương
Thu Hương và phóng viên Minh Phượng
Theo bà Dương Thu Hương, sứ mạng của nhà văn là
đánh thức lương tâm con người. Nhà văn kêu gọi trái
tim, lòng từ ái và khả năng hy sinh của con người.
Bà nói rằng một ngày nào đó, nếu hành tinh này còn
tồn tại thì chắc chắn không phải nhờ các nhà lãnh
đạo tôn giáo hay các chuyên gia kỹ thuật, mà là
nhờ ơn phước và lòng từ ái của những người biết
yêu thương và nghe theo tiếng nói của trái tim.
Đại hội PEN World Voices quy tụ
các nhà văn nổi tiếng khắp thế giới, trong đó có
những người đã được giải Nobel văn chương như Salman
Rushdie và Toni Morrison.
Nhà
văn Bà Tùng Long qua đời
Nhà
văn với bút danh quen thuộc Bà Tùng Long đã qua
đời tại tư gia lúc 17g15 ngày 26-4 sau một thời
gian dài lâm trọng bệnh. Ra
đi ở độ tuổi 92, Bà Tùng Long là một trong những
người thuộc lớp nhà văn thành danh tại Sài Gòn trước
1975. Bà tên thật là Lê Thị Bạch Vân, sinh năm 1915
tại Đà Nẵng, lập nghiệp bằng nghề viết văn tại Sài
Gòn và thành công ở thể loại tiểu thuyết tâm lý
xã hội.
Bà chính là người đầu tiên lập ra
mục “Gỡ rối tơ lòng” trên một số báo ở Sài Gòn trước
1975, tạo nên tiền lệ giải đáp thắc mắc về tâm lý,
tình cảm của phụ nữ trên mặt báo Việt Nam.
Sự nghiệp sáng tác của bà gồm 60
tiểu thuyết (trong đó có 16 tiểu thuyết được tái
bản sau 1975), chủ yếu đề cao vai trò của người
phụ nữ trong cuộc sống, cổ xúy cho việc bình đẳng
nam nữ, giáo dục việc xây dựng hôn nhân gia đình.
Các tác phẩm tiêu biểu như: Bóng
người xưa, Người xưa đã về, Giang san nhà chồng,
Mẹ chồng nàng dâu, Vợ lớn vợ bé, Duyên tình lạc
bến, Hứa hẹn, Mưa dầm thấm đá, Đời con gái... Tác
phẩm cuối đời của bà là tập hồi ký xuất bản năm
2003. Sách của bà đã được Công ty Phương Nam mua
bản quyền từ năm 2004.
Tang lễ cử hành tại tư gia (6 Đinh
Bộ Lĩnh, P.24, Q.Bình Thạnh, TP.HCM), lễ động quan
vào lúc 7g ngày 29-4-2006 (mồng 2-4 âm lịch), linh
cữu được đưa đi an táng tại nghĩa trang Trung Việt
ái hữu (quận Thủ Đức).
Dục
tính trong văn chương: Bích Khê, “thi sĩ thần linh”
- “thơ lõa thể”
Sau
khi tắm, tác phẩm của Auguste Renoir (1841-1919)
- Bích Khê đã đặt Dâm ngang hàng với Đẹp, và như
thế với ông đó là một phạm trù thơ. Tên phạm trù
đó, loại thơ đó Bích Khê cũng đã đặt: thơ lõa thể.
Và ông tự nguyện hiến mình cho loại thơ này.
I. Xác thịt lên ngôi thần
Nàng Thơ của Bích Khê là một người
“đẹp và dâm”. Chân dung nàng luôn được thi nhân
trình bày ở dạng lõa thể, khỏa thân. Nhìn vào đó
ta thấy Nàng đẹp.
Đẹp một cách tổng quát:
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết
điểm
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi (I) (Lõa thể)
Đẹp ở “cặp đùi non, một vẻ tơ mơ một vẻ ngon”.
Đẹp ở cặp mắt “xanh tợ ngọc”, “đa
tình ngời sắc kiếm”, “kho tàng muôn châu báu”. Bích
Khê thấy Hai mắt ấy chói hào quang sáng ngợp / Dẫn
ta vào thế giới thiêng liêng. Đó là ánh sáng soi
đường thơ cho nhà thơ. Cặp mắt và bầu vú là hai
ám ảnh thơ của Bích Khê, xuất phát từ cách nhìn
lõa thể thơ của ông. Nhiều nhà thơ mới đã ca ngợi
đôi mắt phụ nữ, nhưng nói đến vú thì hình như chỉ
Bích Khê là một.
Đẹp ở đôi bầu vú:
Những vú nõn: đồi cong thon, nho
nhỏ
Với đôi dòng suối sữa trắng như tinh
(Sắc đẹp)
Vẻ chi mãnh liệt nhưng êm ái
Trong cặp tuyết lê ướm dậy thì
(Châu)
Bích Khê nói nhiều đến đôi vú Người Nữ, của Nàng
Thơ. Vì với ông đó là nguồn thơ. Ông làm thơ tức
là ông “nút” vú, “nút” tinh chất của Người Nữ, của
Nàng Thơ, là tìm chất quý thơm tinh mùi khoái lạc.
Động từ “nút” của tiếng địa phương miền Trung được
dùng nhiều trong thơ Bích Khê là liên quan đến cảm
hứng cảm xúc này của nhà thơ. Thêm một trạng từ
địa phương nữa thường được dùng đi cùng động từ
này - “nư”. Nút cho nư, đã nư, tức là nút đến no
nê, tràn đầy, thỏa mãn. (Hàn Mặc Tử cũng hay dùng
những từ này).
Với cô gái trong một bức tranh lõa
thể:
Hai vú nàng! Hai vú nàng! Chao ôi!
Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng
Với “người em lãng mạn” trong một bức ảnh:
Anh tính ôm chầm lấy mắt mơ
Lấy môi lấy má... lấy ngây thơ
Để anh nút ớn mùi hương ấm
Của một tình yêu giận hững hờ
Với “một cô đào hát bộ”:
Tôi chợt ôm cô trong giấc mộng
Nút bao thanh khí, đã nư thèm...
Cả với một cảnh vật mùa xuân Bích
Khê cũng “vú hóa” theo cảm hứng này: “Nâng lên núm
vú đồi / Sữa trăng nhi nhỉ giọt”. Từ đó mùa xuân
mới chảy vào thơ ông thành xuân tượng trưng. (So
sánh với Hàn Mặc Tử cũng viết về đồi và trăng: Ngả
nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ / Đầy mình lốm đốm
những hào quang. Hai cách viết thơ khác hẳn nhau,
một bên là đi vào liên hệ bên trong, một bên là
nhân hóa cảnh tượng bên ngoài).
Đẹp ở da thịt “nức một đường thơm
một điệu êm”, tỏa một mùi hương “còn thơm hơn chất
xạ”, khiến thi nhân muốn “Cho ta xin trong một tối
du dương / Muôn thớ đàn run trên da thịt tuyết”.
Da thịt tuyết này còn hiện ra ở tràng cánh trắng
của đồ mi hoa, trong khi Đài nộn nhụy hóa nguồn
trinh tinh khiết. Và Bích Khê phổ cả cảm hứng nhục
thể vào bầu trời khi từ đỉnh Ngũ Hành Sơn nhìn lên:
Có ai biết trên cao
Da trời màu thịt sứa
Da trời se chất sữa
Truyền cảm hứng mênh mông
(Ngũ Hành Sơn - bài hậu)
Đến cả mộng của ông cũng là “mộng
lạ”. Các nhà thơ mới hay mộng, mà mộng gặp tiên,
gặp người đẹp, chuyện ấy đã thường. Bích Khê cũng
mộng, trong mộng cũng gặp các nàng “giai nhân hiện
dưới bóng hằng nga” (một motiv quen thuộc, như đã
thành một cliché của thơ lãng mạn), rồi cũng tả
sắc đẹp của người đẹp ở mắt môi dáng đứng dáng đi.
Đột một cái, hai câu kết bài “Mộng lạ”: Ôi đi! Đoàn
tiên lột khỏa thân / Hoan hô xác thịt chiếm ngôi
thần. Thế là tiên đã thành người trần. Mộng đã thành
thực. Thơ tiên đã thành thơ phàm. Ở một bài khác
(Hiện hình) trước khi thấy Một người thiếu nữ hiện
trong trăng thì thi nhân đã ngửi thấy Thơm tho mùi
thịt bắt say ngà! Ông tự nhận Hồn tôi mất cả đồng
trinh vì mê luyến những hình thiên nga. Cho nên
trong một lần Mơ tiên ông đã những muốn đi cướp
mây trời / vén ra cho thấy một vài nường tiên để
coi hồn đương say nghiền / đã nư khoái lạc trong
miền chiêm bao. Khoái cảm nhục thể của Bích Khê
quả là mạnh trong thơ ông. Đến mức một trái cây
như trái măng cụt cũng thành ra da thịt người dưới
mắt ông, múi mát tợ thịt thơm, và ăn nó như là bú
vú vậy, mùi sữa mớm vô răng.
Bích Khê có hẳn một bài thơ đặt
tên là Xác thịt:
Tôi vồ người như một miếng mồi
ngon
Miệng ngậm hờn riết chặt lấy môi son
Mắt đổ lửa lườm qua làn sóng sắc...
Tôi giật nẩy rồi cười lên sặc sặc
Hai tay cào đôi vú trắng như bông
Hàn Mặc Tử cho rằng đọc những vần
thơ ấy “giây thần kinh và gân huyết ta rung động
say mê bởi những làn khoái lạc của xác thịt nóng,
thơm, ran ran lên cả người” (II).
Như vậy, xác thịt được đặt lên ngôi
thần, được đưa vào ngôi chủ thơ. Đó là Bích Khê.
Ông “hoan hô” cái sự đó, nghĩa là ông thấy ở đó
nên thơ và đáng thơ.
Nàng thơ của Bích Khê hiện hình
trong thơ ông qua tên gọi phiếm chỉ những người
phụ nữ khác nhau. Duy chỉ có một nàng được ông gọi
thẳng tên và nhắc đến nhiều lần với niềm yêu thương,
trân trọng. Đó là nàng Xuân Hương.
Ông gặp nàng ở bến sông Ngân:
Ô! Nàng Xuân Hương ngực để trần
Ngâm bài “Vấn nguyệt” tiếng trong ngần
Nhìn xuống nhân gian cười như điên
(Nghê thường)
Ông muốn xuống địa ngục trong cơn
ăn mày cảm hứng “Đặng ngủ nhờ một đêm với Xuân Hương”.
Ông nằm mộng “Thì mộng: Xuân Hương nường đã đến
/ Thưa cô, dáng nguyệt tuyết còn vương”.
Và ông có hẳn một bài thơ nhan đề
Hồ Xuân Hương mời nàng nữ sĩ về làm vợ mình, gọi
bà là người vợ trong thơ. Ông đồng điệu tri âm với
nữ sĩ trong loại thơ đặc sắc của bà mà chắc ông
muốn học theo: Văn chương quán thế không ai biết
/ Trong mộng mình về thưởng với tôi. Xuân Hương
trong mắt Bích Khê vẫn mãi đẹp.
Đêm nay nửa gối nghiêng nghiêng
mộng
Muôn dặm người xa đã thấy về
Xanh liễu ngoài sân vừa đổi biếc
Màu thi sắc lá đọ dung nghi
Phải chăng Bích Khê thấy ở Hồ Xuân
Hương sự đồng điệu với ông trong quan niệm thơ lõa
thể - đẹp và dâm? Nàng thơ là người đẹp, nhưng cái
đẹp đó phải được thức dậy, được sống động ở nhục
thể, ở da thịt, ở ân ái. Có là mộng, là thiên tài,
thì cũng phải Trên hỗn độn khỏa thân. Thơ, với Bích
Khê, là da thịt biến ra thơm, là Bắn tinh ra trộn
trạo giữa nguồn hương khi Cả địa ngục đi vào trăm
lỗ hổng, là Hợp tinh khí chảy ra thành chất ngọc.
Ông nói thẳng ra những điều Hồ Xuân Hương thể hiện
lấp lửng hai mặt. Ông tuyên bố:
Ôi! say khướt mới dào muôn ý tứ
Ôi! điên rồ mới ngợp ánh chiêm bao
Ôi! dâm cuồng mới biết giá trăng sao! (III)
Duy tân thơ của Bích Khê, vì thế, là thơ lõa thể.
II.
Thơ lõa thể
Sự đậm đặc những hình ảnh, cách
nói về thân xác và hoạt động thân xác ở thơ Bích
Khê như ta đã thấy không hề là ngẫu nhiên. Bích
Khê có lẽ là nhà thơ ‘ca tụng thân xác” say sưa
và nồng nhiệt nhất thơ Việt. Có thể có yếu tố phân
tâm học bệnh lý của Bích Khê ở đây. Nhưng cái chính,
đó là một quan niệm thơ của ông.
Văn học lãng mạn Việt Nam (Tự Lực Văn Đoàn và Thơ
Mới) có một đóng góp cách tân lớn là xác lập và
đề cao cái đẹp thể chất của con người. “Dâm” trong
“đẹp và dâm” của Bích Khê có thể hiểu theo nghĩa
này, như những câu thơ, đoạn thơ tôi dẫn ra trên
đây đã cho thấy. Nhưng như đã nói, mệnh đề này còn
là quan niệm thơ của Bích Khê, và như thế để hiểu
rõ nó thì cần đặt nó vào hệ thống của “trường thơ
Bình Định”. Hàn Mặc Tử chủ trương thơ Điên. Chế
Lan Viên làm thơ Loạn. Thơ Điên, thơ Loạn, “cái
gì của nó cũng tột cùng”, “cái gì nó nói đều có
cả” (Chế Lan Viên). Bích Khê ở trong môi trường
này cũng sẽ làm thơ theo không khí và tinh thần
đó. Tập Tinh huyết của Bích Khê là do Hàn Mặc Tử
đề tựa sau khi đã “khích” bạn mình sáng tác “đợt
hai” và Hàn đã rất ca ngợi đợt sản phẩm mới này
của bạn (IV). Tinh huyết có ba phần: Nhạc và lệ,
Đẹp và dâm, Cuồng và ánh sáng, nhưng tôi thấy tinh
thần của phần giữa là quán xuyến cả tập. Như vậy
có thể nói Bích Khê làm thơ Dâm, hiểu theo nghĩa
ông phơi mở và đề cao thân thể phụ nữ và các hoạt
động thân thể mà ông tụng ca là Đẹp, là Thơ. Giống
như thơ Hồ Xuân Hương bị coi là dâm nhưng đó thực
là thơ ca ngợi vẻ đẹp cơ thể phụ nữ và đòi quyền
sống cho thân xác con người trong tình yêu đôi lứa.
Ở đây không cần phải biện hộ gì cho chữ Dâm cả,
Bích Khê đã đặt Dâm ngang hàng với Đẹp, và như thế
với ông đó là một phạm trù thơ. Tên phạm trù đó,
loại thơ đó Bích Khê cũng đã đặt: thơ lõa thể. Và
ông tự nguyện hiến mình cho loại thơ này.
Thơ lõa thể! Giai nhân tuần trăng
mật
Nữ thần ơi! Ta nô lệ bên người
Điên - Loạn - Dâm, có thể coi đó
là đặc trưng của “trường thơ Bình Định” với nghĩa
bộc lộ hết mình và tột cùng, cả thể chất và tinh
thần, trong cơn sáng tạo quyết liệt. Bởi thế, đọc
thơ họ, một nhà phê bình nhạy cảm và tinh tế như
Hoài Thanh cũng phần nhiều chịu bó tay. Ông “mệt
lả” khi theo Hàn Mặc Tử. Ông thấy Chế Lan Viên là
“niềm kinh dị”. Với Bích Khê ông thú nhận là đành
“kính nhi viễn chi”. Tất nhiên, phải nói thêm ở
đây, mỹ cảm của Hoài Thanh là nằm trọn trong chủ
nghĩa lãng mạn, mà các nhà thơ “trường thơ Bình
Định” thì ít nhiều đã vượt sang chủ nghĩa tượng
trưng.
Thơ lõa thể, đó là hồn và xác. Đó
là lãng mạn và tượng trưng. Thơ Mới đến Bích Khê
và nhóm thơ Bình Định đã vượt qua những cảm xúc
lãng mạn thời kỳ đầu để tiến tới những biểu hiện
của tượng trưng, siêu thực về sau. Theo nhà nghiên
cứu Đỗ Đức Hiểu, Thơ Mới Việt Nam (xét dưới góc
độ: “Sự tương hợp giữa Thơ Mới và Thơ Pháp trong
cuộc giao thoa của hai văn hóa Việt Nam và Pháp
nửa đầu thế kỷ XX”) có hai làn sóng. Làn sóng thứ
nhất “chịu ảnh hưởng chủ yếu của thơ lãng mạn Pháp
nửa đầu thế kỷ XX”. Lớp nhà thơ thuộc làn sóng này
viết diễn cảm. Làn sóng thứ hai “chịu tác động sâu
sắc của Baudelaire và những nhà thơ tượng trưng
chủ nghĩa Pháp”. Lớp nhà thơ của làn sóng này viết
diễn đạt cái tương hợp (V). Bích Khê là nhà thơ
mới thuộc làn sóng thứ hai. Đẹp và dâm, vừa là sự
đối nghịch, vừa là sự tương hợp. Thơ cũng vậy. Thơ
lõa thể của Bích Khê là vậy.
Có hiểu thế ta mới hiểu vì sao bài
thơ nhan đề Trái tim của Bích Khê lại kết thúc bằng
hai câu thơ có hai gạch đầu dòng, trong đó câu cuối
cùng rất gây “sốc” khi mới đọc qua (và có thể là
“tục” nữa nếu ai muốn nghĩ thế).
- Yêu bằng mộng là mơ tim sáng láng
- Đây sự thực trần truồng nằm giữa háng!
Hai cái gạch đầu dòng cho phép hiểu
hai câu thơ này như một cặp câu đối thoại. Ở đoạn
hai của bài thơ đã có cuộc đối thoại của “tôi” với
“cô”. Tôi ăn mày chỉ một trái tim thôi / Lạy tứ
hướng cô mới chịu cho tôi / Cô vùng vằng là tôi
không có thả... Tiếp đó là hai câu độc thoại: Mình
say chưa? Mình đã thật say sao / Có lảo đảo, có
điên cuồng đấy chứ? Và sau ba câu để trong ngoặc
đơn vừa như giải thích, vừa như tuyên ngôn mà tôi
đã dẫn ở trên (Ôi! say khướt...) là đến hai câu
gạch đầu dòng này kết thúc bài thơ. Có thể hiểu
câu Yêu bằng mộng... là lời cô gái chăng, và câu
Đây sự thực... là lời “tôi”-chàng trai chăng. Cũng
có thể hiểu cả hai câu là hai ý nghĩ vật lộn, đan
xen trong tâm trí của ‘tôi” chăng. Hiểu cách gì
thì cũng thấy toát lên một ý là Bích Khê trong thơ
rất ám ảnh và ám gợi thân xác, nhục thể. Ngay trong
bài này đã có câu Đây xác thịt ớn lên vì đã mệt.
Đọc kỹ cả bài thơ Trái tim thì thấy đó như không
phải nói trái tim, mà nói chuyện thân xác.
Yêu thực là yêu bằng cả tình cảm
và nhục thể. Có lẽ đối với Bích Khê thơ đẹp là thơ
phải có dâm, là mộng cộng sự thực. Có thể thấy rõ
điều này qua một phép so sánh hai bài thơ của Bích
Khê và Hàn Mặc Tử, hai người bạn thơ gần gũi thân
thiết và có nhiều điểm tương đồng. Cả hai bài cùng
viết về đề tài tân hôn, cùng đều bốn khổ. Nhưng
cảm hứng thì khác hẳn. Hàn Mặc Tử nghiêng về mộng
nhiều hơn, sợ khi đã qua đêm tân hôn rồi thì Không
còn ý nhị ban đầu nữa / Sẽ chán chường và sẽ chán
chê.
Cho nên tôi tưởng tối tân hôn
Chưa tới, còn xa để được buồn
Để sống trong niềm thương nhớ đã
Để còn mường tượng đến giai nhơn (VI)
Một tâm trạng rất lãng mạn chủ nghĩa!
Tâm trạng này của Hàn Mặc Tử cũng là của Vũ Hoàng
Chương trong bài thơ cũng có tên là Tối tân hôn.
Họ Vũ coi đó là sự bắt buộc rời xứ Mộng, là từ thiên
giới thanh cao phải quay về hạ giới nhơ bẩn. Tối
tân hôn là thời điểm mộng chết.
Hai xác thịt lẫn vào nhau mê mải
Chút thơ ngây còn lại cũng vừa chôn
Khi tỉnh dậy, bùn nhơ nới Hạ giới
Đã dâng lên ngập quá nửa linh hồn (VII)
Bích Khê thì khác, ông nhìn thẳng và phơi bày sự
thực: Họ tưởng tân hôn êm ấm lạ / Không hay sao
ốm lả hoa tàn... / Họ tưởng tân hôn êm ấm lạ / Không
hay xuân kín vỡ màn trinh... Và thi nhân chúc mừng
đôi lứa tân hôn:
Mộng rớt đêm nay như chất ngọc:
Người ta say nghiến những men tình
Tôi hoan hô - phút giây thần diệu
Chết giả nhưng cười trắng thủy tinh
Có ẩn ức tâm lý gì ở đây không, nhưng về thơ thì
rất baudelaire! Và cũng như lần đầu hoan hô xác
thịt, lần này ông lại hoan hô tối tân hôn. Với ông,
những gì liên quan đến nhục thể là đáng ngợi ca
và đáng làm thơ.
Hàn Mặc Tử gọi Bích Khê là “thi
sĩ thần linh”. Ông cho thơ Bích Khê ở tập Tinh huyết
có ba tính cách: 1) Thơ tượng trưng, 2) Thơ huyền
diệu, và 3) Thơ trụy lạc. Nhận xét về thơ trụy lạc
của bạn mình, Hàn viết: “Ở địa hạt dâm cuồng này,
ta thấy thi sĩ Bích Khê hoàn toàn là Baudelaire.
Vì trong tác phẩm chàng, gợi dục tình thì ít, mà
làm cho người ta ghê rợn đến gớm guốc cái cảnh trần
truồng khả ố thì nhiều” (VIII).
Điều này không hẳn đúng. Loại thơ
nhục thể của Bích Khê một mặt, thể hiện niềm khát
sống, niềm hoan lạc trần thế của con người nói chung,
của chính nhà thơ nói riêng. Mặt khác, Bích Khê
đã nâng khoái cảm nhục thể ấy lên thành một nguồn
cảm hứng, một mỹ học thơ. Thơ “lõa thể” của ông
đọc lên không thấy gợi dục tình theo hướng xấu xa,
điều này Hàn Mặc Tử nói đúng, nhưng cũng không hề
gợi cảm giác ghê rợn, gớm guốc. Đọc chúng, ta được
khoái cảm tổng hợp của sự tương giao âm thanh, màu
sắc, hương thơm như một đặc tính cốt yếu của thơ
tượng trưng. Tính chất “thần linh” của Bích Khê,
nếu có, thì không chỉ ở những bài thơ huyền diệu,
siêu thoát, mà ở cả chỗ này nữa: ông nói tục mà
thanh, ông nói những điều khó nói mà nói được một
cách tự nhiên, thanh thoát. Ta hiểu thêm một lý
do nữa vì sao ông thích thú và gần gũi với Hồ Xuân
Hương đến vậy. Và ta cũng hiểu vì sao Bích Khê lại
gọi Baudelaire là “Vua Thi Sĩ”, vì ông đã học được
bao nhiều mùi thi vị ở tác giả Hoa Ác (Les Fleurs
du Mal):
Có những mùi hương mát như da thịt
trẻ con
Êm nhẹ như tiếng sáo, xanh mướt như cỏ non
Và những mùi hương oanh liệt, phong phú và trụy
lạc
- Tỏa khắp không gian như những cái vô hạn, vô cùng
Như nhựa thơm, như xạ, như hương trầm
Hát ca những khoái lạc của tinh thần và thể xác
(IX)
(Bản dịch của Vũ Đình Liên)
và ông muốn phà hơi lên cho mùi thi vị đó từ Baudelaire
truyền nhiễm thấu trần ai (Ăn mày).
Cuối cùng, tất cả tan hòa, khi Nàng bước tới...
Nàng! nàng! nàng! không có nữa châu thân
Xác là mộng mà tình là tuyệt đích
Hỡi không gian! hãy tan ra tiếng địch
Của lòng yêu ca ngợi tuyệt vời cao
Hỡi trần gian! hãy chết ngột trong sao
Cho chân lý ngời ra như lưỡi kiếm
Cho tình ta xô dồn sang cực điểm
Và hào quang khiêu vũ với hào quang...
Thân xác, nhục thể tắm gội trong
một tâm hồn mang khí vị thần linh của thi sĩ đã
biến thành hào quang lung linh. Thơ lõa thể của
Bích Khê đã phát quang như vậy. Và đó là phép thơ
riêng của ông. Một phép thơ đã để lại những lời
thơ đầy hơi hám, nghĩa là có mùi vị, nghĩa là không
bị tiệt trùng, nghĩa là sống, mà Bích Khê tin chắc
là tay khách đa tình sẽ chuyển trao. Niềm tin của
ông đã thành sự thực. Thơ lõa thể của ông một thời
gian dài bị im lặng, nay được đem ra đọc, và còn
nói được nhiều điều cho thơ và các nhà thơ hôm nay.
Hà Nội rằm Giêng Bính Tuất (2006)
Phạm Xuân Nguyên
Ghi chú: Bài này đã đọc tại hội thảo Thơ Bích Khê
do Hội Nhà văn Việt Nam và Hội văn học nghệ thuật
Quảng Ngãi tổ chức tại thị xã Quảng Ngãi (20-21/2/2006)
và đã đăng tạp chí Nghiên Cứu Văn Học (Viện Văn
Học) số 4/2006.
Chú thích:
(I) Tất cả thơ Bích Khê dẫn trong bài này đều rút
từ sách Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm,
Nxb Hội Nhà văn, H. 1999, tr. 265 - 346.
(II) Hàn Mặc Tử. Bích Khê, thi sĩ thần linh, in
trong sách: Tuyển tập phê bình, nghiên cứu văn học
Việt Nam (1900 - 1945), Nxb Văn Học, 1997, tập IV,
tr. 140 - 141. Đây là bài Hàn Mặc Tử viết tựa cho
tập Tinh huyết. Điều đáng chú ý là bài thơ Xác thịt
này không thấy có trong Tinh huyết in ở sách Thơ
Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm. Mấy câu thơ
trên tôi lấy từ bài của Hàn Mặc Tử.
(III) Trong bài tựa Tinh huyết của
Hàn Mặc Tử (Sđd, tr. 142) mấy câu này được dẫn khác:
Có say khươt mới dào muôn tứ ngọc
Có điên rồ mới hớp ý trăng sao
Có dâm cuồng mới dâng cả lên cao
Nơi chu lưu một nguồn thơ bất tuyệt
Theo bản này thì càng thấy rõ ý của Bích Khê hơn.
(IV) “Suốt trong một năm 1938, tôi hết sức khích
lệ chàng, mong mỏi ở chàng một thi sĩ xuất sắc,
cao cường. Cái hy vọng của tôi sốt sắng quá, nóng
nảy quá, đã một lần đưa tôi vào sự chán chê và tức
bực. Gần cuối năm ấy, chàng gửi ra cho tôi nhiều
thơ, mà tôi chẳng lựa được bài nào cả. Tôi gửi trả
lại chàng kèm với bức thư mà tôi dùng rất nhiều
lời khiêu khích mỉa mai (cốt làm cho chàng tức).
Quả nhiên chàng giận run người lên và vội trả lời,
thề với tôi rằng: Trong sáu tháng sẽ trở nên một
thi sĩ phi thường, bằng không sẽ chẳng bao giờ nghĩ
đến làm thi sĩ nữa. Ngờ đâu sự hằn học của chàng
bật nẩy thiên tài của chàng ra. Không đợi đúng sáu
tháng, chỉ trong vòng ba tháng thôi, chàng đã viết
được một tập thơ, viết bằng máu huyết tinh tủy và
châu lệ, và tất cả say sưa, đắm đuối của một hồn
thi sĩ” (Hàn Mặc Tử. Bích Khê, thi sĩ thần linh,
Sđd, tr. 130 - 131).
(V) Đỗ Đức Hiểu. Đổi mới đọc và bình văn, Nxb Hội
Nhà văn, H. 1999, tr. 153 - 154.
(VI) Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm, Sđd,
tr. 154.
(VII) Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm,
Sđd, tr. 447.
(VIII) Hàn Mặc Tử. Bích Khê, thi sĩ thần linh, Sđd,
tr. 141.
(IX) Il est des parfums frais comme des chairs d'enfants,
Doux comme les hautbois, verts comme les prairies,
— Et d'autres, corrompus, riches et triomphants,
Ayant l'expansion des choses infinies,
Comme l'ambre, le musc, le benjoin et l'encens,
Qui chantent les transports de l'esprit et des sens.
Phim
kinh dị thắng thế
Cảnh
trong phim The hills have eyes, phim đang ăn khách
nhất khu vực Bắc Mỹ
Bộ phim kinh dị Silent hill đã thay thế vị trí đầu
bảng Top 10 phim ăn khách nhất khu vực Bắc Mỹ của
Scary Movie 4 tuần qua, báo hiệu mùa phim kinh dị
thắng lớn Ba ngày trình chiếu đầu tiên Silent hill
thu 20,2 triệu USD, còn Scary Movie 4 cũng thuộc
thể loại kinh dị nhưng pha nhiều tiếng cười tính
đến nay đã thu 67,7 triệu USD tiền vé sau 2 tuần
chiếu. Có thể nói phim kinh dị đang được một mùa
bội thu.
3-4 phim/tháng
Theo biên tập viên tạp chí Fangoria
Tony Timpone, trước đây mỗi năm chỉ có chừng 3-4
phim kinh dị, còn hiện nay là 3-4 phim/tháng. Nhìn
vào danh sách phim Hollywood được xếp lịch trình
chiếu trong năm nay có thể thấy rõ điều đó. Mở màn
đầu năm là Hostel (ngày 6-1), một bộ phim kể về
việc 2 thanh niên Mỹ Paxton, Josh và 1 người Iceland
Oli cùng đi du lịch đến châu Âu, nghỉ trọ trong
một nhà nghỉ ở Slovakian, cả 3 đều không biết chuyện
gì đang chờ đợi trong ngôi nhà nghỉ khủng khiếp
này. Vài ngày sau khi ra mắt, hãng Lion Gates ung
dung bỏ túi gần 50 triệu USD trong khi kinh phí
làm phim chỉ 4,8 triệu USD. 65% khán giả đến xem
Hostel còn rất trẻ: dưới 25 tuổi. Ra mắt muộn hơn
Hostel có Underworld: Evolution, cũng đẫm máu không
kém. Sau Hostel, Underworld: Evolution, đến tháng
2, phần 3 loạt phim nổi tiếng Final destination
ra đời đưa người xem tới mức độ ngày càng rùng rợn
hơn. Lần này là câu chuyện thoát chết trong gang
tấc của một nhóm học sinh khi họ đang chơi trò tàu
lượn. Trước Final destination 3 là một bộ phim chỉ
cần nghe qua cái tên cũng đủ biết mức độ rùng rợn
của nó: When a stranger calls. Phim kể về Jill Johnson,
một nữ sinh nhận giữ trẻ qua đêm cho một gia đình,
mỗi tối cô đều nhận được nhiều cú điện thoại từ
một kẻ lạ hỏi thăm xem đã chăm sóc lũ trẻ chưa.
Điều đáng sợ là số điện thoại kia được gọi đến từ...
trong nhà.
Cao điểm nhất phải kể đến tháng
3 vừa qua khi màn ảnh tràn ngập hàng loạt tác phẩm
dựng tóc gáy và tất cả đều đạt doanh thu không tồi:
Slither, Stay alive, The hills have eyes. Từ nay
đến cuối năm, danh sách phim dạng này còn dài ra
thêm với các phim The Omen, Pulse, The returns,
Grind house, Black Chrismas, Cruel world, The Grudge
2...
Sẽ có các phần tiếp theo
Bắt đầu từ mùa thu năm ngoái, người
ta đã ước tính được rằng có đến 7 phim thể loại
kinh dị lọt vào bảng xếp hạng các phim ăn khách
nhất. Trong số đó gây tiếng vang nhất là loạt phim
Saw, tổng cộng phim đã mang về cho hãng Lions Gate
250 triệu USD tiền vé trên toàn cầu. Phần 3 sẽ ra
mắt vào ngày 27-10 tới nhân dịp lễ hội Halloween.
Đầu năm 2007, khán giả được thưởng thức phần tiếp
theo của Hostel. Phải nói là hãng Lions Gate đang
làm “trùm” trong việc sản xuất thể loại phim máu
me này. Họ liên tục hốt bạc trong thời gian qua,
đến nỗi ngay cả hãng Disney cũng không thể dửng
dưng đứng ngoài cuộc đành phải nhảy ngay vào làm
phim Stay alive. Sức thu hút của dạng phim này còn
mạnh đến nỗi cả Renee Zellwegger (nữ diễn viên chuyên
thành công với những vai hài), vừa qua, cũng ký
hợp đồng đóng phim kinh dị mang tên Case 39.
Ngày
nay khán giả ngày càng đòi hỏi cao ở các phim kinh
dị nên việc tìm được một kịch bản hay, có sức thuyết
phục, khiến người xem phải thót tim không phải là
chuyện dễ dàng. Do vậy, đa phần phim đã và sắp ra
mắt đều làm lại từ các phim ăn khách cùng tên trước
đó, chẳng hạn The hills have eyes, Case 39, Black
Christmas.Nguyễn Ngọc
Huế:
Một đấu trường hoàng cung hoang phế
Lối
dẫn voi và đường lên thành xem trận đấu.
Có người đã ví von rằng: Ngoài đấu trường giác đấu
nổi tiếng thời La Mã cổ đại như Coloseum, không
đâu tìm được một đấu trường quy mô như Hổ quyền,
một đấu trường của hoàng cung có chỗ đứng hết sức
quan trọng trong quần thể di tích Huế.. Thế nhưng
địa danh oai linh với những cuộc thư hùng long trời
lở đất giữa voi và cọp thuở xưa đang từng ngày dần
hóa thành phế tích...
Hổ
quyền là một đấu trường giữa voi và cọp ra đời dưới
thời vua Minh Mạng, vừa là chỗ vua quan nhà Nguyễn
giải trí, đồng thời cũng là nơi luyện tập cho voi
quen với không khí chiến đấu lúc lâm trận. Theo
ông Pierre Poivre nhà buôn phương Tây từng đến Huế
vào thời các chúa Nguyễn thuật lại rằng: Vào năm
1750, chúa Nguyễn Phúc Khoát và các quan trong triều
đã đi trên 12 chiếc thuyền, đến đậu gần cồn Dã Viên
để xem voi và cọp đấu nhau. Trận ấy có 40 con voi
"lâm trận" và chúng đã quật chết 18 con
cọp.
Thời Gia Long (1802 - 1919), các
trận thư hùng giữa voi và cọp được tổ chức ngay
trên dải đất trống trước mặt Kinh thành. Đấu trường
không có phòng thành, nhà vua bắt lính đứng vây
quanh thành một vòng tròn để làm hàng rào cho đấu
trường hết sức nguy hiểm. Một người được xem cuộc
thư hùng ấy là ông Michel Đức Chaingeau.
Về
sau viết cuốn hồi ký Hoài niệm Huế, ông đã thuật
lại một kỷ niệm hết sức rùng rợn: Trong trận đấu
hôm ấy, mặc dù con cọp đã bị tước bỏ hết nanh vuốt
và cột chặt vào một cái cọc đóng kiên cố... Nhưng
không ngờ nó mạnh và dữ quá, gồng mình bứt đứt sợi
dây rồi nhảy phóc lên tát anh nài đang ngồi trên
đầu voi. Anh nài hoảng hốt chưa kịp kêu cứu thì
đã bị tấn công bay xuống đất và bị con voi của chính
anh giẫm chết tại chỗ. Con cọp còn gây cho nhiều
binh sĩ bị thương và vua quan triều Gia Long phải
một cơn thất đảm kinh hồn.
Về sau này, để bảo đảm an toàn cho người xem, năm
Canh Dần (1830), vua Minh Mạng đã cho xây dựng Hổ
quyền ở gần đồi Long Thọ và Thành Lồi của người
Chiêm Thành xưa, gần với điện Long Châu. Hổ quyền
là một đấu trường lộ thiên hình vành khăn. Vòng
tường ở bên trong cao 5,90m và vòng tường bên ngoài
cao 4,75m (kể cả lan can) có khuynh độ 1/10 chúc
đầu vào nhau, ôm chặt lấy mô đất ở giữa. Bề dày
đỉnh tường ngoài là 35cm và đỉnh tường trong 47cm.
Cả hai cộng với mô đất ở giữa tạo
thành một bề dày 4m ở đỉnh và 5m ở mặt đất thường.
Mặt trên của mô đất ấy cao bằng tường ngoài, tạo
thành con đường chạy vòng tròn (chỉ gián đoạn ở
khán đài nơi vua ngồi xem) để khán giả đi quanh
trên đấu trường và để xem voi cọp đánh nhau trong
lòng chảo. Mô đất chạy vòng ấy cũng đã được dùng
để trổ thành 5 chuồng cọp và một cửa vòm lớn dành
cho voi ra vào chiến đấu. Đường kính trong lòng
chảo 44m, chu vi ngoài Hổ quyền 140m.
Lúc thịnh thời, các trận đấu tại
Hổ quyền được tổ chức hàng năm, nhưng cũng tuỳ sở
thích của từng ông vua triều Nguyễn, có khi một
năm tổ chức vài ba trận đấu nhưng cũng có khi vài
ba năm mới tổ chức một trận đấu tại Hổ quyền.
Trận đấu cuối cùng tại Hổ quyền
diễn ra vào năm 1904 dưới thời vua Thành Thái. Từ
đó về sau, một phần vì kinh tế khó khăn không thể
chi phí cho việc săn bắt thêm voi, cọp để thi đấu,
một phần vì sự mâu thuẫn ngày càng trầm trọng giữa
vua Thành Thái và chính quyền Bảo hộ nên Hổ quyền
cũng bị bỏ hoang cho đến ngày nay.
Thật đáng tiếc là cho đến bây giờ
vẫn chưa phát hiện thấy có sử liệu nào ghi chép
cụ thể đã có bao nhiêu trận đấu giữa voi và cọp
diễn ra ở Hổ quyền trong suốt nhiều đời vua triều
Nguyễn từ Minh Mạng đến Thành Thái.
Theo một số truyền thuyết dân gian
thì cũng chính tại đấu trường của hoàng cung này
đã từng diễn ra các cuộc đấu của các mãnh tướng
chống lại triều đình với những con cọp dữ. Những
truyền thuyết, dã sử xoay quanh Hổ quyền còn rất
nhiều nhưng thực tế chỉ có một. Đó là di tích văn
hóa quý giá này đang ngày một xuống cấp nghiêm trọng.
Lớp phong mờ của thời gian và sự tàn phá của con
người đã và đang làm cho nơi đây hoang tàn nhanh
chóng.
Trước đây, bên cạnh Hổ quyền, phía
trước mặt Long Châu Miếu có hồ sen rất rộng, đó
là nguồn nước ăn của cả vùng Long Thọ. Ngoài ra,
lợi tức bán hạt sen của cái hồ này cộng với tiền
cúng tế do triều đình cấp cũng đủ để dùng vào việc
lễ tế voi diễn ra khá lớn hàng năm ở đây. Sau này,
cùng với sự thờ ơ của người đời, mặt nước linh thiêng
biến thành hồ nuôi cá, hương sen thơm ngát bị lấn
át bởi vô vàn mùi xú uế của rác thải sinh hoạt khiến
cho mạch nước hồ ô nhiễm và cạn dần. Với tốc độ
đô thị hóa chóng mặt, rất nhiều nhà dân đã lấn chiếm
xây trùm lên đất đai di tích, muốn vào thăm chốn
này, du khách phải chui qua cái kiệt 373 nhỏ bé
nằm khuất lấp trên đường Bùi Thị Xuân.
Xin được nhắc lại rằng: Khắp các
nước Đông Á, kể cả Trung Quốc và Nhật Bản, không
thấy ở quốc gia nào có đấu trường tương tự. Hổ quyền
ở Huế chẳng những là một di tích đặc biệt và độc
đáo của Việt Nam, mà còn là một di tích quý hiếm
của thế giới nữa Lam Thạch Giang
Cô
Kentucky lên ngôi nữ hoàng sắc đẹp Hoa Kỳ
Tối
thứ sáu, người dân Hoa Kỳ có dịp chứng kiến nhan
sắc và tài năng của 51 người đẹp Hoa Kỳ tham dự
kỳ thi Hoa Hậu Hoa Kỳ, lần thứ 55, mà người đoạt
vương miện sẽ được tham dự Hoa hậu Hoàn Vũ sắp tới
vào ngày 23 tháng 7, ở Los Angeles.Trong số 51 người
đẹp, sau vòng đầu xuống còn 15 thí sinh, và rồi
còn 10 thí sinh vào bán kết, và cuối cùng còn 5
thí sinh vào chung kết.
Cuối cùng, cô Tara Elizabeth Conner,
20 tuổi, của thành phố Russell Springs, một thị
trấn nhỏ chỉ có 2,500 dân, ở tiểu bang Kentucky
đoạt vương miện. Hoa hậu 2005 là Chelsea Cooley
của tiểu bang North Carolina trao vương miện cho
tân hoa hậu Hoa Kỳ 2006.
Đệ nhất á hậu lọt về tay người đẹp
California là Tamiko Nash (26 tuổi, Los Angeles),
và á hậu 2 là cô Lisa Wilson (26 tuổi, tiểu bang
Georgia), á hậu 3 là cô Stacy Offenberger (26 tuổi,
tiểu bang Ohio), và á hậu 4 là cô Cristin Duren
(24 tuổi, tiểu bang Florida).
Hoa hậu Conner tâm sự là “đây là
sự kiện lớn nhất đã xảy ra tại thị trấn của tôi.”
Cô cũng cho biết là nhờ trải qua
cuộc sống nhiều khó khăn, cô học được tính khiêm
tốn và trở thành một cá nhân mạnh mẽ và có được
giây phút huy hoàng như hôm nay.Dư luận cho rằng
chính nhờ khả năng đối đáp (nét đẹp trí thức và
nhân cách), cô đã vượt lên trở thành người đẹp nhất
Hoa Kỳ 2006.
Nhạc
sĩ Hoài Sa: Trong âm nhạc, lừa người cũng chỉ được...
nửa năm
´
Có phải anh là tay phối khí oách nhất ở TPHCM đang
được mời sang Mỹ và Châu Âu biểu diễn? -
Họ mời đã lâu rồi. Tôi dự định cũng sẽ thu xếp đi
sang bên đó. Nhưng khổ là công việc quá bận rộn,
hết chương trình này sang chương trình khác nên
đành tạm khất lại.´
Với khối lượng đơn đặt hàng nhiều như hiện nay,
liệu bé hạt tiêu như anh có đủ sức kham nổi? -
Thường thì tôi phải từ chối rất nhiều lời mời nếu
không đủ hứng thú, vì đã làm là phải chăm chút ghê
lắm. Người ta phối một bài mất một ngày thì với
tôi có khi cả tuần. Có khi đã phối xong hoàn chỉnh,
nhưng nghe chưa hay, tôi cũng bỏ đi như thường.
´
Trong nghề phối khí, anh cho rằng quan trọng nhất
vẫn là cảm thụ tác phẩm. Còn nếu lạm dụng kỹ thuật?
- Dĩ nhiên, ngoài năng khiếu, sự
chuyên cần và phương tiện cần thiết, điều cơ bản
là phải đặt mình vào trong bài hát, trải hết cảm
xúc vào đó thì mới truyền được hưng phấn cho người
nghe. Còn nếu lạm dụng kỹ thuật, trổ hết các ngón
nghề ra hù doạ người nghe mà tâm hồn mình không
có ở đó thì chỉ tạo ra được thứ âm nhạc "bùa
phép" mà thôi. Mà bùa phép thì nghe là chán
liền. Trong âm nhạc, lừa người ta nhiều lắm cũng
chỉ được nửa năm.
´
Vì sao anh thích phối những bản nhạc xưa hơn là
thời nay và được đánh giá cao ở mảng này?
- Âm nhạc của các nhạc sĩ như Phạm
Duy, Trịnh Công Sơn vốn dĩ đã hay, nhưng khi mình
phối lại còn khám phá nhiều cái hay khác nữa. Mà
trong đó, cảm xúc của người nghe, người viết và
người phối nhạc phải gần như đồng điệu. Trong âm
nhạc, dù là bất cứ giai điệu nào, cảm xúc vẫn là
yếu tố quyết định.
´
Đã bao giờ anh nghe bản nhạc mình phối mà xấu hổ
chưa?
- Tôi là nhạc sĩ chứ không phải
nhà kinh doanh. Thường tự nhủ mình rằng làm sao
để nghe lại bản nhạc mình phối mà không phải xấu
hổ. Cho đến nay, nghe lại những bài cách đây 10
năm, mới thấy rằng có thể kỹ thuật phòng thu hồi
ấy còn kém, nhưng tư duy viết nhạc cũng như cảm
xúc gửi trong đó thì vẫn tươi nguyên như vậy.
´
Thị trường hoà âm phối khí giờ nhân tài như
lá mùa... xuân, cuộc chạy đua trong nghề này có
làm người trong cuộc thấy mệt mỏi?
- Trước đây, cũng có chuyện độc
quyền trong hoà âm phối khí. Có những người muốn
làm "vua một cõi" và tạo êkíp riêng. Nhưng
sau đó thì mọi chuyện thay đổi, người nghe có trình
độ hơn, người làm chương trình cũng tinh mắt hơn.
Không còn ăn khách như xưa thì những người ấy gần
như sụp đổ, tóc bạc rất nhanh, trông rất khổ sở.
Tôi chỉ có cảm giác tội nghiệp cho họ. Còn với tôi,
làm sao để xúc cảm đọng lại trong trái tim người
nghe, chứ không phải chuyện thắng thua, mới là điều
quan trọng nhất.
´
Anh đánh giá cao những ca sĩ nào hiện nay?
- Tôi rất thích đệm đàn cho Mỹ Linh
và Trần Thu Hà. Họ là những ca sĩ giỏi nghề và xử
lý ca khúc tinh tế, đầy tính kỹ thuật, mà không
làm mất đi vẻ tươi mát trong chất giọng. Còn hiện
nay, tôi đang làm một album cho Hồng Nhung. Cũng
là nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng tôi khuyên chị ấy
hát thật mộc, nhẹ nhàng, dung dị, chứ không phá
cách hoặc khiến người ta không nhận ra đó là nhạc
Trịnh.
´
Còn đạo diễn?
-
Tôi quý trọng hai người: Tất My Loan và Phạm Hoàng
Nam. Một người rất kén chọn nhạc, một người thẩm
thấu âm nhạc rất tinh tế. Cộng tác với họ thì tôi
vui và rất yên tâm. MINHTHI@LAODONG
Cà
Mau: Tiếp tục đề nghị kiểm điểm Nguyễn Ngọc Tư
TP
- Mới đây, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tiếp
tục ký báo cáo số 41 đề nghị Đảng- Đoàn nơi nhà
văn Nguyễn Ngọc Tư sinh hoạt giáo dục, kiểm điểm
nghiêm khắc do phát ngôn thiếu trách nhiệm.
Thời gian vừa qua, dư luận nóng lên bởi báo cáo
số 35 ngày 27/3 do ông Trần Văn Hiện, Phó Trưởng
ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau đề nghị Hội VHNT kiểm
điểm phê phán nghiêm khắc nhà văn Nguyễn Ngọc Tư,
tác giả truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” (CĐBT).
Mới đây, ông Nguyễn Hữu Thành, Phó
Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tiếp tục ký báo cáo
số 41 ngày 12/4/2006 về “Đại biểu HĐND và truyện
ngắn CĐBT”.
Báo cáo 41 cho rằng Nguyễn Ngọc
Tư là cán bộ, viên chức nhà nước, sinh hoạt tại
Hội VHNT, đồng thời là đại biểu HĐND tỉnh Cà Mau
nhưng trả lời với báo Doanh nhân Sài Gòn và tạp
chí Bông Sen xuân Bính Tuất: “Ngoài việc ở Hội VHNT
Cà Mau, làm nghị sĩ của tỉnh…
Đó là công việc tệ nhất của em.
Em thấy ngán ngẩm mỗi khi vào kỳ họp…, rốt cuộc
em là “nghị sĩ vật vờ”, “hội đồng ừ”… Ngoài ra,
Nguyễn Ngọc Tư còn viết bài trên báo Tuổi trẻ Xuân
Bính Tuất có đoạn: “Tôi vẫn viết theo cảm xúc hồn
nhiên của mình chứ chẳng ý thức nghĩa vụ, trách
nhiệm gì đâu…”.
Qua việc trả lời trên, Ban Tuyên
giáo Tỉnh ủy Cà Mau thấy Nguyễn Ngọc Tư “với tư
cách là cán bộ, viên chức nhà nước, đại biểu HĐND
mà trả lời như thế là thiếu trách nhiệm, coi thường
cơ quan quyền lực ở địa phương, làm mất uy tín HĐND,
làm giảm sút niềm tin của cử tri đối với đại biểu
HĐND và xem thường nông dân Việt Nam”.
Từ đó, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy có
báo cáo đề nghị Đảng- Đoàn nơi Nguyễn Ngọc Tư sinh
hoạt giáo dục, kiểm điểm nghiêm khắc về việc phát
ngôn thiếu trách nhiệm.
Theo báo cáo 41, khi NXB Trẻ phát
hành tác phẩm CĐBT, có nhiều ý kiến gửi về Tỉnh
ủy, UBND và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau không
đồng tình việc truyện ngắn CĐBT được phổ biến trong
xã hội, vì thiếu tính giáo dục tư tưởng.
Hai luồng ý kiến khác nhau khá phức
tạp, nhưng đa số là phản ứng nội dung không tốt,
tập trung nhiều đối tượng, lứa tuổi phản ứng rất
gay gắt, thậm chí đòi thu hồi cuốn sách vì không
mang tính giáo dục…
Những ý kiến phản ảnh đó tập trung
vào các nội dung sau: Nói xấu chế độ về việc tổ
chức quản lý xã hội ở nông thôn quá tồi tệ, tác
giả phỉ báng quê hương, những nhân vật trong truyện
ngắn CĐBT đưa những hiện tượng cá biệt hoặc chỉ
mang tính hư cấu tưởng tượng làm hiện tượng điển
hình cho một giai cấp, một cộng đồng, một địa phương
là điều không thể chấp nhận được.
Có nghĩa là không mang tính phổ
biến, lại thiếu tính nhân bản. Như vậy, truyện ngắn
CĐBT thiếu tính giáo dục xã hội, giáo dục con người
và thiếu định hướng chân- thiện- mỹ để con người
vươn tới.
Cho nên Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đề
nghị Hội VHNT thường xuyên có định hướng chính trị
cho hội viên (trong đó có Nguyễn Ngọc Tư) được học
tập lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ để
nâng cao ý thức trách nhiệm của người cầm bút cách
mạng.
Đồng thời báo cáo 41 đề nghị Ban
Tư tưởng- Văn hóa Trung ương chỉ đạo các báo tiếp
tục đề cập vấn đề này thì phải đăng cả hai luồng
ý kiến khác nhau (khen, chê) hoặc không đăng các
bài đề cập đến truyện ngắn CĐBT. Nguyễn Tiến Hưng
Thanh
Tịnh: Để lại mùa sau
Thanh
Tịnh và các bạn văn ở Việt Bắc.
Ông tên thật là Trần Văn Ninh, sau đổi là Trần Thanh
Tịnh, sinh ngày 1/12/1911 tại thành phố Huế, từng
được gia đình gửi vào nhà chùa rồi theo học Trường
Đông Ba, Trường Penlơranh (trường dòng), sau đó
làm nghề dạy học, đo đạc ruộng đất, hướng dẫn viên
du lịch, viết báo, làm thơ.Sau
1945 ông tham gia kháng chiến, , làm báo, viết văn
trên chiến khu Việt Bắc, rồi về tiếp quản thủ đô
(1954), tham gia ban biên tập đầu tiên của tạp chí
Văn nghệ quân đội, làm chủ nhiệm (Tổng biên tập)
cho đến lúc nghỉ hưu. Ông là Tổng biên tập một tạp
chí văn chương có uy tín của quân đội trong nhiều
năm mà còn là một nhà thơ tiền chiến tham gia Ban
Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam và Ủy ban toàn quốc
các Hội liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam
trong nhiều năm. Ông mất ngày 17/7/1988 tại Hà Nội.
Tác phẩm của Thanh Tịnh để lại không
thật đồ sộ, nhưng ông được người đời gọi là nhà
văn, nhà báo, nhà giáo, nhà thơ (ông nói chưa đủ,
ông là nhà văn, nhà báo, nhà giáo... nhà nghèo).
Là nhà văn bởi ông có các tập truyện ngắn “Ngậm
ngải tìm trầm” (1943) và trước đó là tập “Quê mẹ”
(1941) với lời tựa của Thạch Lam: “Thanh Tịnh có
lẽ là nhà văn đầu tiên ở miền Trung đã trình bày
các mối dây liên lạc nhẹ như tơ hồng ngày thu, nhưng
không vì thế mà kém phần vương vấn, quyến luyến.
Thanh Tịnh muốn làm người mục đồng ngồi dưới bóng
tre thổi sáo để ca hát những đám mây và làn gió
lướt bay trên đồng, ca hát về vẻ đẹp của đời thôn
quê”.
Là nhà thơ, bởi ngay từ năm 1937, lúc 26 tuổi ông
đã cho in tập thơ “Hận chiến trường” nổi tiếng và
đến năm 1942 được ghi danh trong “Thi nhân Việt
Nam” của Hoài Thanh - Hoài Chân với những thi phẩm
nổi tiếng như “Mòn mỏi”, “Tơ trời và tơ lòng”, “Rồi
một hôm”... Trước đó, năm 1936 ông đã đoạt giải
nhất về thơ do tờ Hà Nội báo tổ chức. Ông còn để
lại cho đời rất nhiều câu ca dao bất hủ như: “Nhà
tan cửa nát cũng ừ/ Quyết tâm thắng Mỹ cực chừ sướng
sau”, “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn
lần dân liệu cũng xong”, “Hà Nội, Huế, Sài Gòn/
Là cây một gốc, là con một nhà”...
Thanh Tịnh là nhà văn, nhà thơ đặc
sắc, bởi truyện ngắn hay nào của ông cũng đậm chất
thơ và bài thơ nào hay của ông cũng có cốt truyện.
Không chỉ là nhà văn, nhà thơ đặc
sắc, Thanh Tịnh còn là nhà báo, viết báo và làm
báo đều giỏi, là “ông vua”, là cha đẻ của thể loại
tấu nói - một loại hình văn nghệ quần chúng được
truyền bá rộng rãi trong suốt những năm chiến tranh
chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Chưa hết, ông còn
là một hướng dẫn viên du lịch tài ba, là người chơi
đồ cổ và giả cổ sành điệu của đất Hà thành nửa cuối
thế kỷ XX.
Và nói đến Thanh Tịnh, người Hà
Nội không thể không nhớ về một thi nhân với dáng
hạc cao gầy, mái tóc trắng phơ độc hành trên những
con phố cổ, dưới chân (đôi giày Côxưghin muôn thuở
của ông) rụng vàng lá sấu, lá me Hà Nội, không thể
không nhớ tới cả trăm ngàn giai thoại quanh ông.
Ấy là những câu chuyện kể của ông và những câu chuyện
kể về ông. Rất ngắn nhưng đầy chất hài hước và thật
nhiều kịch tính.
Trước lúc đi xa, trên giường bệnh,
Thanh Tịnh nói ông rất thích câu thơ “Cổ mạch hàn
phong cộng nhất nhân” và bình rằng câu ấy vận vào
đời ông rất hợp. Tôi hiểu lắm, nhưng cứ nghĩ đời
ông không chỉ toàn có gió lạnh và đường xa mà còn
có cả những trận gió ấm và những chặng đường hoa.
Ấy là những năm tháng ông rong ruổi cùng bộ đội
đi khắp các chiến dịch từ Bắc qua Nam. Ấy là những
ngày ông miệt mài cùng anh em văn nghệ sĩ - chiến
sĩ ở nhà số 4, phố nhà binh làm tờ Văn nghệ quân
đội.
Bây giờ thì tác giả “Quê mẹ” đã
trở về quê mẹ và yên nghỉ vĩnh hằng nơi Huế thơ
mộng với ngàn thông, với sông Hương, núi Ngự thân
yêu. Nhưng văn nghiệp của ông thì mãi còn ở đời,
dẫu rằng đó chỉ là một chữ.
Sinh thời, Thanh Tịnh từng ao ước:
“Ước gì để lại mùa sau/ Một câu một chữ đượm màu
dân gian”. Bên cạnh những “Quê mẹ”, “Tôi đi học”,
“Ngậm ngải tìm trầm”, “Mòn mỏi”, “Rồi một hôm”,
“Nhớ Huế quê tôi”... Thanh Tịnh còn để lại nhiều
di ảnh độc đáo ghi lại những chặng đường chiến đấu,
đọc, đi, viết và hoạt động văn hóa của ông
Ngô
Vĩnh Bình
Nguyễn
Huy Thiệp: Tôi ngố rừng giữa lòng Hà Nội...
Nhà
văn Nguyễn Huy Thiệp
Quan điểm cũ về đối tượng văn học cũ: Nhiều người
trong một người. Con người cần những đại diện của
họ. Còn bây giờ con người phong phú đến mức mỗi
cá nhân không ai có thể thay thế được nó. Hình như
bây giờ không có điển hình, tôi nghĩ thế!
Nếu có độc giả tò mò hỏi Nguyễn Huy Thiệp đang làm
gì thì ông trả lời ra sao?
- Tôi trả lời là tôi đang sống!
Ông,
Nguyễn Việt Hà và hoạ sĩ Lê Thiết Cương chung nhau
mở cái Bản thảo tranh này cũng là đang sống hay
đang cố lưu giữ hình ảnh của chính mình trước công
chúng?
- Qua triễn lãm này mỗi người có
mục đích riêng, bản thân tôi thử xem ảnh hưởng của
tôi với độc giả như thế nào? tôi vẽ chân dung trên
các đĩa gốm, chuẩn bị cho cuộc triễn lãm cuối năm,
kiếm tiền để sống. Trao đổi gặp gỡ với mọi người
có thể nảy sinh ra những vần đề mới để viết.
Hiện tượng Nguyễn Ngọc tư và những dư luận gần
đây về Cánh đồng bất tận ?
- Ở đây là miền quê của không khí
văn chương với nhiều tác phẩm, nhà văn đã thành
tên tuổi...cái khác của Nguyễn Ngọc Tư ở chỗ cô
là Nam Bộ...zin chứ không dởm như nhiều người viết
khác. Đấy là cái rất hay. Nếu phản ứng như thế thì
hơi quá, ấu trĩ quá, đây là thực tế đáng ngại. Nhưng
tôi đang nghĩ nếu người ta cố dựng nên sự kiện này
thì cũng hơi buồn.
Trở
lại với những truyện ngắn của ông, có cảm tưởng
rằng các nhân vật đều mang trong mình sức mạnh nhục
dục tăm tối không thể chế ngự, chúng quẫy đạp, sục
sôi đòi được thoả mãn... đám nhân vật ấy như mộng
du trong thế giới nhục cảm...
- Phật giáo đã nói rồi còn gì nữa,
dục tính là nhân tính! Những trang sách của tôi
như thế à? Tôi viết mà tôi có thấy thế đâu?
Nhưng dục tính khác với dục năng chứ, ông thấy
các nhân vật của ông ngoài ham muốn nhục dục còn
có khát vọng gì khác?
- Tôi là người hay quan sát cuộc
sống.Tôi thấy cuộc sống thế nào thì viết ra như
vậy. Con người tuyệt vời vì như thế, con người phải
sống, phải yêu, phải được sống, không phải tôi đã
viết ra được những điều người ta không dám nói mà
người ta không biết nói, nói cái đấy khó lắm. Còn
các nhân vật của tôi, tất cả đều cựa quậy để sống,
họ sống bằng tất cả những khát khao cá nhân của
họ. Họ toàn là người tử tế!
Nói
như thế rất dễ bị hiểu lầm rằng sex là... tử tế,
ông nghĩ sao?
- Văn học là nhân học, những thứ
thuộc về con người không có gì xa lạ.Văn học thế
giới hay văn học Việt Nam cũng đã đề cập đến vần
đề này rất nhiều tuỳ mỗi thời có cách nhìn khác
nhau. Khi Đỗ Hoàng Diệu viết về sex, đây là đề tài
rất khó, đề tài hiểm địa trong văn học. Những cuốn
đáng kể nhất trong văn học thế giới đều viết về
đề tài này, Nghìn lẻ một đêm, Kim Bình Mai và ngay
cả Truyện Kiều nữa ...Dục tính là nhân tính, đây
là quan điểm của Phật Giáo, nhưng không phải ai
cũng lý giải được thấu đáo. Đề này này chúng ta
đã bị quên lãng đi do hoàn cảnh lịch sử. Trước đây
có Nguyễn Thị Hoài cũng đã viết vài ba truyện thời
kỳ như Năm Ngày, Hành trình của các con số, chín
bỏ làm mười...nhưng vẫn có gì rất xa xôi. Chắc chắn
sẽ có người tiếp tục hành trình trên cơ sở tiếp
thu những kinh nghiệm của người đi trước dù thất
bại hay thành công.Tôi nghĩ Đỗ Hoàng Diệu chưa thành
công, có thể do lần đầu chạm tới đề tài này, có
thể do tài năng, hay độ từng trải chưa cao...
Tại
sao cũng những đặc điềm tương đồng về văn hóa nhưng
dòng văn học trẻ của Trung Quốc đang được chấp nhận,
yếu tố sex tràn ngập trong các trang văn của các
nhà văn trẻ của họ?
- Sex là một đề tài rất khó viết
hay. Mỗi đất nước đều có nền văn hoá, phong tục,
lối sống khác nhau nhưng nếu nhà văn viết hay thì
chắc chắn sẽ được chấp nhận. Vần đề là Đỗ Hoàng
Diệu viết chưa hay nên chưa được chấp nhận.
Nghĩa
là chúng ta trở lại với quan điểm nghệ thuật cổ
xưa: không phải viết về cái gì mà là viết như thế
nào? Chính cái "viết như thế nào" sẽ bộc
lộ bản lĩnh của nhà văn?
- Đương nhiên rồi.
Nếu
tự nhận xét về sự nổi tiếng của chính mình thì ông
nói sao?
- Tôi là nhà văn gặp thời. Bạn
bè vẫn đùa tôi là "cập thời vũ" nghĩa
là mưa đúng lúc.Tôi cũng gặp may.
Nhưng
văn nghiệp của ông đâu có thuận buồm xuôi gió, ông
“nổi tiếng” giữa hai luồng khen chê rất dữ dội?
- Tôi rất khiêm tốn mà nói rằng
cũng phải ghi nhận công lao cho...Nguyễn Huy Thiệp!
Trong văn học Việt Nam kể từ khi có chữ quốc ngữ,
tính từ Tố Tâm, những tác phẩm văn học theo lối
phương Tây, nếu nói những nhà văn có những bước
xoay chuyển, thay đổi cả cách viết thì cũng không
nhiều.Chỉ đôi ba người thôi, ví dụ như trước 1945
có Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nhất Linh, Nguyễn Tuân...sau
đó có Trần Dần, Lê Đạt gây xôn xao dư luận. Đến
thời kỳ Đổi mới với sự xuất hiện của Nguyễn Huy
Thiệp, Phạm Thị Hoài....cũng đã làm thay đổi ngôn
ngữ văn học. Làm được điều đó là điều rất khó, ít
nhất tôi cũng đã làm được.
Một điểm nữa cũng cần tính đến là
có nhiều người viết theo tôi. Tôi có đệ tử, không
đơn độc trên con đường sáng tạo. Nhiều người cảm
ơn tôi như Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Việt Hà...Họ
bảo gặp tôi thì họ viết tự tin hơn, tất nhiên họ
có cách đi riêng, lối đi riêng nhưng chỉ từ Nguyễn
Huy Thiệp viết văn thì người nước ngoài bắt đầu
đọc lại văn học Việt Nam, sách của tôi được dịch
sang tiếng Pháp, tiếng Anh, được xuất bản ở Anh,
Hà lan, Úc, Italia...họ rất kỹ tính, tôi là một
trong những nhà văn có nhiều sách nhất được in ra
nước ngoài và hoàn toàn không phải do ai lăng xê.
Hiện
nay, ông thấy nhà văn nào có thể bắt gặp được hơi
hướng cuộc sống và làm nên hiên tượng trong văn
học?
- Phật giáo có câu: Có thời có
tự mảy may/ Không thì cả thế gian này cũng không.
Dù có tài năng nhưng không gặp thời thì cũng vứt.
Sẽ có những nhà văn của thời này, thế hệ nhà văn
mới này sẽ kế tục những thế hệ nhà văn lớp trước
chứ không phủ nhận đâu. Nhưng họ sẽ có những vần
đề khác, cuộc sống khác. Chẳng có thời nào thuận
lợi cho nhà văn cả, công việc viết văn chẳng dễ
dàng.Tôi cũng có theo dõi các nhà văn trẻ Việt Nam
hiện nay. Tôi thấy độ thành thực của các nhà văn
cao hơn.
Thành
thực hay tả thực?
- Thành thực, chân thành...Họ miêu tả nội tâm thành
thực hơn, dám đề cập đến chuyện nọ chuyện kia, những
bức xúc về vấn đề hiện tại của cuộc sống...họ không
chấp nhận sự giả dối. Nhưng để làm được điều gì
hay hơn trước đây thì họ cũng chưa làm được.Thành
thực thôi chưa đủ, độc giả bây giờ đòi hỏi cao lắm,
làm nhà văn bây giờ khó lắm.
Đã
lâu không thấy dư luận đề cập tới văn của ông, có
vẻ như ông chỉ là chớp loé của tài năng rồi vụt
tắt, ông có thế lý giải tại sao những tài năng của
chúng ta không bền?
- Người ta không theo dõi tôi nên
nói như thế, tôi vẫn luôn làm mới văn chương của
mình đấy chứ. Do cơ chế xuất bản của ta không kịp
thời, thường thì những tác phẩm của tôi không được
xuất bản ngay, văn học cũng như món ăn, phải nóng
hôi hổi và thơm phức lên, phải chén ngay. Người
ta làm nguội đi, nên người ta tưởng tôi nhạt đi.
Cũng chẳng sao vì tên tuổi của tôi đã vượt ra biên
giới rồi. Còn những nhà văn trẻ bắt đầu tập tọng
thì rất đau khổ vì họ viết ra họ muốn in ngay thế
mà hai ba năm sau chưa chắc đã đến lượt, cho nên
mới có hiện tượng thui chột tài năng, bởi họ phải
kiếm sống chứ?
Tuổi hai mươi yêu dấu, Tiểu Long
Nữ...của tôi chẳng hạn, phải in ngay mới có tác
dụng xã hội chứ? Nhưng in sau thời điểm cần in thì
khiến nhà văn nhụt chí.
Xưa
nay những tác phẩm nghệ thuật đích thực thì không
sợ thời gian, thậm chí có những tác phẩm phải mất
hàng thế kỷ mới tìm được độc giả, ông nghĩ sao về
hiện tượng đó?
- Đúng, nhưng tất cả những tác
phẩm đều có giá trị thời gian nào đấy, ý nghĩa xã
hội riêng của nó, tính kịp thời rất quan trọng.
Đồ nhôm nhựa qua thời gian thì cũng qua đi nhưng
cũng có giá trị riêng của nó, không nhất thiết lúc
nào người ta cũng dùng đồ Lim, Táu...thế nhưng nếu
không được cập nhật thì cũng chẳng còn giá trị.
Người ta đã từng chờ đợi tiểu thuyết đầu tay
của ông sau những thành công trong truyện ngắn ,
nhưng nhiều người đã thất vọng?
- Đấy cũng là thói quen xấu của
độc giả, họ không thay đổi kịp với những cái mới.
Chúng ta phải mới, luôn luôn mới chứ sống với cái
cũ mãi thì chán lắm! Cuộc sống phải thay đổi, mỗi
ngày một điều mới, chỉ loanh quanh với những cái
cũ thì thật buồn.
Nhưng
cũng chính những độc giả ấy đã đánh cao nhiều truyện
ngắn của ông trước đây...
- Không phải chỉ có viết văn mới
có giá trị, nếu không viết văn tôi có thể làm được
nhiều việc khác...
Vậy
các nhân vật của ông đã “sang sông” được chưa?
- Nếu ai theo dõi quá trình viết
văn của tôi thì đều thấy rằng trước truyện Sang
sông tôi viết truyện mang tính bản năng: Tướng về
hưu, Không có vua, Giọt máu, Những ngọn gió Hua
Tát...độ hồn nhiên rất cao. Khi tôi vừa ở miền núi
trở về, rất trong trắng trong tình yêu dành cho
văn học.Tôi ngố rừng trong lòng Hà Nội. Giống như
cô gái yêu lần đầu rất thanh khiết, trong sáng,
mơ mộng...thế nhưng người ta đã phản ứng với tình
yêu cuả tôi hơi quá, tôi hơi choáng...tôi bắt đầu
tìm hiểu tôn giáo, dựng tượng Phật.Bắt đầu từ truyện
Sang sông trở đi, văn của tôi có gì đấy có ảnh hưởng
Phật giáo, nó ngấm ngầm trong từng trang văn, nhiều
truyện rất khó viết : như Ông Móng bà Móng, Sống
dễ lắm, Thổ Cẩm...
Ông
có một truyện ngắn rất tuyệt, Thương nhớ đồng quê
khiến người ta kinh ngạc về sự trong nhẹ, hơi thở
ấm nóng của đời sống và cảm nhận tình yêu đến mức
hài hoà...cá nhân ông thấy hài lòng với tác phẩm
nào nhất, cảm thấy đó mới thực sự là Nguyễn Huy
Thiệp?
- Tôi cũng là nhà văn xã hội thôi,
truyện nào gây được dư luận xã hội lớn thì tôi thích,
có thể ở Tướng về hưu tính nghệ thuật không bằng
các tác phẩm khác thế nhưng tôi thích. Giống như
hoạ sĩ, chỉ thấy nét cọ người am hiểu đã biết anh
là cao thủ, có những truyện của tôi chỉ trong giới
văn chương thích, độc giả không thích.
Nhưng
văn ông không có nhân vật điển hình? Nhắc đến Nam
Cao có Chí Phèo, Vũ Trọng Phụng với Xuân tóc đỏ,
Ngô Tất Tố với chị Dậu, còn nhắc đến Nguyễn Huy
Thiệp?
- Đấy là quan điểm cũ về đối tượng
văn học cũ! Nhiều người trong một người. Con người
cần những đại diện của họ. Còn bây giờ con người
phong phú đến mức mỗi cá nhân không ai có thể thay
thế được nó. Hình như bây giờ không có điển hình,
tôi nghĩ thế! Tôi là một người không ai thay thế
được! Điển hình có cái hay nhưng có cái không thực
của nó!
Ông thử lý giải tại sao kịch của
ông không được chú ý như truyện ngắn? không được
độc giả trong nước chú ý?
- Lối viết của tôi không phù hợp
với sân khấu trong nước, có thể tôi đi nhanh quá
chăng?
Ông đã từng viết : Cả tin là sức mạnh để sống..
và một câu khá chua xót: sao tôi cứ như lạc loài?
Nhà văn phải là người thấu thị hay là kẻ cả tin?
- Không cả tin thì rất khó sống,
nhất là tuổi trẻ!
Trong văn của ông, hình tượng phụ nữ được nhắc
đến nhiều, những “ thiên chức nữ”, “tính nữ”...thế
còn trong cuộc sống thực?
- Những điều đó với tôi rất quan
trọng, vợ người thì đẹp vợ mình thì tử tế...Tôi
cũng có nhiều người mê chứ đâu chỉ riêng cô gái
Nhật như người ta đồn thổi? Chuyện tình cảm của
đàn ông đàn bà là chuyện bí mật của mỗi cá nhân,
của tất cả mọi người, của cả vũ trụ, cuộc sống thú
vị vì những điều như thế...
Tô
Mai Trang
Công
bố giải Pulitzer
Hai
tờ báo vừa cùng nhau nhận giải báo chí Pulitzer
về phục vụ công vì đã phản ánh chi tiết và can đảm
về cơn bão Katrina tàn phá khu vực duyên hải miền
đông nam nước Mỹ vào tháng 8-2005.Đó là tờ Times-Picayune
của thành phố New Orleans, bang Louisiana, và tờ
Sun Herald của thành phố Gulfport, bang Mississipi.Tờ
Times-Picayune cũng giành giải thưởng Pulitzer về
tin nóng phản ảnh về sự kiện bão Katrina.Hai tờ
báo này cũng bị thiệt hại do cơn bão Katrina gây
ra. Các tòa nhà văn phòng của họ bị hư hỏng, nhiều
nhân viên quảng cáo và đưa báo của họ phải sơ tán,
tổng số phát hành báo giảm.
Tuy nhiên từ Sun Herald đã không bỏ bất cứ số xuất
bản nào trong suốt thời gian bão Katrina hoành hành
trong khu vực.
Báo Times-Picayune đã sơ tán khoảng 240 nhân viên
bằng xe đưa báo khi đê vỡ, nước tràn vào trung tâm
thành phố News Orleans, nơi tờ báo này đặt trụ sở.
Các nhà báo Susan Schmidt, James V. Grimaldi và
R. Jeffrey Smith của tờ Bưu điện Washington được
nhận giải Pulitzer về thể loại điều tra , qua những
bài báo phanh phui vụ tham nhũng, đưa hối lộ của
nhà vận động hành lang Jack Abramoff thuộc đảng
Cộng hòa.
Các phóng viên của báo Bưu điện Washington cũng
nhận giải Pulizer về bài phân tích và giải về bài
tường thuật chuyên đề.
Giải thưởng về thể loại tin trong nước được trao
cho James Risen và Eric Lichtblan của Thời báo New
York cùng các nhân viên của tờ San Diego Union-Tribune
và Copley News Service.
James Kahn và Jim Yardley của Thời báo New York
nhận giải thưởng về tin quốc tế.
Giải Pulitzer về thể loại bình luận được trao cho
nhà báo Nicholas D. Kristof của Thời báo New York
.
Jim Sheeler của tờ Rocky Mountain News được nhận
giải nhất cho thể loại phóng sự
Nhà văn Geraldine Brooks được trao giải thưởng Pulitzer
dành cho tiểu thuyết hay nhất với tiểu thuyết March.
Chủ nhân mỗi giải thưởng Pulitzer được trao thưởng
10 nghìn USD, riêng giải phục vụ công chúng được
trao một huy chương vàng.Giải Pulitzer hàng năm
gồm 19 giải thưởng cho các thể loại báo chí và hai
giải thưởng đặc biệt, được công bố tại Đại học Columbia
ở New York theo kết quả bình chọn của ban giám khảo
gồm 18 thành viên.
Ông Joseph Pulitzer, chủ bút báo
World sáng lập giải Pulitzer vào năm 1904. Khi đó
ông có đề ra 13 giải: 4 cho báo chí, 4 cho văn học,
4 cho sân khấu và 1 cho giáo dục. Nhạy cảm với sự
thay đổi, Pulitzer có lập ra một hội đồng tư vấn
có quyền thay đổi nội dung giải thưởng. Hiện nay,
giải Pulitzer có tới 21 nội dung: một số thể loại
phóng sự, biên tập, biếm họa, nhiếp ảnh, tiểu thuyết,
tiểu sử, sân khấu, thơ và âm nhạc.
Giải thưởng Pulizer đầu tiên được
trao vào năm 1917.
Trương
Nghệ Mưu sẽ đạo diễn lễ khai mạc và bế mạc Olympic
Bắc Kinh 2008
Đạo
diễn Trương Nghệ Mưu và Chương Tử Di
Nhà làm phim nổi tiếng của Trung Quốc,Trương Nghệ
Mưu, được ban tổ chức chọn làm đạo diễn cho lễ khai
mạc và bế mạc Olympic Bắc Kinh 2008.
Đạo diễn Trương Nghệ Mưu sẽ tham
gia với nhóm các nhà cố vấn lừng danh thế giới,
trong đó có nhà làm phim người Mỹ, Steven Speilberg;
Yves Pepin, người đứng đầu nhóm kinh doanh giải
trí nổi tiếng của Pháp là ECA2; và Ric Birch, nhà
đạo diễn của lễ khai mạc Olympic Sydney 2000.
Trong thông báo chỉ định nhóm đạo
diễn cho các buổi lễ này, ông Lưu Kỳ, trưởng ban
tổ chức Olympic Bắc Kinh, nói rằng lễ khai mạc sẽ
là ấn tượng đầu tiên về Olympic đối với hàng tỉ
khán giả truyền hình trên khắp thế giới, do đó ông
ước muốn Olympic Bắc Kinh 2008 sẽ được khởi sự bằng
một lễ khai mạc thật sự ấn tượng.
Mặc dù đạo diễn Trương Nghệ Mưu
sẽ phải phối hợp với nhiều nghệ nhân Trung Quốc
khác, song quyết định mời các chuyên gia nước ngoài
làm cố vấn như vừa nêu là một việc làm hiếm hoi
đối với Bắc Kinh, vốn chỉ thích dựa vào những tài
năng trong nước mà thôi.
Tôn
chỉ và đường hướng của báo nguyệt san Tự Do Ngôn
Luận
Trang
nhất của báo bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận.
Bấm vào đây để nghe bài này 
Việt Nam hiện có mấy trăm đầu báo. Thế nhưng có
nhận định cho rằng vẫn chưa có tự do ngôn luận báo
chí, bởi lẽ tất cả đều do nhà nước kiểm soát.Vào
cuối năm ngoái các nhà đấu tranh cho dân chủ trong
nước thực hiện mạng Phong trào đấu tranh dân chủ
Việt Nam, và mới tuần này, trên mạng Internet xuất
hiện báo nguyệt san Tự do Ngôn Luận. Phiên bản trên
mạng của tuần báo nguyệt san cho biết ấn phẩm số
1 ra mắt ngày 15-4-2006. Gia Minh trình bày thông
tin liên quan.
Cũng như tất cả các tờ báo khác
khi ra đời đều phải có đường hướng hoạt động. Tiêu
đề của báo nguyệt san Tự Do Ngôn Luận xuất hiện
trên mạng Internet nói rõ: đó là tiếng nói của người
dân Việt Nam đòi quyền tự do ngôn luận. Linh mục
Chân Tín, người được giới thiệu là Tổng biên tập
và cũng là Chủ nhiệm của tờ báo, tóm lược lại tôn
chỉ của báo nguyệt san này.
“Dựa vào quyền nhân quyền của Liên
Hiệp Quốc mà nhà nước CS đã ký kết, và cũng đã cho
vào Hiến pháp, nhưng mà từ xưa đến nay thì chưa
bao giờ thực hiện được điều đó. Chúng tôi muốn thực
hiện điều này một cách chính thức để nói rằng người
dân Việt Nam có quyền ra báo tự do, tự do báo chí.
Ðó là điều mà chúng tôi muốn cho cả thế giới và
đồng hương biết để mà tiến lên trong việc gọi là
tự do báo chí này.”
Ấn bản xuất hiện trên mạng gồm 27
trang. Trong trang đầu tiên ghi lại điều 19 Công
ước Quốc Tế về các quyền dân sự và chính trị được
Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, và Việt Nam
xin tham gia vào năm 1982.
Cũng trên trang nhất, bài viết với tựa đề “Ðôi lời
cùng bạn đọc” ký tên và biên tập Linh mục Chân Tín.
Bài viết nêu rõ hoài bão của tờ báo là phá vỡ nguồn
máy độc tài và khai thông mọi hợp tác, nỗ lực cùng
chung mục tiêu và đường lối.
Mạc
Ngôn: ‘Cá tính làm nên số phận’
“Các
tiểu thuyết trước của tôi hoặc là tập trung viết
về sức sống của bản năng, của nhân tính, như ‘Cao
lương đỏ’, hoặc là tập trung viết về tâm lý hiếu
kỳ và tâm lý biểu diễn của người Trung Quốc như
‘Đàn hương hình’. Nhưng bộ tiểu thuyết này chú ý
hơn cả đến việc miêu tả và phân tích những cá tính
có giá trị”, nhà văn Mạc Ngôn tâm sự về cuốn tiểu
thuyết mới “Sinh tử vần xoay”.
-
Tiếp tục đề tài nông thôn, tiểu thuyết “Sinh tử
vần xoay” đã thể hiện những vấn đề đang tồn tại
ở không gian đặc thù này như thế nào?
- Những vấn đề ở nông thôn rất nhiều. Nhìn theo
chiều dọc, nông thôn đã có những bước tiến lớn cả
về vật chất và tinh thần, nhưng xét theo bề ngang,
cuộc sống của nông dân vẫn khổ. Ở nông thôn, diện
tích đất trồng ngày càng thu hẹp, lực lượng lao
động bị thừa ra không có chỗ mưu sinh, người nông
dân phải làm những việc vất vả nhất, khổ sở nhất,
bẩn thỉu nhất. Thế mà những gì thu được thật là
ít ỏi.
Nhưng khi tôi viết tiểu thuyết, đầu tiên là xuất
phát từ số phận, từ tính cách con người, trên cái
nền là bối cảnh xã hội đương thời. Bởi vì cá tính
làm nên số phận, chứ hoàn cảnh xã hội không phải
là nguyên nhân chủ yếu. Đặc biệt là ở thời đại mà
cá tính bị soi xét từ mọi phía, một người có cá
tính sẽ phải chịu búa rìu của cả xã hội.
-
Chủ đề của cuốn tiểu thuyết này phải chăng chính
là thảo luận và nghiên cứu vấn đề cá tính của nhân
vật tiểu thuyết?
-
Trong tiểu thuyết, tôi chủ yếu viết về một số kiểu
“cá tính có giá trị”. Cá tính có giá trị có thể
không được hiểu trong trào lưu nào đó của xã hội,
nhưng chắc chắn sẽ có ngày cá tính ấy được khẳng
định. Ví dụ có một nhân vật cứ kiên trì làm ăn cá
thế trong thời kỳ công xã nhân dân, thà chết chứ
không chịu đổi ý, về sau bị mọi người xa lánh, cô
lập. Đến những năm 80 của thế kỷ trước, người ta
mới vỡ lẽ, anh ta đã dùng một triết lý nhân sinh
hết sức đơn giản để chiến thắng cả một xã hội.
- Tiêu đề của tác phẩm mới được ông lấy từ kinh
Phật, ý tưởng này xuất phát từ đâu?
- Một lần trong khi đi thăm Thừa Đức, tôi đọc được
những chữ liên quan đến “lục đạo luân hồi”. Tôi
thốt nhiên ý thức rằng, đây sẽ là điểm đột phá rất
lý tưởng. Linh cảm lóe lên và một chuỗi ký ức trong
tôi trở lại.
Trong dân gian Trung Quốc, quan điểm luân hồi của
Phật giáo có sức mạnh chế ước đạo đức ghê gớm. Kẻ
phạm tội, không phải bị pháp luật trừng trị mà khi
chết sẽ bị đày xuống địa ngục, kiếp sau phải làm
thân trâu, thân ngựa. Đây cũng là Phật giáo được
Trung Quốc hóa triệt để. Từ gợi ý này, tôi bắt tay
vào xây dựng đề cương tiểu thuyết. Nhân vật chính
của tiểu thuyết tập trung lý giải mối quan hệ giữa
người nông dân với đất đai, trong khi đó, một nhân
vật chính nữa, tức người dẫn chuyện, lại nằm trong
“lục đạo luân hồi”1: Một đời làm người, một đời
làm ngựa, một đời làm trâu, một đời làm lợn, một
đời làm lừa… kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe
từ những góc nhìn khác nhau.
- Câu chuyện này xem ra có vẻ siêu thực quá. Những
tác phẩm trước đây của ông, phần lớn rất đẫm máu,
tàn khốc. Tiểu thuyết này thì sao?
- Những miêu tả đẫm máu trong Sinh tử vần xoay được
giảm đi rất nhiều. Sự thay đổi này không nhằm mục
đích chiều lòng độc giả hay là cố gắng định hình
một phong cách mới mà là do đề tài quyết định. Cao
lương đỏ là thời kỳ kháng chiến, Đàn hương hình
là triều Thanh, phản ánh thời kỳ chiến loạn và phong
kiến nên không thể tránh được việc miêu tả những
cảnh đẫm máu. Trong bộ tiểu thuyết về lịch sử thổ
địa Trung Quốc mới này, mặc dù cũng có máu, có nước
mắt đau đớn nhưng xét cho cùng cũng không đến nỗi
đẫm máu.
- Các tác phẩm của ông phần lớn đều viết về đề tài
nông thôn. Trong khi từ lâu ông đã không ở quê nữa.
Vậy làm thế nào để ông thu thập tài liệu sáng tác,
nhất là tài liệu về nông thôn những năm gần đây?
- Viết bộ tiểu thuyết này, những tích lũy trong
nửa đời đã qua của tôi được tận dụng triệt để. Nông
thôn ngày nay không còn hoang vắng, quạnh quẽ, bế
tắc như trước nữa, người thân của tôi phần lớn đều
là dân quê, tôi cũng luôn có sự liên hệ, gắn bó
với nông thôn. Con lợn nái nhà nào đẻ 15 con, nhà
nào đẻ 16 con… chỉ nửa giờ sau là tôi biết tin ngay.
Mặc dù thân xác tôi không ở quê nhưng tinh thần
tôi từng giờ từng khắc vẫn sống với quê hương. Về
những việc xảy ra ở làng, về cách nghĩ của người
nông thôn, tôi đều rất tỏ…
1Lục
đạo luân hồi: Trời, người, a tu la, địa ngục, ngã
quỷ, súc sinh: sáu loại này sống chết luân chuyển
lẫn nhau. Nhuệ Anh
Nhà
văn Dương Thu Hương đến Mỹ dự đại hội văn chương
ở New York
NEW
YORK 11-04 (TH) - Nhà văn nữ Dương Thu Hương, tác
giả của nhiều tiểu thuyết nổi tiếng (như Những Thiên
Ðường Mù, Tiểu Thuyết Vô Ðề...) sẽ đến Mỹ để tham
dự một đại hội văn chương do Văn Bút Hoa Kỳ tổ chức.Theo
một nguồn tin phổ biến trên Internet, bà Dương Thu
Hương hiện đang có mặt ở Pháp và xin triển hạn visa
để sang Mỹ tham dự và phát biểu tại một đại hội
văn chương có tên là “Pen World Voices - Literary
Festival”.
Ðại hội này tổ chức ở thành phố
New York từ ngày 25 đến ngày 30 Tháng Tư năm 2006
với sự tham dự của nhiều nhà văn nổi tiếng trên
thế giới như Toni Morrison (tác giả Mỹ, giải Nobel
Văn Chương), Salman Rushdie, Nadine Gordimer, E.L.
Doctorow, Zadie Smith, Chinua Achebe, Gioconda Belli...
Nhiều tiểu thuyết của bà Dương Thu
Hương đã được dịch ra một số ngoại ngữ. Bà tự nhận
là “con sói cô độc” còn nổi tiếng với nhiều bài
tiểu luận đả kích chế độ Cộng Sản Việt Nam với những
lời lẽ cay độc nặng nề.
Bà Dương Thu Hương, 59 tuổi, trở
nên nổi tiếng khi xuất bản quyển truyện đầu tiên
“Bên kia bờ ảo vọng” năm 1987 rồi kế đến là “Những
thiên đường mù” (1988). Tác phẩm Bên Kia Bờ Ảo Vọng
ấn hành 100,000 bản và cuốn Những Thiên Ðường Mù
phát hành được 40,000 số ở trong nước thì bị tịch
thu. Những tiểu thuyết sau đó của bà phải in và
phát hành ở ngoại quốc.
Bà đã có lần bị bắt bỏ tù một thời
gian ngắn mà không có xét xử hồi năm 1991 vì đả
kích chế độ. Trước đó, bà bị đuổi ra khỏi đảng Cộng
Sản Việt Nam năm 1989. Khi bà bị bắt, nhiều tổ chức
quốc tế đã lên tiếng đả kích chế độ Hà Nội là muốn
bịt miệng những người đối kháng.
Bà
từng được đề nghị sang Pháp định cư nhưng từ chối.Cũng
như nhiều nhân vật chống đối chế độ, đòi tự do dân
chủ khác ở Việt nam, bà không được phép có Internet
và sử dụng email.
Tuyển tập tiểu luận liên quan
đến Nhà văn Trần Mạnh Hảo
Những
bài, tài liệu, của ( hoặc liên quan ) đến
Nhà văn Dương
Thu Hương
(Những
bản tin trên chúng tôi trích dịch từ BBC, Tân Hoa
Xã, VOA, Reuters, Fox, Vietnamnet, Thanh Niên, Tuổi
Trẻ...
Xin cám ơn các nguồn trên đã giúp chúng tôi chuyển
gửi tin tức đến độc giả HNPĐ
)

|