Liên hệ

 
 

 

Âm Thanh

Nghe Nhạc

Tiếng thơ
Đọc Truyện
 

Tác giả Biệt ly và "chuyện giờ mới kể"...

Nguyễn Văn Tý với Dư âm

 
 

Những ca nhạc sĩ trước 75 sau 30 năm bây giờ ở đâu, ra sao ?:

Bài Số I

Bài Số II

Bài Số III

Bài Số IV

Bài Số V

Bài Số VI

Bài Số VII

Bài Số VIII

Tưởng nhớ nữ nghệ sĩ tài danh Thanh Nga

Tiếng hát nữ danh ca Thái Thanh

Hồ Dzếnh và Nỗi Sầu Vạn Cổ.

Thư Gửi Con Cháu.

Nhạc phẩm Du Xuân.

Mùa Xuân Đầu Tiên.

Nếu Anh Còn Trẻ.

Nhạc phẩm Bóng Người Đi.

Nhạc phẩm : Mấy Dặm Sơn Khê.

Phùng Cung Truyện và Thơ

Văn Cao - Tiếng Đàn Chơi Vơi.

 


Xem trang hội hoạ, nhiếp ảnh của Mù Sương ( Toronto, Canada)

 

 

Củng Lợi giành ngôi đệ nhất mỹ nhân Trung Quốc

Diễn viên Củng Lợi.
Sau 20 năm làm nữ hoàng điện ảnh, nàng Thu Cúc chứng tỏ, cô chưa chịu trao “vương miện” cho đàn em Chương Tử Di, khi được bầu là người phụ nữ đẹp nhất nước này. Xếp thứ hai là Li Yuchun, ca sĩ nổi tiếng nghịch ngợm như con trai chứ không mang vẻ liễu yếu đào tơ.Li Yuchun là người giành chiến thắng trong cuộc thi âm nhạc Super Girl 2005. Châu Tấn - người đẹp nổi danh trong 2 lĩnh vực điện ảnh và ca nhạc - đứng thứ ba trong danh sách.

Điều bất ngờ nhất của cuộc bình chọn này là Chương Tử Di chỉ xếp thứ tư. Cô là nữ diễn viên đã chinh phục khán giả trong các phim Anh hùng, Thập diện mai phục, Hồi ức một Geisha và đang xây dựng danh tiếng tại thị trường Mỹ.

Khoảng 50 minh tinh của cả 2 giới đã được xếp hạng sau cuộc bình chọn dành cho công chúng. Củng Lợi được tôn vinh nhờ vẻ đẹp phương Đông kết hợp với phong cách hiện đại phương Tây. Việc Li Yuchun, người có vẻ đẹp khỏe mạnh và “bụi” như một chàng trai nhận số phiếu bầu chỉ ít hơn Củng Lợi chứng tỏ, vẻ đẹp truyền thống không còn thống trị tư tưởng thẩm mỹ của người Trung Quốc

Bộ phim ”Mật mã Da Vinci” đã thu được 224 triệu USD trên toàn thế giới

Từ khi được công chiếu, bộ phim “Mật mã Da Vinci" tuy gặp nhiều chỉ trích trong giới phê bình đã thu đuợc 224 triệu USD trên khắp thế giới, chiếm kỷ lục thứ hai sau “Chíến tranh giữa các vì sao tập 3 – Sự trả thù của người Sith” (253 triệu USD). Sau khi mở màn Liên hoan phim Cannes ngày 17/5 vừa qua, “Mật mã Da Vinci” với ngân sách 125 triệu USD đã được trình chiếu tại khoảng 90 nước. Tại Bắc Mỹ, bộ phim dựa theo tiểu thuyết của Dan Brown này đã thu được 77 triệu USD chỉ trong 3 ngày cuối tuần, dẫn đầu các bộ phim đạt doanh thu cao nhất trong năm, trước Kỷ băng hà 2: Thời băng tan (Ice Age: The Meltdown) đã thu được 68 triệu USD trong 3 ngày công chiếu đầu tiên.

Tại Italia, bộ phim này cũng đã đạt doanh thu kỷ lục là 2 triệu euro, vượt qua bộ phim “Cuộc đời tươi đẹp” của Roberto Benigni với doanh thu gần 1 triệu euro khi mới ra mắt khán giả vào năm 1997.

Phỏng vấn bà Mai Trâm, tài tử chính trong phim ‘Chúng tôi muốn sống’

Một cảnh trích trong phim Chúng Tôi Muốn Sống.
Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này
Cuối chương trình là tạp chí Văn Học Nghệ Thụât do nhà văn Hoàng Khởi Phong thực hiện, kỳ này nói về cuốn phim ‘Chúng tôi muốn sống’ và phỏng vấn bà Mai Trâm, phu nhân của đạo diễn Vĩnh Noãn và cũng là tài tử chính trong phim.
Mùa hè năm 1956, là một học sinh miền Bắc di cư vào Nam, tôi háo hức theo cha tôi bước vào rạp xi nê Vĩnh Lợi, để xem phim "Chúng Tôi Muốn Sống", một cuốn phim do đạo diễn Vĩnh Noãn thực hiện với bối cảnh là cuộc chiến giữa Việt Minh và người Pháp, tại Bắc phần vào năm 1952, mà trong đó hình ảnh của tòa án nhân dân trong chiến dịch "cải cách ruộng đất", của CSVN với phương châm "trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ" là những đoạn phim ám ảnh đa số khán gia miền Nam, nhất là những người Bắc di cư đã từng nếm qua các cảnh man rợ của những cuộc đấu tố địa chủ, cường hào, ác bá trong vùng châu thổ sông Hồng.

Gần năm chục năm sau, năm 2004 cuốn phim Chúng Tôi Muốn Sống từ dạng phim 35 ly đã được đạo diễn Vĩnh Noãn chuyển thành hàng ngàn ấn bản DVD, được phát hành rộng rãi cùng một lúc với cuốn sách, trong cộng đồng VN hải ngoại. Chỉ vài tháng sau khi hoàn tất cuốn sách cùng ấn bản DVD của cuốn phim này, đạo diễn Vĩnh Noãn đã qua đời ở Quận Cam hưởng thọ 76 tuổi.

Để đóng góp vào loạt bài có chủ đề "Cải Cách Ruộng Đất" do đài RFA thực hiện, và được sự đồng ý của nữ tài tử Mai Trâm, vai nữ chính trong cuốn phim này, dưới đây là nguyên văn cuộc mạn đàm với tài tử Mai Trâm về cuốn phim này:

Năm 2006, tôi coi lại ấn bản DVD của phim Chúng Tôi Muốn Sống tại nhà riêng ở Quận Cam. Giờ đây tôi không còn là một cậu học sinh di cư của miền Nam, mà là một người dân tị nạn sinh sống ở Hoa Kỳ. Trước khi mở máy coi lại phim Chúng Tôi Vẫn Sống, những ấn tượng của lần coi phim này lần đầu tại rạp Đại Nam nửa thế kỷ trước vẫn còn vương vấn ở trong đầu.

Tôi nhớ lại năm chục năm trước, cuốn phim đã tác động rất mạnh đến cha tôi. Ông không ngớt lời ca tụng cuốn phim với những người quen biết, ông hệt như là người quảng cáo không công cho cuốn phim này, vì gia đình tôi nếu không may mắn kẹt lại ngoài Bắc, thì có thể cha tôi cũng sẽ chịu chung cảnh đấu tố như địa chủ Long trước tòa án nhân dân trong phim.

Anh tôi thì có thể không được đối xử như Đại Đội Trưởng Vinh trong phim, vì nhân vật Vinh tuy là người có khuynh hướng quốc gia, nhưng chiến đấu chống Pháp trong hàng ngũ Việt Minh, trong khi đó ở ngoài đời anh tôi bị động viên, và trở thành một sĩ quan của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, một quân đội vừa mới được thành hình trong vài năm, và bị Cộng Sản liệt vào tội phản quốc, tay sai thực dân Pháp .

Trong bối cảnh lịch sử của những năm đầu đất nước bị qua phân, nhìn chung phim Chúng Tôi Muốn Sống không phải là một cuốn phim được thực hiện vì nhu cầu nghệ thuật, mà có thể cuốn phim này được thực hiện vì nhu cầu chính trị của miền Nam.

Chính vì vậy mà thành phần diễn viên chính gồm Lê Quỳnh, Mai Trâm và Thu Trang là những người chưa bao giờ diễn xuất dưới ống kính điện ảnh. Ngay cả đạo diễn Vĩnh Noãn, linh hồn của cuốn phim này tuy có được đào tạo để hoạt động trong ngành điện ảnh, song ông là một kỹ sư, một chuyên viên về âm thanh chứ không phải là đạo diễn trước đó có tay nghề.

Nửa thế kỷ trước, Chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất do người Cộng Sản thực hiện ở miền Bắc Việt Nam là một tội ác, bởi vì nói cho cùng ở Trung Hoa có thể có một giai cấp được gọi là địa chủ liên kết với nhau trên một địa bàn rộng, song ở Việt Nam những người có một chút đất đai ở mỗi làng là những cá nhân đơn lẻ của từng địa phuong, những người có một chút đất này chưa bao giờ cấu kết với nhau thành một giai cấp.

Do đó phim Chúng Tôi Muốn Sống nên được coi là một thông điệp chính trị, hơn là một sản phẩm nghệ thuật. Nếu nghĩ như vậy thì Chúng Tôi Muốn Sống quả đã thực hiện tốt được mục đích của nó: Nói lên những gì đã xẩy ra ở châu thổ sông Hồng nửa thế trước.

Xin thành thực cám ơn thính giả và xin hẹn gặp thính giả trong kỳ phát thanh tới.(Hoàng Khởi Phong)

Tính dục trong văn học hôm nay

Nỗi cô đơn - một trong những tên ma cô của sex - thường nằm khểnh trong tâm hồn người ta như một ông “khách ở quê ra” khệnh khạng rất khó chịu.1. Chiều mưa phố Huế một mình.Nỗi cô đơn - một trong những tên ma cô của sex - thường nằm khểnh trong tâm hồn người ta như một ông “khách ở quê ra” khệnh khạng rất khó chịu. Sinh thời, Đồng Đức Bốn hay đến nhà tôi trong những lúc “chán đời” để đọc cho tôi nghe những câu thơ buồn của anh. “Chiều mưa trên phố Huế” là một bài thơ như thế.

“Chiều trên phố Huế ra đi
Mưa mùa đông cứ rù rì bên tôi”

Đấy là một buổi chiều mùa đông xám nhạt giống như cách miêu tả của Nguyên Hồng “xám như nỗi buồn, như màu xi-măng, xám buốt ruột”. Cái tiếng rù rì của những âm thanh phố chợ, của tiếng mưa mà Đồng Đức Bốn nghễnh ngãng nghe thấy thực ra chỉ là tiếng lòng của hắn đang bồn chồn sôi réo:

“Cây thì vẫn đứng thế thôi
Hàng thì bán đứng bán ngồi chen nhau”

Cảnh tượng phố phường đập vào mắt hắn, lướt trong đầu hắn như những thước phim quay chậm. Hắn quan sát bâng quơ lấy lệ. Trong cái đầu nóng bỏng và u u mê mê không thật tỉnh táo, trí não hắn chỉ lọc ra được một hai tình huống tượng trưng ước lệ:

“Người thì áo rách đã lâu
Người thì xe cúp đua nhau từng hàng”

Nhìn thấy mặt đường ướt lép nhép, đôi dép lê rách, những chiếc móng chân cáu bẩn và sần sùi, hắn ngán ngẩm thở dài, nhận ra “tình trạng hiện thực” của bản thân mình, thoáng một nụ cười lạnh lẽo nhợt nhạt nở bên khoé mép:

“Tôi thì xe đạp lang thang
Nhìn dọc đã chán nhìn ngang lại buồn”

Đúng lúc ấy, từ trong lồng ngực hắn, không, có lẽ từ sâu hơn, từ trong tâm hồn - một tiếng kêu thất thanh hốt hoảng bật lên thổn thức.

Tiếng kêu nghẹn lại, chuyển thành những tiếng thì thầm nghẹn ngào. Đến đây, những câu thơ lục bát đứng khựng lại, không còn vần điệu gì nữa. Trong những câu thơ thuộc loại hay nhất của Đồng Đức Bốn, tôi đã coi câu thơ này như một câu thơ ngoại hạng. Thực tế, nó chỉ là một câu hỏi bình thường nhưng nó đích thị là một câu hỏi oái oăm của tha nhân đối với tha nhân, một câu hỏi đối với cả “thiên hạ” ngoài kia lạnh lùng. Nó là câu hỏi của một người mong được trông thấy tình người, một thứ không thấy bày ra ở trên các sạp hàng hai bên phố Huế.

Để hiểu ra âm hưởng của câu hỏi người ta phải đọc lại những câu thơ dẫn dụ trên kia:

“Chiều trên phố Huế ra đi
Mưa mùa đông cứ rù rì bên tôi.
Cây thì vẫn đứng thế thôi,
Hàng thì bán đứng bán ngồi chen nhau.
Người thì áo rách đã lâu,
Người thì xe cúp đua nhau từng hàng.
Tôi thì xe đạp lang thang,
Nhìn dọc đã chán, nhìn ngang lại buồn.
Chiều mưa phố Huế một mình,
Biết đâu là chỗ ân tình đến chơi?”

Sự an ủi lớn nhất mà Thượng đế ban cho con người chính là tình dục. Tôi đã từng nói với Đồng Đức Bốn điều ấy nhưng khi còn sống anh không để ý cho lắm. Bây giờ, ở suối vàng, dưới ba thước đất, không chắc Đồng Đức Bốn cũng đã hiểu ra điều tôi “cầm lòng vậy, đành lòng vậy” mà nói với anh mỗi khi “ông khách ở quê ra” ấy lẩm bẩm hỏi dò:

- Này, bác Cả, thế con đường nào dẫn đến thiên đàng?

2. Sex, sự thành thực giản dị

Có một triết gia cổ đại từng nói: “Để đời sống con người không hoàn toàn buồn thảm, Thượng đế đã cho nó dục tính nhiều hơn lý trí”. Câu ấy đúng. Sex, sự thành thực giản dị không cần nhiều lời.
Viết về sex, cũng như viết về bất cứ đề tài nào ở trong xã hội, nếu người viết không thành thực giản dị đều rất khó thành công. Không ở đâu người ta lại đòi hỏi sự chân thực lớn lao và khắc nghiệt như là văn học.

Nhân nói về lý trí, chúng ta cũng cần thấy rõ: Khi người ta kêu gọi lý trí thì thực chất đó chính là người ta đòi hỏi trí tuệ và sự hiểu biết. Không thể có lý trí nếu không có trí tuệ và sự hiểu biết.

Sự loanh quanh của nhận thức giống như ở cây đèn cù. Dù cho viết về chính trị, kinh tế, sex hay gì gì đi nữa, thực chất vẫn là ở chỗ cần có những nhà văn có tài, có trí tuệ và có tâm trong sáng.

3. Ai sẽ viết về tính dục? viết cho ai? viết để làm gì và viết như thế nào?

Trong thâm mỗi nhà văn ai cũng muốn viết ra được những cuốn sách hay. Thực ra đề tài không phải là điều quan trọng nhất đối với họ. Tuy nhiên, mỗi một thời, xã hội vẫn có những “đơn đặt hàng khẩn thiết” đối với lương tâm của mỗi người viết. Thường những nhà văn có tài họ đều “ngửi” thấy hơi thở nồng nặc của thời đại phảng phất nơi đâu đó.

Thời đại mà chúng ta đang sống được người ta cho là “thời mạt pháp”: đây là thời của sóng thần, của ô nhiễm toàn cầu, thời của đạo đức suy đồi và tham nhũng, thời của ngày tận thế cuối cùng. Trong văn học, đây không còn là thời của Iliat và Ôđixê, thời của Aivanhô và Ba người ngự lâm pháo thủ... Đây là thời của Harry Poxter, thời của Mật mã DaVinci, những cuốn sách được coi là của phù thuỷ và quỷ dữ. Văn học càng ngày càng khó khăn, nó phải tìm ra một cách thức khác để thực hiện và để làm tròn chức năng của nó. Nó không thể đi theo “con đường cổ điển”.

Gần đây, trong một bài báo (Văn nghệ số 17,18 ra ngày 6/5/2006) nhà nghiên cứu phê bình văn học Đặng Anh Đào khi nói về truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư (một truyện ngắn cũng có đôi chút dính líu đến tính dục) đã cho rằng (đại ý): để viết hay, đối với nhà văn “hắn phải hơi bị bỏ đói, cũng có thể đói cơm, nhưng quan trọng hơn là luôn phải cảm thấy đói sự thật, đói cuộc sống”.

Ở Việt Nam, truyền thống bỏ đói nhà văn vẫn là một truyền thống được người ta bảo lưu bền vững và vẫn được cổ xuý một cách trịch thượng và có phần hào hứng nữa. Tôi không thích thế. Viết về sex, theo kinh nghiệm riêng tôi, tôi cho rằng nên ăn no để viết. Viết cho mình, cho mọi người. Viết cho chân thực và giản dị. Viết để cứu rỗi những tâm hồn nếu quả đúng là có những tâm hồn thật.

Nguyễn Huy Thiệp (5/5/2006)

Liên hoan phim Cannes 2006 : Hollywood chiếm thế áp đảo

Penelope Cruz (trái) trong phim Volver
Ngày mai, 17-5, Liên hoan phim Cannes lần thứ 59 sẽ khai mạc. 55 tác phẩm của 30 quốc gia, trong đó có 48 phim mới sẽ trình chiếu tại liên hoan
Liên hoan phim (LHP) Cannes 2006- một trong những sự kiện điện ảnh uy tín nhất hành tinh- sẽ chính thức mở màn vào đêm mai, 17-5, với việc trình chiếu bộ phim được cả thế giới chờ đón: The Da Vinci code của đạo diễn Ron Howard. Ước tính trong 12 ngày diễn ra liên hoan (từ 17 đến 28-5) khoảng 4.000 phóng viên, 30.000 nhân vật trong ngành công nghiệp giải trí thế giới cùng hàng chục ngàn du khách sẽ được thưởng thức 55 tác phẩm của 30 quốc gia, trong số đó có 48 phim mới trình chiếu lần đầu tiên.

Hai thế hệ đạo diễn so kè

Với số lượng 3 phim/nước, chủ nhà Pháp và điện ảnh Hollywood áp đảo danh sách các phim tranh giải Cành cọ vàng 2006. Các quốc gia khác như Anh, Ý, Mexico mỗi nước dự 2 phim. Còn lại là các tác phẩm của Tây Ban Nha, Bỉ, Algeria, Argentina, Thổ Nhĩ Kỳ, Bồ Đào Nha, Trung Quốc và Phần Lan. Nhìn qua danh sách 20 bộ phim tranh giải Cành cọ vàng năm nay, người ta dễ dàng nhận thấy sự so kè của hai thế hệ đạo diễn. Đó là những đạo diễn kỳ cựu như Nanni Moretti (Ý), Pedro Almodovar (Tây Ban Nha), Aki Kaurismaki (Phần Lan), Ken Loach (Anh), Bruno Dumont (Pháp) và Nicole Garcia (Pháp) và những đạo diễn trẻ đang tỏa sáng: Sofia Coppola (Mỹ), Xavier Giannoli (Pháp), Richard Linklater (Mỹ), Alejandro Gonzalez Inarritu (Mexico), Lưu Diệp (Trung Quốc), Paolo Sorrentino (Ý), Rachid Bouchareb (Algeria), Adrian Caetano (Argentina), Guillermo del Toro (Mexico), Richard Kelly (Mỹ)... Trong đó người trẻ nhất là Richard Kelly chỉ mới 30 tuổi.

Là nơi hội tụ “ngôn ngữ của những giấc mơ” như lời chánh chủ khảo Vương Gia Vệ đã nói, LHP Cannes lần này bao trùm một giấc mơ đậm đặc màu sắc chính trị. Điều này không chỉ phản ánh qua những phim tranh giải như The Cayman, Fast food nation, Flanders, The Wind that shakes the Barley, The Labyrinth, Southland Tales mà còn ở những tác phẩm chiếu giới thiệu.

Một Cannes đầy “sao”

Sức hấp dẫn của LHP Cannes 2006 không chỉ nằm ở sự phong phú của các phim tranh giải đến từ nền điện ảnh của nhiều nước, mà còn bởi đa số dàn diễn viên trong các phim dự thi đều là những ngôi sao sáng giá. Nam tài tử điển trai Mỹ Brad Pitt sánh vai cùng kiều nữ Úc Cate Blanchett trong phim Babel của đạo diễn Alejandro Gonzalez Inarritu; cô đào gợi cảm Tây Ban Nha Penelope Cruz có mặt trong Volver, đạo diễn Pedro Almodovar; Kristen Dunst hóa thân thành hoàng hậu Pháp kiều diễm Marie Antoinette trong bộ phim cùng tên của Sofia Coppola; đặc biệt đạo diễn trẻ Richard Kelly đã quy tụ trong phim Southland Tales của mình 3 ngôi sao: The Rock, Sarah Michelle Gellar, Mandy Moore. Ngay 2 phim chỉ chiếu giới thiệu mà không tranh giải, đội ngũ “sao” còn dày đặc hơn cả: The Da Vinci code với Tom Hanks cùng minh tinh Pháp Audrey Tautou, X-men: the last stand với Halle Berry, Hugh Jackman, Ian Mckellen, Patrick Steward, Anna Paquin.

Không chỉ xuất hiện trên màn ảnh các minh tinh trên còn hiện diện tại TP biển Riviera khiến cho Cannes 2006 còn lộng lẫy và hào nhoáng hơn nữa. Ngoài ra, những tên tuổi trứ danh sau đây cũng được chờ đợi tại Cannes: Bruce Willis, Samuel L.Jackson, Gérard Dépardieu, Michele Placido (nổi tiếng với vai thanh tra Cattani trong loạt phim Con bạch tuộc)... cùng các nữ diễn viên xinh đẹp Chương Tử Di, Monica Belluci, Juliette Binoche, Sharon Stone... Không khí Cannes còn sôi động hơn bởi danh thủ Pháp Zinedine Zidane cũng xuất hiện nhưng không phải với vai trò cầu thủ mà là diễn viên chính trong bộ phim tài liệu Zidane- Chân dung của thế kỷ 21 chiếu giới thiệu trong khuôn khổ LHP.Nguyễn Ngọc

Kim Dung: “Tôi không muốn là người hữu danh vô thực”

Nhà văn Kim Dung (đầu tiên bên trái) Mùa thu năm ngoái, ở tuổi 80, nhà văn Hồng Kông chuyên viết truyện chưởng Kim Dung đã tới trường đại học Cambridge danh tiếng bên Anh quốc để học lấy bằng Tiến sỹ.
Khoan hãy nói về chuyện sức khoẻ, chỉ riêng chuyện thủ tục nhập học đã rất phiền phức. Cambridge là một trường đại học lâu đời, muốn bước qua cổng của nó, nhà văn già không có cách nào khác là phải “nhập gia tùy tục”.
Đầu tiên, phía nhà trường yêu cầu Kim Dung xuất trình giấy khai sinh. Trung Quốc trước đây động loạn liên miên, trẻ em sinh ra sống được còn khó, nói chi đến chuyện có giấy chứng sinh, vả lại hồi ông sinh Trung Quốc cũng chưa có chế độ cấp giấy khai sinh.

Kim Dung đã phải bỏ tiền thuê một luật sư ở Hồng Kông làm một văn bản cam kết rằng tôi, Tra Lương Dung xin đảm bảo là đã sinh vào ngày nọ tháng nọ năm nọ ở huyện Hải Ninh, tỉnh Chiết Giang. Cuối cùng vấn đề giấy khai sinh cũng được giải quyết.

Tiếp đó, Cambridge lại yêu cầu Kim Dung phải đệ trình học bạ và bằng tốt nghiệp tiểu học, trung học, đại học. ở Trung Quốc hồi xưa, Kim Dung không có thành tích cao đẳng toàn ưu và cũng chẳng có bằng tốt nghiệp đại học.

Vậy là Kim Dung phải mang các bằng Tiến sỹ danh dự, Giáo sư danh dự ra, đồng thời trình bày bằng văn bản rằng khi ông đang học đại học ở Thượng Hải thì xảy ra nội chiến Quốc Cộng, Thượng Hải nổ ra kịch chiến, khoá học phải kết thúc sớm nên chả có bằng cấp gì.

Cambridge lại yêu cầu chuyên ngành muốn học phải phù hợp với yêu cầu về ngôn ngữ. Thế là Kim Dung lại phải nhờ ông Viện trưởng Học viện Saint Antoni thuộc ĐH Oxford và một vị giáo sư của đại học Cambridge đứng ra chứng minh ông có thể đọc thông viết thạo cổ văn Trung Quốc, còn về Anh văn thì ông không thể thi đỗ các bằng TOEFL như giới trẻ bây giờ.

Thế là các giáo sư Cambridge liền chuyển sang yêu cầu Kim Dung đệ trình cho họ một bài báo hay công trình gì đó đã xuất bản bằng Anh văn. Kim Dung liền trình ra một bài luận bàn về vấn đề Hồng Kông trở về với Trung Quốc bằng Anh văn đã được NXB ĐH Oxford ấn hành.

Các giáo sư Cambridge kết luận: Dù bài viết không tốt lắm, văn phạm cũng là thứ Anh ngữ cổ nhưng nếu dùng để học nghiên cứu sinh thì cũng được, vậy là họ đã bỏ phiếu thu nhận ông.

Muốn vào Cambridge còn phải qua một cửa ải vừa đơn giản lại vừa thực tế nữa: Kim Dung phải chứng minh khả năng kinh tế của bản thân. Kim Dung bèn nhờ ông Tổng giám đốc Ngân hàng Anh quốc viết giấy chứng nhận khả năng tài chính của ông.

Ông lại nhờ một chủ ngân hàng Hồng Kông bảo lãnh cam kết trong quá trình học tập tại trường, Kim Dung sẽ không thiếu một cắc tiền học phí nào. Một người có tài sản tính bằng trăm triệu USD như Kim Dung mà trước Cambridge vẫn không thể tự đảm bảo cho mìnhcủa các bạn là được rồi”.

Có người hỏi thẳng Kim Dung: ông đã được đại học Cambridge trao bằng Tiến sỹ danh dự, đó cũng là học vị cao nhất của họ rồi, việc gì phải mất tiền phí sức để học lấy cái bằng Tiến sỹ phổ thông nữa?

Kim Dung tiên sinh nói, ông đến Cambridge học là bởi rất tâm đắc lời của Tiên sinh Trần Dần Lạc - một học giả nổi tiếng đã quá cố: “Bất cầu học vị, chỉ cầu học vấn”.

Vì các sử gia cận đại như Trần Dần Lạc, Vương Quốc Duy, Tiền Mục… đều thông kim bác cổ, học đủ các nơi nhưng họ chẳng có học vị Thạc sỹ hay Tiến sỹ.

Ông nói mình đã có quá nhiều danh hiệu vinh dự như “Tiến sỹ danh dự”, “Viện sỹ danh dự”, “Giáo sư danh dự” đủ cả, đó đều là những “hư danh”.

Ông cảm thấy học vấn mình chưa đủ, không xứng với các danh hiệu ấy, quả là “danh bất như thực” nên quyết định đến Cambridge để học.

Kim Dung nói: “Phần lớn mọi người, nhất là thanh thiếu niên và học sinh hễ nói đến Kim Dung là khâm phục tôi học thức uyên bác, cái gì cũng biết, nhưng thực ra tôi “cái gì cũng biết” là giả.

Tôi “chỉ viết cái biết, không biết không viết”, “không thể không biết, không biết thì tra cứu”. Tôi họ Tra, bút danh là Kim Dung. Tôi phải nắm giữ chữ “Tra” đó, học nhiều để hóa giải chữ “Dung”.

Kim Dung còn nói: “Vương Sóc tiên sinh nói tôi là một trong “Tứ đại tục”, tôi cũng chả để bụng. Tôi viết tiểu thuyết thông tục, chữ tục là khó tránh. Nhưng có người phê phán tôi học vấn kém thì tôi rất coi trọng.

Học vấn kém là sự thực. Cách bổ cứu tốt nhất là phải tìm cách nâng nó lên, không phải cao hơn người khác mà là cao hơn mình hôm qua. Chỉ cần mọi người chăm chỉ thì mỗi ngày sẽ khá lên một ít”.

Cũng có người nhắc Kim Dung, đến Cambridge học là ông tự vén áo cho người xem lưng. Kim Dung tiên sinh đáp ngay: “Tôi đến Cambridge học không phải để kiếm tiền hay thăng chức. Học vấn là thứ để bồi dưỡng nhân cách, tu dưỡng nhân phẩm, kiến thức chỉ là thứ yếu. Sách thì cả thế giới đều có, nhưng Cambridge là trường hàng đầu thế giới”.

Kim Dung tiên sinh đi học Cambridge nay đã “trần ai lạc định” (đã có kết quả). Tư tưởng cầu học “học nhiên hậu tri bất túc, tri bất túc nhiên hậu học” (học mới thấy mình thiếu, thấy mình thiếu rồi thì phải học) thật có ý nghĩa tích cực trong thời buổi xã hội “trọng học lực không trọng học vấn, cần học lực không cần học vấn” như hiện nay. Thu Thủy

Tom Hanks lập kỷ lục Guinness thế giới

Tom Hanks trong "Giải cứu binh nhì Ryan", phim có doanh thu cao nhất của anh
Sách Kỷ lục Guinness thế giới vừa công nhận Tom Hanks là “Diễn viên có nhiều phim liên tục đoạt doanh thu trên 100 triệu USD”. "Mật mã Da Vinci", cuốn phim phát hành tuần tới của Hanks, mặc dù bị giới tôn giáo tẩy chay, song hi vọng cũng vượt ngưỡng doanh thu tương tự. Theo sách Guinnes thống kê, Tom Hanks có một thành tựu đáng nể là 14 phim vượt doanh thu 100 triệu USD, trong đó bảy phim liên tục nhau 1998 - 2002, bao gồm "Catch Me If You Can" (2002), "The Road to Perdition" (2002), "Cast Away" (2000), "Toy Story 2" (1999), "The Green Mile" (1999), "You've Got Mail" (1998) và "Saving Private Ryan" (1998, doanh thu cao nhất 216,5 triệu USD).

Diễn viên được yêu thích nhất nước Mỹ có cát-sê cũng vào hạng cao nhất (25 triệu USD/phim) còn chia sẻ thêm một kỉ lục Guinness với các tài tử Spencer Tracy, Jack Nicholson, Dustin Hoffman, Marlon Brando với danh hiệu “Nam diễn viên đoạt giải Oscar vai chính nhiều lần nhất”, hai lần.

Tuy nhiên chỉ có Tracy (trong "Captains Courageous", 1937 và Boys Town, 1938) và Hanks (trong "Philadelphia",1993 và "Forrest Gump", 1994) là đoạt giải Oscar hai lần liên tiếp.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan được tăng lương sau khi… tạ thế?

Nhà văn Nguyễn Công Hoan.
"Nghĩa tử là nghĩa tận" - các cụ ta dạy vậy. Nhưng cứ theo như mẩu chuyện có cái tên câu khách: "Để được chôn khu A" thì quả là nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) chết rồi vẫn còn... long đong. Chuyện rằng, trước khi hạ huyệt, ông "bị" người quản lý nghĩa trang Văn Điển phản ứng quyết liệt, không chịu cho chôn, vì theo tiêu chuẩn khu A (khu chôn vĩnh viễn) thì mức lương của ông còn thiếu... một bậc.

Xin trích nguyên văn:

"Nguyễn Công Hoan mất. Khi ban tổ chức lễ tang gọi điện đến ban quản lý nghĩa trang Văn Điển để xin xe tang, người nhận điện nói ậm ờ rằng chẳng biết tám giờ, chín giờ hay mười giờ mới có xe.

- Vâng, tùy các anh. Chỉ xin báo cho các anh biết hiện nay trực bên linh cữu nhà văn có đồng chí Trần Quốc Hoàn, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Nội vụ (con trai nhà văn là Nguyễn Công Tài lúc bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ); đồng chí Tố Hữu, Ủy viên Bộ Chính trị; đồng chí Lê Văn Lương, Bí thư Thành ủy Hà Nội và một số cán bộ cao cấp khác.

Đầu kia điện thoại rối rít:

- Vâng, chúng tôi sẽ điều xe đến ngay!

... Đến Văn Điển, một nhân viên ban quản lý nghĩa trang đến hỏi mức lương của người quá cố. Anh ta giãy nảy lên:

- Còn thiếu năm đồng mới được chôn ở khu A!

Thế là Hội Nhà văn phải cho người về làm quyết định tăng cho Nguyễn Công Hoan một bậc lương mới đúng thủ tục!".

(Theo "Giai thoại làng văn Việt Nam" - NXB Văn hóa Dân tộc, 1999).

Nhận thấy mẩu giai thoại trên có một số tình tiết không đáng tin cậy, tôi liên hệ xin được gặp và trao đổi với đồng chí Nguyễn Tài, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), con trai cụ Nguyễn Công Hoan. Đúng như tôi dự đoán, ông Tài đưa mắt đọc suốt lượt bài viết rồi buông sách xuống, nói ngay: "Tôi đề nghị người viết phải cải chính và xin lỗi gia đình công khai trên báo".

- Thưa bác, những chi tiết nào ở bài viết mà bác thấy chưa chuẩn, cần phải nói lại?

- Ông Nguyễn Tài: Ngay với tên tôi họ cũng in sai. Tôi tên thật là Nguyễn Tài Đông, sau đi hoạt động bỏ tên chính, lấy tên Tài làm bí danh. Chưa bao giờ có chữ Công ở giữa. Họ nhà tôi có 8 chữ đệm: Đức, Đạo, Công, Tài, Trường, Thiên, Thế, Tộ. Các cụ quy định mỗi thế hệ là một chữ đệm. Đưa tên tôi thêm chữ Công là nâng tôi lên một thế hệ, ngang với cha tôi là không đúng.

Thứ nữa, nói các anh Trần Quốc Hoàn, Tố Hữu túc trực bên linh cữu cha tôi cũng là bịa. Các anh ấy đại diện lãnh đạo Đảng, chỉ đến viếng thôi. Còn túc trực bên linh cữu cha tôi là con cái trong nhà, là đại diện Hội Nhà văn. Cái gì cũng phải có nguyên tắc, có tôn ti trật tự chứ.

- Còn chuyện Ban tổ chức lễ tang phải nói gần như "dọa", cán bộ quản lý nghĩa trang mới cho điều xe đến chuyển linh cữu cụ Hoan đi?

- Khi cha tôi mất, Hội Nhà văn đứng ra lo hết. Cụ được quàn ở 51 Trần Hưng Đạo (trụ sở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam). Tôi không rõ Hội Nhà văn gọi xe ở đâu, nhưng chắc chắn không phải ở nghĩa trang Văn Điển. Người viết rất dốt về lịch sử. Tôi khẳng định: Từ khi thành lập, nghĩa trang này chưa bao giờ có dịch vụ xe tang.

- Như vậy, việc Ban quản lý nghĩa trang không đồng ý để cụ Hoan được chôn ở khu A cũng là do người viết bịa ra?

- Không bao giờ có chuyện vớ vẩn đó. Ông Hoan từng là Chủ tịch Hội Nhà văn, làm sao không đủ tiêu chuẩn? Cha tôi mất ở Bệnh viện Việt - Xô (nay là Bệnh viện Hữu Nghị). Bấy giờ chưa có điều hòa, bệnh viện phải bảo quản xác cha tôi bằng đá cây; tới ba, bốn hôm mới đưa đám. Như vậy, Hội Nhà văn phải liên hệ với nghĩa trang từ trước khi chôn chứ. Theo quy định, ông Hoan được "nằm" ở khu A thì ở đấy người ta phải đào huyệt sẵn rồi. Mọi người chỉ việc kéo nhau đến. Làm gì có chuyện đến đó còn tranh cãi có được chôn hay không. Rồi chuyện cán bộ Hội chạy về ký tăng lương. Hội Nhà văn không làm chuyện trẻ con đó đâu.

- Thưa bác, hiện di hài của nhà văn Nguyễn Công Hoan có còn ở nghĩa trang Văn Điển hay đã chuyển vào nghĩa trang Mai Dịch - như trường hợp nhà thơ Xuân Diệu?

- Không! Khi cải táng, gia đình đã đưa cụ về quê rồi (thôn Tam Kỳ, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, Hưng Yên). Chúng tôi muốn để cụ nằm bên mộ bà nội tôi cùng các chú, các em của cụ. Tất cả một dãy bên nhau, rất tình cảm...

- Nhân việc này, bác có nhắn gửi gì tới tác giả bài viết?

- Viết vui gì thì cũng phải trên cơ sở sự thật, chứ bịa ra để "cù" người đọc và kiếm tiền là không được. Bài viết không chỉ xúc phạm gia đình tôi đâu, mà lớn hơn, là xúc phạm tới chính sách của Đảng, Nhà nước đối với văn nghệ sĩ. Tôi đề nghị người viết phải cải chính...Phạm Khải

Tài tử Ngọc Bảo Giọng ca vàng với những bản tình ca bất hủ của Đoàn Chuẩn - Từ Linh đã ra đi

Tài tử Ngọc Bảo
Giọng ca vàng làm mê đắm lòng người với những bản tình ca bất hủ của Đoàn Chuẩn - Từ Linh đã ra đi ở tuổi 82 vào lúc 15 giờ chiều hôm qua.
Lúc sinh thời, ở tài tử Ngọc Bảo, không bao giờ hiện lên vẻ mệt mỏi trên sân khấu, ông từng nói vui rằng: "60 tuổi mới ở ngưỡng dậy thì, 70 tuổi chập chững mới lớn và 80 mới là ngưỡng trưởng thành" để minh chứng cho sự nhiệt huyết với âm nhạc. Ông không chuẩn bị cho sự ra đi của mình vì còn dự định sẽ hát đến năm 2020. Cô cháu gái mà ông yêu quý nhất, chị Hương Ly kể lại: "Ông tôi vẫn còn muốn hát, còn muốn cống hiến cho khán giả nhiều lắm nên không dặn dò gì con cháu cả. Trong các cuộc nói chuyện của ông, những bài hát, những bản nhạc luôn được nhắc đến".

Tài tử Ngọc Bảo phát hiện ra bệnh ung thư phổi cách đây hơn 1 năm nhưng ông vẫn tỏ ra lạc quan. Dù bệnh nhưng ông vẫn nhiệt tình tham gia rất nhiều các chương trình âm nhạc và truyền hình. Mãi thời gian gần đây, ông thấy ho nhiều và đau, đi khám lại mới biết là đã di căn.

Nhạc sĩ Phú Quang nghẹn ngào khi biết tin: "Nước mắt tôi cứ tự nhiên trào ra. Đối với tôi, anh như một người bạn lớn, một người anh và đôi lúc như một người cha. Anh lo lắng cho từng bước đường nghệ thuật của tôi".

3 ngày trước, nhạc sĩ Phú Quang đến thăm, ông vẫn còn tươi tỉnh, vui vẻ, rủ hút thuốc lá và bảo "đằng nào cũng vậy". Nhưng rồi trước lúc chia tay, ông lại bùi ngùi "Chắc anh phải đi thôi chú ạ".

"Ông bảo "sáng mai, anh đi xạ trị" tôi đã can ông chỉ nên dùng thuốc giảm đau. Tôi bảo với Ánh, con gái út của ông: "Bố em là một người đỏm dáng, chắc ông không chịu nổi mình với một hình ảnh tiều tuỵ 39 cân, lơ thơ vài ba sợi tóc đâu", nhưng Ánh bảo "bố em nhất định đòi vậy". Tôi tiếc là anh đi nhanh quá", nhạc sĩ Phú Quang tâm sự.

Tài tử Ngọc Bảo không học qua một trường lớp nào về âm nhạc nhưng từ năm 16 tuổi ông đã tìm niềm say mê trong những bài hát của Tino Rossi, ca sĩ người Pháp vào Việt Nam. Giọng hát du dương của Tino Rossi chính là động lực để ông bước vào con đường ca hát và chinh phục những bản tình ca lãng mạn. Trong những bước đường âm nhạc, tài tử Ngọc Bảo cũng có rất nhiều mối tình mà ông tiết lộ là không biết bao nhiêu cô mà kể nhưng những cuộc tình không bao giờ kéo dài vì ông có một người vợ chung thủy tuyệt vời.

Linh cữu của ông đang được quàn tại Nhà tang lễ Phùng Hưng (Hà Nội). Lễ tang tổ chức vào trưa 7-5.

Trường hận ca - Hồng nhan phận bạc

Mượn tên từ một bài thơ của thi sĩ Bạch Cư Dị, Trường hận ca của Vương An Ức đi vào cuộc sống của những ngõ nhỏ lắt léo, bên ngoài rộng mở nhưng bên trong rất bí ẩn của thành phố Thượng Hải.
Đó là nơi cất giữ những câu chuyện đồn đại chẳng đâu vào đâu, là địa điểm cư trú của những chú chim câu sáng suốt nhưng lại âm thầm, và giữa cuộc sống có phần mờ xám, u uẩn đó, nổi lên nhân vật Vương Kỳ Dao.

Nàng được gọi là Người đẹp Thượng Hải, từng gây xôn xao khi giành giải á khôi 2 trong một cuộc thi sắc đẹp của thành phố. Giữa những cô gái đẹp thi hoa hậu, nàng không phải là người nổi bật nhất, chói lọi nhất trên sàn diễn, mà là người có duyên. Trong phần thi áo cưới ngập tơ lụa gấm vóc, chỉ có nàng là tạo nên vẻ cô dâu nhất. Danh hiệu á hậu 2 của Kỳ Dao thật gần gũi với thực tế đời thường.

Nhưng mọi trắc trở đã lần lượt săn đuổi nàng từ đó. Một người đàn ông giàu có, bí ẩn, tượng trưng cho quyền lực, ý chí kiên định đã lôi cuốn nàng vào một cuộc tình ái. Kỳ Dao lập tức xuôi lòng theo chủ nhiệm Lý ra ở riêng, bỏ qua những rào cản gia đình, bỏ rơi tấm chân tình của chàng nhiếp ảnh trẻ tuổi. Nhưng nàng vẫn phải sống trong xót xa bởi yêu một người mà trước đó nàng gọi bằng chú, bởi ông Lý còn có gia đình và bao việc hệ trọng cần gánh vác. Nàng đi theo tiếng gọi của tình yêu mà như sống trong sự bao bọc của cô đơn. Kỳ Dao khó lòng nhận được sự đồng cảm từ phía người đời, bởi những cuộc tình đến rồi đi, với đủ lớp người, đủ lứa tuổi, thậm chí có người đàn ông còn trẻ hơn nàng cả chục tuổi. Kỳ Dao an thường, thủ phận nhưng vẫn biết đón nhận tình yêu, biết chấp nhận để tạo cho mình những đốm sáng hạnh phúc. Chính vì thế mà nàng trở nên gần gũi, thân thương trong vị trí bé nhỏ của mình. Thế nhưng thật trớ trêu, quá khứ huy hoàng đôi khi trở lại cùng những điều uẩn ức, khiến nàng không thể giãi bày.

Một cái kết trong bế tắc là điều tất phải đến, dù Kỳ Dao cố giãy giụa để tránh. Nàng bị chết bởi chính một người đã đến chăm sóc nàng, đã sắc thuốc, lau nhà cho nàng. Thật oái oăm, nàng chết không phải vì tình, mà bởi vì tên trộm muốn tìm vàng, trong phút túng bách đã bóp cổ khiến nàng tắt thở. Dẫu đau lòng song có thể coi như sự giải thoát khỏi kiếp người trầm luân.

Trường hận ca lôi cuốn bởi cách kể chuyện có duyên, bởi sự khăng khít giữa tình và cảnh, giữa con người với con người giữa bao la vô thường. Tác giả chia nhỏ câu chuyện để tạo nên những điểm nhấn, hút người đọc vào thân phận Vương Kỳ Dao, bi kịch của một con người nhỏ bé. Nàng thuộc về những ngõ hẻm tối tăm, nàng bị trói buộc bởi sức mạnh của lời đồn đại, người hiểu nàng hơn cả là những chú chim bồ câu chứng kiến niềm vui và cái chết tức tưởi của nàng.

Từ vài thập kỷ nay, nhà văn Vương An Ức được đánh giá cao trên văn đàn Trung Quốc. Kể từ khi hoàn thành từ năm 1996 đến năm 2000, Trường hận ca đã được tái bản nhiều lần với số lượng mỗi lần 50.000-100.000 bản. Năm 2000, Trường hận ca được trao giải Mao Thuẫn, giải thưởng lớn nhất của Hội Nhà văn Trung Quốc dành cho tiểu thuyết. Sách do NXB Hội Nhà văn và Công ty Nhã Nam phát hành quý II/2006.Hoàng Dung@NG.L.D

Cuộc trò chuyện với nhà văn Dương Thu Hương tại thư viện New York

Nhà văn Dương Thu Hương tại New York. Photo by Gia Minh/RFA
Bấm vào đây để nghe bài tường trình này
Nhà văn Dương Thu Hương của Việt Nam trong dịp tham gia Festival Văn chương Quốc tế Pen World Voices lần thứ hai tổ chức tại thành phố New York, vào trưa ngày 30 tháng Tư vừa qua đã có cuộc trò chuyện cùng hai nhà văn 1 của Hoa Kỳ và 1 của Pháp tại thư viện New York. Biên tập viên Gia Minh của đài chúng tôi có mặt tại chỗ và tường trình như sau:
Cuộc nói chuyện giữa nhà văn Dương Thu Hương cùng nhà văn Robert Stone của Hoa Kỳ nằm trong hơn 50 sinh hoạt của Festival Văn chương Quốc tế lần thứ 2 kéo dài từ ngày 25 cho đến Chủ nhật 30 tháng tư vừa qua.

Người điều hợp cuộc nói chuyện là ông Antoine Audouand, từ Pháp sang. Ông cho biết lý do được mời làm điều hợp viên cho cuộc nói chuyện là vì ông có người thân từng tham gia cuộc chiến Việt Nam. Từ chỗ có nhiều trăn trở và thắc mắc về cuộc chiến đã qua, ông từng tìm tòi và qua nhà văn Dương Thu Hương mà ông hiểu được nhiều điều về cuộc chiến về con người, văn hóa và lịch sử Việt Nam.

Càn nhà văn Robert Stone của Hoa Kỳ được giới thiệu là một tác giả nổi tiếng với giải thưởng quốc gia cho tác phẩm Dog Soldiers. Ông cũng từng được đề cử trao giải văn chương Pulitzer cho tác phẩm Bear & His Daughter.

Các câu trao đổi của hai nhà văn nước ngoài dành cho văn sĩ Dương Thu Hương của Việt Nam có thể nói được xoay quanh hai chủ đề chính: Thứ nhất là sự tham gia và một số cảm nhận của nhà văn Dương Thu Hương về cuộc chiến mà bà từng tham gia, cũng như đảng cộng sản mà bà từng là một thành viên. Thứ hai là về chuyện văn chương của bà.

Trả lời cho câu hỏi vì sao bà từng bỏ phiếu để ra khỏi đảng Cộng sản, nhà văn Dương Thu Hương giải thích lý do bà vào Đảng và ra khỏi Đảng: (xin theo dõi trong phần âm thanh phía trên)

Bà Dương Thu Hương cũng trả lời câu hỏi về chuyển biến từ một người thuộc quân đội miền Bắc đến trở thành một người 'làm giặc' như trong nguyên văn. Nữ văn sĩ đến từ Việt Nam cũng giải thích cho câu văn của bà là người dân Việt Nam có can đảm để sống nhưng không có hướng để sống.

Trong số gần 170 người đến tham dự cuộc trò chuyện giữa nhà văn Dương Thu Hương và hai văn sĩ Robert Stone cũng Antoine Audouand tại Thư viện New York ở trên đường 42 có một số người Việt sinh sống tai Hoa Kỳ.

Có người từ miền Tây sang để nghe bà nói chuyện. Họ cũng nêu ra một số câu hỏi về văn chương cũng như chính kiến của tác giả Dương Thu Hương.

Hầu hết thính giả tham gia cuộc nói chuyện tỏ ra luyến tiếc vì chương trình quá ngắn, trong khi họ muốn hỏi nhà văn Dương Thu Hương thêm nhiều điều nữa.
Gia Minh tường trình từ New York.

Nhà văn Dương Thu Hương vẫn giữ vững lập trường tranh đấu cho dân chủ

Nhà văn Dương Thu Hương
Nghe trực tiếp trên mạng Bấm vào đây để nghe
Nhà văn nữ Việt Nam được nhiều người ái mộ và cũng gây rất nhiều tranh cãi, bà Dương Thu Hương, đã thực hiện cuộc hành trình đầu tiên đến Hoa Kỳ. Tuần trước tại thành phố New York, nhà văn Dương Thu Hương đã được giới thiệu cùng với một số tác giả nổi tiếng thế giới tham dự Liên Hoan Văn Học do Hội Văn Bút Quốc Tế tổ chức.
Ngoài việc trích dẫn một số câu thơ trong Truyện Kiều, phần lớn nhà văn Dương Thu Hương đã giữ im lặng, và lắng nghe những phát biểu của nhà văn Toni Morrisson, khôi nguyên Giải Nobel, và nhà văn Salman Rushdie.
Nhưng hôm Chủ Nhật, nhà văn bất đồng chính kiến nổi danh về những lời đả kích sắc bén của bà đối với chế độ cộng sản Việt Nam trong các tác phẩm Thiên Đường Mù và Bên Kia Bờ Ảo Vọng, những tác phẩm đã bị cấm lưu hành tại Việt Nam, đã gây sôi động tại hội trường Thư Viện thành phố New York với những phát biểu nẩy lửa của bà về lý do vì sao bà vẫn là một cái gai trước mắt nhà cầm quyền Việt Nam.

Theo tường trình của trưởng ban Việt Ngữ Đài VOA Michael Mathes, có mặt tại New York hôm Chủ Nhật vừa rồi, thì mặc dù nhà văn Dương Thu Hương có hơi choáng vì sự chú ý của cử tọa, bà vẫn duy trì thái độ cương quyết và không hề nao núng trong việc theo đuổi những thay đổi mà bà muốn thấy tại Việt Nam.

Mời quí vị và các bạn theo dõi bài tường trình sau đây:

Phỏng vấn tác giả cuốn “Secret Army Secret War”

Hình bìa cuốn sách "Secret Army Secret War"
Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này
Hình bìa cuốn sách "Secret Army Secret War"
Sau khi Hoa Kỳ quyết định rút khỏi chiến trường miền Nam năm 1973, một cựu quân nhân Hoa Kỳ từng tham chiến ở Việt Nam, ông Sedgwick Tourison, trở về Mỹ và bắt đầu thu thập dữ kiện cũng như tài liệu về cuộc chiến Việt Nam.
Ông đã viết nhiều tác phẩm về chiến tranh Việt Nam, trong đó có cuốn Secret Army Secret War tức Quân Đội Bí Mật Chiến Tranh Bí Mật được Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân ở Hà Nội phiên dịch và phổ biến trong nước với nhiều chương bị cắt bỏ.

Nhân dịp 30 tháng Tư năm nay, nhớ lại tâm trạng của mình khi nghe tin miền Nam thất trận 31 năm về trước, ông Sedgwick Tourison trình bày cảm tưởng trong cuộc phỏng vấn do Thanh Trúc thực hiện:Thanh Trúc, phóng viên đài RFA)

Sự cứu rỗi cuối cùng

Lần đầu tiên nhà văn Dương Thu Hương đã đến Mỹ và hiện đang có mặt ở New York, tham dự một liên hoan văn học do Hội Văn bút Quốc tế (PEN) tổ chức.
Hôm thứ Tư, 26-4, bà Dương Thu Hương có bài tham luận đọc tại liên hoan "Faith & Reason: Writers Speak." Đi cùng bà là dịch giả Nina McPherson, người dịch tác phẩm mới nhất của Dương Thu Hương sang tiếng Anh, Chốn vắng (No Man's Land, dịch chung với Phan Huy Đường, 2005)

Chủ đề của liên hoan xoay quanh lý trí và đức tin, và vai trò của văn học trong mối quan hệ này.

Tham dự liên hoan này còn có nhiều nhà văn nổi tiếng quốc tế như Chinua Achebe, Martin Amis, Nadine Gordimer, Toni Morrison, Salman Rushdie và Zadie Smith.

Theo lịch, vào Chủ nhật, tác giả sẽ có buổi nói chuyện, với người dẫn chương trình là nhà văn Mỹ Robert Stone, tại Thư viện New York.

Được sự cho phép của tác giả, chúng tôi xin đăng lại toàn văn bài tham luận vừa đọc hôm thứ Tư, có tựa đề "Sự cứu rỗi cuối cùng."

Nhu cầu được cứu rỗi có lẽ là nhu cầu sớm nhất của nhân loại. Nó xuất hiện cùng lúc với con người đầu tiên đi bằng hai chân, lưng thẳng đứng, quyết định rời bỏ cánh rừng để tiến về chân trời phía trước. Chân trời hoang vắng kia chính là định mệnh của loài người, vừa cám dỗ vừa hàm chứa hiểm nguy, đem lại cùng một lần hy vọng và lo âu, say đắm và khắc khoải. Chính bởi con đường dẫn đến tương lai bao giờ cũng được cắm mốc bởi những bất an, nên con người cần có sự cứu rỗi. Nhu cầu về sự cứu rỗi là một hằng số, kể từ con người đầu tiên, đầu tóc đầy chấy rận, che thân bằng lá rừng cho đến nhân loại ngày hôm nay, một năm tiêu thụ hàng chục triệu lọ thuốc nhuộm tóc và hàng chục vạn tấn quần jean.

Trên con đường dài đặc của lịch sử, tấm áo giáp tinh thần đầu tiên che chắn cho tâm hồn mong manh của con người chính là niềm tin. Một quyền năng tối cao phải ra đời để mang đến cho họ sức mạnh đặng có thể vượt qua mọi thử thách, đứng vững trước những chân trời giông bão, trước những ngọn sóng thần, những hỏa diệm sơn, những bệnh dịch ma quái và những cuộc cạnh tranh sinh tồn khốc liệt. Nhưng vì đã có tháp Baben để con người chịu lời nguyền chia rẽ về ngôn ngữ nên phải có một thứ Baben khác để con người chịu lời nguyền thứ hai: Sự chia rẽ về niềm tin. Đấng Omnipussant xuất hiện dưới những gương mặt khác nhau, mặc những thứ trang phục khác nhau, đòi những món ăn khác nhau trong ngày lễ và sau rốt, ra những chỉ định khác nhau cho con chiên của họ. Vì những khác biệt này, sự cứu rỗi của nhân loại đã trở thành duyên cớ cho biết bao cuộc chiến tranh kinh khủng, tàn độc trong lịch sử.

Vì cớ gì Chúa của người Do Thái khác Chúa của người Thiên Chúa giáo, từ những dữ kiện nào, được ghi nhận vào năm tháng nào, và do ai chịu trách nhiệm về tính chân thật?...Dường như không có lời giải đáp. Vậy mà trong gần hai mươi thế kỉ, những cuộc tàn sát người Do Thái diễn ra không ngưng nghỉ cho đến tận ngày Giáo Hoàng Paul II chính thức nói lời đề nghị tha thứ trước toàn thể dân cư trên hành tinh.

Thêm nữa, dưới chỉ định nào của Jesus mà suốt mấy trăm năm những người Thiên Chúa giáo dồn những người theo đạo tin Lành lên các vùng núi trong một cuộc chiến tranh tàn khốc cho đến nỗi những giáo dân Tin Lành chỉ được quyền làm bánh mì một lần trong năm, chỉ được ăn bánh mới một ngày độc nhất trong 365 ngày. Nhiều thế kỉ đã trôi qua, nhưng ngày hội bánh mới vẫn còn và những ngôi nhà của người Tin Lành trên các vùng núi nước Pháp vẫn nguyên vẹn với những bức tường dày hơn cả tường của các pháo đài xưa cũ.

Giờ đây, nếu nhìn lại quá khứ, liệu có lý thuyết nào xứng đáng để biện minh cho những tầng xác chết của giáo dân vùi dưới lòng đất, những con người cùng đeo thánh giá, cùng múc những nguồn cảm xúc tinh thần trong Kinh Phúc Âm và cùng quỳ gối trước một ông thánh bị đóng đinh?

Chỉ có thể lý giải: Mọi niềm tin đều có khả năng điên rồ và chúng đã dẫn tới sự điên rồ.

Có lẽ vì mệt mỏi với những cuộc chiến tranh tôn giáo, con người tìm nguồn cứu rỗi trong lý trí trong sự khôn ngoan, trong các loại biện chứng pháp, và sức mạnh thần kỳ của nền kĩ trị. Vào thế kỷ 18 và 19, đã có lúc con người của chủ nghĩa duy lý tin rằng họ là những Pha-ra-on cuối cùng của nhân loại và từ nay về sau, mọi chân trời đều khép kín, hạnh phúc đã vĩnh định trong các sơ đồ vẽ sẵn.

Từ năm 1968 cho tới gần đây, nhiều giáo sư triết học Pháp đã hớn hở tìm những vấn đề trong tương lai còn khiến dân chúng quan tâm. Nói cách khác, họ đặt từ cuối cùng cho nhân loại: Người thì tin rằng từ đó là Tiện Nghi, người gọi từ tối hậu là Sex…Họ tin chắc rằng sau cuộc cách mạng tình dục, nước Pháp sẽ không còn con bệnh tâm thần, và mọi cuộc cởi trói sẽ biến xã hội Pháp thành cõi thiên đường nơi hạ giới…

Nhưng ngày hôm nay, người ta có thể gặp những người mất thăng bằng tinh thần, những con bệnh tâm thần thực thụ ngay trên đường phố Paris, ấy là chưa kể đến những khu vực bidon-ville ở ngoại ô.

Như vậy là sự thông minh cũng có thể nhầm lẫn, cũng có thể hàm hồ. Những hy vọng thái quá ở sức mạnh của lý trí cũng dẫn đến một sự điên rồ khác. Sự điên rồ của nền kĩ trị, sức tàn phá không thể so sánh của nó trong việc hủy hoại môi sinh và sỉ nhục con người. Những vấn đề ấy không còn là mới mẻ.

Vậy chúng ta sẽ sống ra sao đây giữa hai làn đạn chéo? Sự điên rồ của niềm tin và Sức mạnh phá hủy của sự duy lý?...Chúng ta sẽ sống ra sao đây giữa các tầng mây nhiễm phóng xa và tiếng gào thét của những phần tử cực đoan đạo Hồi?

Liệu chúng ta có thể lấp đầy vực thẳm phân ly giữa niềm tin và lý trí? Câu hỏi này có vẻ như ngớ ngẩn bởi dù đức tin hay lý trí, chúng cũng đều xuất phát từ con người, cấu thành một phần bản thể Người.

Đức tin khi bị dẫn dắt bởi sự vị ngã sẽ dẫn nhân loại tới sự suy đồi, độc ác. Bởi lúc đó, dù là đấng Tối cao của người Do Thái, chúa Jesus, hay thánh Allah thì họ cũng chỉ là những cái cớ sang trọng để biện minh cho sự phóng chiếu bản năng gốc của con người. Nhân loại cần những ông thánh để hợp lý hóa sự tham tàn của họ, nhu cầu thù ghét tha nhân mà họ được nuôi dưỡng từ thuở hồng hoang khi phải tranh cướp con mồi. Bản năng xâm kích song sinh với bản năng tình dục, một kẻ dẫn đường không kém phần uy lực trong suốt cuộc tồn sinh.

Lý trí khi bị dẫn dắt bởi vị ngã cũng dẫn con người tới cùng một vực sâu như đức tin, vì nó là thành phẩm của con người, do con người sáng chế, nó không thể tránh khỏi vòng quay ma quỷ của dục vọng. Dục vọng được biểu tượng như một chiếc túi không có đáy. Với số đông, ý thức được sự vô bờ bến của dục vọng dường như quá khó khăn.

Nhưng có lẽ nhiệm vụ của những người cầm bút là ở nơi khó khăn này.

Họ cần phải thức tỉnh lương tâm con người. Bởi lương tâm thường mệt mỏi và luôn thiu thiu ngủ. Họ cần kêu gọi lòng từ ái, bởi trước những bản năng sâu xa nhất tồn tại vĩnh cửu nơi con người, lòng từ ái, sự hy sinh quả là điều rất đỗi mong manh.

Nếu như cả đức tin lẫn lý trí đã chứng minh khả năng tàn phá, hủy diệt với tất thảy những chiều kích của sự điên rồ, thì chỉ còn lại phẩm chất duy nhất có thể cứu rỗi chúng sinh, ấy là lòng tốt. Một mai đây, nếu hành tinh này còn có thể tồn tại được, chắc chắn là nhờ ơn phước của những con người từ ái, cao thượng, những người có Trái tim vàng, chứ không thể là các lãnh tụ tôn giáo hoặc các kĩ trị gia.

Để kết thúc bài viết này, tôi xin được mượn lời Nguyễn Du, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam:

Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
Có đâu thiên vị người nào,
Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai,
Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh.

Dương Thu Hương: Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

Bấm vào đây để nghe
Dương Thu Hương tại Ðại Hội Pen World Voices ở New York
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần
Ðã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiên căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

Nhà văn Dương Thu Hương đã chọn những câu thơ Kiều vừa rồi làm lời kết cho bài tham luận đọc tối thứ tư tại Đại hội Pen World Voices tổ chức tại thành phố New York từ ngày 25 đến ngày 30 tháng này.

Đây là lần đầu tiên tác giả những tiểu thuyết đã được dịch ra một số ngoại ngữ như Tiểu Thuyết Vô Đề và Chốn Vắng, và tác phẩm Những Thiên Đường Mù đã bị cấm phổ biến tại Việt Nam, đến Hoa Kỳ.

Trong khuôn khổ đề tài Niềm Tin và Lý Lẽ, Tiếng nói của những người viết, bài tham luận của bà Dương Thu Hương có tựa là Sự Cứu Rỗi Cuối cùng đã được bà Nina McPherson trình bầy bằng tiếng Anh.

Bà Dương Thu Hương cho rằng trên con đường vô tận của lịch sử, niềm tin tôn giáo là tấm chắn đầu tiên bảo vệ tâm hồn còn non yếu của con người. Các quyền lực tối thượng đã nay sinh để đem lại sứ mạnh cho con người nhằm chống chọi với các thiên tai, dịch bệnh và ngay cả cuộc đấu tranh hàng ngày để sống còn.

Dương Thu Hương và phóng viên Minh Phượng
Theo bà Dương Thu Hương, sứ mạng của nhà văn là đánh thức lương tâm con người. Nhà văn kêu gọi trái tim, lòng từ ái và khả năng hy sinh của con người. Bà nói rằng một ngày nào đó, nếu hành tinh này còn tồn tại thì chắc chắn không phải nhờ các nhà lãnh đạo tôn giáo hay các chuyên gia kỹ thuật, mà là nhờ ơn phước và lòng từ ái của những người biết yêu thương và nghe theo tiếng nói của trái tim.

Đại hội PEN World Voices quy tụ các nhà văn nổi tiếng khắp thế giới, trong đó có những người đã được giải Nobel văn chương như Salman Rushdie và Toni Morrison.

Nhà văn Bà Tùng Long qua đời

Nhà văn với bút danh quen thuộc Bà Tùng Long đã qua đời tại tư gia lúc 17g15 ngày 26-4 sau một thời gian dài lâm trọng bệnh. Ra đi ở độ tuổi 92, Bà Tùng Long là một trong những người thuộc lớp nhà văn thành danh tại Sài Gòn trước 1975. Bà tên thật là Lê Thị Bạch Vân, sinh năm 1915 tại Đà Nẵng, lập nghiệp bằng nghề viết văn tại Sài Gòn và thành công ở thể loại tiểu thuyết tâm lý xã hội.

Bà chính là người đầu tiên lập ra mục “Gỡ rối tơ lòng” trên một số báo ở Sài Gòn trước 1975, tạo nên tiền lệ giải đáp thắc mắc về tâm lý, tình cảm của phụ nữ trên mặt báo Việt Nam.

Sự nghiệp sáng tác của bà gồm 60 tiểu thuyết (trong đó có 16 tiểu thuyết được tái bản sau 1975), chủ yếu đề cao vai trò của người phụ nữ trong cuộc sống, cổ xúy cho việc bình đẳng nam nữ, giáo dục việc xây dựng hôn nhân gia đình.

Các tác phẩm tiêu biểu như: Bóng người xưa, Người xưa đã về, Giang san nhà chồng, Mẹ chồng nàng dâu, Vợ lớn vợ bé, Duyên tình lạc bến, Hứa hẹn, Mưa dầm thấm đá, Đời con gái... Tác phẩm cuối đời của bà là tập hồi ký xuất bản năm 2003. Sách của bà đã được Công ty Phương Nam mua bản quyền từ năm 2004.

Tang lễ cử hành tại tư gia (6 Đinh Bộ Lĩnh, P.24, Q.Bình Thạnh, TP.HCM), lễ động quan vào lúc 7g ngày 29-4-2006 (mồng 2-4 âm lịch), linh cữu được đưa đi an táng tại nghĩa trang Trung Việt ái hữu (quận Thủ Đức).

Dục tính trong văn chương: Bích Khê, “thi sĩ thần linh” - “thơ lõa thể”

Sau khi tắm, tác phẩm của Auguste Renoir (1841-1919) - Bích Khê đã đặt Dâm ngang hàng với Đẹp, và như thế với ông đó là một phạm trù thơ. Tên phạm trù đó, loại thơ đó Bích Khê cũng đã đặt: thơ lõa thể. Và ông tự nguyện hiến mình cho loại thơ này.
I. Xác thịt lên ngôi thần

Nàng Thơ của Bích Khê là một người “đẹp và dâm”. Chân dung nàng luôn được thi nhân trình bày ở dạng lõa thể, khỏa thân. Nhìn vào đó ta thấy Nàng đẹp.

Đẹp một cách tổng quát:

Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi (I) (Lõa thể)
Đẹp ở “cặp đùi non, một vẻ tơ mơ một vẻ ngon”.

Đẹp ở cặp mắt “xanh tợ ngọc”, “đa tình ngời sắc kiếm”, “kho tàng muôn châu báu”. Bích Khê thấy Hai mắt ấy chói hào quang sáng ngợp / Dẫn ta vào thế giới thiêng liêng. Đó là ánh sáng soi đường thơ cho nhà thơ. Cặp mắt và bầu vú là hai ám ảnh thơ của Bích Khê, xuất phát từ cách nhìn lõa thể thơ của ông. Nhiều nhà thơ mới đã ca ngợi đôi mắt phụ nữ, nhưng nói đến vú thì hình như chỉ Bích Khê là một.

Đẹp ở đôi bầu vú:

Những vú nõn: đồi cong thon, nho nhỏ
Với đôi dòng suối sữa trắng như tinh
(Sắc đẹp)
Vẻ chi mãnh liệt nhưng êm ái
Trong cặp tuyết lê ướm dậy thì
(Châu)
Bích Khê nói nhiều đến đôi vú Người Nữ, của Nàng Thơ. Vì với ông đó là nguồn thơ. Ông làm thơ tức là ông “nút” vú, “nút” tinh chất của Người Nữ, của Nàng Thơ, là tìm chất quý thơm tinh mùi khoái lạc. Động từ “nút” của tiếng địa phương miền Trung được dùng nhiều trong thơ Bích Khê là liên quan đến cảm hứng cảm xúc này của nhà thơ. Thêm một trạng từ địa phương nữa thường được dùng đi cùng động từ này - “nư”. Nút cho nư, đã nư, tức là nút đến no nê, tràn đầy, thỏa mãn. (Hàn Mặc Tử cũng hay dùng những từ này).

Với cô gái trong một bức tranh lõa thể:
Hai vú nàng! Hai vú nàng! Chao ôi!
Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng
Với “người em lãng mạn” trong một bức ảnh:
Anh tính ôm chầm lấy mắt mơ
Lấy môi lấy má... lấy ngây thơ
Để anh nút ớn mùi hương ấm
Của một tình yêu giận hững hờ

Với “một cô đào hát bộ”:

Tôi chợt ôm cô trong giấc mộng
Nút bao thanh khí, đã nư thèm...

Cả với một cảnh vật mùa xuân Bích Khê cũng “vú hóa” theo cảm hứng này: “Nâng lên núm vú đồi / Sữa trăng nhi nhỉ giọt”. Từ đó mùa xuân mới chảy vào thơ ông thành xuân tượng trưng. (So sánh với Hàn Mặc Tử cũng viết về đồi và trăng: Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ / Đầy mình lốm đốm những hào quang. Hai cách viết thơ khác hẳn nhau, một bên là đi vào liên hệ bên trong, một bên là nhân hóa cảnh tượng bên ngoài).

Đẹp ở da thịt “nức một đường thơm một điệu êm”, tỏa một mùi hương “còn thơm hơn chất xạ”, khiến thi nhân muốn “Cho ta xin trong một tối du dương / Muôn thớ đàn run trên da thịt tuyết”. Da thịt tuyết này còn hiện ra ở tràng cánh trắng của đồ mi hoa, trong khi Đài nộn nhụy hóa nguồn trinh tinh khiết. Và Bích Khê phổ cả cảm hứng nhục thể vào bầu trời khi từ đỉnh Ngũ Hành Sơn nhìn lên:

Có ai biết trên cao
Da trời màu thịt sứa
Da trời se chất sữa
Truyền cảm hứng mênh mông

(Ngũ Hành Sơn - bài hậu)

Đến cả mộng của ông cũng là “mộng lạ”. Các nhà thơ mới hay mộng, mà mộng gặp tiên, gặp người đẹp, chuyện ấy đã thường. Bích Khê cũng mộng, trong mộng cũng gặp các nàng “giai nhân hiện dưới bóng hằng nga” (một motiv quen thuộc, như đã thành một cliché của thơ lãng mạn), rồi cũng tả sắc đẹp của người đẹp ở mắt môi dáng đứng dáng đi. Đột một cái, hai câu kết bài “Mộng lạ”: Ôi đi! Đoàn tiên lột khỏa thân / Hoan hô xác thịt chiếm ngôi thần. Thế là tiên đã thành người trần. Mộng đã thành thực. Thơ tiên đã thành thơ phàm. Ở một bài khác (Hiện hình) trước khi thấy Một người thiếu nữ hiện trong trăng thì thi nhân đã ngửi thấy Thơm tho mùi thịt bắt say ngà! Ông tự nhận Hồn tôi mất cả đồng trinh vì mê luyến những hình thiên nga. Cho nên trong một lần Mơ tiên ông đã những muốn đi cướp mây trời / vén ra cho thấy một vài nường tiên để coi hồn đương say nghiền / đã nư khoái lạc trong miền chiêm bao. Khoái cảm nhục thể của Bích Khê quả là mạnh trong thơ ông. Đến mức một trái cây như trái măng cụt cũng thành ra da thịt người dưới mắt ông, múi mát tợ thịt thơm, và ăn nó như là bú vú vậy, mùi sữa mớm vô răng.

Bích Khê có hẳn một bài thơ đặt tên là Xác thịt:

Tôi vồ người như một miếng mồi ngon
Miệng ngậm hờn riết chặt lấy môi son
Mắt đổ lửa lườm qua làn sóng sắc...
Tôi giật nẩy rồi cười lên sặc sặc
Hai tay cào đôi vú trắng như bông

Hàn Mặc Tử cho rằng đọc những vần thơ ấy “giây thần kinh và gân huyết ta rung động say mê bởi những làn khoái lạc của xác thịt nóng, thơm, ran ran lên cả người” (II).

Như vậy, xác thịt được đặt lên ngôi thần, được đưa vào ngôi chủ thơ. Đó là Bích Khê. Ông “hoan hô” cái sự đó, nghĩa là ông thấy ở đó nên thơ và đáng thơ.

Nàng thơ của Bích Khê hiện hình trong thơ ông qua tên gọi phiếm chỉ những người phụ nữ khác nhau. Duy chỉ có một nàng được ông gọi thẳng tên và nhắc đến nhiều lần với niềm yêu thương, trân trọng. Đó là nàng Xuân Hương.

Ông gặp nàng ở bến sông Ngân:
Ô! Nàng Xuân Hương ngực để trần
Ngâm bài “Vấn nguyệt” tiếng trong ngần
Nhìn xuống nhân gian cười như điên

(Nghê thường)

Ông muốn xuống địa ngục trong cơn ăn mày cảm hứng “Đặng ngủ nhờ một đêm với Xuân Hương”. Ông nằm mộng “Thì mộng: Xuân Hương nường đã đến / Thưa cô, dáng nguyệt tuyết còn vương”.

Và ông có hẳn một bài thơ nhan đề Hồ Xuân Hương mời nàng nữ sĩ về làm vợ mình, gọi bà là người vợ trong thơ. Ông đồng điệu tri âm với nữ sĩ trong loại thơ đặc sắc của bà mà chắc ông muốn học theo: Văn chương quán thế không ai biết / Trong mộng mình về thưởng với tôi. Xuân Hương trong mắt Bích Khê vẫn mãi đẹp.

Đêm nay nửa gối nghiêng nghiêng mộng
Muôn dặm người xa đã thấy về
Xanh liễu ngoài sân vừa đổi biếc
Màu thi sắc lá đọ dung nghi

Phải chăng Bích Khê thấy ở Hồ Xuân Hương sự đồng điệu với ông trong quan niệm thơ lõa thể - đẹp và dâm? Nàng thơ là người đẹp, nhưng cái đẹp đó phải được thức dậy, được sống động ở nhục thể, ở da thịt, ở ân ái. Có là mộng, là thiên tài, thì cũng phải Trên hỗn độn khỏa thân. Thơ, với Bích Khê, là da thịt biến ra thơm, là Bắn tinh ra trộn trạo giữa nguồn hương khi Cả địa ngục đi vào trăm lỗ hổng, là Hợp tinh khí chảy ra thành chất ngọc. Ông nói thẳng ra những điều Hồ Xuân Hương thể hiện lấp lửng hai mặt. Ông tuyên bố:

Ôi! say khướt mới dào muôn ý tứ
Ôi! điên rồ mới ngợp ánh chiêm bao
Ôi! dâm cuồng mới biết giá trăng sao! (III)
Duy tân thơ của Bích Khê, vì thế, là thơ lõa thể.

II. Thơ lõa thể

Sự đậm đặc những hình ảnh, cách nói về thân xác và hoạt động thân xác ở thơ Bích Khê như ta đã thấy không hề là ngẫu nhiên. Bích Khê có lẽ là nhà thơ ‘ca tụng thân xác” say sưa và nồng nhiệt nhất thơ Việt. Có thể có yếu tố phân tâm học bệnh lý của Bích Khê ở đây. Nhưng cái chính, đó là một quan niệm thơ của ông.
Văn học lãng mạn Việt Nam (Tự Lực Văn Đoàn và Thơ Mới) có một đóng góp cách tân lớn là xác lập và đề cao cái đẹp thể chất của con người. “Dâm” trong “đẹp và dâm” của Bích Khê có thể hiểu theo nghĩa này, như những câu thơ, đoạn thơ tôi dẫn ra trên đây đã cho thấy. Nhưng như đã nói, mệnh đề này còn là quan niệm thơ của Bích Khê, và như thế để hiểu rõ nó thì cần đặt nó vào hệ thống của “trường thơ Bình Định”. Hàn Mặc Tử chủ trương thơ Điên. Chế Lan Viên làm thơ Loạn. Thơ Điên, thơ Loạn, “cái gì của nó cũng tột cùng”, “cái gì nó nói đều có cả” (Chế Lan Viên). Bích Khê ở trong môi trường này cũng sẽ làm thơ theo không khí và tinh thần đó. Tập Tinh huyết của Bích Khê là do Hàn Mặc Tử đề tựa sau khi đã “khích” bạn mình sáng tác “đợt hai” và Hàn đã rất ca ngợi đợt sản phẩm mới này của bạn (IV). Tinh huyết có ba phần: Nhạc và lệ, Đẹp và dâm, Cuồng và ánh sáng, nhưng tôi thấy tinh thần của phần giữa là quán xuyến cả tập. Như vậy có thể nói Bích Khê làm thơ Dâm, hiểu theo nghĩa ông phơi mở và đề cao thân thể phụ nữ và các hoạt động thân thể mà ông tụng ca là Đẹp, là Thơ. Giống như thơ Hồ Xuân Hương bị coi là dâm nhưng đó thực là thơ ca ngợi vẻ đẹp cơ thể phụ nữ và đòi quyền sống cho thân xác con người trong tình yêu đôi lứa. Ở đây không cần phải biện hộ gì cho chữ Dâm cả, Bích Khê đã đặt Dâm ngang hàng với Đẹp, và như thế với ông đó là một phạm trù thơ. Tên phạm trù đó, loại thơ đó Bích Khê cũng đã đặt: thơ lõa thể. Và ông tự nguyện hiến mình cho loại thơ này.

Thơ lõa thể! Giai nhân tuần trăng mật
Nữ thần ơi! Ta nô lệ bên người

Điên - Loạn - Dâm, có thể coi đó là đặc trưng của “trường thơ Bình Định” với nghĩa bộc lộ hết mình và tột cùng, cả thể chất và tinh thần, trong cơn sáng tạo quyết liệt. Bởi thế, đọc thơ họ, một nhà phê bình nhạy cảm và tinh tế như Hoài Thanh cũng phần nhiều chịu bó tay. Ông “mệt lả” khi theo Hàn Mặc Tử. Ông thấy Chế Lan Viên là “niềm kinh dị”. Với Bích Khê ông thú nhận là đành “kính nhi viễn chi”. Tất nhiên, phải nói thêm ở đây, mỹ cảm của Hoài Thanh là nằm trọn trong chủ nghĩa lãng mạn, mà các nhà thơ “trường thơ Bình Định” thì ít nhiều đã vượt sang chủ nghĩa tượng trưng.

Thơ lõa thể, đó là hồn và xác. Đó là lãng mạn và tượng trưng. Thơ Mới đến Bích Khê và nhóm thơ Bình Định đã vượt qua những cảm xúc lãng mạn thời kỳ đầu để tiến tới những biểu hiện của tượng trưng, siêu thực về sau. Theo nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu, Thơ Mới Việt Nam (xét dưới góc độ: “Sự tương hợp giữa Thơ Mới và Thơ Pháp trong cuộc giao thoa của hai văn hóa Việt Nam và Pháp nửa đầu thế kỷ XX”) có hai làn sóng. Làn sóng thứ nhất “chịu ảnh hưởng chủ yếu của thơ lãng mạn Pháp nửa đầu thế kỷ XX”. Lớp nhà thơ thuộc làn sóng này viết diễn cảm. Làn sóng thứ hai “chịu tác động sâu sắc của Baudelaire và những nhà thơ tượng trưng chủ nghĩa Pháp”. Lớp nhà thơ của làn sóng này viết diễn đạt cái tương hợp (V). Bích Khê là nhà thơ mới thuộc làn sóng thứ hai. Đẹp và dâm, vừa là sự đối nghịch, vừa là sự tương hợp. Thơ cũng vậy. Thơ lõa thể của Bích Khê là vậy.

Có hiểu thế ta mới hiểu vì sao bài thơ nhan đề Trái tim của Bích Khê lại kết thúc bằng hai câu thơ có hai gạch đầu dòng, trong đó câu cuối cùng rất gây “sốc” khi mới đọc qua (và có thể là “tục” nữa nếu ai muốn nghĩ thế).

- Yêu bằng mộng là mơ tim sáng láng
- Đây sự thực trần truồng nằm giữa háng!

Hai cái gạch đầu dòng cho phép hiểu hai câu thơ này như một cặp câu đối thoại. Ở đoạn hai của bài thơ đã có cuộc đối thoại của “tôi” với “cô”. Tôi ăn mày chỉ một trái tim thôi / Lạy tứ hướng cô mới chịu cho tôi / Cô vùng vằng là tôi không có thả... Tiếp đó là hai câu độc thoại: Mình say chưa? Mình đã thật say sao / Có lảo đảo, có điên cuồng đấy chứ? Và sau ba câu để trong ngoặc đơn vừa như giải thích, vừa như tuyên ngôn mà tôi đã dẫn ở trên (Ôi! say khướt...) là đến hai câu gạch đầu dòng này kết thúc bài thơ. Có thể hiểu câu Yêu bằng mộng... là lời cô gái chăng, và câu Đây sự thực... là lời “tôi”-chàng trai chăng. Cũng có thể hiểu cả hai câu là hai ý nghĩ vật lộn, đan xen trong tâm trí của ‘tôi” chăng. Hiểu cách gì thì cũng thấy toát lên một ý là Bích Khê trong thơ rất ám ảnh và ám gợi thân xác, nhục thể. Ngay trong bài này đã có câu Đây xác thịt ớn lên vì đã mệt. Đọc kỹ cả bài thơ Trái tim thì thấy đó như không phải nói trái tim, mà nói chuyện thân xác.

Yêu thực là yêu bằng cả tình cảm và nhục thể. Có lẽ đối với Bích Khê thơ đẹp là thơ phải có dâm, là mộng cộng sự thực. Có thể thấy rõ điều này qua một phép so sánh hai bài thơ của Bích Khê và Hàn Mặc Tử, hai người bạn thơ gần gũi thân thiết và có nhiều điểm tương đồng. Cả hai bài cùng viết về đề tài tân hôn, cùng đều bốn khổ. Nhưng cảm hứng thì khác hẳn. Hàn Mặc Tử nghiêng về mộng nhiều hơn, sợ khi đã qua đêm tân hôn rồi thì Không còn ý nhị ban đầu nữa / Sẽ chán chường và sẽ chán chê.

Cho nên tôi tưởng tối tân hôn
Chưa tới, còn xa để được buồn
Để sống trong niềm thương nhớ đã
Để còn mường tượng đến giai nhơn (VI)

Một tâm trạng rất lãng mạn chủ nghĩa! Tâm trạng này của Hàn Mặc Tử cũng là của Vũ Hoàng Chương trong bài thơ cũng có tên là Tối tân hôn. Họ Vũ coi đó là sự bắt buộc rời xứ Mộng, là từ thiên giới thanh cao phải quay về hạ giới nhơ bẩn. Tối tân hôn là thời điểm mộng chết.
Hai xác thịt lẫn vào nhau mê mải
Chút thơ ngây còn lại cũng vừa chôn
Khi tỉnh dậy, bùn nhơ nới Hạ giới
Đã dâng lên ngập quá nửa linh hồn (VII)
Bích Khê thì khác, ông nhìn thẳng và phơi bày sự thực: Họ tưởng tân hôn êm ấm lạ / Không hay sao ốm lả hoa tàn... / Họ tưởng tân hôn êm ấm lạ / Không hay xuân kín vỡ màn trinh... Và thi nhân chúc mừng đôi lứa tân hôn:
Mộng rớt đêm nay như chất ngọc:
Người ta say nghiến những men tình
Tôi hoan hô - phút giây thần diệu
Chết giả nhưng cười trắng thủy tinh
Có ẩn ức tâm lý gì ở đây không, nhưng về thơ thì rất baudelaire! Và cũng như lần đầu hoan hô xác thịt, lần này ông lại hoan hô tối tân hôn. Với ông, những gì liên quan đến nhục thể là đáng ngợi ca và đáng làm thơ.

Hàn Mặc Tử gọi Bích Khê là “thi sĩ thần linh”. Ông cho thơ Bích Khê ở tập Tinh huyết có ba tính cách: 1) Thơ tượng trưng, 2) Thơ huyền diệu, và 3) Thơ trụy lạc. Nhận xét về thơ trụy lạc của bạn mình, Hàn viết: “Ở địa hạt dâm cuồng này, ta thấy thi sĩ Bích Khê hoàn toàn là Baudelaire. Vì trong tác phẩm chàng, gợi dục tình thì ít, mà làm cho người ta ghê rợn đến gớm guốc cái cảnh trần truồng khả ố thì nhiều” (VIII).

Điều này không hẳn đúng. Loại thơ nhục thể của Bích Khê một mặt, thể hiện niềm khát sống, niềm hoan lạc trần thế của con người nói chung, của chính nhà thơ nói riêng. Mặt khác, Bích Khê đã nâng khoái cảm nhục thể ấy lên thành một nguồn cảm hứng, một mỹ học thơ. Thơ “lõa thể” của ông đọc lên không thấy gợi dục tình theo hướng xấu xa, điều này Hàn Mặc Tử nói đúng, nhưng cũng không hề gợi cảm giác ghê rợn, gớm guốc. Đọc chúng, ta được khoái cảm tổng hợp của sự tương giao âm thanh, màu sắc, hương thơm như một đặc tính cốt yếu của thơ tượng trưng. Tính chất “thần linh” của Bích Khê, nếu có, thì không chỉ ở những bài thơ huyền diệu, siêu thoát, mà ở cả chỗ này nữa: ông nói tục mà thanh, ông nói những điều khó nói mà nói được một cách tự nhiên, thanh thoát. Ta hiểu thêm một lý do nữa vì sao ông thích thú và gần gũi với Hồ Xuân Hương đến vậy. Và ta cũng hiểu vì sao Bích Khê lại gọi Baudelaire là “Vua Thi Sĩ”, vì ông đã học được bao nhiều mùi thi vị ở tác giả Hoa Ác (Les Fleurs du Mal):

Có những mùi hương mát như da thịt trẻ con
Êm nhẹ như tiếng sáo, xanh mướt như cỏ non
Và những mùi hương oanh liệt, phong phú và trụy lạc
- Tỏa khắp không gian như những cái vô hạn, vô cùng
Như nhựa thơm, như xạ, như hương trầm
Hát ca những khoái lạc của tinh thần và thể xác (IX)
(Bản dịch của Vũ Đình Liên)
và ông muốn phà hơi lên cho mùi thi vị đó từ Baudelaire truyền nhiễm thấu trần ai (Ăn mày).
Cuối cùng, tất cả tan hòa, khi Nàng bước tới...
Nàng! nàng! nàng! không có nữa châu thân
Xác là mộng mà tình là tuyệt đích
Hỡi không gian! hãy tan ra tiếng địch
Của lòng yêu ca ngợi tuyệt vời cao
Hỡi trần gian! hãy chết ngột trong sao
Cho chân lý ngời ra như lưỡi kiếm
Cho tình ta xô dồn sang cực điểm
Và hào quang khiêu vũ với hào quang...

Thân xác, nhục thể tắm gội trong một tâm hồn mang khí vị thần linh của thi sĩ đã biến thành hào quang lung linh. Thơ lõa thể của Bích Khê đã phát quang như vậy. Và đó là phép thơ riêng của ông. Một phép thơ đã để lại những lời thơ đầy hơi hám, nghĩa là có mùi vị, nghĩa là không bị tiệt trùng, nghĩa là sống, mà Bích Khê tin chắc là tay khách đa tình sẽ chuyển trao. Niềm tin của ông đã thành sự thực. Thơ lõa thể của ông một thời gian dài bị im lặng, nay được đem ra đọc, và còn nói được nhiều điều cho thơ và các nhà thơ hôm nay.
Hà Nội rằm Giêng Bính Tuất (2006)
Phạm Xuân Nguyên
Ghi chú: Bài này đã đọc tại hội thảo Thơ Bích Khê do Hội Nhà văn Việt Nam và Hội văn học nghệ thuật Quảng Ngãi tổ chức tại thị xã Quảng Ngãi (20-21/2/2006) và đã đăng tạp chí Nghiên Cứu Văn Học (Viện Văn Học) số 4/2006.
Chú thích:
(I) Tất cả thơ Bích Khê dẫn trong bài này đều rút từ sách Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm, Nxb Hội Nhà văn, H. 1999, tr. 265 - 346.
(II) Hàn Mặc Tử. Bích Khê, thi sĩ thần linh, in trong sách: Tuyển tập phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam (1900 - 1945), Nxb Văn Học, 1997, tập IV, tr. 140 - 141. Đây là bài Hàn Mặc Tử viết tựa cho tập Tinh huyết. Điều đáng chú ý là bài thơ Xác thịt này không thấy có trong Tinh huyết in ở sách Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm. Mấy câu thơ trên tôi lấy từ bài của Hàn Mặc Tử.

(III) Trong bài tựa Tinh huyết của Hàn Mặc Tử (Sđd, tr. 142) mấy câu này được dẫn khác:

Có say khươt mới dào muôn tứ ngọc
Có điên rồ mới hớp ý trăng sao
Có dâm cuồng mới dâng cả lên cao
Nơi chu lưu một nguồn thơ bất tuyệt
Theo bản này thì càng thấy rõ ý của Bích Khê hơn.
(IV) “Suốt trong một năm 1938, tôi hết sức khích lệ chàng, mong mỏi ở chàng một thi sĩ xuất sắc, cao cường. Cái hy vọng của tôi sốt sắng quá, nóng nảy quá, đã một lần đưa tôi vào sự chán chê và tức bực. Gần cuối năm ấy, chàng gửi ra cho tôi nhiều thơ, mà tôi chẳng lựa được bài nào cả. Tôi gửi trả lại chàng kèm với bức thư mà tôi dùng rất nhiều lời khiêu khích mỉa mai (cốt làm cho chàng tức). Quả nhiên chàng giận run người lên và vội trả lời, thề với tôi rằng: Trong sáu tháng sẽ trở nên một thi sĩ phi thường, bằng không sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến làm thi sĩ nữa. Ngờ đâu sự hằn học của chàng bật nẩy thiên tài của chàng ra. Không đợi đúng sáu tháng, chỉ trong vòng ba tháng thôi, chàng đã viết được một tập thơ, viết bằng máu huyết tinh tủy và châu lệ, và tất cả say sưa, đắm đuối của một hồn thi sĩ” (Hàn Mặc Tử. Bích Khê, thi sĩ thần linh, Sđd, tr. 130 - 131).
(V) Đỗ Đức Hiểu. Đổi mới đọc và bình văn, Nxb Hội Nhà văn, H. 1999, tr. 153 - 154.
(VI) Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm, Sđd, tr. 154.
(VII) Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm, Sđd, tr. 447.
(VIII) Hàn Mặc Tử. Bích Khê, thi sĩ thần linh, Sđd, tr. 141.
(IX) Il est des parfums frais comme des chairs d'enfants,
Doux comme les hautbois, verts comme les prairies,
— Et d'autres, corrompus, riches et triomphants,
Ayant l'expansion des choses infinies,
Comme l'ambre, le musc, le benjoin et l'encens,
Qui chantent les transports de l'esprit et des sens.

Phim kinh dị thắng thế

Cảnh trong phim The hills have eyes, phim đang ăn khách nhất khu vực Bắc Mỹ
Bộ phim kinh dị Silent hill đã thay thế vị trí đầu bảng Top 10 phim ăn khách nhất khu vực Bắc Mỹ của Scary Movie 4 tuần qua, báo hiệu mùa phim kinh dị thắng lớn Ba ngày trình chiếu đầu tiên Silent hill thu 20,2 triệu USD, còn Scary Movie 4 cũng thuộc thể loại kinh dị nhưng pha nhiều tiếng cười tính đến nay đã thu 67,7 triệu USD tiền vé sau 2 tuần chiếu. Có thể nói phim kinh dị đang được một mùa bội thu.

3-4 phim/tháng

Theo biên tập viên tạp chí Fangoria Tony Timpone, trước đây mỗi năm chỉ có chừng 3-4 phim kinh dị, còn hiện nay là 3-4 phim/tháng. Nhìn vào danh sách phim Hollywood được xếp lịch trình chiếu trong năm nay có thể thấy rõ điều đó. Mở màn đầu năm là Hostel (ngày 6-1), một bộ phim kể về việc 2 thanh niên Mỹ Paxton, Josh và 1 người Iceland Oli cùng đi du lịch đến châu Âu, nghỉ trọ trong một nhà nghỉ ở Slovakian, cả 3 đều không biết chuyện gì đang chờ đợi trong ngôi nhà nghỉ khủng khiếp này. Vài ngày sau khi ra mắt, hãng Lion Gates ung dung bỏ túi gần 50 triệu USD trong khi kinh phí làm phim chỉ 4,8 triệu USD. 65% khán giả đến xem Hostel còn rất trẻ: dưới 25 tuổi. Ra mắt muộn hơn Hostel có Underworld: Evolution, cũng đẫm máu không kém. Sau Hostel, Underworld: Evolution, đến tháng 2, phần 3 loạt phim nổi tiếng Final destination ra đời đưa người xem tới mức độ ngày càng rùng rợn hơn. Lần này là câu chuyện thoát chết trong gang tấc của một nhóm học sinh khi họ đang chơi trò tàu lượn. Trước Final destination 3 là một bộ phim chỉ cần nghe qua cái tên cũng đủ biết mức độ rùng rợn của nó: When a stranger calls. Phim kể về Jill Johnson, một nữ sinh nhận giữ trẻ qua đêm cho một gia đình, mỗi tối cô đều nhận được nhiều cú điện thoại từ một kẻ lạ hỏi thăm xem đã chăm sóc lũ trẻ chưa. Điều đáng sợ là số điện thoại kia được gọi đến từ... trong nhà.

Cao điểm nhất phải kể đến tháng 3 vừa qua khi màn ảnh tràn ngập hàng loạt tác phẩm dựng tóc gáy và tất cả đều đạt doanh thu không tồi: Slither, Stay alive, The hills have eyes. Từ nay đến cuối năm, danh sách phim dạng này còn dài ra thêm với các phim The Omen, Pulse, The returns, Grind house, Black Chrismas, Cruel world, The Grudge 2...

Sẽ có các phần tiếp theo

Bắt đầu từ mùa thu năm ngoái, người ta đã ước tính được rằng có đến 7 phim thể loại kinh dị lọt vào bảng xếp hạng các phim ăn khách nhất. Trong số đó gây tiếng vang nhất là loạt phim Saw, tổng cộng phim đã mang về cho hãng Lions Gate 250 triệu USD tiền vé trên toàn cầu. Phần 3 sẽ ra mắt vào ngày 27-10 tới nhân dịp lễ hội Halloween. Đầu năm 2007, khán giả được thưởng thức phần tiếp theo của Hostel. Phải nói là hãng Lions Gate đang làm “trùm” trong việc sản xuất thể loại phim máu me này. Họ liên tục hốt bạc trong thời gian qua, đến nỗi ngay cả hãng Disney cũng không thể dửng dưng đứng ngoài cuộc đành phải nhảy ngay vào làm phim Stay alive. Sức thu hút của dạng phim này còn mạnh đến nỗi cả Renee Zellwegger (nữ diễn viên chuyên thành công với những vai hài), vừa qua, cũng ký hợp đồng đóng phim kinh dị mang tên Case 39.

Ngày nay khán giả ngày càng đòi hỏi cao ở các phim kinh dị nên việc tìm được một kịch bản hay, có sức thuyết phục, khiến người xem phải thót tim không phải là chuyện dễ dàng. Do vậy, đa phần phim đã và sắp ra mắt đều làm lại từ các phim ăn khách cùng tên trước đó, chẳng hạn The hills have eyes, Case 39, Black Christmas.Nguyễn Ngọc

Huế: Một đấu trường hoàng cung hoang phế

Lối dẫn voi và đường lên thành xem trận đấu.
Có người đã ví von rằng: Ngoài đấu trường giác đấu nổi tiếng thời La Mã cổ đại như Coloseum, không đâu tìm được một đấu trường quy mô như Hổ quyền, một đấu trường của hoàng cung có chỗ đứng hết sức quan trọng trong quần thể di tích Huế.. Thế nhưng địa danh oai linh với những cuộc thư hùng long trời lở đất giữa voi và cọp thuở xưa đang từng ngày dần hóa thành phế tích...

Hổ quyền là một đấu trường giữa voi và cọp ra đời dưới thời vua Minh Mạng, vừa là chỗ vua quan nhà Nguyễn giải trí, đồng thời cũng là nơi luyện tập cho voi quen với không khí chiến đấu lúc lâm trận. Theo ông Pierre Poivre nhà buôn phương Tây từng đến Huế vào thời các chúa Nguyễn thuật lại rằng: Vào năm 1750, chúa Nguyễn Phúc Khoát và các quan trong triều đã đi trên 12 chiếc thuyền, đến đậu gần cồn Dã Viên để xem voi và cọp đấu nhau. Trận ấy có 40 con voi "lâm trận" và chúng đã quật chết 18 con cọp.

Thời Gia Long (1802 - 1919), các trận thư hùng giữa voi và cọp được tổ chức ngay trên dải đất trống trước mặt Kinh thành. Đấu trường không có phòng thành, nhà vua bắt lính đứng vây quanh thành một vòng tròn để làm hàng rào cho đấu trường hết sức nguy hiểm. Một người được xem cuộc thư hùng ấy là ông Michel Đức Chaingeau.

Về sau viết cuốn hồi ký Hoài niệm Huế, ông đã thuật lại một kỷ niệm hết sức rùng rợn: Trong trận đấu hôm ấy, mặc dù con cọp đã bị tước bỏ hết nanh vuốt và cột chặt vào một cái cọc đóng kiên cố... Nhưng không ngờ nó mạnh và dữ quá, gồng mình bứt đứt sợi dây rồi nhảy phóc lên tát anh nài đang ngồi trên đầu voi. Anh nài hoảng hốt chưa kịp kêu cứu thì đã bị tấn công bay xuống đất và bị con voi của chính anh giẫm chết tại chỗ. Con cọp còn gây cho nhiều binh sĩ bị thương và vua quan triều Gia Long phải một cơn thất đảm kinh hồn.

Về sau này, để bảo đảm an toàn cho người xem, năm Canh Dần (1830), vua Minh Mạng đã cho xây dựng Hổ quyền ở gần đồi Long Thọ và Thành Lồi của người Chiêm Thành xưa, gần với điện Long Châu. Hổ quyền là một đấu trường lộ thiên hình vành khăn. Vòng tường ở bên trong cao 5,90m và vòng tường bên ngoài cao 4,75m (kể cả lan can) có khuynh độ 1/10 chúc đầu vào nhau, ôm chặt lấy mô đất ở giữa. Bề dày đỉnh tường ngoài là 35cm và đỉnh tường trong 47cm.

Cả hai cộng với mô đất ở giữa tạo thành một bề dày 4m ở đỉnh và 5m ở mặt đất thường. Mặt trên của mô đất ấy cao bằng tường ngoài, tạo thành con đường chạy vòng tròn (chỉ gián đoạn ở khán đài nơi vua ngồi xem) để khán giả đi quanh trên đấu trường và để xem voi cọp đánh nhau trong lòng chảo. Mô đất chạy vòng ấy cũng đã được dùng để trổ thành 5 chuồng cọp và một cửa vòm lớn dành cho voi ra vào chiến đấu. Đường kính trong lòng chảo 44m, chu vi ngoài Hổ quyền 140m.

Lúc thịnh thời, các trận đấu tại Hổ quyền được tổ chức hàng năm, nhưng cũng tuỳ sở thích của từng ông vua triều Nguyễn, có khi một năm tổ chức vài ba trận đấu nhưng cũng có khi vài ba năm mới tổ chức một trận đấu tại Hổ quyền.

Trận đấu cuối cùng tại Hổ quyền diễn ra vào năm 1904 dưới thời vua Thành Thái. Từ đó về sau, một phần vì kinh tế khó khăn không thể chi phí cho việc săn bắt thêm voi, cọp để thi đấu, một phần vì sự mâu thuẫn ngày càng trầm trọng giữa vua Thành Thái và chính quyền Bảo hộ nên Hổ quyền cũng bị bỏ hoang cho đến ngày nay.

Thật đáng tiếc là cho đến bây giờ vẫn chưa phát hiện thấy có sử liệu nào ghi chép cụ thể đã có bao nhiêu trận đấu giữa voi và cọp diễn ra ở Hổ quyền trong suốt nhiều đời vua triều Nguyễn từ Minh Mạng đến Thành Thái.

Theo một số truyền thuyết dân gian thì cũng chính tại đấu trường của hoàng cung này đã từng diễn ra các cuộc đấu của các mãnh tướng chống lại triều đình với những con cọp dữ. Những truyền thuyết, dã sử xoay quanh Hổ quyền còn rất nhiều nhưng thực tế chỉ có một. Đó là di tích văn hóa quý giá này đang ngày một xuống cấp nghiêm trọng. Lớp phong mờ của thời gian và sự tàn phá của con người đã và đang làm cho nơi đây hoang tàn nhanh chóng.

Trước đây, bên cạnh Hổ quyền, phía trước mặt Long Châu Miếu có hồ sen rất rộng, đó là nguồn nước ăn của cả vùng Long Thọ. Ngoài ra, lợi tức bán hạt sen của cái hồ này cộng với tiền cúng tế do triều đình cấp cũng đủ để dùng vào việc lễ tế voi diễn ra khá lớn hàng năm ở đây. Sau này, cùng với sự thờ ơ của người đời, mặt nước linh thiêng biến thành hồ nuôi cá, hương sen thơm ngát bị lấn át bởi vô vàn mùi xú uế của rác thải sinh hoạt khiến cho mạch nước hồ ô nhiễm và cạn dần. Với tốc độ đô thị hóa chóng mặt, rất nhiều nhà dân đã lấn chiếm xây trùm lên đất đai di tích, muốn vào thăm chốn này, du khách phải chui qua cái kiệt 373 nhỏ bé nằm khuất lấp trên đường Bùi Thị Xuân.

Xin được nhắc lại rằng: Khắp các nước Đông Á, kể cả Trung Quốc và Nhật Bản, không thấy ở quốc gia nào có đấu trường tương tự. Hổ quyền ở Huế chẳng những là một di tích đặc biệt và độc đáo của Việt Nam, mà còn là một di tích quý hiếm của thế giới nữa Lam Thạch Giang

Cô Kentucky lên ngôi nữ hoàng sắc đẹp Hoa Kỳ

Tối thứ sáu, người dân Hoa Kỳ có dịp chứng kiến nhan sắc và tài năng của 51 người đẹp Hoa Kỳ tham dự kỳ thi Hoa Hậu Hoa Kỳ, lần thứ 55, mà người đoạt vương miện sẽ được tham dự Hoa hậu Hoàn Vũ sắp tới vào ngày 23 tháng 7, ở Los Angeles.Trong số 51 người đẹp, sau vòng đầu xuống còn 15 thí sinh, và rồi còn 10 thí sinh vào bán kết, và cuối cùng còn 5 thí sinh vào chung kết.

Cuối cùng, cô Tara Elizabeth Conner, 20 tuổi, của thành phố Russell Springs, một thị trấn nhỏ chỉ có 2,500 dân, ở tiểu bang Kentucky đoạt vương miện. Hoa hậu 2005 là Chelsea Cooley của tiểu bang North Carolina trao vương miện cho tân hoa hậu Hoa Kỳ 2006.

Đệ nhất á hậu lọt về tay người đẹp California là Tamiko Nash (26 tuổi, Los Angeles), và á hậu 2 là cô Lisa Wilson (26 tuổi, tiểu bang Georgia), á hậu 3 là cô Stacy Offenberger (26 tuổi, tiểu bang Ohio), và á hậu 4 là cô Cristin Duren (24 tuổi, tiểu bang Florida).

Hoa hậu Conner tâm sự là “đây là sự kiện lớn nhất đã xảy ra tại thị trấn của tôi.”

Cô cũng cho biết là nhờ trải qua cuộc sống nhiều khó khăn, cô học được tính khiêm tốn và trở thành một cá nhân mạnh mẽ và có được giây phút huy hoàng như hôm nay.Dư luận cho rằng chính nhờ khả năng đối đáp (nét đẹp trí thức và nhân cách), cô đã vượt lên trở thành người đẹp nhất Hoa Kỳ 2006.

Nhạc sĩ Hoài Sa: Trong âm nhạc, lừa người cũng chỉ được... nửa năm

´ Có phải anh là tay phối khí oách nhất ở TPHCM đang được mời sang Mỹ và Châu Âu biểu diễn? - Họ mời đã lâu rồi. Tôi dự định cũng sẽ thu xếp đi sang bên đó. Nhưng khổ là công việc quá bận rộn, hết chương trình này sang chương trình khác nên đành tạm khất lại.´ Với khối lượng đơn đặt hàng nhiều như hiện nay, liệu bé hạt tiêu như anh có đủ sức kham nổi? - Thường thì tôi phải từ chối rất nhiều lời mời nếu không đủ hứng thú, vì đã làm là phải chăm chút ghê lắm. Người ta phối một bài mất một ngày thì với tôi có khi cả tuần. Có khi đã phối xong hoàn chỉnh, nhưng nghe chưa hay, tôi cũng bỏ đi như thường.

´ Trong nghề phối khí, anh cho rằng quan trọng nhất vẫn là cảm thụ tác phẩm. Còn nếu lạm dụng kỹ thuật?

- Dĩ nhiên, ngoài năng khiếu, sự chuyên cần và phương tiện cần thiết, điều cơ bản là phải đặt mình vào trong bài hát, trải hết cảm xúc vào đó thì mới truyền được hưng phấn cho người nghe. Còn nếu lạm dụng kỹ thuật, trổ hết các ngón nghề ra hù doạ người nghe mà tâm hồn mình không có ở đó thì chỉ tạo ra được thứ âm nhạc "bùa phép" mà thôi. Mà bùa phép thì nghe là chán liền. Trong âm nhạc, lừa người ta nhiều lắm cũng chỉ được nửa năm.

´ Vì sao anh thích phối những bản nhạc xưa hơn là thời nay và được đánh giá cao ở mảng này?

- Âm nhạc của các nhạc sĩ như Phạm Duy, Trịnh Công Sơn vốn dĩ đã hay, nhưng khi mình phối lại còn khám phá nhiều cái hay khác nữa. Mà trong đó, cảm xúc của người nghe, người viết và người phối nhạc phải gần như đồng điệu. Trong âm nhạc, dù là bất cứ giai điệu nào, cảm xúc vẫn là yếu tố quyết định.

´ Đã bao giờ anh nghe bản nhạc mình phối mà xấu hổ chưa?

- Tôi là nhạc sĩ chứ không phải nhà kinh doanh. Thường tự nhủ mình rằng làm sao để nghe lại bản nhạc mình phối mà không phải xấu hổ. Cho đến nay, nghe lại những bài cách đây 10 năm, mới thấy rằng có thể kỹ thuật phòng thu hồi ấy còn kém, nhưng tư duy viết nhạc cũng như cảm xúc gửi trong đó thì vẫn tươi nguyên như vậy.

´ Thị trường hoà âm phối khí giờ nhân tài như lá mùa... xuân, cuộc chạy đua trong nghề này có làm người trong cuộc thấy mệt mỏi?

- Trước đây, cũng có chuyện độc quyền trong hoà âm phối khí. Có những người muốn làm "vua một cõi" và tạo êkíp riêng. Nhưng sau đó thì mọi chuyện thay đổi, người nghe có trình độ hơn, người làm chương trình cũng tinh mắt hơn. Không còn ăn khách như xưa thì những người ấy gần như sụp đổ, tóc bạc rất nhanh, trông rất khổ sở. Tôi chỉ có cảm giác tội nghiệp cho họ. Còn với tôi, làm sao để xúc cảm đọng lại trong trái tim người nghe, chứ không phải chuyện thắng thua, mới là điều quan trọng nhất.

´ Anh đánh giá cao những ca sĩ nào hiện nay?

- Tôi rất thích đệm đàn cho Mỹ Linh và Trần Thu Hà. Họ là những ca sĩ giỏi nghề và xử lý ca khúc tinh tế, đầy tính kỹ thuật, mà không làm mất đi vẻ tươi mát trong chất giọng. Còn hiện nay, tôi đang làm một album cho Hồng Nhung. Cũng là nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng tôi khuyên chị ấy hát thật mộc, nhẹ nhàng, dung dị, chứ không phá cách hoặc khiến người ta không nhận ra đó là nhạc Trịnh.

´ Còn đạo diễn?

- Tôi quý trọng hai người: Tất My Loan và Phạm Hoàng Nam. Một người rất kén chọn nhạc, một người thẩm thấu âm nhạc rất tinh tế. Cộng tác với họ thì tôi vui và rất yên tâm. MINHTHI@LAODONG

Cà Mau: Tiếp tục đề nghị kiểm điểm Nguyễn Ngọc Tư

TP - Mới đây, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tiếp tục ký báo cáo số 41 đề nghị Đảng- Đoàn nơi nhà văn Nguyễn Ngọc Tư sinh hoạt giáo dục, kiểm điểm nghiêm khắc do phát ngôn thiếu trách nhiệm.
Thời gian vừa qua, dư luận nóng lên bởi báo cáo số 35 ngày 27/3 do ông Trần Văn Hiện, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau đề nghị Hội VHNT kiểm điểm phê phán nghiêm khắc nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, tác giả truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” (CĐBT).

Mới đây, ông Nguyễn Hữu Thành, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tiếp tục ký báo cáo số 41 ngày 12/4/2006 về “Đại biểu HĐND và truyện ngắn CĐBT”.

Báo cáo 41 cho rằng Nguyễn Ngọc Tư là cán bộ, viên chức nhà nước, sinh hoạt tại Hội VHNT, đồng thời là đại biểu HĐND tỉnh Cà Mau nhưng trả lời với báo Doanh nhân Sài Gòn và tạp chí Bông Sen xuân Bính Tuất: “Ngoài việc ở Hội VHNT Cà Mau, làm nghị sĩ của tỉnh…

Đó là công việc tệ nhất của em. Em thấy ngán ngẩm mỗi khi vào kỳ họp…, rốt cuộc em là “nghị sĩ vật vờ”, “hội đồng ừ”… Ngoài ra, Nguyễn Ngọc Tư còn viết bài trên báo Tuổi trẻ Xuân Bính Tuất có đoạn: “Tôi vẫn viết theo cảm xúc hồn nhiên của mình chứ chẳng ý thức nghĩa vụ, trách nhiệm gì đâu…”.

Qua việc trả lời trên, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau thấy Nguyễn Ngọc Tư “với tư cách là cán bộ, viên chức nhà nước, đại biểu HĐND mà trả lời như thế là thiếu trách nhiệm, coi thường cơ quan quyền lực ở địa phương, làm mất uy tín HĐND, làm giảm sút niềm tin của cử tri đối với đại biểu HĐND và xem thường nông dân Việt Nam”.

Từ đó, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy có báo cáo đề nghị Đảng- Đoàn nơi Nguyễn Ngọc Tư sinh hoạt giáo dục, kiểm điểm nghiêm khắc về việc phát ngôn thiếu trách nhiệm.

Theo báo cáo 41, khi NXB Trẻ phát hành tác phẩm CĐBT, có nhiều ý kiến gửi về Tỉnh ủy, UBND và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau không đồng tình việc truyện ngắn CĐBT được phổ biến trong xã hội, vì thiếu tính giáo dục tư tưởng.

Hai luồng ý kiến khác nhau khá phức tạp, nhưng đa số là phản ứng nội dung không tốt, tập trung nhiều đối tượng, lứa tuổi phản ứng rất gay gắt, thậm chí đòi thu hồi cuốn sách vì không mang tính giáo dục…

Những ý kiến phản ảnh đó tập trung vào các nội dung sau: Nói xấu chế độ về việc tổ chức quản lý xã hội ở nông thôn quá tồi tệ, tác giả phỉ báng quê hương, những nhân vật trong truyện ngắn CĐBT đưa những hiện tượng cá biệt hoặc chỉ mang tính hư cấu tưởng tượng làm hiện tượng điển hình cho một giai cấp, một cộng đồng, một địa phương là điều không thể chấp nhận được.

Có nghĩa là không mang tính phổ biến, lại thiếu tính nhân bản. Như vậy, truyện ngắn CĐBT thiếu tính giáo dục xã hội, giáo dục con người và thiếu định hướng chân- thiện- mỹ để con người vươn tới.

Cho nên Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đề nghị Hội VHNT thường xuyên có định hướng chính trị cho hội viên (trong đó có Nguyễn Ngọc Tư) được học tập lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao ý thức trách nhiệm của người cầm bút cách mạng.

Đồng thời báo cáo 41 đề nghị Ban Tư tưởng- Văn hóa Trung ương chỉ đạo các báo tiếp tục đề cập vấn đề này thì phải đăng cả hai luồng ý kiến khác nhau (khen, chê) hoặc không đăng các bài đề cập đến truyện ngắn CĐBT. Nguyễn Tiến Hưng

Thanh Tịnh: Để lại mùa sau

Thanh Tịnh và các bạn văn ở Việt Bắc.
Ông tên thật là Trần Văn Ninh, sau đổi là Trần Thanh Tịnh, sinh ngày 1/12/1911 tại thành phố Huế, từng được gia đình gửi vào nhà chùa rồi theo học Trường Đông Ba, Trường Penlơranh (trường dòng), sau đó làm nghề dạy học, đo đạc ruộng đất, hướng dẫn viên du lịch, viết báo, làm thơ.
Sau 1945 ông tham gia kháng chiến, , làm báo, viết văn trên chiến khu Việt Bắc, rồi về tiếp quản thủ đô (1954), tham gia ban biên tập đầu tiên của tạp chí Văn nghệ quân đội, làm chủ nhiệm (Tổng biên tập) cho đến lúc nghỉ hưu. Ông là Tổng biên tập một tạp chí văn chương có uy tín của quân đội trong nhiều năm mà còn là một nhà thơ tiền chiến tham gia Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam và Ủy ban toàn quốc các Hội liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam trong nhiều năm. Ông mất ngày 17/7/1988 tại Hà Nội.

Tác phẩm của Thanh Tịnh để lại không thật đồ sộ, nhưng ông được người đời gọi là nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà thơ (ông nói chưa đủ, ông là nhà văn, nhà báo, nhà giáo... nhà nghèo). Là nhà văn bởi ông có các tập truyện ngắn “Ngậm ngải tìm trầm” (1943) và trước đó là tập “Quê mẹ” (1941) với lời tựa của Thạch Lam: “Thanh Tịnh có lẽ là nhà văn đầu tiên ở miền Trung đã trình bày các mối dây liên lạc nhẹ như tơ hồng ngày thu, nhưng không vì thế mà kém phần vương vấn, quyến luyến. Thanh Tịnh muốn làm người mục đồng ngồi dưới bóng tre thổi sáo để ca hát những đám mây và làn gió lướt bay trên đồng, ca hát về vẻ đẹp của đời thôn quê”.

Là nhà thơ, bởi ngay từ năm 1937, lúc 26 tuổi ông đã cho in tập thơ “Hận chiến trường” nổi tiếng và đến năm 1942 được ghi danh trong “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh - Hoài Chân với những thi phẩm nổi tiếng như “Mòn mỏi”, “Tơ trời và tơ lòng”, “Rồi một hôm”... Trước đó, năm 1936 ông đã đoạt giải nhất về thơ do tờ Hà Nội báo tổ chức. Ông còn để lại cho đời rất nhiều câu ca dao bất hủ như: “Nhà tan cửa nát cũng ừ/ Quyết tâm thắng Mỹ cực chừ sướng sau”, “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong”, “Hà Nội, Huế, Sài Gòn/ Là cây một gốc, là con một nhà”...

Thanh Tịnh là nhà văn, nhà thơ đặc sắc, bởi truyện ngắn hay nào của ông cũng đậm chất thơ và bài thơ nào hay của ông cũng có cốt truyện.

Không chỉ là nhà văn, nhà thơ đặc sắc, Thanh Tịnh còn là nhà báo, viết báo và làm báo đều giỏi, là “ông vua”, là cha đẻ của thể loại tấu nói - một loại hình văn nghệ quần chúng được truyền bá rộng rãi trong suốt những năm chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Chưa hết, ông còn là một hướng dẫn viên du lịch tài ba, là người chơi đồ cổ và giả cổ sành điệu của đất Hà thành nửa cuối thế kỷ XX.

Và nói đến Thanh Tịnh, người Hà Nội không thể không nhớ về một thi nhân với dáng hạc cao gầy, mái tóc trắng phơ độc hành trên những con phố cổ, dưới chân (đôi giày Côxưghin muôn thuở của ông) rụng vàng lá sấu, lá me Hà Nội, không thể không nhớ tới cả trăm ngàn giai thoại quanh ông. Ấy là những câu chuyện kể của ông và những câu chuyện kể về ông. Rất ngắn nhưng đầy chất hài hước và thật nhiều kịch tính.

Trước lúc đi xa, trên giường bệnh, Thanh Tịnh nói ông rất thích câu thơ “Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân” và bình rằng câu ấy vận vào đời ông rất hợp. Tôi hiểu lắm, nhưng cứ nghĩ đời ông không chỉ toàn có gió lạnh và đường xa mà còn có cả những trận gió ấm và những chặng đường hoa. Ấy là những năm tháng ông rong ruổi cùng bộ đội đi khắp các chiến dịch từ Bắc qua Nam. Ấy là những ngày ông miệt mài cùng anh em văn nghệ sĩ - chiến sĩ ở nhà số 4, phố nhà binh làm tờ Văn nghệ quân đội.

Bây giờ thì tác giả “Quê mẹ” đã trở về quê mẹ và yên nghỉ vĩnh hằng nơi Huế thơ mộng với ngàn thông, với sông Hương, núi Ngự thân yêu. Nhưng văn nghiệp của ông thì mãi còn ở đời, dẫu rằng đó chỉ là một chữ.

Sinh thời, Thanh Tịnh từng ao ước: “Ước gì để lại mùa sau/ Một câu một chữ đượm màu dân gian”. Bên cạnh những “Quê mẹ”, “Tôi đi học”, “Ngậm ngải tìm trầm”, “Mòn mỏi”, “Rồi một hôm”, “Nhớ Huế quê tôi”... Thanh Tịnh còn để lại nhiều di ảnh độc đáo ghi lại những chặng đường chiến đấu, đọc, đi, viết và hoạt động văn hóa của ông

Ngô Vĩnh Bình

Nguyễn Huy Thiệp: Tôi ngố rừng giữa lòng Hà Nội...

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
Quan điểm cũ về đối tượng văn học cũ: Nhiều người trong một người. Con người cần những đại diện của họ. Còn bây giờ con người phong phú đến mức mỗi cá nhân không ai có thể thay thế được nó. Hình như bây giờ không có điển hình, tôi nghĩ thế!
Nếu có độc giả tò mò hỏi Nguyễn Huy Thiệp đang làm gì thì ông trả lời ra sao?

- Tôi trả lời là tôi đang sống!

Ông, Nguyễn Việt Hà và hoạ sĩ Lê Thiết Cương chung nhau mở cái Bản thảo tranh này cũng là đang sống hay đang cố lưu giữ hình ảnh của chính mình trước công chúng?

- Qua triễn lãm này mỗi người có mục đích riêng, bản thân tôi thử xem ảnh hưởng của tôi với độc giả như thế nào? tôi vẽ chân dung trên các đĩa gốm, chuẩn bị cho cuộc triễn lãm cuối năm, kiếm tiền để sống. Trao đổi gặp gỡ với mọi người có thể nảy sinh ra những vần đề mới để viết.

Hiện tượng Nguyễn Ngọc tư và những dư luận gần đây về Cánh đồng bất tận ?

- Ở đây là miền quê của không khí văn chương với nhiều tác phẩm, nhà văn đã thành tên tuổi...cái khác của Nguyễn Ngọc Tư ở chỗ cô là Nam Bộ...zin chứ không dởm như nhiều người viết khác. Đấy là cái rất hay. Nếu phản ứng như thế thì hơi quá, ấu trĩ quá, đây là thực tế đáng ngại. Nhưng tôi đang nghĩ nếu người ta cố dựng nên sự kiện này thì cũng hơi buồn.

Trở lại với những truyện ngắn của ông, có cảm tưởng rằng các nhân vật đều mang trong mình sức mạnh nhục dục tăm tối không thể chế ngự, chúng quẫy đạp, sục sôi đòi được thoả mãn... đám nhân vật ấy như mộng du trong thế giới nhục cảm...

- Phật giáo đã nói rồi còn gì nữa, dục tính là nhân tính! Những trang sách của tôi như thế à? Tôi viết mà tôi có thấy thế đâu?

Nhưng dục tính khác với dục năng chứ, ông thấy các nhân vật của ông ngoài ham muốn nhục dục còn có khát vọng gì khác?

- Tôi là người hay quan sát cuộc sống.Tôi thấy cuộc sống thế nào thì viết ra như vậy. Con người tuyệt vời vì như thế, con người phải sống, phải yêu, phải được sống, không phải tôi đã viết ra được những điều người ta không dám nói mà người ta không biết nói, nói cái đấy khó lắm. Còn các nhân vật của tôi, tất cả đều cựa quậy để sống, họ sống bằng tất cả những khát khao cá nhân của họ. Họ toàn là người tử tế!

Nói như thế rất dễ bị hiểu lầm rằng sex là... tử tế, ông nghĩ sao?

- Văn học là nhân học, những thứ thuộc về con người không có gì xa lạ.Văn học thế giới hay văn học Việt Nam cũng đã đề cập đến vần đề này rất nhiều tuỳ mỗi thời có cách nhìn khác nhau. Khi Đỗ Hoàng Diệu viết về sex, đây là đề tài rất khó, đề tài hiểm địa trong văn học. Những cuốn đáng kể nhất trong văn học thế giới đều viết về đề tài này, Nghìn lẻ một đêm, Kim Bình Mai và ngay cả Truyện Kiều nữa ...Dục tính là nhân tính, đây là quan điểm của Phật Giáo, nhưng không phải ai cũng lý giải được thấu đáo. Đề này này chúng ta đã bị quên lãng đi do hoàn cảnh lịch sử. Trước đây có Nguyễn Thị Hoài cũng đã viết vài ba truyện thời kỳ như Năm Ngày, Hành trình của các con số, chín bỏ làm mười...nhưng vẫn có gì rất xa xôi. Chắc chắn sẽ có người tiếp tục hành trình trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm của người đi trước dù thất bại hay thành công.Tôi nghĩ Đỗ Hoàng Diệu chưa thành công, có thể do lần đầu chạm tới đề tài này, có thể do tài năng, hay độ từng trải chưa cao...

Tại sao cũng những đặc điềm tương đồng về văn hóa nhưng dòng văn học trẻ của Trung Quốc đang được chấp nhận, yếu tố sex tràn ngập trong các trang văn của các nhà văn trẻ của họ?

- Sex là một đề tài rất khó viết hay. Mỗi đất nước đều có nền văn hoá, phong tục, lối sống khác nhau nhưng nếu nhà văn viết hay thì chắc chắn sẽ được chấp nhận. Vần đề là Đỗ Hoàng Diệu viết chưa hay nên chưa được chấp nhận.

Nghĩa là chúng ta trở lại với quan điểm nghệ thuật cổ xưa: không phải viết về cái gì mà là viết như thế nào? Chính cái "viết như thế nào" sẽ bộc lộ bản lĩnh của nhà văn?

- Đương nhiên rồi.

Nếu tự nhận xét về sự nổi tiếng của chính mình thì ông nói sao?

- Tôi là nhà văn gặp thời. Bạn bè vẫn đùa tôi là "cập thời vũ" nghĩa là mưa đúng lúc.Tôi cũng gặp may.

Nhưng văn nghiệp của ông đâu có thuận buồm xuôi gió, ông “nổi tiếng” giữa hai luồng khen chê rất dữ dội?

- Tôi rất khiêm tốn mà nói rằng cũng phải ghi nhận công lao cho...Nguyễn Huy Thiệp! Trong văn học Việt Nam kể từ khi có chữ quốc ngữ, tính từ Tố Tâm, những tác phẩm văn học theo lối phương Tây, nếu nói những nhà văn có những bước xoay chuyển, thay đổi cả cách viết thì cũng không nhiều.Chỉ đôi ba người thôi, ví dụ như trước 1945 có Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nhất Linh, Nguyễn Tuân...sau đó có Trần Dần, Lê Đạt gây xôn xao dư luận. Đến thời kỳ Đổi mới với sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài....cũng đã làm thay đổi ngôn ngữ văn học. Làm được điều đó là điều rất khó, ít nhất tôi cũng đã làm được.

Một điểm nữa cũng cần tính đến là có nhiều người viết theo tôi. Tôi có đệ tử, không đơn độc trên con đường sáng tạo. Nhiều người cảm ơn tôi như Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Việt Hà...Họ bảo gặp tôi thì họ viết tự tin hơn, tất nhiên họ có cách đi riêng, lối đi riêng nhưng chỉ từ Nguyễn Huy Thiệp viết văn thì người nước ngoài bắt đầu đọc lại văn học Việt Nam, sách của tôi được dịch sang tiếng Pháp, tiếng Anh, được xuất bản ở Anh, Hà lan, Úc, Italia...họ rất kỹ tính, tôi là một trong những nhà văn có nhiều sách nhất được in ra nước ngoài và hoàn toàn không phải do ai lăng xê.

Hiện nay, ông thấy nhà văn nào có thể bắt gặp được hơi hướng cuộc sống và làm nên hiên tượng trong văn học?

- Phật giáo có câu: Có thời có tự mảy may/ Không thì cả thế gian này cũng không. Dù có tài năng nhưng không gặp thời thì cũng vứt. Sẽ có những nhà văn của thời này, thế hệ nhà văn mới này sẽ kế tục những thế hệ nhà văn lớp trước chứ không phủ nhận đâu. Nhưng họ sẽ có những vần đề khác, cuộc sống khác. Chẳng có thời nào thuận lợi cho nhà văn cả, công việc viết văn chẳng dễ dàng.Tôi cũng có theo dõi các nhà văn trẻ Việt Nam hiện nay. Tôi thấy độ thành thực của các nhà văn cao hơn.

Thành thực hay tả thực?

- Thành thực, chân thành...Họ miêu tả nội tâm thành thực hơn, dám đề cập đến chuyện nọ chuyện kia, những bức xúc về vấn đề hiện tại của cuộc sống...họ không chấp nhận sự giả dối. Nhưng để làm được điều gì hay hơn trước đây thì họ cũng chưa làm được.Thành thực thôi chưa đủ, độc giả bây giờ đòi hỏi cao lắm, làm nhà văn bây giờ khó lắm.

Đã lâu không thấy dư luận đề cập tới văn của ông, có vẻ như ông chỉ là chớp loé của tài năng rồi vụt tắt, ông có thế lý giải tại sao những tài năng của chúng ta không bền?

- Người ta không theo dõi tôi nên nói như thế, tôi vẫn luôn làm mới văn chương của mình đấy chứ. Do cơ chế xuất bản của ta không kịp thời, thường thì những tác phẩm của tôi không được xuất bản ngay, văn học cũng như món ăn, phải nóng hôi hổi và thơm phức lên, phải chén ngay. Người ta làm nguội đi, nên người ta tưởng tôi nhạt đi. Cũng chẳng sao vì tên tuổi của tôi đã vượt ra biên giới rồi. Còn những nhà văn trẻ bắt đầu tập tọng thì rất đau khổ vì họ viết ra họ muốn in ngay thế mà hai ba năm sau chưa chắc đã đến lượt, cho nên mới có hiện tượng thui chột tài năng, bởi họ phải kiếm sống chứ?

Tuổi hai mươi yêu dấu, Tiểu Long Nữ...của tôi chẳng hạn, phải in ngay mới có tác dụng xã hội chứ? Nhưng in sau thời điểm cần in thì khiến nhà văn nhụt chí.

Xưa nay những tác phẩm nghệ thuật đích thực thì không sợ thời gian, thậm chí có những tác phẩm phải mất hàng thế kỷ mới tìm được độc giả, ông nghĩ sao về hiện tượng đó?

- Đúng, nhưng tất cả những tác phẩm đều có giá trị thời gian nào đấy, ý nghĩa xã hội riêng của nó, tính kịp thời rất quan trọng. Đồ nhôm nhựa qua thời gian thì cũng qua đi nhưng cũng có giá trị riêng của nó, không nhất thiết lúc nào người ta cũng dùng đồ Lim, Táu...thế nhưng nếu không được cập nhật thì cũng chẳng còn giá trị.

Người ta đã từng chờ đợi tiểu thuyết đầu tay của ông sau những thành công trong truyện ngắn , nhưng nhiều người đã thất vọng?

- Đấy cũng là thói quen xấu của độc giả, họ không thay đổi kịp với những cái mới. Chúng ta phải mới, luôn luôn mới chứ sống với cái cũ mãi thì chán lắm! Cuộc sống phải thay đổi, mỗi ngày một điều mới, chỉ loanh quanh với những cái cũ thì thật buồn.

Nhưng cũng chính những độc giả ấy đã đánh cao nhiều truyện ngắn của ông trước đây...

- Không phải chỉ có viết văn mới có giá trị, nếu không viết văn tôi có thể làm được nhiều việc khác...

Vậy các nhân vật của ông đã “sang sông” được chưa?

- Nếu ai theo dõi quá trình viết văn của tôi thì đều thấy rằng trước truyện Sang sông tôi viết truyện mang tính bản năng: Tướng về hưu, Không có vua, Giọt máu, Những ngọn gió Hua Tát...độ hồn nhiên rất cao. Khi tôi vừa ở miền núi trở về, rất trong trắng trong tình yêu dành cho văn học.Tôi ngố rừng trong lòng Hà Nội. Giống như cô gái yêu lần đầu rất thanh khiết, trong sáng, mơ mộng...thế nhưng người ta đã phản ứng với tình yêu cuả tôi hơi quá, tôi hơi choáng...tôi bắt đầu tìm hiểu tôn giáo, dựng tượng Phật.Bắt đầu từ truyện Sang sông trở đi, văn của tôi có gì đấy có ảnh hưởng Phật giáo, nó ngấm ngầm trong từng trang văn, nhiều truyện rất khó viết : như Ông Móng bà Móng, Sống dễ lắm, Thổ Cẩm...

Ông có một truyện ngắn rất tuyệt, Thương nhớ đồng quê khiến người ta kinh ngạc về sự trong nhẹ, hơi thở ấm nóng của đời sống và cảm nhận tình yêu đến mức hài hoà...cá nhân ông thấy hài lòng với tác phẩm nào nhất, cảm thấy đó mới thực sự là Nguyễn Huy Thiệp?

- Tôi cũng là nhà văn xã hội thôi, truyện nào gây được dư luận xã hội lớn thì tôi thích, có thể ở Tướng về hưu tính nghệ thuật không bằng các tác phẩm khác thế nhưng tôi thích. Giống như hoạ sĩ, chỉ thấy nét cọ người am hiểu đã biết anh là cao thủ, có những truyện của tôi chỉ trong giới văn chương thích, độc giả không thích.

Nhưng văn ông không có nhân vật điển hình? Nhắc đến Nam Cao có Chí Phèo, Vũ Trọng Phụng với Xuân tóc đỏ, Ngô Tất Tố với chị Dậu, còn nhắc đến Nguyễn Huy Thiệp?

- Đấy là quan điểm cũ về đối tượng văn học cũ! Nhiều người trong một người. Con người cần những đại diện của họ. Còn bây giờ con người phong phú đến mức mỗi cá nhân không ai có thể thay thế được nó. Hình như bây giờ không có điển hình, tôi nghĩ thế! Tôi là một người không ai thay thế được! Điển hình có cái hay nhưng có cái không thực của nó!

Ông thử lý giải tại sao kịch của ông không được chú ý như truyện ngắn? không được độc giả trong nước chú ý?

- Lối viết của tôi không phù hợp với sân khấu trong nước, có thể tôi đi nhanh quá chăng?

Ông đã từng viết : Cả tin là sức mạnh để sống.. và một câu khá chua xót: sao tôi cứ như lạc loài? Nhà văn phải là người thấu thị hay là kẻ cả tin?

- Không cả tin thì rất khó sống, nhất là tuổi trẻ!

Trong văn của ông, hình tượng phụ nữ được nhắc đến nhiều, những “ thiên chức nữ”, “tính nữ”...thế còn trong cuộc sống thực?

- Những điều đó với tôi rất quan trọng, vợ người thì đẹp vợ mình thì tử tế...Tôi cũng có nhiều người mê chứ đâu chỉ riêng cô gái Nhật như người ta đồn thổi? Chuyện tình cảm của đàn ông đàn bà là chuyện bí mật của mỗi cá nhân, của tất cả mọi người, của cả vũ trụ, cuộc sống thú vị vì những điều như thế...

Tô Mai Trang

Công bố giải Pulitzer

Hai tờ báo vừa cùng nhau nhận giải báo chí Pulitzer về phục vụ công vì đã phản ánh chi tiết và can đảm về cơn bão Katrina tàn phá khu vực duyên hải miền đông nam nước Mỹ vào tháng 8-2005.Đó là tờ Times-Picayune của thành phố New Orleans, bang Louisiana, và tờ Sun Herald của thành phố Gulfport, bang Mississipi.Tờ Times-Picayune cũng giành giải thưởng Pulitzer về tin nóng phản ảnh về sự kiện bão Katrina.Hai tờ báo này cũng bị thiệt hại do cơn bão Katrina gây ra. Các tòa nhà văn phòng của họ bị hư hỏng, nhiều nhân viên quảng cáo và đưa báo của họ phải sơ tán, tổng số phát hành báo giảm.
Tuy nhiên từ Sun Herald đã không bỏ bất cứ số xuất bản nào trong suốt thời gian bão Katrina hoành hành trong khu vực.
Báo Times-Picayune đã sơ tán khoảng 240 nhân viên bằng xe đưa báo khi đê vỡ, nước tràn vào trung tâm thành phố News Orleans, nơi tờ báo này đặt trụ sở.
Các nhà báo Susan Schmidt, James V. Grimaldi và R. Jeffrey Smith của tờ Bưu điện Washington được nhận giải Pulitzer về thể loại điều tra , qua những bài báo phanh phui vụ tham nhũng, đưa hối lộ của nhà vận động hành lang Jack Abramoff thuộc đảng Cộng hòa.
Các phóng viên của báo Bưu điện Washington cũng nhận giải Pulizer về bài phân tích và giải về bài tường thuật chuyên đề.
Giải thưởng về thể loại tin trong nước được trao cho James Risen và Eric Lichtblan của Thời báo New York cùng các nhân viên của tờ San Diego Union-Tribune và Copley News Service.
James Kahn và Jim Yardley của Thời báo New York nhận giải thưởng về tin quốc tế.
Giải Pulitzer về thể loại bình luận được trao cho nhà báo Nicholas D. Kristof của Thời báo New York .
Jim Sheeler của tờ Rocky Mountain News được nhận giải nhất cho thể loại phóng sự
Nhà văn Geraldine Brooks được trao giải thưởng Pulitzer dành cho tiểu thuyết hay nhất với tiểu thuyết March.
Chủ nhân mỗi giải thưởng Pulitzer được trao thưởng 10 nghìn USD, riêng giải phục vụ công chúng được trao một huy chương vàng.Giải Pulitzer hàng năm gồm 19 giải thưởng cho các thể loại báo chí và hai giải thưởng đặc biệt, được công bố tại Đại học Columbia ở New York theo kết quả bình chọn của ban giám khảo gồm 18 thành viên.

Ông Joseph Pulitzer, chủ bút báo World sáng lập giải Pulitzer vào năm 1904. Khi đó ông có đề ra 13 giải: 4 cho báo chí, 4 cho văn học, 4 cho sân khấu và 1 cho giáo dục. Nhạy cảm với sự thay đổi, Pulitzer có lập ra một hội đồng tư vấn có quyền thay đổi nội dung giải thưởng. Hiện nay, giải Pulitzer có tới 21 nội dung: một số thể loại phóng sự, biên tập, biếm họa, nhiếp ảnh, tiểu thuyết, tiểu sử, sân khấu, thơ và âm nhạc.

Giải thưởng Pulizer đầu tiên được trao vào năm 1917.

Trương Nghệ Mưu sẽ đạo diễn lễ khai mạc và bế mạc Olympic Bắc Kinh 2008

Đạo diễn Trương Nghệ Mưu và Chương Tử Di
Nhà làm phim nổi tiếng của Trung Quốc,Trương Nghệ Mưu, được ban tổ chức chọn làm đạo diễn cho lễ khai mạc và bế mạc Olympic Bắc Kinh 2008.

Đạo diễn Trương Nghệ Mưu sẽ tham gia với nhóm các nhà cố vấn lừng danh thế giới, trong đó có nhà làm phim người Mỹ, Steven Speilberg; Yves Pepin, người đứng đầu nhóm kinh doanh giải trí nổi tiếng của Pháp là ECA2; và Ric Birch, nhà đạo diễn của lễ khai mạc Olympic Sydney 2000.

Trong thông báo chỉ định nhóm đạo diễn cho các buổi lễ này, ông Lưu Kỳ, trưởng ban tổ chức Olympic Bắc Kinh, nói rằng lễ khai mạc sẽ là ấn tượng đầu tiên về Olympic đối với hàng tỉ khán giả truyền hình trên khắp thế giới, do đó ông ước muốn Olympic Bắc Kinh 2008 sẽ được khởi sự bằng một lễ khai mạc thật sự ấn tượng.

Mặc dù đạo diễn Trương Nghệ Mưu sẽ phải phối hợp với nhiều nghệ nhân Trung Quốc khác, song quyết định mời các chuyên gia nước ngoài làm cố vấn như vừa nêu là một việc làm hiếm hoi đối với Bắc Kinh, vốn chỉ thích dựa vào những tài năng trong nước mà thôi.

Tôn chỉ và đường hướng của báo nguyệt san Tự Do Ngôn Luận

Trang nhất của báo bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận.
Bấm vào đây để nghe bài này
Việt Nam hiện có mấy trăm đầu báo. Thế nhưng có nhận định cho rằng vẫn chưa có tự do ngôn luận báo chí, bởi lẽ tất cả đều do nhà nước kiểm soát.Vào cuối năm ngoái các nhà đấu tranh cho dân chủ trong nước thực hiện mạng Phong trào đấu tranh dân chủ Việt Nam, và mới tuần này, trên mạng Internet xuất hiện báo nguyệt san Tự do Ngôn Luận. Phiên bản trên mạng của tuần báo nguyệt san cho biết ấn phẩm số 1 ra mắt ngày 15-4-2006. Gia Minh trình bày thông tin liên quan.

Cũng như tất cả các tờ báo khác khi ra đời đều phải có đường hướng hoạt động. Tiêu đề của báo nguyệt san Tự Do Ngôn Luận xuất hiện trên mạng Internet nói rõ: đó là tiếng nói của người dân Việt Nam đòi quyền tự do ngôn luận. Linh mục Chân Tín, người được giới thiệu là Tổng biên tập và cũng là Chủ nhiệm của tờ báo, tóm lược lại tôn chỉ của báo nguyệt san này.

“Dựa vào quyền nhân quyền của Liên Hiệp Quốc mà nhà nước CS đã ký kết, và cũng đã cho vào Hiến pháp, nhưng mà từ xưa đến nay thì chưa bao giờ thực hiện được điều đó. Chúng tôi muốn thực hiện điều này một cách chính thức để nói rằng người dân Việt Nam có quyền ra báo tự do, tự do báo chí. Ðó là điều mà chúng tôi muốn cho cả thế giới và đồng hương biết để mà tiến lên trong việc gọi là tự do báo chí này.”

Ấn bản xuất hiện trên mạng gồm 27 trang. Trong trang đầu tiên ghi lại điều 19 Công ước Quốc Tế về các quyền dân sự và chính trị được Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, và Việt Nam xin tham gia vào năm 1982.
Cũng trên trang nhất, bài viết với tựa đề “Ðôi lời cùng bạn đọc” ký tên và biên tập Linh mục Chân Tín. Bài viết nêu rõ hoài bão của tờ báo là phá vỡ nguồn máy độc tài và khai thông mọi hợp tác, nỗ lực cùng chung mục tiêu và đường lối.

Mạc Ngôn: ‘Cá tính làm nên số phận’

“Các tiểu thuyết trước của tôi hoặc là tập trung viết về sức sống của bản năng, của nhân tính, như ‘Cao lương đỏ’, hoặc là tập trung viết về tâm lý hiếu kỳ và tâm lý biểu diễn của người Trung Quốc như ‘Đàn hương hình’. Nhưng bộ tiểu thuyết này chú ý hơn cả đến việc miêu tả và phân tích những cá tính có giá trị”, nhà văn Mạc Ngôn tâm sự về cuốn tiểu thuyết mới “Sinh tử vần xoay”.

- Tiếp tục đề tài nông thôn, tiểu thuyết “Sinh tử vần xoay” đã thể hiện những vấn đề đang tồn tại ở không gian đặc thù này như thế nào?

- Những vấn đề ở nông thôn rất nhiều. Nhìn theo chiều dọc, nông thôn đã có những bước tiến lớn cả về vật chất và tinh thần, nhưng xét theo bề ngang, cuộc sống của nông dân vẫn khổ. Ở nông thôn, diện tích đất trồng ngày càng thu hẹp, lực lượng lao động bị thừa ra không có chỗ mưu sinh, người nông dân phải làm những việc vất vả nhất, khổ sở nhất, bẩn thỉu nhất. Thế mà những gì thu được thật là ít ỏi.

Nhưng khi tôi viết tiểu thuyết, đầu tiên là xuất phát từ số phận, từ tính cách con người, trên cái nền là bối cảnh xã hội đương thời. Bởi vì cá tính làm nên số phận, chứ hoàn cảnh xã hội không phải là nguyên nhân chủ yếu. Đặc biệt là ở thời đại mà cá tính bị soi xét từ mọi phía, một người có cá tính sẽ phải chịu búa rìu của cả xã hội.

- Chủ đề của cuốn tiểu thuyết này phải chăng chính là thảo luận và nghiên cứu vấn đề cá tính của nhân vật tiểu thuyết?

- Trong tiểu thuyết, tôi chủ yếu viết về một số kiểu “cá tính có giá trị”. Cá tính có giá trị có thể không được hiểu trong trào lưu nào đó của xã hội, nhưng chắc chắn sẽ có ngày cá tính ấy được khẳng định. Ví dụ có một nhân vật cứ kiên trì làm ăn cá thế trong thời kỳ công xã nhân dân, thà chết chứ không chịu đổi ý, về sau bị mọi người xa lánh, cô lập. Đến những năm 80 của thế kỷ trước, người ta mới vỡ lẽ, anh ta đã dùng một triết lý nhân sinh hết sức đơn giản để chiến thắng cả một xã hội.

- Tiêu đề của tác phẩm mới được ông lấy từ kinh Phật, ý tưởng này xuất phát từ đâu?

- Một lần trong khi đi thăm Thừa Đức, tôi đọc được những chữ liên quan đến “lục đạo luân hồi”. Tôi thốt nhiên ý thức rằng, đây sẽ là điểm đột phá rất lý tưởng. Linh cảm lóe lên và một chuỗi ký ức trong tôi trở lại.

Trong dân gian Trung Quốc, quan điểm luân hồi của Phật giáo có sức mạnh chế ước đạo đức ghê gớm. Kẻ phạm tội, không phải bị pháp luật trừng trị mà khi chết sẽ bị đày xuống địa ngục, kiếp sau phải làm thân trâu, thân ngựa. Đây cũng là Phật giáo được Trung Quốc hóa triệt để. Từ gợi ý này, tôi bắt tay vào xây dựng đề cương tiểu thuyết. Nhân vật chính của tiểu thuyết tập trung lý giải mối quan hệ giữa người nông dân với đất đai, trong khi đó, một nhân vật chính nữa, tức người dẫn chuyện, lại nằm trong “lục đạo luân hồi”1: Một đời làm người, một đời làm ngựa, một đời làm trâu, một đời làm lợn, một đời làm lừa… kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe từ những góc nhìn khác nhau.

- Câu chuyện này xem ra có vẻ siêu thực quá. Những tác phẩm trước đây của ông, phần lớn rất đẫm máu, tàn khốc. Tiểu thuyết này thì sao?

- Những miêu tả đẫm máu trong Sinh tử vần xoay được giảm đi rất nhiều. Sự thay đổi này không nhằm mục đích chiều lòng độc giả hay là cố gắng định hình một phong cách mới mà là do đề tài quyết định. Cao lương đỏ là thời kỳ kháng chiến, Đàn hương hình là triều Thanh, phản ánh thời kỳ chiến loạn và phong kiến nên không thể tránh được việc miêu tả những cảnh đẫm máu. Trong bộ tiểu thuyết về lịch sử thổ địa Trung Quốc mới này, mặc dù cũng có máu, có nước mắt đau đớn nhưng xét cho cùng cũng không đến nỗi đẫm máu.

- Các tác phẩm của ông phần lớn đều viết về đề tài nông thôn. Trong khi từ lâu ông đã không ở quê nữa. Vậy làm thế nào để ông thu thập tài liệu sáng tác, nhất là tài liệu về nông thôn những năm gần đây?

- Viết bộ tiểu thuyết này, những tích lũy trong nửa đời đã qua của tôi được tận dụng triệt để. Nông thôn ngày nay không còn hoang vắng, quạnh quẽ, bế tắc như trước nữa, người thân của tôi phần lớn đều là dân quê, tôi cũng luôn có sự liên hệ, gắn bó với nông thôn. Con lợn nái nhà nào đẻ 15 con, nhà nào đẻ 16 con… chỉ nửa giờ sau là tôi biết tin ngay. Mặc dù thân xác tôi không ở quê nhưng tinh thần tôi từng giờ từng khắc vẫn sống với quê hương. Về những việc xảy ra ở làng, về cách nghĩ của người nông thôn, tôi đều rất tỏ…

1Lục đạo luân hồi: Trời, người, a tu la, địa ngục, ngã quỷ, súc sinh: sáu loại này sống chết luân chuyển lẫn nhau. Nhuệ Anh

Nhà văn Dương Thu Hương đến Mỹ dự đại hội văn chương ở New York

NEW YORK 11-04 (TH) - Nhà văn nữ Dương Thu Hương, tác giả của nhiều tiểu thuyết nổi tiếng (như Những Thiên Ðường Mù, Tiểu Thuyết Vô Ðề...) sẽ đến Mỹ để tham dự một đại hội văn chương do Văn Bút Hoa Kỳ tổ chức.Theo một nguồn tin phổ biến trên Internet, bà Dương Thu Hương hiện đang có mặt ở Pháp và xin triển hạn visa để sang Mỹ tham dự và phát biểu tại một đại hội văn chương có tên là “Pen World Voices - Literary Festival”.

Ðại hội này tổ chức ở thành phố New York từ ngày 25 đến ngày 30 Tháng Tư năm 2006 với sự tham dự của nhiều nhà văn nổi tiếng trên thế giới như Toni Morrison (tác giả Mỹ, giải Nobel Văn Chương), Salman Rushdie, Nadine Gordimer, E.L. Doctorow, Zadie Smith, Chinua Achebe, Gioconda Belli...

Nhiều tiểu thuyết của bà Dương Thu Hương đã được dịch ra một số ngoại ngữ. Bà tự nhận là “con sói cô độc” còn nổi tiếng với nhiều bài tiểu luận đả kích chế độ Cộng Sản Việt Nam với những lời lẽ cay độc nặng nề.

Bà Dương Thu Hương, 59 tuổi, trở nên nổi tiếng khi xuất bản quyển truyện đầu tiên “Bên kia bờ ảo vọng” năm 1987 rồi kế đến là “Những thiên đường mù” (1988). Tác phẩm Bên Kia Bờ Ảo Vọng ấn hành 100,000 bản và cuốn Những Thiên Ðường Mù phát hành được 40,000 số ở trong nước thì bị tịch thu. Những tiểu thuyết sau đó của bà phải in và phát hành ở ngoại quốc.

Bà đã có lần bị bắt bỏ tù một thời gian ngắn mà không có xét xử hồi năm 1991 vì đả kích chế độ. Trước đó, bà bị đuổi ra khỏi đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1989. Khi bà bị bắt, nhiều tổ chức quốc tế đã lên tiếng đả kích chế độ Hà Nội là muốn bịt miệng những người đối kháng.

Bà từng được đề nghị sang Pháp định cư nhưng từ chối.Cũng như nhiều nhân vật chống đối chế độ, đòi tự do dân chủ khác ở Việt nam, bà không được phép có Internet và sử dụng email.

Tuyển tập tiểu luận liên quan đến Nhà văn Trần Mạnh Hảo

Những bài, tài liệu, của ( hoặc liên quan ) đến Nhà văn Dương Thu Hương

(Những bản tin trên chúng tôi trích dịch từ BBC, Tân Hoa Xã, VOA, Reuters, Fox, Vietnamnet, Thanh Niên, Tuổi Trẻ...
Xin cám ơn các nguồn trên đã giúp chúng tôi chuyển gửi tin tức đến độc giả HNPĐ
)

.

Thiên cổ đoạn trường kim nhất tục.
Phiếm Đàm tòng thử kế Thừa sai.

Tìm kiếm tin đã đưa
Liên kết website
 

Tin mới nhất của BBC
Tin mới nhất của RFA
Tin mới nhất từ SBS
Tin mới nhất của VOA

Ca khúc ngày hôm nay

 

Âm Thanh

Nghe phiếm luận : Con gà cục tác lá chanh

Romance, Những Chặng Đường Lịch Sử
Hula, Vũ Điệu Truyền Thống Của Quần Đảo Hawaii.
- Em Có Bao Giờ Còn Nhớ Mùa Xuân của Ngô Thụy Miên.
Trầm Tử Thiêng Người Nhạc Sĩ Của Thời Cuộc
Trịnh Công Sơn, còn mãi dấu người
Lịch Sử Phong Trào Du Ca Việt Nam
Ðoàn Chuẩn: Nhạc sĩ của mùa thu.
Anh Hãy Về Bên Giòng Sông Cũ.

Nguyễn Đình Chiểu.
Phạm Ðình Chương, Một Nỗi Nhớ Khôn Nguôn.
Phạm Thiên Thư và Thi Phẩm Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng.
Người Phụ Nữ Việt Nam Trong Cuộc Đời và Trong Văn Chương.
 
 

 

ĐIẠ CHỈ: WWW.HAINGOAIPHIEMDAM.COM.

EMAIL: HAINGOAIPHIEMDAM@YAHOO.COM

|Tại sao? | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu | Du Lịch | Thư tín|TRÁI TIM HỒNG CHĂN GỐI | Rừng cười |Ẩm thực |MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn|CỔ THI | Nhân vật |Đó Đây| Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ | Đọc Truyện