| 
Dục
tính trong văn chương: Bích Khê, “thi sĩ thần linh”
- “thơ lõa thể”
Bích
Khê đã đặt Dâm ngang hàng với Đẹp, và như thế với
ông đó là một phạm trù thơ. Tên phạm trù đó, loại
thơ đó Bích Khê cũng đã đặt: thơ lõa thể. Và ông
tự nguyện hiến mình cho loại thơ này.
I. Xác thịt lên ngôi thần
Nàng Thơ của Bích Khê là một người
“đẹp và dâm”. Chân dung nàng luôn được thi nhân
trình bày ở dạng lõa thể, khỏa thân. Nhìn vào đó
ta thấy Nàng đẹp.
Đẹp một cách tổng quát:
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết
điểm
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi (I) (Lõa thể)
Đẹp ở “cặp đùi non, một vẻ tơ mơ một vẻ ngon”.
Đẹp ở cặp mắt “xanh tợ ngọc”, “đa
tình ngời sắc kiếm”, “kho tàng muôn châu báu”. Bích
Khê thấy Hai mắt ấy chói hào quang sáng ngợp / Dẫn
ta vào thế giới thiêng liêng. Đó là ánh sáng soi
đường thơ cho nhà thơ. Cặp mắt và bầu vú là hai
ám ảnh thơ của Bích Khê, xuất phát từ cách nhìn
lõa thể thơ của ông. Nhiều nhà thơ mới đã ca ngợi
đôi mắt phụ nữ, nhưng nói đến vú thì hình như chỉ
Bích Khê là một.
Đẹp ở đôi bầu vú:
Những vú nõn: đồi cong thon, nho
nhỏ
Với đôi dòng suối sữa trắng như tinh
(Sắc đẹp)
Vẻ chi mãnh liệt nhưng êm ái
Trong cặp tuyết lê ướm dậy thì
(Châu)
Bích Khê nói nhiều đến đôi vú Người Nữ, của Nàng
Thơ. Vì với ông đó là nguồn thơ. Ông làm thơ tức
là ông “nút” vú, “nút” tinh chất của Người Nữ, của
Nàng Thơ, là tìm chất quý thơm tinh mùi khoái lạc.
Động từ “nút” của tiếng địa phương miền Trung được
dùng nhiều trong thơ Bích Khê là liên quan đến cảm
hứng cảm xúc này của nhà thơ. Thêm một trạng từ
địa phương nữa thường được dùng đi cùng động từ
này - “nư”. Nút cho nư, đã nư, tức là nút đến no
nê, tràn đầy, thỏa mãn. (Hàn Mặc Tử cũng hay dùng
những từ này).
Với cô gái trong một bức tranh lõa
thể:
Hai vú nàng! Hai vú nàng! Chao ôi!
Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng
Với “người em lãng mạn” trong một bức ảnh:
Anh tính ôm chầm lấy mắt mơ
Lấy môi lấy má... lấy ngây thơ
Để anh nút ớn mùi hương ấm
Của một tình yêu giận hững hờ
Với “một cô đào hát bộ”:
Tôi chợt ôm cô trong giấc mộng
Nút bao thanh khí, đã nư thèm...
Cả với một cảnh vật mùa xuân Bích
Khê cũng “vú hóa” theo cảm hứng này: “Nâng lên núm
vú đồi / Sữa trăng nhi nhỉ giọt”. Từ đó mùa xuân
mới chảy vào thơ ông thành xuân tượng trưng. (So
sánh với Hàn Mặc Tử cũng viết về đồi và trăng: Ngả
nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ / Đầy mình lốm đốm
những hào quang. Hai cách viết thơ khác hẳn nhau,
một bên là đi vào liên hệ bên trong, một bên là
nhân hóa cảnh tượng bên ngoài).
Đẹp ở da thịt “nức một đường thơm
một điệu êm”, tỏa một mùi hương “còn thơm hơn chất
xạ”, khiến thi nhân muốn “Cho ta xin trong một tối
du dương / Muôn thớ đàn run trên da thịt tuyết”.
Da thịt tuyết này còn hiện ra ở tràng cánh trắng
của đồ mi hoa, trong khi Đài nộn nhụy hóa nguồn
trinh tinh khiết. Và Bích Khê phổ cả cảm hứng nhục
thể vào bầu trời khi từ đỉnh Ngũ Hành Sơn nhìn lên:
Có ai biết trên cao
Da trời màu thịt sứa
Da trời se chất sữa
Truyền cảm hứng mênh mông
(Ngũ Hành Sơn - bài hậu)
Đến cả mộng của ông cũng là “mộng
lạ”. Các nhà thơ mới hay mộng, mà mộng gặp tiên,
gặp người đẹp, chuyện ấy đã thường. Bích Khê cũng
mộng, trong mộng cũng gặp các nàng “giai nhân hiện
dưới bóng hằng nga” (một motiv quen thuộc, như đã
thành một cliché của thơ lãng mạn), rồi cũng tả
sắc đẹp của người đẹp ở mắt môi dáng đứng dáng đi.
Đột một cái, hai câu kết bài “Mộng lạ”: Ôi đi! Đoàn
tiên lột khỏa thân / Hoan hô xác thịt chiếm ngôi
thần. Thế là tiên đã thành người trần. Mộng đã thành
thực. Thơ tiên đã thành thơ phàm. Ở một bài khác
(Hiện hình) trước khi thấy Một người thiếu nữ hiện
trong trăng thì thi nhân đã ngửi thấy Thơm tho mùi
thịt bắt say ngà! Ông tự nhận Hồn tôi mất cả đồng
trinh vì mê luyến những hình thiên nga. Cho nên
trong một lần Mơ tiên ông đã những muốn đi cướp
mây trời / vén ra cho thấy một vài nường tiên để
coi hồn đương say nghiền / đã nư khoái lạc trong
miền chiêm bao. Khoái cảm nhục thể của Bích Khê
quả là mạnh trong thơ ông. Đến mức một trái cây
như trái măng cụt cũng thành ra da thịt người dưới
mắt ông, múi mát tợ thịt thơm, và ăn nó như là bú
vú vậy, mùi sữa mớm vô răng.
Bích Khê có hẳn một bài thơ đặt
tên là Xác thịt:
Tôi vồ người như một miếng mồi
ngon
Miệng ngậm hờn riết chặt lấy môi son
Mắt đổ lửa lườm qua làn sóng sắc...
Tôi giật nẩy rồi cười lên sặc sặc
Hai tay cào đôi vú trắng như bông
Hàn Mặc Tử cho rằng đọc những vần
thơ ấy “giây thần kinh và gân huyết ta rung động
say mê bởi những làn khoái lạc của xác thịt nóng,
thơm, ran ran lên cả người” (II).
Như vậy, xác thịt được đặt lên ngôi
thần, được đưa vào ngôi chủ thơ. Đó là Bích Khê.
Ông “hoan hô” cái sự đó, nghĩa là ông thấy ở đó
nên thơ và đáng thơ.
Nàng thơ của Bích Khê hiện hình
trong thơ ông qua tên gọi phiếm chỉ những người
phụ nữ khác nhau. Duy chỉ có một nàng được ông gọi
thẳng tên và nhắc đến nhiều lần với niềm yêu thương,
trân trọng. Đó là nàng Xuân Hương.
Ông gặp nàng ở bến sông Ngân:
Ô! Nàng Xuân Hương ngực để trần
Ngâm bài “Vấn nguyệt” tiếng trong ngần
Nhìn xuống nhân gian cười như điên
(Nghê thường)
Ông muốn xuống địa ngục trong cơn
ăn mày cảm hứng “Đặng ngủ nhờ một đêm với Xuân Hương”.
Ông nằm mộng “Thì mộng: Xuân Hương nường đã đến
/ Thưa cô, dáng nguyệt tuyết còn vương”.
Và ông có hẳn một bài thơ nhan đề
Hồ Xuân Hương mời nàng nữ sĩ về làm vợ mình, gọi
bà là người vợ trong thơ. Ông đồng điệu tri âm với
nữ sĩ trong loại thơ đặc sắc của bà mà chắc ông
muốn học theo: Văn chương quán thế không ai biết
/ Trong mộng mình về thưởng với tôi. Xuân Hương
trong mắt Bích Khê vẫn mãi đẹp.
Đêm nay nửa gối nghiêng nghiêng
mộng
Muôn dặm người xa đã thấy về
Xanh liễu ngoài sân vừa đổi biếc
Màu thi sắc lá đọ dung nghi
Phải chăng Bích Khê thấy ở Hồ Xuân
Hương sự đồng điệu với ông trong quan niệm thơ lõa
thể - đẹp và dâm? Nàng thơ là người đẹp, nhưng cái
đẹp đó phải được thức dậy, được sống động ở nhục
thể, ở da thịt, ở ân ái. Có là mộng, là thiên tài,
thì cũng phải Trên hỗn độn khỏa thân. Thơ, với Bích
Khê, là da thịt biến ra thơm, là Bắn tinh ra trộn
trạo giữa nguồn hương khi Cả địa ngục đi vào trăm
lỗ hổng, là Hợp tinh khí chảy ra thành chất ngọc.
Ông nói thẳng ra những điều Hồ Xuân Hương thể hiện
lấp lửng hai mặt. Ông tuyên bố:
Ôi! say khướt mới dào muôn ý tứ
Ôi! điên rồ mới ngợp ánh chiêm bao
Ôi! dâm cuồng mới biết giá trăng sao! (III)
Duy tân thơ của Bích Khê, vì thế, là thơ lõa thể.
II.
Thơ lõa thể
Sự đậm đặc những hình ảnh, cách
nói về thân xác và hoạt động thân xác ở thơ Bích
Khê như ta đã thấy không hề là ngẫu nhiên. Bích
Khê có lẽ là nhà thơ ‘ca tụng thân xác” say sưa
và nồng nhiệt nhất thơ Việt. Có thể có yếu tố phân
tâm học bệnh lý của Bích Khê ở đây. Nhưng cái chính,
đó là một quan niệm thơ của ông.
Văn học lãng mạn Việt Nam (Tự Lực Văn Đoàn và Thơ
Mới) có một đóng góp cách tân lớn là xác lập và
đề cao cái đẹp thể chất của con người. “Dâm” trong
“đẹp và dâm” của Bích Khê có thể hiểu theo nghĩa
này, như những câu thơ, đoạn thơ tôi dẫn ra trên
đây đã cho thấy. Nhưng như đã nói, mệnh đề này còn
là quan niệm thơ của Bích Khê, và như thế để hiểu
rõ nó thì cần đặt nó vào hệ thống của “trường thơ
Bình Định”. Hàn Mặc Tử chủ trương thơ Điên. Chế
Lan Viên làm thơ Loạn. Thơ Điên, thơ Loạn, “cái
gì của nó cũng tột cùng”, “cái gì nó nói đều có
cả” (Chế Lan Viên). Bích Khê ở trong môi trường
này cũng sẽ làm thơ theo không khí và tinh thần
đó. Tập Tinh huyết của Bích Khê là do Hàn Mặc Tử
đề tựa sau khi đã “khích” bạn mình sáng tác “đợt
hai” và Hàn đã rất ca ngợi đợt sản phẩm mới này
của bạn (IV). Tinh huyết có ba phần: Nhạc và lệ,
Đẹp và dâm, Cuồng và ánh sáng, nhưng tôi thấy tinh
thần của phần giữa là quán xuyến cả tập. Như vậy
có thể nói Bích Khê làm thơ Dâm, hiểu theo nghĩa
ông phơi mở và đề cao thân thể phụ nữ và các hoạt
động thân thể mà ông tụng ca là Đẹp, là Thơ. Giống
như thơ Hồ Xuân Hương bị coi là dâm nhưng đó thực
là thơ ca ngợi vẻ đẹp cơ thể phụ nữ và đòi quyền
sống cho thân xác con người trong tình yêu đôi lứa.
Ở đây không cần phải biện hộ gì cho chữ Dâm cả,
Bích Khê đã đặt Dâm ngang hàng với Đẹp, và như thế
với ông đó là một phạm trù thơ. Tên phạm trù đó,
loại thơ đó Bích Khê cũng đã đặt: thơ lõa thể. Và
ông tự nguyện hiến mình cho loại thơ này.
Thơ lõa thể! Giai nhân tuần trăng
mật
Nữ thần ơi! Ta nô lệ bên người
Điên - Loạn - Dâm, có thể coi đó
là đặc trưng của “trường thơ Bình Định” với nghĩa
bộc lộ hết mình và tột cùng, cả thể chất và tinh
thần, trong cơn sáng tạo quyết liệt. Bởi thế, đọc
thơ họ, một nhà phê bình nhạy cảm và tinh tế như
Hoài Thanh cũng phần nhiều chịu bó tay. Ông “mệt
lả” khi theo Hàn Mặc Tử. Ông thấy Chế Lan Viên là
“niềm kinh dị”. Với Bích Khê ông thú nhận là đành
“kính nhi viễn chi”. Tất nhiên, phải nói thêm ở
đây, mỹ cảm của Hoài Thanh là nằm trọn trong chủ
nghĩa lãng mạn, mà các nhà thơ “trường thơ Bình
Định” thì ít nhiều đã vượt sang chủ nghĩa tượng
trưng.
Thơ lõa thể, đó là hồn và xác. Đó
là lãng mạn và tượng trưng. Thơ Mới đến Bích Khê
và nhóm thơ Bình Định đã vượt qua những cảm xúc
lãng mạn thời kỳ đầu để tiến tới những biểu hiện
của tượng trưng, siêu thực về sau. Theo nhà nghiên
cứu Đỗ Đức Hiểu, Thơ Mới Việt Nam (xét dưới góc
độ: “Sự tương hợp giữa Thơ Mới và Thơ Pháp trong
cuộc giao thoa của hai văn hóa Việt Nam và Pháp
nửa đầu thế kỷ XX”) có hai làn sóng. Làn sóng thứ
nhất “chịu ảnh hưởng chủ yếu của thơ lãng mạn Pháp
nửa đầu thế kỷ XX”. Lớp nhà thơ thuộc làn sóng này
viết diễn cảm. Làn sóng thứ hai “chịu tác động sâu
sắc của Baudelaire và những nhà thơ tượng trưng
chủ nghĩa Pháp”. Lớp nhà thơ của làn sóng này viết
diễn đạt cái tương hợp (V). Bích Khê là nhà thơ
mới thuộc làn sóng thứ hai. Đẹp và dâm, vừa là sự
đối nghịch, vừa là sự tương hợp. Thơ cũng vậy. Thơ
lõa thể của Bích Khê là vậy.
Có hiểu thế ta mới hiểu vì sao bài
thơ nhan đề Trái tim của Bích Khê lại kết thúc bằng
hai câu thơ có hai gạch đầu dòng, trong đó câu cuối
cùng rất gây “sốc” khi mới đọc qua (và có thể là
“tục” nữa nếu ai muốn nghĩ thế).
- Yêu bằng mộng là mơ tim sáng láng
- Đây sự thực trần truồng nằm giữa háng!
Hai cái gạch đầu dòng cho phép hiểu
hai câu thơ này như một cặp câu đối thoại. Ở đoạn
hai của bài thơ đã có cuộc đối thoại của “tôi” với
“cô”. Tôi ăn mày chỉ một trái tim thôi / Lạy tứ
hướng cô mới chịu cho tôi / Cô vùng vằng là tôi
không có thả... Tiếp đó là hai câu độc thoại: Mình
say chưa? Mình đã thật say sao / Có lảo đảo, có
điên cuồng đấy chứ? Và sau ba câu để trong ngoặc
đơn vừa như giải thích, vừa như tuyên ngôn mà tôi
đã dẫn ở trên (Ôi! say khướt...) là đến hai câu
gạch đầu dòng này kết thúc bài thơ. Có thể hiểu
câu Yêu bằng mộng... là lời cô gái chăng, và câu
Đây sự thực... là lời “tôi”-chàng trai chăng. Cũng
có thể hiểu cả hai câu là hai ý nghĩ vật lộn, đan
xen trong tâm trí của ‘tôi” chăng. Hiểu cách gì
thì cũng thấy toát lên một ý là Bích Khê trong thơ
rất ám ảnh và ám gợi thân xác, nhục thể. Ngay trong
bài này đã có câu Đây xác thịt ớn lên vì đã mệt.
Đọc kỹ cả bài thơ Trái tim thì thấy đó như không
phải nói trái tim, mà nói chuyện thân xác.
Yêu thực là yêu bằng cả tình cảm
và nhục thể. Có lẽ đối với Bích Khê thơ đẹp là thơ
phải có dâm, là mộng cộng sự thực. Có thể thấy rõ
điều này qua một phép so sánh hai bài thơ của Bích
Khê và Hàn Mặc Tử, hai người bạn thơ gần gũi thân
thiết và có nhiều điểm tương đồng. Cả hai bài cùng
viết về đề tài tân hôn, cùng đều bốn khổ. Nhưng
cảm hứng thì khác hẳn. Hàn Mặc Tử nghiêng về mộng
nhiều hơn, sợ khi đã qua đêm tân hôn rồi thì Không
còn ý nhị ban đầu nữa / Sẽ chán chường và sẽ chán
chê.
Cho nên tôi tưởng tối tân hôn
Chưa tới, còn xa để được buồn
Để sống trong niềm thương nhớ đã
Để còn mường tượng đến giai nhơn (VI)
Một tâm trạng rất lãng mạn chủ nghĩa!
Tâm trạng này của Hàn Mặc Tử cũng là của Vũ Hoàng
Chương trong bài thơ cũng có tên là Tối tân hôn.
Họ Vũ coi đó là sự bắt buộc rời xứ Mộng, là từ thiên
giới thanh cao phải quay về hạ giới nhơ bẩn. Tối
tân hôn là thời điểm mộng chết.
Hai xác thịt lẫn vào nhau mê mải
Chút thơ ngây còn lại cũng vừa chôn
Khi tỉnh dậy, bùn nhơ nới Hạ giới
Đã dâng lên ngập quá nửa linh hồn (VII)
Bích Khê thì khác, ông nhìn thẳng và phơi bày sự
thực: Họ tưởng tân hôn êm ấm lạ / Không hay sao
ốm lả hoa tàn... / Họ tưởng tân hôn êm ấm lạ / Không
hay xuân kín vỡ màn trinh... Và thi nhân chúc mừng
đôi lứa tân hôn:
Mộng rớt đêm nay như chất ngọc:
Người ta say nghiến những men tình
Tôi hoan hô - phút giây thần diệu
Chết giả nhưng cười trắng thủy tinh
Có ẩn ức tâm lý gì ở đây không, nhưng về thơ thì
rất baudelaire! Và cũng như lần đầu hoan hô xác
thịt, lần này ông lại hoan hô tối tân hôn. Với ông,
những gì liên quan đến nhục thể là đáng ngợi ca
và đáng làm thơ.
Hàn Mặc Tử gọi Bích Khê là “thi
sĩ thần linh”. Ông cho thơ Bích Khê ở tập Tinh huyết
có ba tính cách: 1) Thơ tượng trưng, 2) Thơ huyền
diệu, và 3) Thơ trụy lạc. Nhận xét về thơ trụy lạc
của bạn mình, Hàn viết: “Ở địa hạt dâm cuồng này,
ta thấy thi sĩ Bích Khê hoàn toàn là Baudelaire.
Vì trong tác phẩm chàng, gợi dục tình thì ít, mà
làm cho người ta ghê rợn đến gớm guốc cái cảnh trần
truồng khả ố thì nhiều” (VIII).
Điều này không hẳn đúng. Loại thơ
nhục thể của Bích Khê một mặt, thể hiện niềm khát
sống, niềm hoan lạc trần thế của con người nói chung,
của chính nhà thơ nói riêng. Mặt khác, Bích Khê
đã nâng khoái cảm nhục thể ấy lên thành một nguồn
cảm hứng, một mỹ học thơ. Thơ “lõa thể” của ông
đọc lên không thấy gợi dục tình theo hướng xấu xa,
điều này Hàn Mặc Tử nói đúng, nhưng cũng không hề
gợi cảm giác ghê rợn, gớm guốc. Đọc chúng, ta được
khoái cảm tổng hợp của sự tương giao âm thanh, màu
sắc, hương thơm như một đặc tính cốt yếu của thơ
tượng trưng. Tính chất “thần linh” của Bích Khê,
nếu có, thì không chỉ ở những bài thơ huyền diệu,
siêu thoát, mà ở cả chỗ này nữa: ông nói tục mà
thanh, ông nói những điều khó nói mà nói được một
cách tự nhiên, thanh thoát. Ta hiểu thêm một lý
do nữa vì sao ông thích thú và gần gũi với Hồ Xuân
Hương đến vậy. Và ta cũng hiểu vì sao Bích Khê lại
gọi Baudelaire là “Vua Thi Sĩ”, vì ông đã học được
bao nhiều mùi thi vị ở tác giả Hoa Ác (Les Fleurs
du Mal):
Có những mùi hương mát như da thịt
trẻ con
Êm nhẹ như tiếng sáo, xanh mướt như cỏ non
Và những mùi hương oanh liệt, phong phú và trụy
lạc
- Tỏa khắp không gian như những cái vô hạn, vô cùng
Như nhựa thơm, như xạ, như hương trầm
Hát ca những khoái lạc của tinh thần và thể xác
(IX)
(Bản dịch của Vũ Đình Liên)
và ông muốn phà hơi lên cho mùi thi vị đó từ Baudelaire
truyền nhiễm thấu trần ai (Ăn mày).
Cuối cùng, tất cả tan hòa, khi Nàng bước tới...
Nàng! nàng! nàng! không có nữa châu thân
Xác là mộng mà tình là tuyệt đích
Hỡi không gian! hãy tan ra tiếng địch
Của lòng yêu ca ngợi tuyệt vời cao
Hỡi trần gian! hãy chết ngột trong sao
Cho chân lý ngời ra như lưỡi kiếm
Cho tình ta xô dồn sang cực điểm
Và hào quang khiêu vũ với hào quang...
Thân xác, nhục thể tắm gội trong
một tâm hồn mang khí vị thần linh của thi sĩ đã
biến thành hào quang lung linh. Thơ lõa thể của
Bích Khê đã phát quang như vậy. Và đó là phép thơ
riêng của ông. Một phép thơ đã để lại những lời
thơ đầy hơi hám, nghĩa là có mùi vị, nghĩa là không
bị tiệt trùng, nghĩa là sống, mà Bích Khê tin chắc
là tay khách đa tình sẽ chuyển trao. Niềm tin của
ông đã thành sự thực. Thơ lõa thể của ông một thời
gian dài bị im lặng, nay được đem ra đọc, và còn
nói được nhiều điều cho thơ và các nhà thơ hôm nay.
Hà Nội rằm Giêng Bính Tuất (2006)
Phạm Xuân Nguyên
Ghi chú: Bài này đã đọc tại hội thảo Thơ Bích Khê
do Hội Nhà văn Việt Nam và Hội văn học nghệ thuật
Quảng Ngãi tổ chức tại thị xã Quảng Ngãi (20-21/2/2006)
và đã đăng tạp chí Nghiên Cứu Văn Học (Viện Văn
Học) số 4/2006.
Chú thích:
(I) Tất cả thơ Bích Khê dẫn trong bài này đều rút
từ sách Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm,
Nxb Hội Nhà văn, H. 1999, tr. 265 - 346.
(II) Hàn Mặc Tử. Bích Khê, thi sĩ thần linh, in
trong sách: Tuyển tập phê bình, nghiên cứu văn học
Việt Nam (1900 - 1945), Nxb Văn Học, 1997, tập IV,
tr. 140 - 141. Đây là bài Hàn Mặc Tử viết tựa cho
tập Tinh huyết. Điều đáng chú ý là bài thơ Xác thịt
này không thấy có trong Tinh huyết in ở sách Thơ
Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm. Mấy câu thơ
trên tôi lấy từ bài của Hàn Mặc Tử.
(III) Trong bài tựa Tinh huyết của
Hàn Mặc Tử (Sđd, tr. 142) mấy câu này được dẫn khác:
Có say khươt mới dào muôn tứ ngọc
Có điên rồ mới hớp ý trăng sao
Có dâm cuồng mới dâng cả lên cao
Nơi chu lưu một nguồn thơ bất tuyệt
Theo bản này thì càng thấy rõ ý của Bích Khê hơn.
(IV) “Suốt trong một năm 1938, tôi hết sức khích
lệ chàng, mong mỏi ở chàng một thi sĩ xuất sắc,
cao cường. Cái hy vọng của tôi sốt sắng quá, nóng
nảy quá, đã một lần đưa tôi vào sự chán chê và tức
bực. Gần cuối năm ấy, chàng gửi ra cho tôi nhiều
thơ, mà tôi chẳng lựa được bài nào cả. Tôi gửi trả
lại chàng kèm với bức thư mà tôi dùng rất nhiều
lời khiêu khích mỉa mai (cốt làm cho chàng tức).
Quả nhiên chàng giận run người lên và vội trả lời,
thề với tôi rằng: Trong sáu tháng sẽ trở nên một
thi sĩ phi thường, bằng không sẽ chẳng bao giờ nghĩ
đến làm thi sĩ nữa. Ngờ đâu sự hằn học của chàng
bật nẩy thiên tài của chàng ra. Không đợi đúng sáu
tháng, chỉ trong vòng ba tháng thôi, chàng đã viết
được một tập thơ, viết bằng máu huyết tinh tủy và
châu lệ, và tất cả say sưa, đắm đuối của một hồn
thi sĩ” (Hàn Mặc Tử. Bích Khê, thi sĩ thần linh,
Sđd, tr. 130 - 131).
(V) Đỗ Đức Hiểu. Đổi mới đọc và bình văn, Nxb Hội
Nhà văn, H. 1999, tr. 153 - 154.
(VI) Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm, Sđd,
tr. 154.
(VII) Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm,
Sđd, tr. 447.
(VIII) Hàn Mặc Tử. Bích Khê, thi sĩ thần linh, Sđd,
tr. 141.
(IX) Il est des parfums frais comme des chairs d'enfants,
Doux comme les hautbois, verts comme les prairies,
— Et d'autres, corrompus, riches et triomphants,
Ayant l'expansion des choses infinies,
Comme l'ambre, le musc, le benjoin et l'encens,
Qui chantent les transports de l'esprit et des sens.
Phim
kinh dị thắng thế
Cảnh
trong phim The hills have eyes, phim đang ăn khách
nhất khu vực Bắc Mỹ
Bộ phim kinh dị Silent hill đã thay thế vị trí đầu
bảng Top 10 phim ăn khách nhất khu vực Bắc Mỹ của
Scary Movie 4 tuần qua, báo hiệu mùa phim kinh dị
thắng lớn Ba ngày trình chiếu đầu tiên Silent hill
thu 20,2 triệu USD, còn Scary Movie 4 cũng thuộc
thể loại kinh dị nhưng pha nhiều tiếng cười tính
đến nay đã thu 67,7 triệu USD tiền vé sau 2 tuần
chiếu. Có thể nói phim kinh dị đang được một mùa
bội thu.
3-4 phim/tháng
Theo biên tập viên tạp chí Fangoria
Tony Timpone, trước đây mỗi năm chỉ có chừng 3-4
phim kinh dị, còn hiện nay là 3-4 phim/tháng. Nhìn
vào danh sách phim Hollywood được xếp lịch trình
chiếu trong năm nay có thể thấy rõ điều đó. Mở màn
đầu năm là Hostel (ngày 6-1), một bộ phim kể về
việc 2 thanh niên Mỹ Paxton, Josh và 1 người Iceland
Oli cùng đi du lịch đến châu Âu, nghỉ trọ trong
một nhà nghỉ ở Slovakian, cả 3 đều không biết chuyện
gì đang chờ đợi trong ngôi nhà nghỉ khủng khiếp
này. Vài ngày sau khi ra mắt, hãng Lion Gates ung
dung bỏ túi gần 50 triệu USD trong khi kinh phí
làm phim chỉ 4,8 triệu USD. 65% khán giả đến xem
Hostel còn rất trẻ: dưới 25 tuổi. Ra mắt muộn hơn
Hostel có Underworld: Evolution, cũng đẫm máu không
kém. Sau Hostel, Underworld: Evolution, đến tháng
2, phần 3 loạt phim nổi tiếng Final destination
ra đời đưa người xem tới mức độ ngày càng rùng rợn
hơn. Lần này là câu chuyện thoát chết trong gang
tấc của một nhóm học sinh khi họ đang chơi trò tàu
lượn. Trước Final destination 3 là một bộ phim chỉ
cần nghe qua cái tên cũng đủ biết mức độ rùng rợn
của nó: When a stranger calls. Phim kể về Jill Johnson,
một nữ sinh nhận giữ trẻ qua đêm cho một gia đình,
mỗi tối cô đều nhận được nhiều cú điện thoại từ
một kẻ lạ hỏi thăm xem đã chăm sóc lũ trẻ chưa.
Điều đáng sợ là số điện thoại kia được gọi đến từ...
trong nhà.
Cao điểm nhất phải kể đến tháng
3 vừa qua khi màn ảnh tràn ngập hàng loạt tác phẩm
dựng tóc gáy và tất cả đều đạt doanh thu không tồi:
Slither, Stay alive, The hills have eyes. Từ nay
đến cuối năm, danh sách phim dạng này còn dài ra
thêm với các phim The Omen, Pulse, The returns,
Grind house, Black Chrismas, Cruel world, The Grudge
2...
Sẽ có các phần tiếp theo
Bắt đầu từ mùa thu năm ngoái, người
ta đã ước tính được rằng có đến 7 phim thể loại
kinh dị lọt vào bảng xếp hạng các phim ăn khách
nhất. Trong số đó gây tiếng vang nhất là loạt phim
Saw, tổng cộng phim đã mang về cho hãng Lions Gate
250 triệu USD tiền vé trên toàn cầu. Phần 3 sẽ ra
mắt vào ngày 27-10 tới nhân dịp lễ hội Halloween.
Đầu năm 2007, khán giả được thưởng thức phần tiếp
theo của Hostel. Phải nói là hãng Lions Gate đang
làm “trùm” trong việc sản xuất thể loại phim máu
me này. Họ liên tục hốt bạc trong thời gian qua,
đến nỗi ngay cả hãng Disney cũng không thể dửng
dưng đứng ngoài cuộc đành phải nhảy ngay vào làm
phim Stay alive. Sức thu hút của dạng phim này còn
mạnh đến nỗi cả Renee Zellwegger (nữ diễn viên chuyên
thành công với những vai hài), vừa qua, cũng ký
hợp đồng đóng phim kinh dị mang tên Case 39.
Ngày
nay khán giả ngày càng đòi hỏi cao ở các phim kinh
dị nên việc tìm được một kịch bản hay, có sức thuyết
phục, khiến người xem phải thót tim không phải là
chuyện dễ dàng. Do vậy, đa phần phim đã và sắp ra
mắt đều làm lại từ các phim ăn khách cùng tên trước
đó, chẳng hạn The hills have eyes, Case 39, Black
Christmas.Nguyễn Ngọc
Huế:
Một đấu trường hoàng cung hoang phế
Lối
dẫn voi và đường lên thành xem trận đấu.
Có người đã ví von rằng: Ngoài đấu trường giác đấu
nổi tiếng thời La Mã cổ đại như Coloseum, không
đâu tìm được một đấu trường quy mô như Hổ quyền,
một đấu trường của hoàng cung có chỗ đứng hết sức
quan trọng trong quần thể di tích Huế.. Thế nhưng
địa danh oai linh với những cuộc thư hùng long trời
lở đất giữa voi và cọp thuở xưa đang từng ngày dần
hóa thành phế tích...
Hổ
quyền là một đấu trường giữa voi và cọp ra đời dưới
thời vua Minh Mạng, vừa là chỗ vua quan nhà Nguyễn
giải trí, đồng thời cũng là nơi luyện tập cho voi
quen với không khí chiến đấu lúc lâm trận. Theo
ông Pierre Poivre nhà buôn phương Tây từng đến Huế
vào thời các chúa Nguyễn thuật lại rằng: Vào năm
1750, chúa Nguyễn Phúc Khoát và các quan trong triều
đã đi trên 12 chiếc thuyền, đến đậu gần cồn Dã Viên
để xem voi và cọp đấu nhau. Trận ấy có 40 con voi
"lâm trận" và chúng đã quật chết 18 con
cọp.
Thời Gia Long (1802 - 1919), các
trận thư hùng giữa voi và cọp được tổ chức ngay
trên dải đất trống trước mặt Kinh thành. Đấu trường
không có phòng thành, nhà vua bắt lính đứng vây
quanh thành một vòng tròn để làm hàng rào cho đấu
trường hết sức nguy hiểm. Một người được xem cuộc
thư hùng ấy là ông Michel Đức Chaingeau.
Về
sau viết cuốn hồi ký Hoài niệm Huế, ông đã thuật
lại một kỷ niệm hết sức rùng rợn: Trong trận đấu
hôm ấy, mặc dù con cọp đã bị tước bỏ hết nanh vuốt
và cột chặt vào một cái cọc đóng kiên cố... Nhưng
không ngờ nó mạnh và dữ quá, gồng mình bứt đứt sợi
dây rồi nhảy phóc lên tát anh nài đang ngồi trên
đầu voi. Anh nài hoảng hốt chưa kịp kêu cứu thì
đã bị tấn công bay xuống đất và bị con voi của chính
anh giẫm chết tại chỗ. Con cọp còn gây cho nhiều
binh sĩ bị thương và vua quan triều Gia Long phải
một cơn thất đảm kinh hồn.
Về sau này, để bảo đảm an toàn cho người xem, năm
Canh Dần (1830), vua Minh Mạng đã cho xây dựng Hổ
quyền ở gần đồi Long Thọ và Thành Lồi của người
Chiêm Thành xưa, gần với điện Long Châu. Hổ quyền
là một đấu trường lộ thiên hình vành khăn. Vòng
tường ở bên trong cao 5,90m và vòng tường bên ngoài
cao 4,75m (kể cả lan can) có khuynh độ 1/10 chúc
đầu vào nhau, ôm chặt lấy mô đất ở giữa. Bề dày
đỉnh tường ngoài là 35cm và đỉnh tường trong 47cm.
Cả hai cộng với mô đất ở giữa tạo
thành một bề dày 4m ở đỉnh và 5m ở mặt đất thường.
Mặt trên của mô đất ấy cao bằng tường ngoài, tạo
thành con đường chạy vòng tròn (chỉ gián đoạn ở
khán đài nơi vua ngồi xem) để khán giả đi quanh
trên đấu trường và để xem voi cọp đánh nhau trong
lòng chảo. Mô đất chạy vòng ấy cũng đã được dùng
để trổ thành 5 chuồng cọp và một cửa vòm lớn dành
cho voi ra vào chiến đấu. Đường kính trong lòng
chảo 44m, chu vi ngoài Hổ quyền 140m.
Lúc thịnh thời, các trận đấu tại
Hổ quyền được tổ chức hàng năm, nhưng cũng tuỳ sở
thích của từng ông vua triều Nguyễn, có khi một
năm tổ chức vài ba trận đấu nhưng cũng có khi vài
ba năm mới tổ chức một trận đấu tại Hổ quyền.
Trận đấu cuối cùng tại Hổ quyền
diễn ra vào năm 1904 dưới thời vua Thành Thái. Từ
đó về sau, một phần vì kinh tế khó khăn không thể
chi phí cho việc săn bắt thêm voi, cọp để thi đấu,
một phần vì sự mâu thuẫn ngày càng trầm trọng giữa
vua Thành Thái và chính quyền Bảo hộ nên Hổ quyền
cũng bị bỏ hoang cho đến ngày nay.
Thật đáng tiếc là cho đến bây giờ
vẫn chưa phát hiện thấy có sử liệu nào ghi chép
cụ thể đã có bao nhiêu trận đấu giữa voi và cọp
diễn ra ở Hổ quyền trong suốt nhiều đời vua triều
Nguyễn từ Minh Mạng đến Thành Thái.
Theo một số truyền thuyết dân gian
thì cũng chính tại đấu trường của hoàng cung này
đã từng diễn ra các cuộc đấu của các mãnh tướng
chống lại triều đình với những con cọp dữ. Những
truyền thuyết, dã sử xoay quanh Hổ quyền còn rất
nhiều nhưng thực tế chỉ có một. Đó là di tích văn
hóa quý giá này đang ngày một xuống cấp nghiêm trọng.
Lớp phong mờ của thời gian và sự tàn phá của con
người đã và đang làm cho nơi đây hoang tàn nhanh
chóng.
Trước đây, bên cạnh Hổ quyền, phía
trước mặt Long Châu Miếu có hồ sen rất rộng, đó
là nguồn nước ăn của cả vùng Long Thọ. Ngoài ra,
lợi tức bán hạt sen của cái hồ này cộng với tiền
cúng tế do triều đình cấp cũng đủ để dùng vào việc
lễ tế voi diễn ra khá lớn hàng năm ở đây. Sau này,
cùng với sự thờ ơ của người đời, mặt nước linh thiêng
biến thành hồ nuôi cá, hương sen thơm ngát bị lấn
át bởi vô vàn mùi xú uế của rác thải sinh hoạt khiến
cho mạch nước hồ ô nhiễm và cạn dần. Với tốc độ
đô thị hóa chóng mặt, rất nhiều nhà dân đã lấn chiếm
xây trùm lên đất đai di tích, muốn vào thăm chốn
này, du khách phải chui qua cái kiệt 373 nhỏ bé
nằm khuất lấp trên đường Bùi Thị Xuân.
Xin được nhắc lại rằng: Khắp các
nước Đông Á, kể cả Trung Quốc và Nhật Bản, không
thấy ở quốc gia nào có đấu trường tương tự. Hổ quyền
ở Huế chẳng những là một di tích đặc biệt và độc
đáo của Việt Nam, mà còn là một di tích quý hiếm
của thế giới nữa Lam Thạch Giang
Cô
Kentucky lên ngôi nữ hoàng sắc đẹp Hoa Kỳ
Tối
thứ sáu, người dân Hoa Kỳ có dịp chứng kiến nhan
sắc và tài năng của 51 người đẹp Hoa Kỳ tham dự
kỳ thi Hoa Hậu Hoa Kỳ, lần thứ 55, mà người đoạt
vương miện sẽ được tham dự Hoa hậu Hoàn Vũ sắp tới
vào ngày 23 tháng 7, ở Los Angeles.Trong số 51 người
đẹp, sau vòng đầu xuống còn 15 thí sinh, và rồi
còn 10 thí sinh vào bán kết, và cuối cùng còn 5
thí sinh vào chung kết.
Cuối cùng, cô Tara Elizabeth Conner,
20 tuổi, của thành phố Russell Springs, một thị
trấn nhỏ chỉ có 2,500 dân, ở tiểu bang Kentucky
đoạt vương miện. Hoa hậu 2005 là Chelsea Cooley
của tiểu bang North Carolina trao vương miện cho
tân hoa hậu Hoa Kỳ 2006.
Đệ nhất á hậu lọt về tay người đẹp
California là Tamiko Nash (26 tuổi, Los Angeles),
và á hậu 2 là cô Lisa Wilson (26 tuổi, tiểu bang
Georgia), á hậu 3 là cô Stacy Offenberger (26 tuổi,
tiểu bang Ohio), và á hậu 4 là cô Cristin Duren
(24 tuổi, tiểu bang Florida).
Hoa hậu Conner tâm sự là “đây là
sự kiện lớn nhất đã xảy ra tại thị trấn của tôi.”
Cô cũng cho biết là nhờ trải qua
cuộc sống nhiều khó khăn, cô học được tính khiêm
tốn và trở thành một cá nhân mạnh mẽ và có được
giây phút huy hoàng như hôm nay.Dư luận cho rằng
chính nhờ khả năng đối đáp (nét đẹp trí thức và
nhân cách), cô đã vượt lên trở thành người đẹp nhất
Hoa Kỳ 2006.
Nhạc
sĩ Hoài Sa: Trong âm nhạc, lừa người cũng chỉ được...
nửa năm
´
Có phải anh là tay phối khí oách nhất ở TPHCM đang
được mời sang Mỹ và Châu Âu biểu diễn? -
Họ mời đã lâu rồi. Tôi dự định cũng sẽ thu xếp đi
sang bên đó. Nhưng khổ là công việc quá bận rộn,
hết chương trình này sang chương trình khác nên
đành tạm khất lại.´
Với khối lượng đơn đặt hàng nhiều như hiện nay,
liệu bé hạt tiêu như anh có đủ sức kham nổi? -
Thường thì tôi phải từ chối rất nhiều lời mời nếu
không đủ hứng thú, vì đã làm là phải chăm chút ghê
lắm. Người ta phối một bài mất một ngày thì với
tôi có khi cả tuần. Có khi đã phối xong hoàn chỉnh,
nhưng nghe chưa hay, tôi cũng bỏ đi như thường.
´
Trong nghề phối khí, anh cho rằng quan trọng nhất
vẫn là cảm thụ tác phẩm. Còn nếu lạm dụng kỹ thuật?
- Dĩ nhiên, ngoài năng khiếu, sự
chuyên cần và phương tiện cần thiết, điều cơ bản
là phải đặt mình vào trong bài hát, trải hết cảm
xúc vào đó thì mới truyền được hưng phấn cho người
nghe. Còn nếu lạm dụng kỹ thuật, trổ hết các ngón
nghề ra hù doạ người nghe mà tâm hồn mình không
có ở đó thì chỉ tạo ra được thứ âm nhạc "bùa
phép" mà thôi. Mà bùa phép thì nghe là chán
liền. Trong âm nhạc, lừa người ta nhiều lắm cũng
chỉ được nửa năm.
´
Vì sao anh thích phối những bản nhạc xưa hơn là
thời nay và được đánh giá cao ở mảng này?
- Âm nhạc của các nhạc sĩ như Phạm
Duy, Trịnh Công Sơn vốn dĩ đã hay, nhưng khi mình
phối lại còn khám phá nhiều cái hay khác nữa. Mà
trong đó, cảm xúc của người nghe, người viết và
người phối nhạc phải gần như đồng điệu. Trong âm
nhạc, dù là bất cứ giai điệu nào, cảm xúc vẫn là
yếu tố quyết định.
´
Đã bao giờ anh nghe bản nhạc mình phối mà xấu hổ
chưa?
- Tôi là nhạc sĩ chứ không phải
nhà kinh doanh. Thường tự nhủ mình rằng làm sao
để nghe lại bản nhạc mình phối mà không phải xấu
hổ. Cho đến nay, nghe lại những bài cách đây 10
năm, mới thấy rằng có thể kỹ thuật phòng thu hồi
ấy còn kém, nhưng tư duy viết nhạc cũng như cảm
xúc gửi trong đó thì vẫn tươi nguyên như vậy.
´
Thị trường hoà âm phối khí giờ nhân tài như
lá mùa... xuân, cuộc chạy đua trong nghề này có
làm người trong cuộc thấy mệt mỏi?
- Trước đây, cũng có chuyện độc
quyền trong hoà âm phối khí. Có những người muốn
làm "vua một cõi" và tạo êkíp riêng. Nhưng
sau đó thì mọi chuyện thay đổi, người nghe có trình
độ hơn, người làm chương trình cũng tinh mắt hơn.
Không còn ăn khách như xưa thì những người ấy gần
như sụp đổ, tóc bạc rất nhanh, trông rất khổ sở.
Tôi chỉ có cảm giác tội nghiệp cho họ. Còn với tôi,
làm sao để xúc cảm đọng lại trong trái tim người
nghe, chứ không phải chuyện thắng thua, mới là điều
quan trọng nhất.
´
Anh đánh giá cao những ca sĩ nào hiện nay?
- Tôi rất thích đệm đàn cho Mỹ Linh
và Trần Thu Hà. Họ là những ca sĩ giỏi nghề và xử
lý ca khúc tinh tế, đầy tính kỹ thuật, mà không
làm mất đi vẻ tươi mát trong chất giọng. Còn hiện
nay, tôi đang làm một album cho Hồng Nhung. Cũng
là nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng tôi khuyên chị ấy
hát thật mộc, nhẹ nhàng, dung dị, chứ không phá
cách hoặc khiến người ta không nhận ra đó là nhạc
Trịnh.
´
Còn đạo diễn?
-
Tôi quý trọng hai người: Tất My Loan và Phạm Hoàng
Nam. Một người rất kén chọn nhạc, một người thẩm
thấu âm nhạc rất tinh tế. Cộng tác với họ thì tôi
vui và rất yên tâm. MINHTHI@LAODONG
Cà
Mau: Tiếp tục đề nghị kiểm điểm Nguyễn Ngọc Tư
TP
- Mới đây, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tiếp
tục ký báo cáo số 41 đề nghị Đảng- Đoàn nơi nhà
văn Nguyễn Ngọc Tư sinh hoạt giáo dục, kiểm điểm
nghiêm khắc do phát ngôn thiếu trách nhiệm.
Thời gian vừa qua, dư luận nóng lên bởi báo cáo
số 35 ngày 27/3 do ông Trần Văn Hiện, Phó Trưởng
ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau đề nghị Hội VHNT kiểm
điểm phê phán nghiêm khắc nhà văn Nguyễn Ngọc Tư,
tác giả truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” (CĐBT).
Mới đây, ông Nguyễn Hữu Thành, Phó
Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tiếp tục ký báo cáo
số 41 ngày 12/4/2006 về “Đại biểu HĐND và truyện
ngắn CĐBT”.
Báo cáo 41 cho rằng Nguyễn Ngọc
Tư là cán bộ, viên chức nhà nước, sinh hoạt tại
Hội VHNT, đồng thời là đại biểu HĐND tỉnh Cà Mau
nhưng trả lời với báo Doanh nhân Sài Gòn và tạp
chí Bông Sen xuân Bính Tuất: “Ngoài việc ở Hội VHNT
Cà Mau, làm nghị sĩ của tỉnh…
Đó là công việc tệ nhất của em.
Em thấy ngán ngẩm mỗi khi vào kỳ họp…, rốt cuộc
em là “nghị sĩ vật vờ”, “hội đồng ừ”… Ngoài ra,
Nguyễn Ngọc Tư còn viết bài trên báo Tuổi trẻ Xuân
Bính Tuất có đoạn: “Tôi vẫn viết theo cảm xúc hồn
nhiên của mình chứ chẳng ý thức nghĩa vụ, trách
nhiệm gì đâu…”.
Qua việc trả lời trên, Ban Tuyên
giáo Tỉnh ủy Cà Mau thấy Nguyễn Ngọc Tư “với tư
cách là cán bộ, viên chức nhà nước, đại biểu HĐND
mà trả lời như thế là thiếu trách nhiệm, coi thường
cơ quan quyền lực ở địa phương, làm mất uy tín HĐND,
làm giảm sút niềm tin của cử tri đối với đại biểu
HĐND và xem thường nông dân Việt Nam”.
Từ đó, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy có
báo cáo đề nghị Đảng- Đoàn nơi Nguyễn Ngọc Tư sinh
hoạt giáo dục, kiểm điểm nghiêm khắc về việc phát
ngôn thiếu trách nhiệm.
Theo báo cáo 41, khi NXB Trẻ phát
hành tác phẩm CĐBT, có nhiều ý kiến gửi về Tỉnh
ủy, UBND và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau không
đồng tình việc truyện ngắn CĐBT được phổ biến trong
xã hội, vì thiếu tính giáo dục tư tưởng.
Hai luồng ý kiến khác nhau khá phức
tạp, nhưng đa số là phản ứng nội dung không tốt,
tập trung nhiều đối tượng, lứa tuổi phản ứng rất
gay gắt, thậm chí đòi thu hồi cuốn sách vì không
mang tính giáo dục…
Những ý kiến phản ảnh đó tập trung
vào các nội dung sau: Nói xấu chế độ về việc tổ
chức quản lý xã hội ở nông thôn quá tồi tệ, tác
giả phỉ báng quê hương, những nhân vật trong truyện
ngắn CĐBT đưa những hiện tượng cá biệt hoặc chỉ
mang tính hư cấu tưởng tượng làm hiện tượng điển
hình cho một giai cấp, một cộng đồng, một địa phương
là điều không thể chấp nhận được.
Có nghĩa là không mang tính phổ
biến, lại thiếu tính nhân bản. Như vậy, truyện ngắn
CĐBT thiếu tính giáo dục xã hội, giáo dục con người
và thiếu định hướng chân- thiện- mỹ để con người
vươn tới.
Cho nên Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đề
nghị Hội VHNT thường xuyên có định hướng chính trị
cho hội viên (trong đó có Nguyễn Ngọc Tư) được học
tập lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ để
nâng cao ý thức trách nhiệm của người cầm bút cách
mạng.
Đồng thời báo cáo 41 đề nghị Ban
Tư tưởng- Văn hóa Trung ương chỉ đạo các báo tiếp
tục đề cập vấn đề này thì phải đăng cả hai luồng
ý kiến khác nhau (khen, chê) hoặc không đăng các
bài đề cập đến truyện ngắn CĐBT. Nguyễn Tiến Hưng
Thanh
Tịnh: Để lại mùa sau
Thanh
Tịnh và các bạn văn ở Việt Bắc.
Ông tên thật là Trần Văn Ninh, sau đổi là Trần Thanh
Tịnh, sinh ngày 1/12/1911 tại thành phố Huế, từng
được gia đình gửi vào nhà chùa rồi theo học Trường
Đông Ba, Trường Penlơranh (trường dòng), sau đó
làm nghề dạy học, đo đạc ruộng đất, hướng dẫn viên
du lịch, viết báo, làm thơ.Sau
1945 ông tham gia kháng chiến, , làm báo, viết văn
trên chiến khu Việt Bắc, rồi về tiếp quản thủ đô
(1954), tham gia ban biên tập đầu tiên của tạp chí
Văn nghệ quân đội, làm chủ nhiệm (Tổng biên tập)
cho đến lúc nghỉ hưu. Ông là Tổng biên tập một tạp
chí văn chương có uy tín của quân đội trong nhiều
năm mà còn là một nhà thơ tiền chiến tham gia Ban
Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam và Ủy ban toàn quốc
các Hội liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam
trong nhiều năm. Ông mất ngày 17/7/1988 tại Hà Nội.
Tác phẩm của Thanh Tịnh để lại không
thật đồ sộ, nhưng ông được người đời gọi là nhà
văn, nhà báo, nhà giáo, nhà thơ (ông nói chưa đủ,
ông là nhà văn, nhà báo, nhà giáo... nhà nghèo).
Là nhà văn bởi ông có các tập truyện ngắn “Ngậm
ngải tìm trầm” (1943) và trước đó là tập “Quê mẹ”
(1941) với lời tựa của Thạch Lam: “Thanh Tịnh có
lẽ là nhà văn đầu tiên ở miền Trung đã trình bày
các mối dây liên lạc nhẹ như tơ hồng ngày thu, nhưng
không vì thế mà kém phần vương vấn, quyến luyến.
Thanh Tịnh muốn làm người mục đồng ngồi dưới bóng
tre thổi sáo để ca hát những đám mây và làn gió
lướt bay trên đồng, ca hát về vẻ đẹp của đời thôn
quê”.
Là nhà thơ, bởi ngay từ năm 1937, lúc 26 tuổi ông
đã cho in tập thơ “Hận chiến trường” nổi tiếng và
đến năm 1942 được ghi danh trong “Thi nhân Việt
Nam” của Hoài Thanh - Hoài Chân với những thi phẩm
nổi tiếng như “Mòn mỏi”, “Tơ trời và tơ lòng”, “Rồi
một hôm”... Trước đó, năm 1936 ông đã đoạt giải
nhất về thơ do tờ Hà Nội báo tổ chức. Ông còn để
lại cho đời rất nhiều câu ca dao bất hủ như: “Nhà
tan cửa nát cũng ừ/ Quyết tâm thắng Mỹ cực chừ sướng
sau”, “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn
lần dân liệu cũng xong”, “Hà Nội, Huế, Sài Gòn/
Là cây một gốc, là con một nhà”...
Thanh Tịnh là nhà văn, nhà thơ đặc
sắc, bởi truyện ngắn hay nào của ông cũng đậm chất
thơ và bài thơ nào hay của ông cũng có cốt truyện.
Không chỉ là nhà văn, nhà thơ đặc
sắc, Thanh Tịnh còn là nhà báo, viết báo và làm
báo đều giỏi, là “ông vua”, là cha đẻ của thể loại
tấu nói - một loại hình văn nghệ quần chúng được
truyền bá rộng rãi trong suốt những năm chiến tranh
chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Chưa hết, ông còn
là một hướng dẫn viên du lịch tài ba, là người chơi
đồ cổ và giả cổ sành điệu của đất Hà thành nửa cuối
thế kỷ XX.
Và nói đến Thanh Tịnh, người Hà
Nội không thể không nhớ về một thi nhân với dáng
hạc cao gầy, mái tóc trắng phơ độc hành trên những
con phố cổ, dưới chân (đôi giày Côxưghin muôn thuở
của ông) rụng vàng lá sấu, lá me Hà Nội, không thể
không nhớ tới cả trăm ngàn giai thoại quanh ông.
Ấy là những câu chuyện kể của ông và những câu chuyện
kể về ông. Rất ngắn nhưng đầy chất hài hước và thật
nhiều kịch tính.
Trước lúc đi xa, trên giường bệnh,
Thanh Tịnh nói ông rất thích câu thơ “Cổ mạch hàn
phong cộng nhất nhân” và bình rằng câu ấy vận vào
đời ông rất hợp. Tôi hiểu lắm, nhưng cứ nghĩ đời
ông không chỉ toàn có gió lạnh và đường xa mà còn
có cả những trận gió ấm và những chặng đường hoa.
Ấy là những năm tháng ông rong ruổi cùng bộ đội
đi khắp các chiến dịch từ Bắc qua Nam. Ấy là những
ngày ông miệt mài cùng anh em văn nghệ sĩ - chiến
sĩ ở nhà số 4, phố nhà binh làm tờ Văn nghệ quân
đội.
Bây giờ thì tác giả “Quê mẹ” đã
trở về quê mẹ và yên nghỉ vĩnh hằng nơi Huế thơ
mộng với ngàn thông, với sông Hương, núi Ngự thân
yêu. Nhưng văn nghiệp của ông thì mãi còn ở đời,
dẫu rằng đó chỉ là một chữ.
Sinh thời, Thanh Tịnh từng ao ước:
“Ước gì để lại mùa sau/ Một câu một chữ đượm màu
dân gian”. Bên cạnh những “Quê mẹ”, “Tôi đi học”,
“Ngậm ngải tìm trầm”, “Mòn mỏi”, “Rồi một hôm”,
“Nhớ Huế quê tôi”... Thanh Tịnh còn để lại nhiều
di ảnh độc đáo ghi lại những chặng đường chiến đấu,
đọc, đi, viết và hoạt động văn hóa của ông
Ngô
Vĩnh Bình
Nguyễn
Huy Thiệp: Tôi ngố rừng giữa lòng Hà Nội...
Nhà
văn Nguyễn Huy Thiệp
Quan điểm cũ về đối tượng văn học cũ: Nhiều người
trong một người. Con người cần những đại diện của
họ. Còn bây giờ con người phong phú đến mức mỗi
cá nhân không ai có thể thay thế được nó. Hình như
bây giờ không có điển hình, tôi nghĩ thế!
Nếu có độc giả tò mò hỏi Nguyễn Huy Thiệp đang làm
gì thì ông trả lời ra sao?
- Tôi trả lời là tôi đang sống!
Ông,
Nguyễn Việt Hà và hoạ sĩ Lê Thiết Cương chung nhau
mở cái Bản thảo tranh này cũng là đang sống hay
đang cố lưu giữ hình ảnh của chính mình trước công
chúng?
- Qua triễn lãm này mỗi người có
mục đích riêng, bản thân tôi thử xem ảnh hưởng của
tôi với độc giả như thế nào? tôi vẽ chân dung trên
các đĩa gốm, chuẩn bị cho cuộc triễn lãm cuối năm,
kiếm tiền để sống. Trao đổi gặp gỡ với mọi người
có thể nảy sinh ra những vần đề mới để viết.
Hiện tượng Nguyễn Ngọc tư và những dư luận gần
đây về Cánh đồng bất tận ?
- Ở đây là miền quê của không khí
văn chương với nhiều tác phẩm, nhà văn đã thành
tên tuổi...cái khác của Nguyễn Ngọc Tư ở chỗ cô
là Nam Bộ...zin chứ không dởm như nhiều người viết
khác. Đấy là cái rất hay. Nếu phản ứng như thế thì
hơi quá, ấu trĩ quá, đây là thực tế đáng ngại. Nhưng
tôi đang nghĩ nếu người ta cố dựng nên sự kiện này
thì cũng hơi buồn.
Trở
lại với những truyện ngắn của ông, có cảm tưởng
rằng các nhân vật đều mang trong mình sức mạnh nhục
dục tăm tối không thể chế ngự, chúng quẫy đạp, sục
sôi đòi được thoả mãn... đám nhân vật ấy như mộng
du trong thế giới nhục cảm...
- Phật giáo đã nói rồi còn gì nữa,
dục tính là nhân tính! Những trang sách của tôi
như thế à? Tôi viết mà tôi có thấy thế đâu?
Nhưng dục tính khác với dục năng chứ, ông thấy
các nhân vật của ông ngoài ham muốn nhục dục còn
có khát vọng gì khác?
- Tôi là người hay quan sát cuộc
sống.Tôi thấy cuộc sống thế nào thì viết ra như
vậy. Con người tuyệt vời vì như thế, con người phải
sống, phải yêu, phải được sống, không phải tôi đã
viết ra được những điều người ta không dám nói mà
người ta không biết nói, nói cái đấy khó lắm. Còn
các nhân vật của tôi, tất cả đều cựa quậy để sống,
họ sống bằng tất cả những khát khao cá nhân của
họ. Họ toàn là người tử tế!
Nói
như thế rất dễ bị hiểu lầm rằng sex là... tử tế,
ông nghĩ sao?
- Văn học là nhân học, những thứ
thuộc về con người không có gì xa lạ.Văn học thế
giới hay văn học Việt Nam cũng đã đề cập đến vần
đề này rất nhiều tuỳ mỗi thời có cách nhìn khác
nhau. Khi Đỗ Hoàng Diệu viết về sex, đây là đề tài
rất khó, đề tài hiểm địa trong văn học. Những cuốn
đáng kể nhất trong văn học thế giới đều viết về
đề tài này, Nghìn lẻ một đêm, Kim Bình Mai và ngay
cả Truyện Kiều nữa ...Dục tính là nhân tính, đây
là quan điểm của Phật Giáo, nhưng không phải ai
cũng lý giải được thấu đáo. Đề này này chúng ta
đã bị quên lãng đi do hoàn cảnh lịch sử. Trước đây
có Nguyễn Thị Hoài cũng đã viết vài ba truyện thời
kỳ như Năm Ngày, Hành trình của các con số, chín
bỏ làm mười...nhưng vẫn có gì rất xa xôi. Chắc chắn
sẽ có người tiếp tục hành trình trên cơ sở tiếp
thu những kinh nghiệm của người đi trước dù thất
bại hay thành công.Tôi nghĩ Đỗ Hoàng Diệu chưa thành
công, có thể do lần đầu chạm tới đề tài này, có
thể do tài năng, hay độ từng trải chưa cao...
Tại
sao cũng những đặc điềm tương đồng về văn hóa nhưng
dòng văn học trẻ của Trung Quốc đang được chấp nhận,
yếu tố sex tràn ngập trong các trang văn của các
nhà văn trẻ của họ?
- Sex là một đề tài rất khó viết
hay. Mỗi đất nước đều có nền văn hoá, phong tục,
lối sống khác nhau nhưng nếu nhà văn viết hay thì
chắc chắn sẽ được chấp nhận. Vần đề là Đỗ Hoàng
Diệu viết chưa hay nên chưa được chấp nhận.
Nghĩa
là chúng ta trở lại với quan điểm nghệ thuật cổ
xưa: không phải viết về cái gì mà là viết như thế
nào? Chính cái "viết như thế nào" sẽ bộc
lộ bản lĩnh của nhà văn?
- Đương nhiên rồi.
Nếu
tự nhận xét về sự nổi tiếng của chính mình thì ông
nói sao?
- Tôi là nhà văn gặp thời. Bạn
bè vẫn đùa tôi là "cập thời vũ" nghĩa
là mưa đúng lúc.Tôi cũng gặp may.
Nhưng
văn nghiệp của ông đâu có thuận buồm xuôi gió, ông
“nổi tiếng” giữa hai luồng khen chê rất dữ dội?
- Tôi rất khiêm tốn mà nói rằng
cũng phải ghi nhận công lao cho...Nguyễn Huy Thiệp!
Trong văn học Việt Nam kể từ khi có chữ quốc ngữ,
tính từ Tố Tâm, những tác phẩm văn học theo lối
phương Tây, nếu nói những nhà văn có những bước
xoay chuyển, thay đổi cả cách viết thì cũng không
nhiều.Chỉ đôi ba người thôi, ví dụ như trước 1945
có Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nhất Linh, Nguyễn Tuân...sau
đó có Trần Dần, Lê Đạt gây xôn xao dư luận. Đến
thời kỳ Đổi mới với sự xuất hiện của Nguyễn Huy
Thiệp, Phạm Thị Hoài....cũng đã làm thay đổi ngôn
ngữ văn học. Làm được điều đó là điều rất khó, ít
nhất tôi cũng đã làm được.
Một điểm nữa cũng cần tính đến là
có nhiều người viết theo tôi. Tôi có đệ tử, không
đơn độc trên con đường sáng tạo. Nhiều người cảm
ơn tôi như Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Việt Hà...Họ
bảo gặp tôi thì họ viết tự tin hơn, tất nhiên họ
có cách đi riêng, lối đi riêng nhưng chỉ từ Nguyễn
Huy Thiệp viết văn thì người nước ngoài bắt đầu
đọc lại văn học Việt Nam, sách của tôi được dịch
sang tiếng Pháp, tiếng Anh, được xuất bản ở Anh,
Hà lan, Úc, Italia...họ rất kỹ tính, tôi là một
trong những nhà văn có nhiều sách nhất được in ra
nước ngoài và hoàn toàn không phải do ai lăng xê.
Hiện
nay, ông thấy nhà văn nào có thể bắt gặp được hơi
hướng cuộc sống và làm nên hiên tượng trong văn
học?
- Phật giáo có câu: Có thời có
tự mảy may/ Không thì cả thế gian này cũng không.
Dù có tài năng nhưng không gặp thời thì cũng vứt.
Sẽ có những nhà văn của thời này, thế hệ nhà văn
mới này sẽ kế tục những thế hệ nhà văn lớp trước
chứ không phủ nhận đâu. Nhưng họ sẽ có những vần
đề khác, cuộc sống khác. Chẳng có thời nào thuận
lợi cho nhà văn cả, công việc viết văn chẳng dễ
dàng.Tôi cũng có theo dõi các nhà văn trẻ Việt Nam
hiện nay. Tôi thấy độ thành thực của các nhà văn
cao hơn.
Thành
thực hay tả thực?
- Thành thực, chân thành...Họ miêu tả nội tâm thành
thực hơn, dám đề cập đến chuyện nọ chuyện kia, những
bức xúc về vấn đề hiện tại của cuộc sống...họ không
chấp nhận sự giả dối. Nhưng để làm được điều gì
hay hơn trước đây thì họ cũng chưa làm được.Thành
thực thôi chưa đủ, độc giả bây giờ đòi hỏi cao lắm,
làm nhà văn bây giờ khó lắm.
Đã
lâu không thấy dư luận đề cập tới văn của ông, có
vẻ như ông chỉ là chớp loé của tài năng rồi vụt
tắt, ông có thế lý giải tại sao những tài năng của
chúng ta không bền?
- Người ta không theo dõi tôi nên
nói như thế, tôi vẫn luôn làm mới văn chương của
mình đấy chứ. Do cơ chế xuất bản của ta không kịp
thời, thường thì những tác phẩm của tôi không được
xuất bản ngay, văn học cũng như món ăn, phải nóng
hôi hổi và thơm phức lên, phải chén ngay. Người
ta làm nguội đi, nên người ta tưởng tôi nhạt đi.
Cũng chẳng sao vì tên tuổi của tôi đã vượt ra biên
giới rồi. Còn những nhà văn trẻ bắt đầu tập tọng
thì rất đau khổ vì họ viết ra họ muốn in ngay thế
mà hai ba năm sau chưa chắc đã đến lượt, cho nên
mới có hiện tượng thui chột tài năng, bởi họ phải
kiếm sống chứ?
Tuổi hai mươi yêu dấu, Tiểu Long
Nữ...của tôi chẳng hạn, phải in ngay mới có tác
dụng xã hội chứ? Nhưng in sau thời điểm cần in thì
khiến nhà văn nhụt chí.
Xưa
nay những tác phẩm nghệ thuật đích thực thì không
sợ thời gian, thậm chí có những tác phẩm phải mất
hàng thế kỷ mới tìm được độc giả, ông nghĩ sao về
hiện tượng đó?
- Đúng, nhưng tất cả những tác
phẩm đều có giá trị thời gian nào đấy, ý nghĩa xã
hội riêng của nó, tính kịp thời rất quan trọng.
Đồ nhôm nhựa qua thời gian thì cũng qua đi nhưng
cũng có giá trị riêng của nó, không nhất thiết lúc
nào người ta cũng dùng đồ Lim, Táu...thế nhưng nếu
không được cập nhật thì cũng chẳng còn giá trị.
Người ta đã từng chờ đợi tiểu thuyết đầu tay
của ông sau những thành công trong truyện ngắn ,
nhưng nhiều người đã thất vọng?
- Đấy cũng là thói quen xấu của
độc giả, họ không thay đổi kịp với những cái mới.
Chúng ta phải mới, luôn luôn mới chứ sống với cái
cũ mãi thì chán lắm! Cuộc sống phải thay đổi, mỗi
ngày một điều mới, chỉ loanh quanh với những cái
cũ thì thật buồn.
Nhưng
cũng chính những độc giả ấy đã đánh cao nhiều truyện
ngắn của ông trước đây...
- Không phải chỉ có viết văn mới
có giá trị, nếu không viết văn tôi có thể làm được
nhiều việc khác...
Vậy
các nhân vật của ông đã “sang sông” được chưa?
- Nếu ai theo dõi quá trình viết
văn của tôi thì đều thấy rằng trước truyện Sang
sông tôi viết truyện mang tính bản năng: Tướng về
hưu, Không có vua, Giọt máu, Những ngọn gió Hua
Tát...độ hồn nhiên rất cao. Khi tôi vừa ở miền núi
trở về, rất trong trắng trong tình yêu dành cho
văn học.Tôi ngố rừng trong lòng Hà Nội. Giống như
cô gái yêu lần đầu rất thanh khiết, trong sáng,
mơ mộng...thế nhưng người ta đã phản ứng với tình
yêu cuả tôi hơi quá, tôi hơi choáng...tôi bắt đầu
tìm hiểu tôn giáo, dựng tượng Phật.Bắt đầu từ truyện
Sang sông trở đi, văn của tôi có gì đấy có ảnh hưởng
Phật giáo, nó ngấm ngầm trong từng trang văn, nhiều
truyện rất khó viết : như Ông Móng bà Móng, Sống
dễ lắm, Thổ Cẩm...
Ông
có một truyện ngắn rất tuyệt, Thương nhớ đồng quê
khiến người ta kinh ngạc về sự trong nhẹ, hơi thở
ấm nóng của đời sống và cảm nhận tình yêu đến mức
hài hoà...cá nhân ông thấy hài lòng với tác phẩm
nào nhất, cảm thấy đó mới thực sự là Nguyễn Huy
Thiệp?
- Tôi cũng là nhà văn xã hội thôi,
truyện nào gây được dư luận xã hội lớn thì tôi thích,
có thể ở Tướng về hưu tính nghệ thuật không bằng
các tác phẩm khác thế nhưng tôi thích. Giống như
hoạ sĩ, chỉ thấy nét cọ người am hiểu đã biết anh
là cao thủ, có những truyện của tôi chỉ trong giới
văn chương thích, độc giả không thích.
Nhưng
văn ông không có nhân vật điển hình? Nhắc đến Nam
Cao có Chí Phèo, Vũ Trọng Phụng với Xuân tóc đỏ,
Ngô Tất Tố với chị Dậu, còn nhắc đến Nguyễn Huy
Thiệp?
- Đấy là quan điểm cũ về đối tượng
văn học cũ! Nhiều người trong một người. Con người
cần những đại diện của họ. Còn bây giờ con người
phong phú đến mức mỗi cá nhân không ai có thể thay
thế được nó. Hình như bây giờ không có điển hình,
tôi nghĩ thế! Tôi là một người không ai thay thế
được! Điển hình có cái hay nhưng có cái không thực
của nó!
Ông thử lý giải tại sao kịch của
ông không được chú ý như truyện ngắn? không được
độc giả trong nước chú ý?
- Lối viết của tôi không phù hợp
với sân khấu trong nước, có thể tôi đi nhanh quá
chăng?
Ông đã từng viết : Cả tin là sức mạnh để sống..
và một câu khá chua xót: sao tôi cứ như lạc loài?
Nhà văn phải là người thấu thị hay là kẻ cả tin?
- Không cả tin thì rất khó sống,
nhất là tuổi trẻ!
Trong văn của ông, hình tượng phụ nữ được nhắc
đến nhiều, những “ thiên chức nữ”, “tính nữ”...thế
còn trong cuộc sống thực?
- Những điều đó với tôi rất quan
trọng, vợ người thì đẹp vợ mình thì tử tế...Tôi
cũng có nhiều người mê chứ đâu chỉ riêng cô gái
Nhật như người ta đồn thổi? Chuyện tình cảm của
đàn ông đàn bà là chuyện bí mật của mỗi cá nhân,
của tất cả mọi người, của cả vũ trụ, cuộc sống thú
vị vì những điều như thế...
Tô
Mai Trang
Công
bố giải Pulitzer
Hai
tờ báo vừa cùng nhau nhận giải báo chí Pulitzer
về phục vụ công vì đã phản ánh chi tiết và can đảm
về cơn bão Katrina tàn phá khu vực duyên hải miền
đông nam nước Mỹ vào tháng 8-2005.Đó là tờ Times-Picayune
của thành phố New Orleans, bang Louisiana, và tờ
Sun Herald của thành phố Gulfport, bang Mississipi.Tờ
Times-Picayune cũng giành giải thưởng Pulitzer về
tin nóng phản ảnh về sự kiện bão Katrina.Hai tờ
báo này cũng bị thiệt hại do cơn bão Katrina gây
ra. Các tòa nhà văn phòng của họ bị hư hỏng, nhiều
nhân viên quảng cáo và đưa báo của họ phải sơ tán,
tổng số phát hành báo giảm.
Tuy nhiên từ Sun Herald đã không bỏ bất cứ số xuất
bản nào trong suốt thời gian bão Katrina hoành hành
trong khu vực.
Báo Times-Picayune đã sơ tán khoảng 240 nhân viên
bằng xe đưa báo khi đê vỡ, nước tràn vào trung tâm
thành phố News Orleans, nơi tờ báo này đặt trụ sở.
Các nhà báo Susan Schmidt, James V. Grimaldi và
R. Jeffrey Smith của tờ Bưu điện Washington được
nhận giải Pulitzer về thể loại điều tra , qua những
bài báo phanh phui vụ tham nhũng, đưa hối lộ của
nhà vận động hành lang Jack Abramoff thuộc đảng
Cộng hòa.
Các phóng viên của báo Bưu điện Washington cũng
nhận giải Pulizer về bài phân tích và giải về bài
tường thuật chuyên đề.
Giải thưởng về thể loại tin trong nước được trao
cho James Risen và Eric Lichtblan của Thời báo New
York cùng các nhân viên của tờ San Diego Union-Tribune
và Copley News Service.
James Kahn và Jim Yardley của Thời báo New York
nhận giải thưởng về tin quốc tế.
Giải Pulitzer về thể loại bình luận được trao cho
nhà báo Nicholas D. Kristof của Thời báo New York
.
Jim Sheeler của tờ Rocky Mountain News được nhận
giải nhất cho thể loại phóng sự
Nhà văn Geraldine Brooks được trao giải thưởng Pulitzer
dành cho tiểu thuyết hay nhất với tiểu thuyết March.
Chủ nhân mỗi giải thưởng Pulitzer được trao thưởng
10 nghìn USD, riêng giải phục vụ công chúng được
trao một huy chương vàng.Giải Pulitzer hàng năm
gồm 19 giải thưởng cho các thể loại báo chí và hai
giải thưởng đặc biệt, được công bố tại Đại học Columbia
ở New York theo kết quả bình chọn của ban giám khảo
gồm 18 thành viên.
Ông Joseph Pulitzer, chủ bút báo
World sáng lập giải Pulitzer vào năm 1904. Khi đó
ông có đề ra 13 giải: 4 cho báo chí, 4 cho văn học,
4 cho sân khấu và 1 cho giáo dục. Nhạy cảm với sự
thay đổi, Pulitzer có lập ra một hội đồng tư vấn
có quyền thay đổi nội dung giải thưởng. Hiện nay,
giải Pulitzer có tới 21 nội dung: một số thể loại
phóng sự, biên tập, biếm họa, nhiếp ảnh, tiểu thuyết,
tiểu sử, sân khấu, thơ và âm nhạc.
Giải thưởng Pulizer đầu tiên được
trao vào năm 1917.
Trương
Nghệ Mưu sẽ đạo diễn lễ khai mạc và bế mạc Olympic
Bắc Kinh 2008
Đạo
diễn Trương Nghệ Mưu và Chương Tử Di
Nhà làm phim nổi tiếng của Trung Quốc,Trương Nghệ
Mưu, được ban tổ chức chọn làm đạo diễn cho lễ khai
mạc và bế mạc Olympic Bắc Kinh 2008.
Đạo diễn Trương Nghệ Mưu sẽ tham
gia với nhóm các nhà cố vấn lừng danh thế giới,
trong đó có nhà làm phim người Mỹ, Steven Speilberg;
Yves Pepin, người đứng đầu nhóm kinh doanh giải
trí nổi tiếng của Pháp là ECA2; và Ric Birch, nhà
đạo diễn của lễ khai mạc Olympic Sydney 2000.
Trong thông báo chỉ định nhóm đạo
diễn cho các buổi lễ này, ông Lưu Kỳ, trưởng ban
tổ chức Olympic Bắc Kinh, nói rằng lễ khai mạc sẽ
là ấn tượng đầu tiên về Olympic đối với hàng tỉ
khán giả truyền hình trên khắp thế giới, do đó ông
ước muốn Olympic Bắc Kinh 2008 sẽ được khởi sự bằng
một lễ khai mạc thật sự ấn tượng.
Mặc dù đạo diễn Trương Nghệ Mưu
sẽ phải phối hợp với nhiều nghệ nhân Trung Quốc
khác, song quyết định mời các chuyên gia nước ngoài
làm cố vấn như vừa nêu là một việc làm hiếm hoi
đối với Bắc Kinh, vốn chỉ thích dựa vào những tài
năng trong nước mà thôi.
Tôn
chỉ và đường hướng của báo nguyệt san Tự Do Ngôn
Luận
Trang
nhất của báo bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận.
Bấm vào đây để nghe bài này 
Việt Nam hiện có mấy trăm đầu báo. Thế nhưng có
nhận định cho rằng vẫn chưa có tự do ngôn luận báo
chí, bởi lẽ tất cả đều do nhà nước kiểm soát.Vào
cuối năm ngoái các nhà đấu tranh cho dân chủ trong
nước thực hiện mạng Phong trào đấu tranh dân chủ
Việt Nam, và mới tuần này, trên mạng Internet xuất
hiện báo nguyệt san Tự do Ngôn Luận. Phiên bản trên
mạng của tuần báo nguyệt san cho biết ấn phẩm số
1 ra mắt ngày 15-4-2006. Gia Minh trình bày thông
tin liên quan.
Cũng như tất cả các tờ báo khác
khi ra đời đều phải có đường hướng hoạt động. Tiêu
đề của báo nguyệt san Tự Do Ngôn Luận xuất hiện
trên mạng Internet nói rõ: đó là tiếng nói của người
dân Việt Nam đòi quyền tự do ngôn luận. Linh mục
Chân Tín, người được giới thiệu là Tổng biên tập
và cũng là Chủ nhiệm của tờ báo, tóm lược lại tôn
chỉ của báo nguyệt san này.
“Dựa vào quyền nhân quyền của Liên
Hiệp Quốc mà nhà nước CS đã ký kết, và cũng đã cho
vào Hiến pháp, nhưng mà từ xưa đến nay thì chưa
bao giờ thực hiện được điều đó. Chúng tôi muốn thực
hiện điều này một cách chính thức để nói rằng người
dân Việt Nam có quyền ra báo tự do, tự do báo chí.
Ðó là điều mà chúng tôi muốn cho cả thế giới và
đồng hương biết để mà tiến lên trong việc gọi là
tự do báo chí này.”
Ấn bản xuất hiện trên mạng gồm 27
trang. Trong trang đầu tiên ghi lại điều 19 Công
ước Quốc Tế về các quyền dân sự và chính trị được
Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, và Việt Nam
xin tham gia vào năm 1982.
Cũng trên trang nhất, bài viết với tựa đề “Ðôi lời
cùng bạn đọc” ký tên và biên tập Linh mục Chân Tín.
Bài viết nêu rõ hoài bão của tờ báo là phá vỡ nguồn
máy độc tài và khai thông mọi hợp tác, nỗ lực cùng
chung mục tiêu và đường lối.
Mạc
Ngôn: ‘Cá tính làm nên số phận’
“Các
tiểu thuyết trước của tôi hoặc là tập trung viết
về sức sống của bản năng, của nhân tính, như ‘Cao
lương đỏ’, hoặc là tập trung viết về tâm lý hiếu
kỳ và tâm lý biểu diễn của người Trung Quốc như
‘Đàn hương hình’. Nhưng bộ tiểu thuyết này chú ý
hơn cả đến việc miêu tả và phân tích những cá tính
có giá trị”, nhà văn Mạc Ngôn tâm sự về cuốn tiểu
thuyết mới “Sinh tử vần xoay”.
-
Tiếp tục đề tài nông thôn, tiểu thuyết “Sinh tử
vần xoay” đã thể hiện những vấn đề đang tồn tại
ở không gian đặc thù này như thế nào?
- Những vấn đề ở nông thôn rất nhiều. Nhìn theo
chiều dọc, nông thôn đã có những bước tiến lớn cả
về vật chất và tinh thần, nhưng xét theo bề ngang,
cuộc sống của nông dân vẫn khổ. Ở nông thôn, diện
tích đất trồng ngày càng thu hẹp, lực lượng lao
động bị thừa ra không có chỗ mưu sinh, người nông
dân phải làm những việc vất vả nhất, khổ sở nhất,
bẩn thỉu nhất. Thế mà những gì thu được thật là
ít ỏi.
Nhưng khi tôi viết tiểu thuyết, đầu tiên là xuất
phát từ số phận, từ tính cách con người, trên cái
nền là bối cảnh xã hội đương thời. Bởi vì cá tính
làm nên số phận, chứ hoàn cảnh xã hội không phải
là nguyên nhân chủ yếu. Đặc biệt là ở thời đại mà
cá tính bị soi xét từ mọi phía, một người có cá
tính sẽ phải chịu búa rìu của cả xã hội.
-
Chủ đề của cuốn tiểu thuyết này phải chăng chính
là thảo luận và nghiên cứu vấn đề cá tính của nhân
vật tiểu thuyết?
-
Trong tiểu thuyết, tôi chủ yếu viết về một số kiểu
“cá tính có giá trị”. Cá tính có giá trị có thể
không được hiểu trong trào lưu nào đó của xã hội,
nhưng chắc chắn sẽ có ngày cá tính ấy được khẳng
định. Ví dụ có một nhân vật cứ kiên trì làm ăn cá
thế trong thời kỳ công xã nhân dân, thà chết chứ
không chịu đổi ý, về sau bị mọi người xa lánh, cô
lập. Đến những năm 80 của thế kỷ trước, người ta
mới vỡ lẽ, anh ta đã dùng một triết lý nhân sinh
hết sức đơn giản để chiến thắng cả một xã hội.
- Tiêu đề của tác phẩm mới được ông lấy từ kinh
Phật, ý tưởng này xuất phát từ đâu?
- Một lần trong khi đi thăm Thừa Đức, tôi đọc được
những chữ liên quan đến “lục đạo luân hồi”. Tôi
thốt nhiên ý thức rằng, đây sẽ là điểm đột phá rất
lý tưởng. Linh cảm lóe lên và một chuỗi ký ức trong
tôi trở lại.
Trong dân gian Trung Quốc, quan điểm luân hồi của
Phật giáo có sức mạnh chế ước đạo đức ghê gớm. Kẻ
phạm tội, không phải bị pháp luật trừng trị mà khi
chết sẽ bị đày xuống địa ngục, kiếp sau phải làm
thân trâu, thân ngựa. Đây cũng là Phật giáo được
Trung Quốc hóa triệt để. Từ gợi ý này, tôi bắt tay
vào xây dựng đề cương tiểu thuyết. Nhân vật chính
của tiểu thuyết tập trung lý giải mối quan hệ giữa
người nông dân với đất đai, trong khi đó, một nhân
vật chính nữa, tức người dẫn chuyện, lại nằm trong
“lục đạo luân hồi”1: Một đời làm người, một đời
làm ngựa, một đời làm trâu, một đời làm lợn, một
đời làm lừa… kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe
từ những góc nhìn khác nhau.
- Câu chuyện này xem ra có vẻ siêu thực quá. Những
tác phẩm trước đây của ông, phần lớn rất đẫm máu,
tàn khốc. Tiểu thuyết này thì sao?
- Những miêu tả đẫm máu trong Sinh tử vần xoay được
giảm đi rất nhiều. Sự thay đổi này không nhằm mục
đích chiều lòng độc giả hay là cố gắng định hình
một phong cách mới mà là do đề tài quyết định. Cao
lương đỏ là thời kỳ kháng chiến, Đàn hương hình
là triều Thanh, phản ánh thời kỳ chiến loạn và phong
kiến nên không thể tránh được việc miêu tả những
cảnh đẫm máu. Trong bộ tiểu thuyết về lịch sử thổ
địa Trung Quốc mới này, mặc dù cũng có máu, có nước
mắt đau đớn nhưng xét cho cùng cũng không đến nỗi
đẫm máu.
- Các tác phẩm của ông phần lớn đều viết về đề tài
nông thôn. Trong khi từ lâu ông đã không ở quê nữa.
Vậy làm thế nào để ông thu thập tài liệu sáng tác,
nhất là tài liệu về nông thôn những năm gần đây?
- Viết bộ tiểu thuyết này, những tích lũy trong
nửa đời đã qua của tôi được tận dụng triệt để. Nông
thôn ngày nay không còn hoang vắng, quạnh quẽ, bế
tắc như trước nữa, người thân của tôi phần lớn đều
là dân quê, tôi cũng luôn có sự liên hệ, gắn bó
với nông thôn. Con lợn nái nhà nào đẻ 15 con, nhà
nào đẻ 16 con… chỉ nửa giờ sau là tôi biết tin ngay.
Mặc dù thân xác tôi không ở quê nhưng tinh thần
tôi từng giờ từng khắc vẫn sống với quê hương. Về
những việc xảy ra ở làng, về cách nghĩ của người
nông thôn, tôi đều rất tỏ…
1Lục
đạo luân hồi: Trời, người, a tu la, địa ngục, ngã
quỷ, súc sinh: sáu loại này sống chết luân chuyển
lẫn nhau. Nhuệ Anh
Nhà
văn Dương Thu Hương đến Mỹ dự đại hội văn chương
ở New York
NEW
YORK 11-04 (TH) - Nhà văn nữ Dương Thu Hương, tác
giả của nhiều tiểu thuyết nổi tiếng (như Những Thiên
Ðường Mù, Tiểu Thuyết Vô Ðề...) sẽ đến Mỹ để tham
dự một đại hội văn chương do Văn Bút Hoa Kỳ tổ chức.Theo
một nguồn tin phổ biến trên Internet, bà Dương Thu
Hương hiện đang có mặt ở Pháp và xin triển hạn visa
để sang Mỹ tham dự và phát biểu tại một đại hội
văn chương có tên là “Pen World Voices - Literary
Festival”.
Ðại hội này tổ chức ở thành phố
New York từ ngày 25 đến ngày 30 Tháng Tư năm 2006
với sự tham dự của nhiều nhà văn nổi tiếng trên
thế giới như Toni Morrison (tác giả Mỹ, giải Nobel
Văn Chương), Salman Rushdie, Nadine Gordimer, E.L.
Doctorow, Zadie Smith, Chinua Achebe, Gioconda Belli...
Nhiều tiểu thuyết của bà Dương Thu
Hương đã được dịch ra một số ngoại ngữ. Bà tự nhận
là “con sói cô độc” còn nổi tiếng với nhiều bài
tiểu luận đả kích chế độ Cộng Sản Việt Nam với những
lời lẽ cay độc nặng nề.
Bà Dương Thu Hương, 59 tuổi, trở
nên nổi tiếng khi xuất bản quyển truyện đầu tiên
“Bên kia bờ ảo vọng” năm 1987 rồi kế đến là “Những
thiên đường mù” (1988). Tác phẩm Bên Kia Bờ Ảo Vọng
ấn hành 100,000 bản và cuốn Những Thiên Ðường Mù
phát hành được 40,000 số ở trong nước thì bị tịch
thu. Những tiểu thuyết sau đó của bà phải in và
phát hành ở ngoại quốc.
Bà đã có lần bị bắt bỏ tù một thời
gian ngắn mà không có xét xử hồi năm 1991 vì đả
kích chế độ. Trước đó, bà bị đuổi ra khỏi đảng Cộng
Sản Việt Nam năm 1989. Khi bà bị bắt, nhiều tổ chức
quốc tế đã lên tiếng đả kích chế độ Hà Nội là muốn
bịt miệng những người đối kháng.
Bà
từng được đề nghị sang Pháp định cư nhưng từ chối.Cũng
như nhiều nhân vật chống đối chế độ, đòi tự do dân
chủ khác ở Việt nam, bà không được phép có Internet
và sử dụng email.
Tuyển tập tiểu luận liên quan
đến Nhà văn Trần Mạnh Hảo
Những
bài, tài liệu, của ( hoặc liên quan ) đến
Nhà văn Dương
Thu Hương
(Những
bản tin trên chúng tôi trích dịch từ BBC, Tân Hoa
Xã, VOA, Reuters, Fox, Vietnamnet, Thanh Niên, Tuổi
Trẻ...
Xin cám ơn các nguồn trên đã giúp chúng tôi chuyển
gửi tin tức đến độc giả HNPĐ
)

|