| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Lý
luận - phê bình văn học và các “vấn nạn”
Sau
khi đăng tải cuộc trò chuyện giữa nhà báo Phong
Điệp và nhà văn Sương Nguyệt Minh với chủ đề Lý
luận - phê bình văn học và sứ mạng “cái roi” quất
cho cỗ “tứ mã văn học” lồng lên, Diễn đàn Văn học
Trẻ đã nhận được nhiều ý kiến tham gia đóng góp
và điều này cũng phù hợp với mục đích của chuyên
mục là cùng mở ra vấn đề để cùng suy nghĩ, cùng
trao đổi.Trong
Diễn đàn Văn học Trẻ số này, Văn nghệ Trẻ xin tiếp
tục giới thiệu cuộc trò chuyện giữa nhà báo Phong
Điệp và nhà lý luận - phê bình văn học Nguyễn Hòa.
Phong Điệp: Tôi được biết anh có tham gia Hội
nghị LLPBVHNT toàn quốc vừa được tổ chức tại Hà
Nội, và cũng được nghe nhiều người nhắc đến bài
phát biểu của anh, trong đó nổi lên là các “vấn
nạn” của lý luận - phê bình. Xin anh hãy chia sẻ
cùng độc giả?
Nguyễn
Hòa: Vâng, tôi có tham dự Hội nghị và có đọc một
bản tham luận làm “tốn kém” thời gian của cử tọa
quãng 30 phút (!). Về đại thể, tôi cho rằng lý luận
- phê bình văn học ở Việt Nam hiện nay đang đứng
trước 4 “vấn nạn”, đó là: sự lạc hậu trong lý luận
(như tình trạng “dậm chân tại chỗ” của lý luận văn
học); sự thiếu trách nhiệm trí thức (như sự ra đời
của một số công trình nghiên cứu “giả khoa học”,
hay hiện tượng nhiều nhà lý luận - phê bình đã đứng
ngoài hoặc lảng tránh các vấn đề văn học - văn chương
cập nhật); vai trò của báo chí và xuất bản (nơi
theo tôi còn thiếu vắng biên tập viên thật sự am
hiểu về lý luận - phê bình); về tổ chức và quản
lý (như tình trạng người bị phê bình không được
tạo cơ hội một cách công bằng để trả lời, tranh
luận không bao giờ có kết luận đúng - sai…). Mỗi
“vấn nạn” đều được tôi chứng minh qua các sự kiện
- con người cụ thể, xin không nhắc lại vì chúng
quá nhiều và dễ làm những người có liên quan bị
“xấu hổ”!
Phong
Điệp: Tôi đã đọc trong một số tiểu luận lý luận
- phê bình của anh, và ở đây cũng vậy, tôi thấy
anh sử dụng cụm từ “văn học - văn chương”?
Nguyễn
Hòa: Tôi viết như thế là có chủ ý, trong “vấn nạn”
về sự lạc hậu của lý luận văn học theo tôi có một
nội dung liên quan đến sự nhập nhằng về khái niệm.
Lý luận - nghiên cứu - phê bình văn học là ba thành
tố cơ bản cấu thành nên “văn học” - với tư cách
là một bộ môn khoa học lấy văn chương (toàn bộ các
sáng tác văn thơ từ cổ chí kim đến lịch sử văn chương,
các nội dung có liên quan tới tác giả, kế đến là
sự ra đời cùng sự phát triển hoặc hưng vong của
thể loại, phương pháp…). Nghĩa là chúng ta đang
đứng trước một thực tế mà nếu nhìn từ góc độ khoa
học là không thoả đáng. Xem xét lịch sử khoa học
từ khi ra đời đến nay, bạn sẽ thấy không có một
chuyên ngành khoa học nào lại có sự đồng nhất giữa
bản thân nó với đối tượng nghiên cứu. Thật là buồn
cười, trong khi đạo đức học lấy đạo đức của xã hội
- con người làm đối tượng nghiên cứu, mỹ học lấy
đời sống thẩm mỹ của xã hội - con người làm đối
tượng nghiên cứu… thì riêng với “văn học”, chúng
ta lại sử dụng một khái niệm để định danh chung
cho cả chuyên ngành khoa học lẫn đối tượng nghiên
cứu của nó!
Phong
Điệp: Như vậy, văn chương đã có từ rất lâu đời
còn văn học, nếu tôi không lầm, thì chỉ mới xuất
hiện từ thế kỉ 17 - 18. Nghĩa là đã có hàng chục
thế kỷ, loài người không có văn học và cũng không
sao. Lập luận như vậy theo anh liệu có bất ổn?
Nguyễn
Hòa: Rất chính xác và không có gì là bất ổn. Như
mọi khoa học khác, “văn học” chỉ ra đời khi nhận
thức về văn chương của con người đã đạt tới một
trình độ nhất định và yêu cầu chuyên môn hoá đòi
hỏi khoa học về văn chương phải được khai sinh,
phát triển thành một bộ môn độc lập và vì vậy ngay
từ đầu, yếu tố “khoa học” đã trở thành một thuộc
tính của lý luận - nghiên cứu - phê bình. Hàng chục
thế kỷ, loài người không có văn học, các nhà văn
nhà thơ vẫn tiếp tục đem tác phẩm văn chương đến
cho cuộc đời và con người vẫn sống tốt. Nhưng văn
học không phải là một sản phẩm “thừa”, vì nếu “thừa”
thì nó sẽ không có cơ tồn tại. Chỉ với sự ra đời
của văn học, loài người mới biết đến hệ thống khái
niệm, phạm trù, mới biết đến các quy luật phát triển
của văn chương, mới biết đến sự tổng kết, đánh giá
về văn chương quá khứ và dự báo về văn chương tương
lai, mới biết cách làm thế nào để tác động cho văn
chương phát triển… Nghĩa là những vấn đề mà trước
đó loài người chưa hề biết tới.
Phong
Điệp: Sự “nhập nhằng” về khái niệm này theo
anh có ảnh hưởng gì tới đời sống văn học - văn chương
hay không?
Nguyễn
Hòa: Có chứ. Nó làm xuất hiện thái độ coi thường
lý luận, đẩy tới sự ngộ nhận giữa kinh nghiệm sáng
tác với lý luận văn học. Trong các loại hình nghệ
thuật, có lẽ chỉ có văn chương là loại hình dễ dàng
tiếp nhận nhất. Bất kỳ người nào đã “thoát nạn mù
chữ” là đã được cung cấp công cụ để đọc tác phẩm
văn chương. Đọc xong thì ai cũng có thể nhận xét,
và nhiều người (nhất là người trong giới sáng tác)
ngỡ đó là phê bình. Chuyện không đơn giản vậy đâu.
Chưa nói rằng sự nhập nhằng còn tạo ra “kẽ hở” để
có người chỉ với một công trình nghiên cứu - phê
bình nhưng lại kiếm được hai giải thưởng: một theo
đường từ Hội Nhà văn (bởi đó là tác phẩm), một theo
đường từ Viện khoa học xã hội - nhân văn (bởi đó
là khoa học)! Và mới có chuyện năm ngoái một nhà
văn đã viết hùng hồn như thế này: “Từ thời thượng
cổ cho đến nay, hay nói cho có vẻ lý luận một chút
thì từ thời cổ Hila cho đến những năm đầu của thế
kỷ 21 này và có lẽ mãi mãi mai sau bất kỳ một nền
văn học nào cũng gắn liền với một nền phê bình...”.
Tôi không biết ông nhà văn kiếm ở đâu ra một nền
phê bình từ “thời thượng cổ”, và nếu là người có
hiểu biết thì không ai lại viết là “thời cổ Hila”!
Phong
Điệp: “Phê bình văn học: Bộ môn nghiên cứu,
chuyên phân tích các tác phẩm văn học nhằm mục đích
đánh giá và hướng dẫn việc sáng tác” - Đấy là khái
niệm về phê bình văn học được ghi trong Từ điển
Tiếng Việt (năm 2001)...
Nguyễn
Hòa: Muốn tìm hiểu đích xác nội hàm của một thuật
ngữ thuộc về một khoa học nào đó, người ta cần tìm
hiểu trong từ điển chuyên ngành chứ không nên bằng
lòng với một thao tác là tra cứu Từ điển tiếng Việt,
bởi Từ điển tiếng Việt chỉ cung cấp cách hiểu phổ
thông. Theo Từ điển Văn học (xuất bản năm 2004)
thì phê bình văn học là: “Tên gọi một bộ môn của
khoa nghiên cứu văn học có chức năng phán đoán,
bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học,
kèm theo việc phán đoán, bình luận, giải thích,
đánh giá những hiện tượng đời sống mà tác phẩm đề
cập tới” (tr.1408). Trong cuốn 150 thuật ngữ văn
học (Lại Nguyên Ân biên soạn) cũng định nghĩa tương
tự. Hiểu thật nghiêm túc, cái gọi là “hướng dẫn
sáng tác” của phê bình văn học chỉ là một khả năng.
Nếu người làm phê bình không nắm vững điều này sẽ
quan trọng hoá vấn đề qua tham vọng “định hướng
cho sáng tác”. Còn với nhà văn, nếu không hiểu phê
bình văn học là gì và lại lầm tưởng về chức năng
của phê bình thì dễ đặt ra các yêu cầu nằm ngoài
khả năng của nó, mà khi yêu cầu không được đáp ứng
thì dễ quay ra giễu cợt hoặc cho rằng nếu không
có sáng tác thì không có phê bình.
Phong
Điệp: “Phê bình không theo kịp sáng tác, xa rời
sáng tác” - là người “trong cuộc” xin anh cho biết
ý kiến của mình về nhận xét này?
Nguyễn
Hòa: Nói phê bình văn học “xa rời sáng tác” thì
cũng có phần đúng, nhưng nói “phê bình không theo
kịp sáng tác” thì cần xem lại. Thứ nhất, đó là hệ
quả của quan niệm coi phê bình như là “cái đuôi”,
là “ăn theo” sáng tác; thứ hai, người nào nói như
vậy là còn nắm bắt hời hợt về quan hệ giữa văn học
(trong đó có phê bình) với văn chương. Trong liên
hệ nội tại và bản chất, phê bình phải dựa vào lý
luận. Như đã nói ở trên, văn chương có tuổi đời
hàng nghìn năm, còn văn học mới chỉ có tuổi đời
vài trăm năm, và về nguyên tắc, khi văn chương vận
động phát triển thì lý luận văn học cần một độ lùi
(dù rất ngắn) về thời gian để khảo sát, đánh giá,
kết luận… qua đó cung cấp cho phê bình những công
cụ lý thuyết ngõ hầu giải quyết cập nhật, thấu đáo
các tác phẩm, các hiện tượng, các xu hướng văn chương…
mới nảy sinh. Như vậy, đối với chúng ta hôm nay,
vấn đề cần quan tâm là tình trạng lạc hậu của lý
luận văn học so với thực tiễn văn chương, chứ không
phải “phê bình không theo kịp sáng tác”. Thật kỳ
quặc khi có nhà văn “cười mũi” người viết phê bình
vì cho rằng người viết phê bình đã không đọc ra
các “thông điệp” của anh ta. Tác phẩm đã được công
bố, nó phải chịu sự đánh giá của dư luận (trong
đó có ý kiến của người làm lý luận - phê bình),
và nếu dư luận có tìm ra ra các ý nghĩa mà nhà văn
không dự liệu được từ trước thì cũng là chuyện bình
thường. Trừ các trường hợp “phản phê bình” như suy
diễn, quy chụp…, khi nhà văn viết là A mà dư luận
lại hiểu là B thì nguyên nhân thuộc về ai…?
Phong
Điệp: Có ý kiến cho rằng mỗi nhà văn đồng thời là
một nhà phê bình. Nhà văn thiên tài còn là nhà lý
luận văn học thiên tài, anh nghĩ thế nào về ý kiến
này?
Nguyễn
Hòa: Dường như xu hướng “xã hội hóa phê bình” đã
tạo ra tiền đề cho một số quan niệm kỳ khôi về lý
luận - phê bình có điều kiện thi thố. Với năng lực
thụ cảm tinh tế, một số người sáng tác có khả năng
phát hiện từ tác phẩm một vài phẩm chất mà người
nghiên cứu - phê bình không phát hiện được, nhưng
hiện tượng này không nhiều. Dù “hoá thân” vào tác
phẩm như thế nào thì muốn làm lý luận - phê bình
người ta vẫn phải dựa trên nền tảng tư duy logich,
lý tính, đôi khi đến lạnh lùng. Bằng tư duy hình
tượng, người sáng tác rất khó có thể xây dựng hệ
thống quy luật, phạm trù… có ý nghĩa lý luận. Đọc
và tìm hiểu nhiều song tôi chưa thấy việc “nhà văn
đồng thời là một nhà phê bình. Nhà văn thiên tài
còn là nhà lý luận văn học thiên tài” tồn tại như
một tất yếu. Người ta có thể dẫn ra M.Kundera, nhưng
nếu đã đọc M.Kundera và tìm hiểu quan hệ giữa sáng
tác của ông với lý thuyết của M.Bakhtin sẽ thấy
M.Kundera là người ứng dụng khá thành công lý thuyết
của M.Bakhtin trong sáng tác và việc ông viết về
kinh nghiệm rút ra từ quá trình sáng tác là đáng
tham khảo, tuy vậy, trước hết ông không phải là
người làm lý luận. Trong lịch sử văn học, người
như M.Kundera chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Do
vậy, đừng vì tình trạng khủng hoảng của lý luận
- phê bình mà coi thường nó, rồi đi đến chỗ cho
rằng lý luận - phê bình là “cái nghề” ai cũng làm
được!
Không có người làm lý luận - phê bình thì nhà văn
không thể khái quát một cách có hệ thống về các
nội dung có tính lý luận, dù sản phẩm văn chương
của nhà văn chính là nơi cung cấp cho họ các tiền
đề. Để làm lý luận - phê bình, trước hết người ta
phải là người làm khoa học. Và sự thống nhất giữa
nhà khoa học với nhà văn trong một con người chỉ
là một khả năng có thể. Ngay như với chủ đề Lý luận
phê bình và sứ mạng “cái roi” quất cho “cỗ tứ mã
văn học” lồng lên của Văn nghệ Trẻ chẳng hạn. Tôi
sẽ “cho qua” nếu đó là sản phẩm của một nhà văn,
song dù nhan để có mấy từ được đặt trong ngoặc kép
thì nó vẫn khó lòng đáp ứng các yêu cầu về tính
chính xác khoa học. Vì có thể đặt ra các câu hỏi:
căn cứ vào đâu để ví von lý luận - phê bình với
“cái roi”, tại sao lại coi văn học (mà chính xác
phải là văn chương) là “cỗ tứ mã”? Vả lại, người
ta chỉ “quất roi” lên “con ngựa” chứ có ai lại “quất
roi” lên “cỗ tứ mã” bao giờ!
Phong
Điệp: Cứ tạm coi chủ đề ấy là sản phẩm của nhà văn
đi và đương nhiên nó mang tính ước lệ, thì theo
anh lý luận - phê bình hiện nay đã thực sự đảm trách
được sứ mạng “cái roi” quất cho cỗ “tứ mã văn học”
lồng lên” chưa?
Nguyễn
Hòa: Vâng, nếu là ước lệ của nhà văn thì tôi sẵn
sàng “cho qua”, nhưng vẫn xin bảo lưu rằng, tính
chính xác của khoa học vẫn là yêu cầu hàng đầu.
Tôi nghĩ, nếu làm lý luận - phê bình thật nghiêm
túc, người ta sẽ chẳng nghĩ đến chuyện “quất” ai
cả. Hay thì khen, dở thì chê, miễn là khen - chê
đều phải luận chứng ra đầu ra đũa. Mặt khác, sự
phát triển của văn chương, sự ra đời của các tác
phẩm văn chương có chất lượng tư tưởng - nghệ thuật
như thế nào phụ thuộc vào một tập hợp các yếu tố
chứ không chỉ phụ thuộc vào lý luận - phê bình.
Với một nhà văn “tài mỏng” thì có đến hàng nghìn
nhà lý luận - phê bình xuất sắc cũng không “vực”
anh ta dậy được. Tôi nhớ có lần nhà văn Đỗ Chu nói
với tôi rằng: “Bất tài thì hay lu loa!”, xem ra
trong nhiều trường hợp cũng đúng thật. Không viết
được cái gì thật hay ho thì trước hết phải xem lại
chính mình, sao lại quay sang trách cứ người khác.
Phong
Điệp: Tức là nhà văn có thể viết rất hay nhưng
không mấy ai và không dễ gì có thể “hệ thống hoá”
được tác phẩm của chính mình, “hệ thống hoá” tôi
nhắc đến ở đây với ý nghĩa là phân tích, đánh giá...
?
Nguyễn
Hòa: Đúng thế. Nhà văn cứ việc viết, và không ai
buộc anh ta phải phân tích, bình giá… tác phẩm của
chính anh ta. Còn người làm lý luận - nghiên cứu
- phê bình thì cố gắng “giải mã” sáng tác của anh
ta trên mọi phương diện, với điều kiện phải thật
sự khách quan, có công cụ lý thuyết khoa học, có
khả năng cảm thụ tinh tế… Bạn đã thấy một nhà văn
nào triển khai một công trình nghiên cứu, viết một
bài phê bình, làm một luận án tiến sĩ… về tác phẩm
của chính mình bao giờ chưa? Nói thì dễ, nhưng làm
không dễ đâu. Cũng có một vài vị tiến sĩ vừa làm
nghiên cứu - phê bình vừa viết văn hoặc làm thơ
và tôi chưa thấy họ thành công trên cả hai phương
diện. Cả hai đều làng nhàng!
Phong
Điệp: Nói như vậy thì nhà văn và nhà lý luận
- phê bình cứ đường ai nấy đi?
Nguyễn
Hòa: Ồ không, hiểu như thế là siêu hình, là cực
đoan đấy. Nếu được trang bị một cái nhìn nghiêm
túc về quan hệ biện chứng giữa văn học và văn chương,
người ta sẽ không siêu hình, không cực đoan. Văn
chương cung cấp đối tượng nghiên cứu cho văn học,
và từ những thành tựu chân chính của lý luận - nghiên
cứu - phê bình, nhà văn có thể tham khảo, có thể
tìm thấy các “gợi ý” cho sáng tác (tôi nói là “gợi
ý” chứ không nói là “định hướng” đâu nhé). Thử hỏi,
các tri thức văn học nằm trong vốn liếng tri thức
của nhà văn có nguồn gốc từ đâu, nếu không phải
là từ kết quả làm việc của lý luận - nghiên cứu
- phê bình?
Phong
Điệp: Anh có quan tâm tới những “cây búa vàng”
hay những “nhà phang học” mà người ta đồn thổi...?
Nguyễn
Hòa: Tôi có quan tâm. Ít nhất cũng là vì cách đây
khá lâu, trong một lần tán gẫu, anh Nguyễn Duy đã
tặng cho tôi cái danh hiệu “cây búa vàng”. Nghe
cũng khoái! Nói vậy thôi, “búa vàng, búa bạc” hay
“búa đồng, búa chì” thì cũng là công việc. Thử nói
sai, nói hàm hồ, thử viết bừa, viết ẩu… mà xem,
đồng nghiệp người ta cho “lĩnh đủ” ngay. Thiên hạ
thiếu gì người tài. Mà nếu trong lý luận - phê bình
có những “cây búa vàng”, những “nhà phang học” viết
cái gì ra cái đó thì việc gì phải lo ngại.
PHONG
ĐIỆP: Lại có ý kiến cho rằng, chỉ khi nào nền
văn học Việt Nam có nhà lập thuyết thì lý luận -
phê bình văn học Việt Nam mới ra hồn. Anh thấy thế
nào?
Nguyễn
Hòa: Nếu lý luận - phê bình văn học Việt Nam xuất
hiện một nhà lập thuyết thì quá tốt, nhưng bảo rằng
“chỉ khi nào nền văn học Việt Nam có nhà lập thuyết
thì lý luận - phê bình văn học Việt Nam mới ra hồn”
thì “hơi bị” bất thường. Tôi không rõ căn cứ vào
đâu người ta lại khẳng định như vậy. Tôi coi đó
là “nói lấy được”. Thử đưa ra một vài dẫn dụ từ
các nền lý luận - phê bình văn học khác để chứng
minh xem có đúng vậy không. Khó đấy! Không riêng
Việt Nam, người có tư cách “lập thuyết” trong lý
luận - phê bình văn học của nhân loại không có nhiều
đâu, nhất là trong văn học thế giới hiện đại lúc
này.
Phong
Điệp: Nếu nói rằng “Sự thờ ơ, dửng dưng với
phong cách, với các khuynh hướng văn học mới...
là yếu kém của lý luận - phê bình Việt Nam” theo
anh thì đã xác đáng hay chưa?
Nguyễn
Hòa: Đây không phải là thờ ơ mà là vô trách nhiệm.
Một khi đã mang danh là nhà lý luận - phê bình thì
phải làm nghề. Thật phi lý khi có người mang cái
danh đó mà quanh năm chỉ thấy đi “khảo cổ văn chương”
hoặc viết “để học tốt môn văn” bán cho học sinh.
Làm lý luận - phê bình mà không bám sát tình hình
văn chương thì làm cái gì. Tôi buồn khi thấy có
nhà lý luận - phê bình bảo rằng: “Còn Cánh đồng
bất tận tôi cũng chưa có ý tìm… Chờ một vài năm
sau đọc cũng chưa muộn”. Tôi còn buồn hơn khi thấy
trước tình trạng “bát nháo” của lý luận - phê bình,
một vị GS TS bộc bạch: “nhiều giáo sư có uy tín
không muốn nói, vì cái đúng và cái sai không sáng
rõ”. Cứ theo ông này thì nhiều giáo sư có uy tín
chỉ lên tiếng khi đúng - sai đã rõ ràng, còn khi
trong phê bình văn học người ta tranh luận, trao
đổi (thậm chí cãi nhau!) thì các vị đứng ngoài cuộc,
“tọa sơn quan hổ đấu” hay chờ khi “đục nước béo
cò”? Còn về phong cách. Đây là vấn đề vừa ổn định
vừa vận động phát triển, chỉ xuất hiện ở các nhà
văn có tài năng và có khả năng tự đổi mới. Làm nên
được một phong cách là việc rất khó. Không phải
cứ viết văn, cứ có tác phẩm trình làng là có phong
cách. Xét theo ý nghĩa đó thì liệu hiện tại có bao
nhiêu nhà văn Việt Nam là người viết có phong cách?
Đừng bảo người ta dửng dưng khi chính mình cũng
chưa biết phong cách có hình thù thật sự ra sao!
Phong
Điệp: Có một nhà văn nhận xét: “bao nhiêu vấn đề
lý luận văn học - nghệ thuật mới, lạ, có giá trị
lớn của nhân loại xuất hiện ở thế kỷ XX như: hiện
thực huyền ảo; hiện thực mới; hiện sinh, hiện đại,
hậu hiện đại… hoặc chủ nghĩa cấu trúc trong nghiên
cứu văn học, khuynh hướng phân tâm học trong phê
bình… chưa được nghiên cứu, chọn lọc giới thiệu
đầy đủ một cách có hệ thống, khoa học, kịp thời
vào Việt Nam”. Theo anh sự du nhập đó có phải là
yêu cầu hiện thực?
Nguyễn
Hòa: Giao lưu, tiếp nhận thành tựu từ văn học thế
giới là một trong các yếu tố tác động tới sự phát
triển của lý luận - phê bình. Quả thật là chúng
ta chưa tiến hành giới thiệu có hệ thống các thành
tựu lý luận - phê bình văn học thế giới, nhưng căn
cứ vào cố gắng của các tác giả như Phạm Vĩnh Cư,
Trương Đăng Dung, Trần Đình Sử, Nguyên Ngọc, Trần
Ngọc Vương, Trần Nho Thìn, Đỗ Lai Thuý, Trịnh Bá
Đĩnh… chúng ta cũng đã có một số tác phẩm đáng đọc.
Tôi không biết nhà văn nói trên đã đọc các công
trình như: Cấu trúc văn bản nghệ thuật, Tác phẩm
văn học như là quá trình, Thi pháp của huyền thoại,
Logic học về các thể loại văn học, Văn học là gì?,
Sự đỏng đảnh của phương pháp, Chủ nghĩa cấu trúc
và văn học, Vì một nền lý luận - phê bình văn học
chất lượng cao… hay chưa, nếu chưa thì nên tìm đọc.
Chúng cung cấp kha khá tri thức và chữ nghĩa đấy.
Tuy nhiên muốn đọc và muốn hiểu xem ra cũng “mệt”,
vì chúng đòi hỏi một nền tảng tri thức nhất định
mới có thể tiếp nhận. Tỷ như với chủ nghĩa cấu trúc
trong nghiên cứu văn học, hay phân tâm học trong
phê bình chẳng hạn, muốn nhận biết thì chí ít cũng
phải hiểu chủ nghĩa cấu trúc là gì, phân tâm học
là gì… và điều này theo tôi là nằm ngoài khả năng
của đa số nhà văn Việt Nam đương đại. Là người khá
tự tin vào những tri thức đã thâu nạp được, song
nếu bạn hỏi tôi về chủ nghĩa cấu trúc, về phân tâm
học thì xin lỗi, chắc chắn tôi phải mang sách ra
đọc lại thì may ra mới trả lời được. Còn nếu liệt
kê những chủ nghĩa, trào lưu, phương pháp… của văn
học thế giới như là “đồ trang sức cho trí tuệ” thì
nên thôi đi là vừa. Chỉ liếc qua mấy cái bìa sách,
đọc vài ba bài giới thiệu thì bất cứ ai cũng có
thể làm được việc liệt kê này. Nhưng sự đời lại
quan trọng ở sự “hiểu” chứ không phải ở sự “biết”!
Phong
Điệp: Nói như vậy có vẻ như anh đang hết sức
nỗ lực bảo vệ cho công tác lý luận - phê bình hiện
nay ở Việt Nam?
Nguyễn
Hòa: Bạn hiểu sai ý tôi rồi, vấn đề bạn đặt ra ở
trên đâu có bàn về “công tác lý luận - phê bình
hiện nay ở Việt Nam”, mà bàn về các “vấn đề lý luận
văn học - nghệ thuật mới, lạ, có giá trị lớn của
nhân loại xuất hiện ở thế kỷ XX… chưa được nghiên
cứu, chọn lọc giới thiệu đầy đủ một cách có hệ thống,
khoa học, kịp thời vào Việt Nam” cơ mà. Trong phạm
vi ấy, tôi có thể nói thẳng ngay rằng dường như
người ta “ăn theo, nói leo” chứ chưa theo dõi trên
diện rộng, cụ thể hơn là chưa khảo sát, chưa đọc.
Nỗ lực nghiên cứu và dịch thuật đầy tinh thần trách
nhiệm của mấy chục con người, dù chưa được tổ chức,
song vẫn rất cần ghi nhận. Bạn có thể giới thiệu
với tôi một nhà văn nào ở Việt Nam đã đọc và hiểu
cặn kẽ các cuốn sách tôi dẫn lại ở trên? Tôi tin
là không có đâu.
Phong
Điệp: Từ khả năng phát hiện, đề xuất, dự báo…
của lý luận - phê bình, theo anh hiện nay lý luận
- phê bình của chúng ta đã làm được ở mức độ như
thế nào?
Nguyễn
Hòa: Câu hỏi của bạn thật khó trả lời. Chức năng
của lý luận - phê bình văn học là thế, nhưng thực
hiện như thế nào còn phụ thuộc vào hệ thống công
cụ đã và đang có, phụ thuộc vào những con người
đang làm nghề, do đó không dễ đánh giá. Hôm qua,
một anh bạn nói với tôi: hình như lý luận - phê
bình của chúng ta đang ở trong tình trạng “hết tuyết”!
Ý kiến này có thể khó chia sẻ, nhưng nếu nhìn vào
thực trạng thì không phải không có lý. Dù có bị
đánh giá là chủ quan và chưa triệt để, tôi vẫn xin
mạo muội nói rằng hàng chục năm nay khả năng phát
hiện, đề xuất, dự báo… của lý luận - phê bình văn
học đang bị thui chột. Phải chăng ngoài các lý do
như đã nói ở trên, còn một lý do khác là sự trì
trệ có nguồn gốc từ thói quen “ăn xổi, ở thì”, bằng
lòng với trước mắt, không tính đến những việc “dài
hơi”?
Phong
Điệp: Trở lại với bốn “vấn nạn” anh đề cập ở
phần đầu câu chuyện, chắc là chúng ta khó có thể
khắc phục trong một sớm một chiều và như thế, trước
mắt hẳn là lý luận - phê bình vẫn còn chưa đáp ứng
được mong mỏi của công chúng?
Nguyễn
Hoà: Nhìn một cách bi quan và trong sự lười nhác
nghề nghiệp, giả thuyết ấy là có thể. Nhưng cũng
may, vài năm trở lại đây tình trạng “khủng hoảng”
của lý luận - phê bình đang trở thành nỗi trăn trở
của nhiều người, nhiều báo chí đã đề cập một cách
trực tiếp và về mặt tổ chức, một số hội thảo, hội
nghị do Hội Nhà văn, Viện Văn học… đã được tiến
hành để mọi người cùng bàn thảo tìm cách tháo gỡ.
Các động thái ấy mang lại một niềm tin vì đây chính
là thể hiện của ý thức trách nhiệm. Gắn bó và yêu
nghề, tôi hy vọng cùng mọi người, và mong muốn các
động thái trên sẽ không mang tính hình thức mà sẽ
được triển khai qua kế hoạch thiết thực và cụ thể.
Tất nhiên, để đổi mới lý luận - phê bình, để từ
bỏ một số thói quen gần như đã “thâm căn cố đế”…
phải có thời gian, nên cũng cần biết chờ đợi. Tôi
tin chúng ta sẽ làm được nếu quyết tâm, dám vượt
qua chính mình. Hẳn là bạn cũng nghĩ như thế?
Phong
Điệp: Vâng, tôi hoàn toàn chia sẻ với anh về
điểm này. Xin cảm ơn anh!
(Báo Văn nghệ Trẻ, số 23, ra ngày 26.3.2006)
Nhà
thơ Thanh Tâm Tuyền từ trần, hưởng thọ 70 tuổi
Ảnh
chụp trong ngày hôn lễ Thanh Nam & Túy Hồng
trích từ web luanhoan)
Nghe bản tin lúc 6:30 sáng
23-3 
Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, tác giả của các vần thơ
tình nổi tiếng ở miền Nam từ 50 năm qua vừa từ trần
tại tiểu bang Minnesota, Hoa Kỳ, hưởng thọ 70 tuổi.Thông
báo cho chúng tôi tin này, nhà thơ Viên Linh hiện
đang sống ở California, cho biết, nhà thơ Thanh
Tâm Tuyền qua đời vào lúc 11:15 sáng ngày 22-3-2006
tại bệnh viện Regions Hospital, thành phố Sain Paul,
vì bệnh ung thư phổi.
Nhà
thơ Thanh Tâm Tuyền, tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh
ngày 15-3-1936 tại thành phố Vinh. Sáng tác từ rất
sớm, năm 1954, ông là người chủ trương Nguyệt San
Lửa Việt.
Từ
năm 1956 đến 1960, ông là một trong những cây bút
chính của nhóm Sáng Tạo, cùng với Mai Thảo, Nguyên
Sa, Vũ Khắc Khoan, Tô Thùy Yên, Doãn Quốc Sỹ, Quách
Thoại, Lý Hoàng Phong, Lữ Hồ, Trần Thanh Hiệp, Thanh
Nam... và các họa sĩ Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Tạ Tỵ,
Duy Thanh.
Các
tác phẩm tiêu biểu của Thanh Tâm Tuyền gồm có “Tôi
không còn cô độc” (1956), “Liên, đêm mặt trời tìm
thấy” (1964), “Thơ ở đâu xa” (1990), và các tuyển
tập “Bếp lửa” (1957), “Khuôn mặt” (1964), “Tiếng
động” (1970).
Thơ
Thanh Tâm Tuyền đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc thành
các ca khúc nổi tiếng một thời như các bản “Nửa
Hồn Thương Đau”, “Dạ Tâm Khúc”, v.v…
Sau
biến cố 30-4-1975, Thanh Tâm Tuyền đã phải trải
qua 7 năm tù cải tạo. Đến năm 1982, ông được trả
tự do và sau đó sang định cư tại tiểu bang Minnesota,
Hoa Kỳ cho đến ngày qua đời.
Dương Thu Hương và
Chốn vắng
Ký
tên vào sách cho khách viếng Liên hoan sách
Paris 2006
Nhà văn Dương Thu Hương đang ở Paris để cùng với
nhà xuất bản Sabine Wespieser ra mắt cuốn sách mới
của bà nhan đề là Terre Des Oublis, bản tiếng Pháp
dịch từ tác phẩm Chốn vắng.
Cuốn sách được giới thiệu tại Liên hoan sách lần
thứ 26 tại Paris, qui tụ sách của trên dưới
2.000 tác giả đến từ nhiều nơi trên thế giới.
Trong
khung cảnh nhộn nhịp của một quán cafe ở thủ đô
nước Pháp, nhà văn Dương Thu Hương (DTH) đã trò
chuyện với Christine Nguyễn (CN), cộng tác viên
của đài BBC tại Pháp.
CN:
Bà nói rằng những nhân vật trong truyện có thực
ngoài đời, đó là những người đàn bà Việt Nam trong
chiến tranh và họ đã thôi thúc bà viết cuốn Chốn
vắng?
DTH:
Vâng, hoàn toàn tất cả những tiểu thuyết của tôi
đều dựa trên những câu chuyện thật và Chốn vắng
cũng như vậy, tức là những nhân vật này tôi đã gặp
họ và câu chuyện của họ xảy ra ở tại Quảng Bình.
Tất nhiên là khi tôi viết thì tôi có gia cố vào
đó tất cả những suy tưởng của tôi, những giấc mộng
của tôi và những ý tưởng và những quan niệm sống
của tôi. Và đương nhiên là tôi phải nói một cách
rành rọt: phần kết chính là phần mà tôi sáng tạo.
Cái đoạn kết người ta gọi là có hậu đó chính là
giấc mơ của tôi cho số phận những người đàn bà như
Miên. Còn trong cuộc sống thì có lẽ mọi người đều
biết rằng sau cuộc chiến tranh này hàng vạn người
đàn bà chết già bởi vì không có ai lấy họ nữa và
họ bị dồn vào những nông trường xa xôi, những nông
trường trồng cam ở Hòa Bình và các tỉnh miền núi
khác, trồng cam, trồng lạc, trồng sắn và những nông
trường toàn đàn bà đến nỗi ở một cái chân trời không
bao giờ hiện lên một người đàn ông nào cả. Và nếu
có một vài thi thoảng hiện lên một người đàn ông
thì đối với họ đấy là những cái hạnh phúc rất là
hiếm hoi, mặc dù nó chỉ là một cái thứ hạnh phúc
vay mượn và chụp giật.
CN:
Với ba nhân vật: cô Miên, anh Bôn và anh Hoan thì
ba nhân vật này tạo thành một cái bi kịch trong
xã hội sau thời chiến. Ý đồ sáng tác của bà khi
viết tác phẩm Chốn vắng này là gì?
DTH:
Thật ra tôi là người viết văn không có ý đồ. Khi
nào tôi định viết, khi nào có thời gian và khi nào
có đủ điều kiện để có thể ngồi viết được thì những
câu chuyện mà nó còn tích trữ trong óc tôi thì nó
tự nó mở đường chui ra và tôi viết là dưới sức ép
của nó như người ta nói là viết như một sự ám ảnh
và tôi hoàn toàn không có ý đồ gì cả. Khi tôi đã
bắt đầu viết thì câu chuyện đó nó sống dậy và những
nhân vật đấy nó kéo tôi theo chứ tôi không kéo họ
theo.
CN:
Như vậy thì phải chăng sự ám ảnh đó chính là những
thân phận của những người lính cũng như là của những
người phụ nữ sau chiến tranh thống nhất đất nước,
thưa bà?
DTH:
Vâng, chính là những lịch sử, những con người cụ
thể họ luôn luôn ám ảnh tôi và tôi như một thứ tù
nhân của họ vậy. Đấy là cái nhà tù lớn nhất mà tôi
phải chịu đựng.
CN:
Cô Miên là một trong 3 nhân vật chính, vì phải đối
đầu với những sức ép truyền thống, sức ép xã hội
mà phải quay về với người chồng cũ sau bao nhiêu
năm thất lạc. Phải chăng sự phát triển của nhân
vật này nó có một cái gì đó không được bình thường,
hay là nói khác đi là nó không có đại diện cho đa
số những cái trường hợp đại loại như thế có thật
xảy ra ở Việt Nam, thưa bà?
DTH:
Nó rất bình thường với thế hệ của chúng tôi và nó
xa lạ với thế hệ của các chị. Vì bây giờ các chị
trẻ tuổi và các chị đã tự cho mình quyền được sống
cuộc đời của các chị. Các chị không chịu sức ép
của truyền thống và sự hy sinh một cách vô tận như
chúng tôi. Cho nên tôi đã nói lại là cái thích của
người này có thể là cái không thích của người khác.
Cái của đối với người này là tất nhiên thì đối với
người khác là hoàn toàn ngược với lý chí và có thể
là không tất nhiên.
CN:
Cũng là một người phụ nữ đã từng tham gia vào cuộc
chiến tranh Việt Nam thì bà nghĩ gì về thân phận
những người phụ nữ sau cuộc chiến hiện nay?
DTH:
Tôi nghĩ rằng những thế hệ sau chiến tranh đã tiêu
mòn và đã già rồi như tôi rồi và tất cả những thế
hệ ấy là những cuộc đời bị đánh mất trong hoàn toàn
câm lặng và quên lãng. Tôi hy vọng là các chị và
những người trẻ hơn các chị sẽ không bao giờ nếm
trải lại những cái địa ngục mà chúng tôi đã trải
qua.
CN:
Phải chăng ngoài những điều bà vừa tâm sự ra, đâu
đó cũng chính là cuộc đời thật của bà được dàn trải
trong quyển sách này?
DTH:
Cuộc đời thật của tôi thì nó có giống cô Miên, tức
là tôi luôn luôn phải hy sinh thân tôi vì người
khác, và cuộc đời của tôi là một cuộc đời tù đày
vì người khác. Tù đày đây không phải nghĩa là trong
nhà giam của cộng sản, mà còn tù đày trong một cái
nhà giam lớn hơn, vì đối với tôi thì con người ta
luôn luôn phải gánh vác trách nhiệm. Và cái trách
nhiệm đối với tôi thì nó cao cả hơn là cái hạnh
phúc của chính bản thân mình. Cho nên khi tôi viết
cô Miên thì tôi cảm thất rất là dễ dàng bởi vì tôi
hiểu được cái tâm trạng của người đàn bà đó. Bản
thân cuộc đời tôi cũng là một mảnh của cuộc đời
người ta.
Ám
ảnh có thật
Cách
đây mấy năm, tôi về huyện T., đi viết về nông nghiệp
nên phải mất mấy ngày.
Huyện
T. ngày đó có phong trào nuôi vịt và làm vụ đông
rất thắng lợi. Tôi đi tìm hiểu tình hình, về xã
rồi về xóm. Có đêm tôi không về xã mà nghỉ lại xóm.
Xóm ấy là một xóm lẻ. Trông bề ngoài như một xóm
trại, cũng giống như một làng mà dân mới di cư đến.
Nhà cửa đa số vách tre mái rạ, vườn tược rào dậu
sơ sài.
Một
đêm, tôi ngủ với ông lão chăn vịt. Mùa hè rất nóng,
hai người hai cái chõng tre nằm ngoài sân. Trời
rất trong và bóng đêm mỏng tang. Ri rỉ tiếng dế,
đôi lúc tiếng vạc đi ăn đêm buông rời rạc từng tiếng,
nghe rất não nùng. Lạ nhà và nằm ngoài trời không
quen, tôi mãi không sao ngủ được. Còn bác chủ nhà,
chỉ một phút sau ngả lưng đã ngáy như sấm. Tôi nằm
chong mắt đếm các vì sao trên trời miên man nghĩ
về sự vô cùng vô tận của trời đất. Mệt mỏi và buồn.
Rồi tôi cũng chợp mắt được một lúc. Chỉ một lúc
thôi rồi tôi quáng quàng vùng dậy, mồ hôi vã ra
đầm xương sống. Tôi vừa trải qua một giấc mơ quái
dị, tôi mơ thấy ma. Một cô gái từ dưới ao sâu đội
lên, đầu tóc quần áo ướt đẫm rũ rượi. Cô ta vừa
đi vừa hát quanh cái chõng tôi nằm. Tiếng hát như
tiếng dế rên rỉ, đứt quãng và nức nở. Cô gái có
khuôn mặt trái xoan, da rỗ hoa nhưng rất trắng,
trắng như sáp. Đôi mắt cô xanh biếc, cái mầu xanh
lạnh như màu xanh con đom đóm. Mà hai con mắt của
cô lại không có lòng đen, nó chỉ tròn như đồng xu
và ánh sáng xanh phát ra từ hai đồng xu đó. Vũ điệu
của cô là vũ điệu chập chờn của loài bướm, lúc gần
lúc xa, lúc cao lúc thấp. Rồi cô ta đi thụt lùi
ra đồng, tôi không nghe tiếng chân, dường như không
có sự nhún nhẩy của bước đi. Cái áo trắng chỉ còn
một chấm nhoà lẫn với mái tóc xoã dài. Cô đi mất,
tôi tưởng thế, hoá không phải. Cả người cô biến
thành ngọn lửa xanh tiến lại phía tôi …
Bốn
bề tĩnh mịch và kinh sợ như bãi tha ma, tôi ớn lạnh
sởn da gà. Mơ hay ma ?. Ông lão chăn vịt đã thức
giấc, hình như tôi lục đục làm ông không ngủ được
.
-
Chú chưa ngủ à ? Sao chú không ngủ ?. Ông lão hỏi.
- Tôi lạ nhà, vả lại, tôi uống nước chè quá đặc.
Bác cứ ngủ đi.
- Tôi thế là không ngủ lại được nữa đâu. Một giấc
thôi. Cứ ba giờ sáng là tôi dậy, cố ngủ cũng không
được nữa. Già hay dậy sớm mà.
- Bác ơi … Tôi lưỡng lự một giây, không biết có
nên hỏi chuyện ma quỷ này không.
- Chú cần gì đấy ?. Ông lão tưởng tôi cần gì nên
sốt sắng hỏi.
Tôi
đành kể lại giấc mơ cho ông lão nghe. Ông có vẻ
ngạc nhiên rồi bảo tôi :
-
Chú yếu bóng vía đấy, chứ tôi ở đây chẳng ma quỷ
nào nó đến chọc ghẹo cả. Nhưng cách đây ba năm,
ở làng này có một cô gái như thế. Chính tay tôi
vớt cô ấy lên.
-
Nhưng ở đây có cái ao nào đâu – tôi hỏi.
-
Có đấy, ngay cạnh chỗ anh nằm, nhưng đã lấp đi rồi.
Sau
cái chuyện ấy xảy ra thì lấp đi. Cô ấy tên là Thơm,
gần ba mươi tuổi, chồng đi bộ đội hy sinh đã lâu.
Cô ấy được cả người lẫn nết, xinh xắn, siêng việc,
lại hát hay. Từng đi hát nhiều nơi, cũng được thưởng
cả huy chương. Các ông trên xã có chuyện gì với
nhau tôi không biết. Tôi suốt ngày ở ngoài đồng
với đàn vịt, không mấy để ý. Nhưng có chuyện, trên
xã bao giờ chả có chuyện. Cái ông chủ tịch xã là
một họ, còn ông bộ đội mới về lại họ khác. Ông bộ
đội mới về này có tình ý với cô Thơm, trai gái văn
nghệ với nhau như lửa gần rơm.
Thế
rồi một hôm, cả trung đội dân quân được báo động,
ông chủ tịch xã chia quân mấy mũi ra đồng đánh giặc.
Tưởng là giặc thật, hoá ra đưa về chỉ mỗi cô Thơm.
Đôi trai gái có lẽ biết đề phòng, đưa nhau ra giữa
đồng không mông quạnh cho dễ canh chừng, trải rạ
ra bờ cỏ ngồi tâm sự với nhau. Khi ông chủ tịch
sua quân ra thì hai người phát hiện được từ xa.
Anh con trai chạy thoát. Chỉ bắt được cô Thơm, cô
ngồi nguyên, không chạy. Ông chủ tịch phát điên
lên, vì bỏ công bố trí, theo dõi rồi tập kích bài
bản như thế mà không bắt được kẻ thù, không bắt
được trai trên gái dưới, để ròng chúng tồng ngồng
như thế về xã thì uổng quá ! Cô Thơm nhất định không
khai gì hết. Mà ông chủ tịch, ông công an đã hỏi
như hỏi cung.
Câu
chuyện hơi tục một tý. Tra : "cô ngủ với nó
rồi phải không ? nói thật đi ! Nhất định ngủ với
nhau rồi, khai ra ! Không ngủ với nhau tại sao phải
đưa nhau ra giữa đồng ?…". Cứ thế. Nhưng cô
Thơm chỉ một mực không là không. Cô nói : "cô
buồn nên ra ngồi một mình, các ông đừng gắp lửa
bỏ tay người. Các ông bảo người ta hủ hoá thì hủ
hoá với ai, người đó đâu, chỉ ra.". Phụ nữ
mà như thế thì cũng đã cứng cỏi lắm. Chủ tịch, công
an xã với cả trung đội dân quân xem ra đuối lý.
Ông chủ tịch như bị chọc tiết, mắt long lên, đập
bàn đánh rầm một cái:
-
Con đĩ, mày già mồm. Xem mày có chịu ký vào biên
bản không nhé. Các đồng chí dân quân ! hãy khám
nó. Có tinh dịch đàn ông trong ấy là nó trắng mắt
ra.
-
Sáng hôm sau - ông lão chăn vịt nói tiếp - tôi đưa
vịt ra đồng sớm, nhìn thấy cái bóng trăng trắng
mờ mờ dưới đáy ao. Một xác người ! Tôi dựng cả tóc
gáy lên. Có lẽ cô chết vì không thể chịu đựng được
trên đời này lại có sự nhục mạ con người đến như
vậy. Đúng là hôm ấy cô Thơm mặc cái áo sơ mi trắng
và tóc buông xõa sau lưng.
Hơn
một năm sau tôi lại có việc về huyện T. Nhân tiện
có xe, tôi lại về nhà ông lão chăn vịt để thăm ông.
Năm nay ông nuôi gần ba trăm con vịt, lại xây cả
lò ấp trứng nữa. Ông giữ tôi lại một ngày và suốt
ngày đó tôi và ông chỉ uống rượu với trứng vịt lộn.
-
Này, - ông lão nói với tôi lúc chia tay - cái ông
chủ tịch xã thế mà bị mù rồi đấy.
Phải
một lúc tôi mới nhớ ra và ngạc nhiên hỏi :
-
Mù làm sao ?
- Tự nhiên hai con mắt nổ tung con ngươi ra ngoài.
Đi khắp nơi không chữa được.
Dọc
đường về huyện tôi cứ nghĩ mung lung. Tôi sinh ra
ở làng quê, người dân quê tôi hay nói: ở hiền gặp
lành, ác giả ác báo. Đó là công lý dân gian chứ
không phải là giáo pháp của một tôn giáo nào.
Tôi
cũng nghĩ như thế. Tôi cũng tin như thế. Nhưng câu
chuyện tôi vừa nghe kể không ngờ lại nhanh như vậy
./. (Trần Huy Quang)
Những
người thích đùa
Azit
Nesin là nhà văn trào phúng Thổ Nhĩ Kỳ nổi tiếng
thế kỷ 20, trong câu chuyện "những người thích
đùa" [1], ông mô tả về việc một anh chàng đột
nhiên thấy mắt mình mờ hẳn. Nghi ngờ tính chính
xác của đôi kính của mình, anh đi khám mọi nơi,
mỗi nơi một kiểu với những chuyện hết sức bi hài,
nhưng kết quả vẫn không như mong muốn....
Trong
tuần qua, đất nước chúng ta cũng đang phải chứng
kiến những kẻ đùa dai ...
Đầu
tiên phải kể đến vụ đùa dai (có thật 100%) tại PMU18
[2]. PMU18 là cái gì? đó là một trong nhiều "vườn
trẻ trung ương", nơi các cậu ấm, cô chiêu "đỏ"
đang tung tăng học cách "mồm xưng đầy tớ, tay
vớ tiền dân"! Những vụ việc mới phanh phui
theo kiểu phim Porno (nửa kín, nửa hở) tại PMU trong
cả tháng qua, khiến người dân không thể không "sôi
gan, bầm tiết". Trong khi người dân đang phải
sống trong khó hăn do vật giá leo thang, và phải
oằn lưng đóng thuế để giả nợ quốc tế, mà rất nhiều
trong số đó vay về để giải ngân dự án cho PMU18,
thì những kẻ thích đùa tại PMU18, lại ăn chơi phè
phỡn, vung tiền mua sắm hàng trăm ô tô xịn (cỡ khoảng
vài chục, đến vài trăm ngàn con trâu), đánh bạc,
cá độ, bao gái đến cả triệu USD mỗi tháng. Nổi bật
trong đó là cặp thầy -trò Nguyễn Việt Tiến (thứ
trưởng), Bùi Tiến Dũng (tổng giám đốc PMU), mà báo
chí đã và đang "ca ngợi" rôm rả về cái
sự giầu của hai ông này. Trong tình hình "nước
sôi, lửa bỏng" như vậy mà họ vẫn còn sức để
đùa, với việc ông Nguyễn Việt Tiến chủ trì hội nghị
bộ giao thông vận tải về "Tiết kiệm chống lãng
phí"! Than ôi, "tấn trò đời" sao
lắm kẻ thích đùa dai! Nhưng tại sao các quý ông
này lại dám đùa dai trước nhân dân đến vậy? Bởi
họ có tiền, tiền dự án, nhiều đến độ mà hút một
điếu thuốc sẵn sàng trả 10000 USD! Tại sao họ lại
có nhiều dự án? Vì họ gần như độc quyền dự án! [3]
Nguyễn
Việt Tiến và PMU18 không diễn trò một mình, những
kẻ đùa dai khác trong tuần qua còn có "ông
độc quyền" Điện lực. Những tưởng khi phát tín
hiệu trưng cầu dân ý về việc tăng giá điện, "ông"
đã đi tiên phong trong việc thực hiện một hành động
tôn trọng "ông chủ" -những "thượng
đế" của mình. Ấy vậy mà hoá ra "ông ta"
lại đùa [4] khi tuyên bố, "ý kiến của nhân
dân chỉ để tham khảo"! (sau khi thấy nhân dân
không đồng ý với việc tăng giá điện (vì chưa tăng
thì cũng đã thuộc vào loại cao nhất nhì thế giới
rồi!)). Ôi sao mà đùa dai đến thế. Hay nhất là phát
biểu của ông Tham, vụ trưởng vụ tài chính bộ CN
:"Nhân dân phải lựa chọn giữa tăng giá và cắt
điện"! Sao lại chỉ có hai lựa chọn thưa ông
Tham ? hay là ông lại thích đùa!!! Ai cũng hiểu,
sở dĩ ngành điện thường xuyên có kiểu "đùa
khủng bố" (vâng đùa khủng bố!) này là vì xét
cho cùng họ còn có thể "cùn" hơn:"
Anh không dùng điện của tôi thì dùng của ai ???".
Lại một kiểu độc quyền sinh đùa dai.
Cũng
trong tuần qua, luật trưng cầu dân ý [5], được soạn
thảo để đưa ra quốc hội. Đây có thể nói là một bước
tiến quan trọng, đáng khích lệ từ phía Đảng CS.
Người dân Việt Nam lần đầu tiên sau khi thoát khỏi
ách nô lệ của Đế quốc 50 năm trước, được phát biểu
lên ý kiến của mình một cách công khai. Ấy vậy nhưng
luật vẫn được "thòng" cẩn thận mấy điều
cấm, trong đó đáng kể là cấm trưng cầu dân ý về
thể chế chính trị! Điều này cho thấy, xu thế cởi
mở và đóng kín, cấp tiến và bảo thủ vẫn còn đang
đan xen trong lòng ĐCS mà chưa bao giờ lại được
thể hiện rõ như trong thời kỳ "hậu toàn trị"
này. Nếu điều luật được thông qua kèm theo điều
cấm trên, thì liệu có kẻ nào tiếp tục đùa dai mà
xảo ngữ rằng: "Chế độ của dân, do dân vì dân",
"Con đường mà Đảng, Bác và Nhân dân đã lựa
chọn"? Rất có thể, vì điều 4 trong hiến pháp
đã quy định một kiểu độc quyền, và như đã thấy ở
trên, độc quyền thường hay sinh ra những người thích
đùa (dai) ! Nhân dân ta là những người rất vui tính,
thích đùa, nhưng liệu cứ một trò độc quyền mà đùa
mãi thì chẳng phải là sẽ nhạt hay sao ?
Kết
thúc câu chuyện "những kẻ thích đùa" của
Azit Nesin, anh chàng khốn khổ nọ cuối cùng đã tìm
được cái kính cho riêng mình đó là cái kính sau
khi mắt kính đã bị vỡ !!!!
Để
chấm dứt cảnh nhân dân bị "những kẻ đùa dai"
coi thường, những độc quyền (kể cả độc quyền đùa
dai) cần bị phá vỡ. Xét cho cùng giống như anh chàng
khốn khổ trong câu chuyện kia, nhân dân Việt Nam
đâu cần những cái độc quyền đó làm mắt kính cho
mình ???? Mọt
Sách Già
Bộ
Văn hóa - Thông tin CSVN yêu cầu Trả lại cảnh quan
cho di tích núi Nàng Tô Thị
Bộ
Văn hóa - Thông tin CSVN đã có công văn gửi Chủ
tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lạng Sơn đề nghị đình
chỉ để xử lý các vi phạm tại di tích núi Nàng Tô
Thị, Lạng Sơn.Công
văn nêu rõ: Mật độ xây dựng các công trình rất lớn,
phá vỡ cảnh quan di tích và không phù hợp với tính
chất di tích. Việc Ủy ban Nhân dân tỉnh Lạng Sơn
cấp giấy phép cho Công ty Hoàng Việt Anh triển khai
các hoạt động xây dựng trong di tích mà chưa có
ý kiến thỏa thuận của Bộ Văn hóa - Thông tin là
vi phạm Luật Di sản văn hóa.
Để
bảo vệ di tích này Bộ Văn hóa - Thông tin đề nghị
Công ty Hoàng Việt Anh dừng ngay mọi hoạt động trong
khu di tích núi Nàng Tô Thị, hoàn chỉnh các hồ sơ
thủ tục. Những công trình nào đã xây dựng mà không
phù hợp với tính chất di tích phải được dỡ bỏ, trả
lại cảnh quan cho di tích.
Chỉ
vì " một miếng đỉnh chung" phù phiếm ,
nhạc sĩ Phạm Duy lại bị bọn văn nô CS làm nhục
LTS
HNPĐ: Mặc dù đã nhiều lần bầy tỏ
sự bất mãn về con người và việc làm của Nhạc sĩ
Phạm Duy ( Xin đọc lại Thư
ngỏ gửi nhạc sĩ Phạm Duy.) nhưng
khi đọc 2 bài viết: Một của " ông nhà văn Chu
Lai" và một của " ông nhạc sĩ Nguyễn Lưu",
chúng tôi bỗng thấy ngậm ngùi cho Nhạc sĩ họ Phạm.
. .Đã đến tuổi gần đất xa trời, chỉ vì " một
giải phù vân" khiến cho những tên Cộng sản
vô học với đầu óc đặc những mớ suy tư đần độn và
cố chấp, làm nhục.
Chúng tôi cũng rất tiếc việc báo Đầu Tư mà đối tượng
là những Việt kiều lại cho đăng những tài liệu rác
rưởi như thế ( Nguyễn Trọng Hoàn HNPĐ)
Bài
trên Báo Đầu tư : Không thể tung hô
Có
thể nói, một trong những niềm tự hào, tự tôn của
dân tộc Việt Nam là triết lý "đánh kẻ chạy
đi, không đánh người chạy lại". Tuy nhiên,
"không đánh kẻ chạy lại" cần được hiểu
thêm rằng, kẻ chạy lại là ai, và "không đánh"
có nhất thiết đồng nghĩa với việc xem người ấy là
thần tượng, là nhân vật tiêu biểu để đón rước trọng
thể...? Tôi muốn nói đến trường hợp của nhạc sĩ
Phạm Duy, người mới được xưng tụng sau đêm nhạc
"Ngày trở về" (diễn ra tại Nhà hát Hòa
Bình, TP.HCM). Một người bạn, nhà văn Chu Lai đã
tỏ ra tâm đắc với ý tưởng này và cho biết, Tạp chí
Thế giới mới số mới nhất có đăng một bài viết, với
nội dung gói gọn: "Một người từng bỏ kháng
chiến theo thực dân Pháp, khi Pháp rút lại theo
Ngô Đình Diệm và khi ngụy quyền sụp đổ lại chạy
qua Mỹ. Và tại đó, đã viết hàng loạt bài kêu gọi
chống Cộng, với giọng điệu “sặc mùi” hiếu chiến.
Nay, thấy Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, lại xin trở
về! Hà cớ gì phải tung hô, xưng tụng đến như thế!".
Đất
nước đang đổi mới, chúng ta chấp nhận việc khép
lại quá khứ để xây dựng tương lai, nhưng điều ấy
không đồng nghĩa với việc bỏ quên tất cả, từ những
hy sinh gian khổ đến những bài học máu xương...
Chúng ta cũng không quên tổ tiên ta luôn tỏ rõ nghĩa
khí, quyết không sợ xâm lăng và cũng không trù dập
kẻ thất trận. Tù binh giặc còn được cấp lương, thuyền
để chúng "ra đến bể chưa thôi trống ngực"
hay "về đến nhà còn đổ mồ hôi" (Cáo bình
Ngô). Nhưng cái khái niệm ân nghĩa bốn bể ấy cũng
có những nguyên tắc và với trường hợp của Phạm Duy,
chúng ta lại càng cần phải hiểu cho rõ ngọn nguồn.
Nửa
thế kỷ trước, khi còn là một "chú nhóc"
tại trường Thiếu sinh quân chuẩn bị qua Trung Quốc
học tập, ở Việt Bắc, tôi đã cùng bè bạn trong đơn
vị hát những ca khúc rất hay của Phạm Duy, khi ấy
đang là một trong những cán bộ văn hóa của chính
quyền cách mạng. Tôi đã thuộc lòng câu hát "Tôi
yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời..." và
sau này, lớn lên một chút mới hiểu ra rằng, cái
tứ ấy, có gì giống với luận điểm của Nguyễn Văn
Vĩnh (truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, mà tiếng
ta còn thì nước ta còn - cách nói ấy là để biện
minh cho việc ôm chân giặc xâm lược của Nguyễn Văn
Vĩnh và bè lũ bán nước). Phạm Duy có những tác phẩm
làm say đắm lòng người, như Thiên Thai, Trương Chi,
Nhạc tuổi xanh, Quê nhà em... Rồi sau đó là các
bài như Thuyền viễn xứ, Bà mẹ Gio Linh, Cây đàn
bỏ quên, Nghìn trùng xa cách... Khai thác chất liệu
dân ca đồng bằng Bắc Bộ, khó có ai qua mặt Phạm
Duy. Bài Ru con, Phạm Duy viết ở Việt Bắc có câu
"Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời giặc Pháp
có thương dân mình", chuyển từ điệu "thứ"
qua "trưởng" thật đắt, còn nhịp ba trong
Quê nhà em lại rất hay, dí dỏm và tố cáo giặc đốt
nhà, phá đường...
Nhưng,
ngay trong thời kỳ ấy, chất lãng mạn tiểu tư sản,
sợ khổ, sợ chết đã bộc lộ qua sáng tác của Phạm
Duy. Khi ấy, dù còn bé, song tôi đã biết bài Bà
mẹ Gio Linh bị cấm, bởi có những câu mà khi hát
lên, liệu còn ai, còn bà mẹ nào dám để con đi bộ
đội. Và chất đa tình cố hữu, ta thường thấy ở giới
nghệ sĩ, ở Phạm Duy được xem là nhược điểm. Và cái
phải đến đã đến, Phạm Duy "dinh tê", bỏ
kháng chiến vào thành, lập ra ban nhạc "Đêm
màu hồng" với Thái Thanh, Thái Hằng, có cả
Phạm Đình Chương, Duy Quang... Và từ đó trở thành
tên tuổi hàng đầu trong đám văn nghệ sĩ chống Cộng.
"Đỉnh
cao" sự nghiệp chống Cộng của Phạm Duy là bài
Mùa thu chết. Ở đó, tác giả đã công khai tư tưởng
chống Cộng của mình. Ông ta đã từ bỏ tình yêu với
Tổ quốc bằng một bút pháp thật sâu cay, đểu giả
và ít ai quên cái mùa thu trong ca khúc ấy chính
là Cách mạng mùa thu, là niềm tự hào của dân tộc
Việt Nam. Khi đất nước bị chia cắt, Phạm Duy đã
vào Nam theo chính quyền Ngô Đình Diệm, lần lượt
đi sâu vào con đường chống Cộng và lên đến chức
Bộ trưởng Văn hóa. Nhưng, sự nghiệp âm nhạc của
ông ta vẫn càng lún vào "vũng bùn" phản
quốc. Bài Ru con đã thay câu cuối cùng bằng “Mấy
đời Cộng sản biết thương dân mình”. Nhạc tuổi xanh
đã bị biến chất để đi ngược lại điều đã ấp ủ của
cả một thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam đang lên đường
đổi cả sinh mạng lấy tự do, độc lập. Và để khẳng
định mình, Phạm Duy liên tiếp cho ra đời những tác
phẩm vừa chống Cộng, vừa bệnh hoạn.
Ngày
miền Nam mới giải phóng, tôi có gặp TS Nguyễn Văn
Trung, nguyên giảng viên Đại học Sài Gòn. Trước
khi di tản đi Mỹ, ông Trung bất đắc chí đã kể cho
tôi nghe nhiều chuyện, trong đó có lời miệt thị
một nhạc sĩ có tài là Phạm Duy mà lại đi viết cả
những bài hát để ủng hộ sự loạn luân!? Chính TS
Trung đã qua Mỹ dạy học, còn nhạc sĩ Phạm Duy di
tản sang Mỹ để trốn chạy trước sự trở về của những
người đã từng chung một chiến hào với ông ta. Tại
Mỹ, Phạm Duy làm nhiều người (trong đó có tôi) sôi
sục căm thù, khi viết bài kêu gọi các nam thanh,
nữ tú đất Việt hãy xông lên, lấp sông Bến Hải, giải
phóng Việt Nam khỏi tay Cộng sản... Và bây giờ,
khi đã sắp đến lúc nhắm mắt xuôi tay, ông ta muốn
trở về trong sự đón tiếp nồng hậu của những người
từng bị ông chà đạp về tinh thần!
Tôi
đọc Nam Cao và tâm đắc với nhận xét: "Những
thằng chuyên ác chỉ có thể hết làm việc ác nếu chúng
không còn đủ sức để làm ác". Bây giờ, với Phạm
Duy cũng là như vậy. Một Việt Nam đang vươn lên,
môi trường này đang sống động và có vị thế mới đã
có thể làm mềm lòng mọi kẻ vốn kỳ thị với dân tộc
này, tất nhiên đủ sức làm "kẻ chạy đi"
mong được trở về, song, như đã nói trên, không thể
có sự trở về như một người hùng. Chia sẻ điều này,
nhạc sĩ Tân Huyền cho hay, đó là điều kỳ lạ, hiếm
thấy, tuy ông bảo: "Bây giờ, tư nhân cũng có
thể làm ra một trang web để tôn vinh mình, nói gì...".
Và tôi hiểu, tác giả Cỏ non thành cổ làm sao chấp
nhận sự trở về trong thứ vinh hoa kiểu ấy, nó làm
cho sự hy sinh của những đồng đội, những nấm mồ
liệt sĩ kia có thêm những nỗi đau thế thái.
Có
một lần, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn trả lời báo chí,
ông khẳng định, không bao giờ đánh giá một nhạc
sĩ dám dâng hiến tuổi trẻ trong đội ngũ những người
chiến sĩ, ngang bằng một tác giả không dám lâm trận
và chỉ ngồi trong lòng địch để than thân trách phận,
hay ngợi ca một hạ trắng, thu vàng, chứ đừng nói
đến một tác giả đã nhảy vào lòng địch để chống Cộng,
rồi sau này, khi hết "đát" lại nói lời
xí xóa. Tôi cam đoan không một nhạc sĩ cách mạng
Việt Nam nào không vui mừng trước nghĩa cử đầy nhân
ái của đất nước, song tất cả họ đều chung một suy
nghĩ, rằng người trở về đâu phải ai cũng như ai.
Lời nói ấy của người nhạc sĩ - chiến sĩ, đã giúp
tôi có thêm nghị lực, để nghĩ, để nói và để thể
hiện chính kiến, để không bị hòa tan trong những
đợt sóng vàng vọt đâu đây.
Ai
muốn coi Phạm Duy là thần tượng, tùy ý, còn tôi,
trước sau xin nói không!
Nhạc
sĩ Nguyễn Lưu
Văn bản của
Công ty Phương Nam
TP
Hồ Chí Minh, ngày 16.3.2006
Kính gửi: - Ban Tư tưởng - Văn hóa TW
- Bộ Văn hóa - Thông tin
- UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư
- Cục Bảo vệ an ninh văn hóa tư tưởng
- Ban biên tập Báo Đầu tư
Đồng kính gửi: - UBMTTQ TP Hồ Chí Minh
- Ban Tư tưởng - Văn hóa Thành ủy TP.HCM
- Sở Văn hóa - Thông tin TP.HCM
- Phòng Bảo vệ an ninh văn hóa tư tưởng Công an
TP.HCM
- Các cơ quan thông tin đại chúng
Trên
số báo Đầu tư số ra ngày thứ hai 13.3.2006 có đăng
bài Không thể tung hô của nhạc sĩ Nguyễn Lưu viết
về "trường hợp của nhạc sĩ Phạm Duy, người
mới được xưng tụng sau đêm nhạc Ngày trở về"
diễn ra tại Nhà hát Hòa Bình, TP Hồ Chí Minh. Mặc
dù trong bài viết của mình, tác giả không đề cập
gì đến Công ty Văn hóa Phương Nam là đơn vị tổ chức
biểu diễn, nhưng với tư cách là người mua bản quyền
khai thác các tác phẩm hợp pháp của nhạc sĩ Phạm
Duy, với trách nhiệm của đơn vị tổ chức đêm nhạc
Ngày trở về, chúng tôi xin bày tỏ một số ý kiến:
1.
Đường lối đổi mới của Đảng trong hai thập niên qua
đã mang lại những thành tựu to lớn đầy sức thuyết
phục. Chủ trương đại đoàn kết dân tộc theo tinh
thần Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị đang thổi một
luồng sinh khí mới, động viên tinh thần yêu nước
của tất cả mọi người Việt Nam không phân biệt tôn
giáo, chính kiến ở trong cũng như ngoài nước để
cùng hướng tới mục tiêu "dân giàu nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Những
luận điệu chống cộng cực đoan ở hải ngoại ngày càng
trở nên lạc lõng. Nhiều người bỏ nước ra đi nay
lần lượt trở về góp phần xây dựng đất nước dưới
hình thức này hoặc hình thức khác. Ông Nguyễn Cao
Kỳ, Phó tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ đã trở
về. Đó là những minh chứng hùng hồn cho tính đúng
đắn của chủ trương đại đoàn kết dân tộc.
Đối
với những kẻ thù xâm lược, chúng ta cũng đang xếp
lại quá khứ để cùng hướng tới tương lai, nhưng đọc
bài báo của nhạc sĩ Nguyễn Lưu, nhiều người hẳn
sẽ băn khoăn tự hỏi tại sao việc "xếp lại quá
khứ" đối với một bộ phận người Việt lại khó
khăn đến thế ? Khép lại quá khứ hoàn toàn không
đồng nghĩa với việc "bỏ quên tất cả" như
ông Nguyễn Lưu nói. Và cũng không thể xếp lại quá
khứ theo kiểu lôi hết "ngọn nguồn" của
một người để phơi bày trên mặt báo như ông Nguyễn
Lưu đã làm ! Dù nhắm tới một đối tượng cụ thể là
nhạc sĩ Phạm Duy, nhưng khi ông Nguyễn Lưu (dẫn
lời nhà văn Chu Lai) nói rằng "Nay, thấy Việt
Nam vươn lên mạnh mẽ, lại xin trở về" chắc
chắn sẽ làm những người đã hoặc đang có ý định trở
về chạnh lòng và cảm thấy bị xúc phạm. Đó là lối
nói kiêu ngạo vô trách nhiệm, gây mất lòng tin vào
đường lối, chủ trương của Đảng.
2.Việc
Công ty Văn hóa Phương Nam tổ chức đêm nhạc Ngày
trở về là một hoạt động bình thường của một đơn
vị kinh doanh trên lĩnh vực văn hóa, không nhân
danh một sự kiện gì, không nhằm tôn vinh thần tượng
và cũng chẳng tổ chức "đón rước trọng thể".
Ai có nhu cầu thì mua vé vào xem. Thế thôi. Mọi
hoạt động kinh doanh của Công ty Văn hóa Phương
Nam liên quan đến nhạc sĩ Phạm Duy đều tuân thủ
đúng pháp luật.
Chúng
tôi không chỉ tổ chức đêm nhạc Ngày trở về mà trước
đó đã từng tổ chức những chương trình biểu diễn
nghệ thuật khác. Cũng như vậy, chúng tôi không chỉ
liên kết xuất bản và phát hành những tác phẩm của
Phạm Duy được Bộ Văn hóa - Thông tin cho phép mà
chúng tôi còn từng liên kết với các nhà xuất bản
Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân và một số nhà
xuất bản khác để tổ chức những tủ sách với hàng
trăm tác phẩm viết về cuộc kháng chiến giải phóng
dân tộc, thống nhất đất nước, trong đó có cả những
tác phẩm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng
Văn Tiến Dũng và các tướng lĩnh khác như Nguyễn
Quyết, Trần Văn Trà; của các nhà văn hóa lớn như
Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Văn Huyên, Ngô Tất Tố,
Huy Cận, Hà Văn Tấn, Trần Văn Khê; gần trọn bộ tác
phẩm của các nhà văn thuộc nền văn học cách mạng
như Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng...
và cả một số tác phẩm của nhà văn Chu Lai.
Bài
viết của nhạc sĩ Nguyễn Lưu không mang tính phê
bình học thuật, lại đăng tải trên một tờ báo chuyên
về đầu tư, vì vậy, từ góc độ kinh doanh, chúng tôi
có quyền nghi ngờ đây là một sự cạnh tranh không
lành mạnh.
3.Một
điều đáng tiếc nữa là trong lúc dẫn dắt người đọc
"hiểu cho rõ ngọn nguồn" trường hợp Phạm
Duy, nhạc sĩ Nguyễn Lưu lại đưa người đọc lạc vào
những lỗ hổng kiến thức của chính mình. Lỗi tác
giả một phần, một phần do lỗi của tòa soạn trong
khâu biên tập. Chúng tôi xin nêu một vài thí dụ:
Nhạc sĩ Nguyễn Lưu viết: "... Ở Việt Bắc, tôi
đã cùng bè bạn trong đơn vị hát những ca khúc rất
hay của Phạm Duy... Tôi đã thuộc lòng câu hát "Tôi
yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời..." và
sau này, lớn lên một chút mới hiểu ra rằng, cái
tứ ấy, có gì giống với luận điểm của Nguyễn Văn
Vĩnh (Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, mà tiếng
ta còn thì nước ta còn - cách nói ấy là để biện
minh cho việc ôm chân giặc xâm lược của Nguyễn Văn
Vĩnh và bè lũ bán nước)".
Thứ
nhất, câu nói nổi tiếng (và cũng bị nhiều tai tiếng):
"Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn,
nước ta còn" không phải của Nguyễn Văn Vĩnh
mà là của Phạm Quỳnh (thân sinh của nhạc sĩ Phạm
Tuyên, tác giả ca khúc nổi tiếng Như có Bác hồ trong
ngày vui đại thắng). Bài viết của Phạm Quỳnh được
đăng trên tạp chí Nam Phong, về sau được in lại
trong Thượng Chi văn tập. Tuy tiếng Việt của Phạm
Quỳnh là tiếng Việt của đầu thế kỷ 20 nhưng không
có lối hành văn "thì mà là" như tiếng
Việt của nhạc sĩ Nguyễn Lưu ở đầu thế kỷ 21!
Thứ
hai, nếu chỉ nói quá đơn giản như Nguyễn Lưu thì
nhiều học sinh ngày nay sẽ không thể nào hiểu được
vì sao Truyện Kiều được tôn vinh như là một kiệt
tác của văn học Việt Nam, nhưng khen Truyện Kiều
thì lại mắc cái tội "biện minh cho việc ôm
chân giặc xâm lược"? Ai cũng biết rằng, sinh
thời Nguyễn Du là người theo phò nhà Lê thời Lê
Chiêu Thống, chống lại Tây Sơn, đã từng bị quân
Tây Sơn bắt giam 3 tháng ở Nghệ An, sau theo phò
Gia Long, ra làm quan với triều Nguyễn, nhưng điều
đó lại không liên quan gì đến việc đề cao Truyện
Kiều "là để biện minh cho việc ôm chân giặc
xâm lược". Cũng như vậy, làm sao con cháu chúng
ta có thể hiểu được "Tôi yêu tiếng nước tôi,
từ khi mới ra đời..." mà lại bị ghép vào tội...
phản quốc ?
Ở
một đoạn khác, nhạc sĩ Nguyễn Lưu viết: "Đỉnh
cao sự nghiệp chống Cộng của Phạm Duy là bài "Mùa
thu chết" (...) Ông đã từ bỏ tình yêu với Tổ
quốc bằng một bút pháp thật sâu cay, đểu giả và
ít ai quên cái mùa thu trong ca khúc ấy chính là
Cách mạng mùa thu, là niềm tự hào của dân tộc Việt
Nam".
Độc
giả, đặc biệt là những người từng ở miền Nam trước
năm 1975 ai cũng biết rằng bài Mùa thu chết rất
nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Duy là phổ thơ Apollinaire,
một nhà thơ Pháp sinh năm 1880 và chết năm 1918.
Bài thơ của Apollinaire vỏn vẹn chỉ có 5 câu, mang
tựa đề L'Adieu (Giã biệt), chúng tôi xin ghi lại
nguyên văn:
J'ai
cueilli ce brin de bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends
Tạm
dịch:
Ta
ngắt một cành thạch thảo
Em hãy nhớ cho mùa thu đã chết rồi
Chúng ta không còn được nhìn nhau nữa trên đời
Mùi thời gian đẫm hương thạch thảo
Em hãy nhớ rằng ta vẫn chờ em
Nội
dung bài thơ chỉ có thế, khi phổ nhạc vẫn giữ gần
như nguyên vẹn, chẳng liên quan gì đến cuộc Cách
mạng tháng Tám của dân tộc chúng ta xảy ra sau khi
tác giả của nó đã qua đời 27 năm! Nếu lập luận theo
kiểu Nguyễn Lưu thì mọi người sẽ nghĩ sao về trường
hợp Văn Cao với bài Buồn tàn thu và Phạm Trọng Cầu
với bài Mùa thu không trở lại ?
Trước
đây, ngay ở miền Nam, bên cạnh những người ca ngợi
Phạm Duy cũng có không ít người không đồng tình
với một số việc làm của Phạm Duy, thậm chí có người
đã viết cả một cuốn sách để phê phán Phạm Duy. Âu
đó cũng là chuyện bình thường. Ngay cả Truyện Kiều
của Nguyễn Du cũng có lắm người khen, kẻ chê "Bạc
phận chẳng lầm người tiết nghĩa/Đoạn trường cho
đáng kiếp tà dâm" hay "Đàn ông chớ kể
Phan Trần/Đàn bà chớ đọc Thúy Vân Thúy Kiều"
đó sao ? Nhưng suy diễn đến mức như ông Nguyễn Lưu
thì chưa hề có !
Là
những người hoạt động kinh doanh trong một lĩnh
vực gắn liền với văn hóa, nhiều khi chúng tôi không
khỏi âu lo khi thấy trong sinh hoạt học thuật của
nước nhà, một số người vẫn quen dùng vũ khí suy
diễn, xuyên tạc, chụp mũ chính trị để đẩy đối phương
vào chỗ chết thay vì cùng tranh luận minh bạch để
tiếp cận chân lý. Văn hóa muốn phát triển cần có
một nền học thuật. Cái cách phê bình "cả vú
lấp miệng em" như vậy đang gây ô nhiễm nặng
môi trường học thuật của chúng ta. Quá trình hội
nhập của đất nước đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ,
vì vậy cần thiết phải loại ra khỏi đời sống học
thuật những cách ứng xử thiếu văn minh như thế.
Ngoài
ra, trong bài viết của nhạc sĩ Nguyễn Lưu còn một
số chi tiết khác không chính xác, chẳng hạn: trong
sáng tác của nhạc sĩ Phạm Duy không hề có bài Quê
nhà em, Phạm Duy chưa bao giờ được làm Bộ trưởng
Bộ Văn hóa của chính quyền Sài Gòn, ở Sài Gòn trước
năm 1975 không hề có cái gọi là "ban nhạc Đêm
màu hồng", GS Nguyễn Văn Trung cũng chẳng phải
di tản đi Mỹ mà đi Canada theo diện đoàn tụ gia
đình sau 1975, và GS Nguyễn Văn Trung cũng không
hề dạy học ở Mỹ.
Cuối
cùng, chúng tôi nghĩ rằng báo Đầu tư là tờ báo chủ
yếu dành cho các doanh nhân, trong đó có những doanh
nhân là người Việt ở nước ngoài, một trong những
đối tượng mà chúng ta đang mời gọi. Việc đăng một
bài báo có nội dung mạt sát một Việt kiều muốn về
quê hương và đã được phép trở về như nhạc sĩ Phạm
Duy có thể sẽ làm một số người khác giật mình phân
vân trước sự chọn lựa nên hay không nên trở về để
khỏi phải chuốc lấy những phiền toái như trường
hợp của nhạc sĩ Phạm Duy.
Trân
trọng.
Tổng
giám đốc Công ty Văn hóa Phương Nam
Phan Thị Lệ

|