Liên hệ

 
 

 

 

 

VĂN HỌC & NGHỆ THUẬT

Lý luận - phê bình văn học và các “vấn nạn”

Sau khi đăng tải cuộc trò chuyện giữa nhà báo Phong Điệp và nhà văn Sương Nguyệt Minh với chủ đề Lý luận - phê bình văn học và sứ mạng “cái roi” quất cho cỗ “tứ mã văn học” lồng lên, Diễn đàn Văn học Trẻ đã nhận được nhiều ý kiến tham gia đóng góp và điều này cũng phù hợp với mục đích của chuyên mục là cùng mở ra vấn đề để cùng suy nghĩ, cùng trao đổi.Trong Diễn đàn Văn học Trẻ số này, Văn nghệ Trẻ xin tiếp tục giới thiệu cuộc trò chuyện giữa nhà báo Phong Điệp và nhà lý luận - phê bình văn học Nguyễn Hòa.

Phong Điệp: Tôi được biết anh có tham gia Hội nghị LLPBVHNT toàn quốc vừa được tổ chức tại Hà Nội, và cũng được nghe nhiều người nhắc đến bài phát biểu của anh, trong đó nổi lên là các “vấn nạn” của lý luận - phê bình. Xin anh hãy chia sẻ cùng độc giả?

Nguyễn Hòa: Vâng, tôi có tham dự Hội nghị và có đọc một bản tham luận làm “tốn kém” thời gian của cử tọa quãng 30 phút (!). Về đại thể, tôi cho rằng lý luận - phê bình văn học ở Việt Nam hiện nay đang đứng trước 4 “vấn nạn”, đó là: sự lạc hậu trong lý luận (như tình trạng “dậm chân tại chỗ” của lý luận văn học); sự thiếu trách nhiệm trí thức (như sự ra đời của một số công trình nghiên cứu “giả khoa học”, hay hiện tượng nhiều nhà lý luận - phê bình đã đứng ngoài hoặc lảng tránh các vấn đề văn học - văn chương cập nhật); vai trò của báo chí và xuất bản (nơi theo tôi còn thiếu vắng biên tập viên thật sự am hiểu về lý luận - phê bình); về tổ chức và quản lý (như tình trạng người bị phê bình không được tạo cơ hội một cách công bằng để trả lời, tranh luận không bao giờ có kết luận đúng - sai…). Mỗi “vấn nạn” đều được tôi chứng minh qua các sự kiện - con người cụ thể, xin không nhắc lại vì chúng quá nhiều và dễ làm những người có liên quan bị “xấu hổ”!

Phong Điệp: Tôi đã đọc trong một số tiểu luận lý luận - phê bình của anh, và ở đây cũng vậy, tôi thấy anh sử dụng cụm từ “văn học - văn chương”?

Nguyễn Hòa: Tôi viết như thế là có chủ ý, trong “vấn nạn” về sự lạc hậu của lý luận văn học theo tôi có một nội dung liên quan đến sự nhập nhằng về khái niệm. Lý luận - nghiên cứu - phê bình văn học là ba thành tố cơ bản cấu thành nên “văn học” - với tư cách là một bộ môn khoa học lấy văn chương (toàn bộ các sáng tác văn thơ từ cổ chí kim đến lịch sử văn chương, các nội dung có liên quan tới tác giả, kế đến là sự ra đời cùng sự phát triển hoặc hưng vong của thể loại, phương pháp…). Nghĩa là chúng ta đang đứng trước một thực tế mà nếu nhìn từ góc độ khoa học là không thoả đáng. Xem xét lịch sử khoa học từ khi ra đời đến nay, bạn sẽ thấy không có một chuyên ngành khoa học nào lại có sự đồng nhất giữa bản thân nó với đối tượng nghiên cứu. Thật là buồn cười, trong khi đạo đức học lấy đạo đức của xã hội - con người làm đối tượng nghiên cứu, mỹ học lấy đời sống thẩm mỹ của xã hội - con người làm đối tượng nghiên cứu… thì riêng với “văn học”, chúng ta lại sử dụng một khái niệm để định danh chung cho cả chuyên ngành khoa học lẫn đối tượng nghiên cứu của nó!

Phong Điệp: Như vậy, văn chương đã có từ rất lâu đời còn văn học, nếu tôi không lầm, thì chỉ mới xuất hiện từ thế kỉ 17 - 18. Nghĩa là đã có hàng chục thế kỷ, loài người không có văn học và cũng không sao. Lập luận như vậy theo anh liệu có bất ổn?

Nguyễn Hòa: Rất chính xác và không có gì là bất ổn. Như mọi khoa học khác, “văn học” chỉ ra đời khi nhận thức về văn chương của con người đã đạt tới một trình độ nhất định và yêu cầu chuyên môn hoá đòi hỏi khoa học về văn chương phải được khai sinh, phát triển thành một bộ môn độc lập và vì vậy ngay từ đầu, yếu tố “khoa học” đã trở thành một thuộc tính của lý luận - nghiên cứu - phê bình. Hàng chục thế kỷ, loài người không có văn học, các nhà văn nhà thơ vẫn tiếp tục đem tác phẩm văn chương đến cho cuộc đời và con người vẫn sống tốt. Nhưng văn học không phải là một sản phẩm “thừa”, vì nếu “thừa” thì nó sẽ không có cơ tồn tại. Chỉ với sự ra đời của văn học, loài người mới biết đến hệ thống khái niệm, phạm trù, mới biết đến các quy luật phát triển của văn chương, mới biết đến sự tổng kết, đánh giá về văn chương quá khứ và dự báo về văn chương tương lai, mới biết cách làm thế nào để tác động cho văn chương phát triển… Nghĩa là những vấn đề mà trước đó loài người chưa hề biết tới.

Phong Điệp: Sự “nhập nhằng” về khái niệm này theo anh có ảnh hưởng gì tới đời sống văn học - văn chương hay không?

Nguyễn Hòa: Có chứ. Nó làm xuất hiện thái độ coi thường lý luận, đẩy tới sự ngộ nhận giữa kinh nghiệm sáng tác với lý luận văn học. Trong các loại hình nghệ thuật, có lẽ chỉ có văn chương là loại hình dễ dàng tiếp nhận nhất. Bất kỳ người nào đã “thoát nạn mù chữ” là đã được cung cấp công cụ để đọc tác phẩm văn chương. Đọc xong thì ai cũng có thể nhận xét, và nhiều người (nhất là người trong giới sáng tác) ngỡ đó là phê bình. Chuyện không đơn giản vậy đâu. Chưa nói rằng sự nhập nhằng còn tạo ra “kẽ hở” để có người chỉ với một công trình nghiên cứu - phê bình nhưng lại kiếm được hai giải thưởng: một theo đường từ Hội Nhà văn (bởi đó là tác phẩm), một theo đường từ Viện khoa học xã hội - nhân văn (bởi đó là khoa học)! Và mới có chuyện năm ngoái một nhà văn đã viết hùng hồn như thế này: “Từ thời thượng cổ cho đến nay, hay nói cho có vẻ lý luận một chút thì từ thời cổ Hila cho đến những năm đầu của thế kỷ 21 này và có lẽ mãi mãi mai sau bất kỳ một nền văn học nào cũng gắn liền với một nền phê bình...”. Tôi không biết ông nhà văn kiếm ở đâu ra một nền phê bình từ “thời thượng cổ”, và nếu là người có hiểu biết thì không ai lại viết là “thời cổ Hila”!

Phong Điệp: “Phê bình văn học: Bộ môn nghiên cứu, chuyên phân tích các tác phẩm văn học nhằm mục đích đánh giá và hướng dẫn việc sáng tác” - Đấy là khái niệm về phê bình văn học được ghi trong Từ điển Tiếng Việt (năm 2001)...

Nguyễn Hòa: Muốn tìm hiểu đích xác nội hàm của một thuật ngữ thuộc về một khoa học nào đó, người ta cần tìm hiểu trong từ điển chuyên ngành chứ không nên bằng lòng với một thao tác là tra cứu Từ điển tiếng Việt, bởi Từ điển tiếng Việt chỉ cung cấp cách hiểu phổ thông. Theo Từ điển Văn học (xuất bản năm 2004) thì phê bình văn học là: “Tên gọi một bộ môn của khoa nghiên cứu văn học có chức năng phán đoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, kèm theo việc phán đoán, bình luận, giải thích, đánh giá những hiện tượng đời sống mà tác phẩm đề cập tới” (tr.1408). Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học (Lại Nguyên Ân biên soạn) cũng định nghĩa tương tự. Hiểu thật nghiêm túc, cái gọi là “hướng dẫn sáng tác” của phê bình văn học chỉ là một khả năng. Nếu người làm phê bình không nắm vững điều này sẽ quan trọng hoá vấn đề qua tham vọng “định hướng cho sáng tác”. Còn với nhà văn, nếu không hiểu phê bình văn học là gì và lại lầm tưởng về chức năng của phê bình thì dễ đặt ra các yêu cầu nằm ngoài khả năng của nó, mà khi yêu cầu không được đáp ứng thì dễ quay ra giễu cợt hoặc cho rằng nếu không có sáng tác thì không có phê bình.

Phong Điệp: “Phê bình không theo kịp sáng tác, xa rời sáng tác” - là người “trong cuộc” xin anh cho biết ý kiến của mình về nhận xét này?

Nguyễn Hòa: Nói phê bình văn học “xa rời sáng tác” thì cũng có phần đúng, nhưng nói “phê bình không theo kịp sáng tác” thì cần xem lại. Thứ nhất, đó là hệ quả của quan niệm coi phê bình như là “cái đuôi”, là “ăn theo” sáng tác; thứ hai, người nào nói như vậy là còn nắm bắt hời hợt về quan hệ giữa văn học (trong đó có phê bình) với văn chương. Trong liên hệ nội tại và bản chất, phê bình phải dựa vào lý luận. Như đã nói ở trên, văn chương có tuổi đời hàng nghìn năm, còn văn học mới chỉ có tuổi đời vài trăm năm, và về nguyên tắc, khi văn chương vận động phát triển thì lý luận văn học cần một độ lùi (dù rất ngắn) về thời gian để khảo sát, đánh giá, kết luận… qua đó cung cấp cho phê bình những công cụ lý thuyết ngõ hầu giải quyết cập nhật, thấu đáo các tác phẩm, các hiện tượng, các xu hướng văn chương… mới nảy sinh. Như vậy, đối với chúng ta hôm nay, vấn đề cần quan tâm là tình trạng lạc hậu của lý luận văn học so với thực tiễn văn chương, chứ không phải “phê bình không theo kịp sáng tác”. Thật kỳ quặc khi có nhà văn “cười mũi” người viết phê bình vì cho rằng người viết phê bình đã không đọc ra các “thông điệp” của anh ta. Tác phẩm đã được công bố, nó phải chịu sự đánh giá của dư luận (trong đó có ý kiến của người làm lý luận - phê bình), và nếu dư luận có tìm ra ra các ý nghĩa mà nhà văn không dự liệu được từ trước thì cũng là chuyện bình thường. Trừ các trường hợp “phản phê bình” như suy diễn, quy chụp…, khi nhà văn viết là A mà dư luận lại hiểu là B thì nguyên nhân thuộc về ai…?

Phong Điệp: Có ý kiến cho rằng mỗi nhà văn đồng thời là một nhà phê bình. Nhà văn thiên tài còn là nhà lý luận văn học thiên tài, anh nghĩ thế nào về ý kiến này?

Nguyễn Hòa: Dường như xu hướng “xã hội hóa phê bình” đã tạo ra tiền đề cho một số quan niệm kỳ khôi về lý luận - phê bình có điều kiện thi thố. Với năng lực thụ cảm tinh tế, một số người sáng tác có khả năng phát hiện từ tác phẩm một vài phẩm chất mà người nghiên cứu - phê bình không phát hiện được, nhưng hiện tượng này không nhiều. Dù “hoá thân” vào tác phẩm như thế nào thì muốn làm lý luận - phê bình người ta vẫn phải dựa trên nền tảng tư duy logich, lý tính, đôi khi đến lạnh lùng. Bằng tư duy hình tượng, người sáng tác rất khó có thể xây dựng hệ thống quy luật, phạm trù… có ý nghĩa lý luận. Đọc và tìm hiểu nhiều song tôi chưa thấy việc “nhà văn đồng thời là một nhà phê bình. Nhà văn thiên tài còn là nhà lý luận văn học thiên tài” tồn tại như một tất yếu. Người ta có thể dẫn ra M.Kundera, nhưng nếu đã đọc M.Kundera và tìm hiểu quan hệ giữa sáng tác của ông với lý thuyết của M.Bakhtin sẽ thấy M.Kundera là người ứng dụng khá thành công lý thuyết của M.Bakhtin trong sáng tác và việc ông viết về kinh nghiệm rút ra từ quá trình sáng tác là đáng tham khảo, tuy vậy, trước hết ông không phải là người làm lý luận. Trong lịch sử văn học, người như M.Kundera chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Do vậy, đừng vì tình trạng khủng hoảng của lý luận - phê bình mà coi thường nó, rồi đi đến chỗ cho rằng lý luận - phê bình là “cái nghề” ai cũng làm được!

Không có người làm lý luận - phê bình thì nhà văn không thể khái quát một cách có hệ thống về các nội dung có tính lý luận, dù sản phẩm văn chương của nhà văn chính là nơi cung cấp cho họ các tiền đề. Để làm lý luận - phê bình, trước hết người ta phải là người làm khoa học. Và sự thống nhất giữa nhà khoa học với nhà văn trong một con người chỉ là một khả năng có thể. Ngay như với chủ đề Lý luận phê bình và sứ mạng “cái roi” quất cho “cỗ tứ mã văn học” lồng lên của Văn nghệ Trẻ chẳng hạn. Tôi sẽ “cho qua” nếu đó là sản phẩm của một nhà văn, song dù nhan để có mấy từ được đặt trong ngoặc kép thì nó vẫn khó lòng đáp ứng các yêu cầu về tính chính xác khoa học. Vì có thể đặt ra các câu hỏi: căn cứ vào đâu để ví von lý luận - phê bình với “cái roi”, tại sao lại coi văn học (mà chính xác phải là văn chương) là “cỗ tứ mã”? Vả lại, người ta chỉ “quất roi” lên “con ngựa” chứ có ai lại “quất roi” lên “cỗ tứ mã” bao giờ!

Phong Điệp: Cứ tạm coi chủ đề ấy là sản phẩm của nhà văn đi và đương nhiên nó mang tính ước lệ, thì theo anh lý luận - phê bình hiện nay đã thực sự đảm trách được sứ mạng “cái roi” quất cho cỗ “tứ mã văn học” lồng lên” chưa?

Nguyễn Hòa: Vâng, nếu là ước lệ của nhà văn thì tôi sẵn sàng “cho qua”, nhưng vẫn xin bảo lưu rằng, tính chính xác của khoa học vẫn là yêu cầu hàng đầu. Tôi nghĩ, nếu làm lý luận - phê bình thật nghiêm túc, người ta sẽ chẳng nghĩ đến chuyện “quất” ai cả. Hay thì khen, dở thì chê, miễn là khen - chê đều phải luận chứng ra đầu ra đũa. Mặt khác, sự phát triển của văn chương, sự ra đời của các tác phẩm văn chương có chất lượng tư tưởng - nghệ thuật như thế nào phụ thuộc vào một tập hợp các yếu tố chứ không chỉ phụ thuộc vào lý luận - phê bình. Với một nhà văn “tài mỏng” thì có đến hàng nghìn nhà lý luận - phê bình xuất sắc cũng không “vực” anh ta dậy được. Tôi nhớ có lần nhà văn Đỗ Chu nói với tôi rằng: “Bất tài thì hay lu loa!”, xem ra trong nhiều trường hợp cũng đúng thật. Không viết được cái gì thật hay ho thì trước hết phải xem lại chính mình, sao lại quay sang trách cứ người khác.

Phong Điệp: Tức là nhà văn có thể viết rất hay nhưng không mấy ai và không dễ gì có thể “hệ thống hoá” được tác phẩm của chính mình, “hệ thống hoá” tôi nhắc đến ở đây với ý nghĩa là phân tích, đánh giá... ?

Nguyễn Hòa: Đúng thế. Nhà văn cứ việc viết, và không ai buộc anh ta phải phân tích, bình giá… tác phẩm của chính anh ta. Còn người làm lý luận - nghiên cứu - phê bình thì cố gắng “giải mã” sáng tác của anh ta trên mọi phương diện, với điều kiện phải thật sự khách quan, có công cụ lý thuyết khoa học, có khả năng cảm thụ tinh tế… Bạn đã thấy một nhà văn nào triển khai một công trình nghiên cứu, viết một bài phê bình, làm một luận án tiến sĩ… về tác phẩm của chính mình bao giờ chưa? Nói thì dễ, nhưng làm không dễ đâu. Cũng có một vài vị tiến sĩ vừa làm nghiên cứu - phê bình vừa viết văn hoặc làm thơ và tôi chưa thấy họ thành công trên cả hai phương diện. Cả hai đều làng nhàng!

Phong Điệp: Nói như vậy thì nhà văn và nhà lý luận - phê bình cứ đường ai nấy đi?

Nguyễn Hòa: Ồ không, hiểu như thế là siêu hình, là cực đoan đấy. Nếu được trang bị một cái nhìn nghiêm túc về quan hệ biện chứng giữa văn học và văn chương, người ta sẽ không siêu hình, không cực đoan. Văn chương cung cấp đối tượng nghiên cứu cho văn học, và từ những thành tựu chân chính của lý luận - nghiên cứu - phê bình, nhà văn có thể tham khảo, có thể tìm thấy các “gợi ý” cho sáng tác (tôi nói là “gợi ý” chứ không nói là “định hướng” đâu nhé). Thử hỏi, các tri thức văn học nằm trong vốn liếng tri thức của nhà văn có nguồn gốc từ đâu, nếu không phải là từ kết quả làm việc của lý luận - nghiên cứu - phê bình?

Phong Điệp: Anh có quan tâm tới những “cây búa vàng” hay những “nhà phang học” mà người ta đồn thổi...?

Nguyễn Hòa: Tôi có quan tâm. Ít nhất cũng là vì cách đây khá lâu, trong một lần tán gẫu, anh Nguyễn Duy đã tặng cho tôi cái danh hiệu “cây búa vàng”. Nghe cũng khoái! Nói vậy thôi, “búa vàng, búa bạc” hay “búa đồng, búa chì” thì cũng là công việc. Thử nói sai, nói hàm hồ, thử viết bừa, viết ẩu… mà xem, đồng nghiệp người ta cho “lĩnh đủ” ngay. Thiên hạ thiếu gì người tài. Mà nếu trong lý luận - phê bình có những “cây búa vàng”, những “nhà phang học” viết cái gì ra cái đó thì việc gì phải lo ngại.

PHONG ĐIỆP: Lại có ý kiến cho rằng, chỉ khi nào nền văn học Việt Nam có nhà lập thuyết thì lý luận - phê bình văn học Việt Nam mới ra hồn. Anh thấy thế nào?

Nguyễn Hòa: Nếu lý luận - phê bình văn học Việt Nam xuất hiện một nhà lập thuyết thì quá tốt, nhưng bảo rằng “chỉ khi nào nền văn học Việt Nam có nhà lập thuyết thì lý luận - phê bình văn học Việt Nam mới ra hồn” thì “hơi bị” bất thường. Tôi không rõ căn cứ vào đâu người ta lại khẳng định như vậy. Tôi coi đó là “nói lấy được”. Thử đưa ra một vài dẫn dụ từ các nền lý luận - phê bình văn học khác để chứng minh xem có đúng vậy không. Khó đấy! Không riêng Việt Nam, người có tư cách “lập thuyết” trong lý luận - phê bình văn học của nhân loại không có nhiều đâu, nhất là trong văn học thế giới hiện đại lúc này.

Phong Điệp: Nếu nói rằng “Sự thờ ơ, dửng dưng với phong cách, với các khuynh hướng văn học mới... là yếu kém của lý luận - phê bình Việt Nam” theo anh thì đã xác đáng hay chưa?

Nguyễn Hòa: Đây không phải là thờ ơ mà là vô trách nhiệm. Một khi đã mang danh là nhà lý luận - phê bình thì phải làm nghề. Thật phi lý khi có người mang cái danh đó mà quanh năm chỉ thấy đi “khảo cổ văn chương” hoặc viết “để học tốt môn văn” bán cho học sinh. Làm lý luận - phê bình mà không bám sát tình hình văn chương thì làm cái gì. Tôi buồn khi thấy có nhà lý luận - phê bình bảo rằng: “Còn Cánh đồng bất tận tôi cũng chưa có ý tìm… Chờ một vài năm sau đọc cũng chưa muộn”. Tôi còn buồn hơn khi thấy trước tình trạng “bát nháo” của lý luận - phê bình, một vị GS TS bộc bạch: “nhiều giáo sư có uy tín không muốn nói, vì cái đúng và cái sai không sáng rõ”. Cứ theo ông này thì nhiều giáo sư có uy tín chỉ lên tiếng khi đúng - sai đã rõ ràng, còn khi trong phê bình văn học người ta tranh luận, trao đổi (thậm chí cãi nhau!) thì các vị đứng ngoài cuộc, “tọa sơn quan hổ đấu” hay chờ khi “đục nước béo cò”? Còn về phong cách. Đây là vấn đề vừa ổn định vừa vận động phát triển, chỉ xuất hiện ở các nhà văn có tài năng và có khả năng tự đổi mới. Làm nên được một phong cách là việc rất khó. Không phải cứ viết văn, cứ có tác phẩm trình làng là có phong cách. Xét theo ý nghĩa đó thì liệu hiện tại có bao nhiêu nhà văn Việt Nam là người viết có phong cách? Đừng bảo người ta dửng dưng khi chính mình cũng chưa biết phong cách có hình thù thật sự ra sao!

Phong Điệp: Có một nhà văn nhận xét: “bao nhiêu vấn đề lý luận văn học - nghệ thuật mới, lạ, có giá trị lớn của nhân loại xuất hiện ở thế kỷ XX như: hiện thực huyền ảo; hiện thực mới; hiện sinh, hiện đại, hậu hiện đại… hoặc chủ nghĩa cấu trúc trong nghiên cứu văn học, khuynh hướng phân tâm học trong phê bình… chưa được nghiên cứu, chọn lọc giới thiệu đầy đủ một cách có hệ thống, khoa học, kịp thời vào Việt Nam”. Theo anh sự du nhập đó có phải là yêu cầu hiện thực?

Nguyễn Hòa: Giao lưu, tiếp nhận thành tựu từ văn học thế giới là một trong các yếu tố tác động tới sự phát triển của lý luận - phê bình. Quả thật là chúng ta chưa tiến hành giới thiệu có hệ thống các thành tựu lý luận - phê bình văn học thế giới, nhưng căn cứ vào cố gắng của các tác giả như Phạm Vĩnh Cư, Trương Đăng Dung, Trần Đình Sử, Nguyên Ngọc, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn, Đỗ Lai Thuý, Trịnh Bá Đĩnh… chúng ta cũng đã có một số tác phẩm đáng đọc. Tôi không biết nhà văn nói trên đã đọc các công trình như: Cấu trúc văn bản nghệ thuật, Tác phẩm văn học như là quá trình, Thi pháp của huyền thoại, Logic học về các thể loại văn học, Văn học là gì?, Sự đỏng đảnh của phương pháp, Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Vì một nền lý luận - phê bình văn học chất lượng cao… hay chưa, nếu chưa thì nên tìm đọc. Chúng cung cấp kha khá tri thức và chữ nghĩa đấy. Tuy nhiên muốn đọc và muốn hiểu xem ra cũng “mệt”, vì chúng đòi hỏi một nền tảng tri thức nhất định mới có thể tiếp nhận. Tỷ như với chủ nghĩa cấu trúc trong nghiên cứu văn học, hay phân tâm học trong phê bình chẳng hạn, muốn nhận biết thì chí ít cũng phải hiểu chủ nghĩa cấu trúc là gì, phân tâm học là gì… và điều này theo tôi là nằm ngoài khả năng của đa số nhà văn Việt Nam đương đại. Là người khá tự tin vào những tri thức đã thâu nạp được, song nếu bạn hỏi tôi về chủ nghĩa cấu trúc, về phân tâm học thì xin lỗi, chắc chắn tôi phải mang sách ra đọc lại thì may ra mới trả lời được. Còn nếu liệt kê những chủ nghĩa, trào lưu, phương pháp… của văn học thế giới như là “đồ trang sức cho trí tuệ” thì nên thôi đi là vừa. Chỉ liếc qua mấy cái bìa sách, đọc vài ba bài giới thiệu thì bất cứ ai cũng có thể làm được việc liệt kê này. Nhưng sự đời lại quan trọng ở sự “hiểu” chứ không phải ở sự “biết”!

Phong Điệp: Nói như vậy có vẻ như anh đang hết sức nỗ lực bảo vệ cho công tác lý luận - phê bình hiện nay ở Việt Nam?

Nguyễn Hòa: Bạn hiểu sai ý tôi rồi, vấn đề bạn đặt ra ở trên đâu có bàn về “công tác lý luận - phê bình hiện nay ở Việt Nam”, mà bàn về các “vấn đề lý luận văn học - nghệ thuật mới, lạ, có giá trị lớn của nhân loại xuất hiện ở thế kỷ XX… chưa được nghiên cứu, chọn lọc giới thiệu đầy đủ một cách có hệ thống, khoa học, kịp thời vào Việt Nam” cơ mà. Trong phạm vi ấy, tôi có thể nói thẳng ngay rằng dường như người ta “ăn theo, nói leo” chứ chưa theo dõi trên diện rộng, cụ thể hơn là chưa khảo sát, chưa đọc. Nỗ lực nghiên cứu và dịch thuật đầy tinh thần trách nhiệm của mấy chục con người, dù chưa được tổ chức, song vẫn rất cần ghi nhận. Bạn có thể giới thiệu với tôi một nhà văn nào ở Việt Nam đã đọc và hiểu cặn kẽ các cuốn sách tôi dẫn lại ở trên? Tôi tin là không có đâu.

Phong Điệp: Từ khả năng phát hiện, đề xuất, dự báo… của lý luận - phê bình, theo anh hiện nay lý luận - phê bình của chúng ta đã làm được ở mức độ như thế nào?

Nguyễn Hòa: Câu hỏi của bạn thật khó trả lời. Chức năng của lý luận - phê bình văn học là thế, nhưng thực hiện như thế nào còn phụ thuộc vào hệ thống công cụ đã và đang có, phụ thuộc vào những con người đang làm nghề, do đó không dễ đánh giá. Hôm qua, một anh bạn nói với tôi: hình như lý luận - phê bình của chúng ta đang ở trong tình trạng “hết tuyết”! Ý kiến này có thể khó chia sẻ, nhưng nếu nhìn vào thực trạng thì không phải không có lý. Dù có bị đánh giá là chủ quan và chưa triệt để, tôi vẫn xin mạo muội nói rằng hàng chục năm nay khả năng phát hiện, đề xuất, dự báo… của lý luận - phê bình văn học đang bị thui chột. Phải chăng ngoài các lý do như đã nói ở trên, còn một lý do khác là sự trì trệ có nguồn gốc từ thói quen “ăn xổi, ở thì”, bằng lòng với trước mắt, không tính đến những việc “dài hơi”?

Phong Điệp: Trở lại với bốn “vấn nạn” anh đề cập ở phần đầu câu chuyện, chắc là chúng ta khó có thể khắc phục trong một sớm một chiều và như thế, trước mắt hẳn là lý luận - phê bình vẫn còn chưa đáp ứng được mong mỏi của công chúng?

Nguyễn Hoà: Nhìn một cách bi quan và trong sự lười nhác nghề nghiệp, giả thuyết ấy là có thể. Nhưng cũng may, vài năm trở lại đây tình trạng “khủng hoảng” của lý luận - phê bình đang trở thành nỗi trăn trở của nhiều người, nhiều báo chí đã đề cập một cách trực tiếp và về mặt tổ chức, một số hội thảo, hội nghị do Hội Nhà văn, Viện Văn học… đã được tiến hành để mọi người cùng bàn thảo tìm cách tháo gỡ. Các động thái ấy mang lại một niềm tin vì đây chính là thể hiện của ý thức trách nhiệm. Gắn bó và yêu nghề, tôi hy vọng cùng mọi người, và mong muốn các động thái trên sẽ không mang tính hình thức mà sẽ được triển khai qua kế hoạch thiết thực và cụ thể. Tất nhiên, để đổi mới lý luận - phê bình, để từ bỏ một số thói quen gần như đã “thâm căn cố đế”… phải có thời gian, nên cũng cần biết chờ đợi. Tôi tin chúng ta sẽ làm được nếu quyết tâm, dám vượt qua chính mình. Hẳn là bạn cũng nghĩ như thế?

Phong Điệp: Vâng, tôi hoàn toàn chia sẻ với anh về điểm này. Xin cảm ơn anh!

(Báo Văn nghệ Trẻ, số 23, ra ngày 26.3.2006)

Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền từ trần, hưởng thọ 70 tuổi

Ảnh chụp trong ngày hôn lễ Thanh Nam & Túy Hồng trích từ web luanhoan)
Nghe bản tin lúc 6:30 sáng 23-3
Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, tác giả của các vần thơ tình nổi tiếng ở miền Nam từ 50 năm qua vừa từ trần tại tiểu bang Minnesota, Hoa Kỳ, hưởng thọ 70 tuổi.
Thông báo cho chúng tôi tin này, nhà thơ Viên Linh hiện đang sống ở California, cho biết, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền qua đời vào lúc 11:15 sáng ngày 22-3-2006 tại bệnh viện Regions Hospital, thành phố Sain Paul, vì bệnh ung thư phổi.

Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh ngày 15-3-1936 tại thành phố Vinh. Sáng tác từ rất sớm, năm 1954, ông là người chủ trương Nguyệt San Lửa Việt.

Từ năm 1956 đến 1960, ông là một trong những cây bút chính của nhóm Sáng Tạo, cùng với Mai Thảo, Nguyên Sa, Vũ Khắc Khoan, Tô Thùy Yên, Doãn Quốc Sỹ, Quách Thoại, Lý Hoàng Phong, Lữ Hồ, Trần Thanh Hiệp, Thanh Nam... và các họa sĩ Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Tạ Tỵ, Duy Thanh.

Các tác phẩm tiêu biểu của Thanh Tâm Tuyền gồm có “Tôi không còn cô độc” (1956), “Liên, đêm mặt trời tìm thấy” (1964), “Thơ ở đâu xa” (1990), và các tuyển tập “Bếp lửa” (1957), “Khuôn mặt” (1964), “Tiếng động” (1970).

Thơ Thanh Tâm Tuyền đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc thành các ca khúc nổi tiếng một thời như các bản “Nửa Hồn Thương Đau”, “Dạ Tâm Khúc”, v.v…

Sau biến cố 30-4-1975, Thanh Tâm Tuyền đã phải trải qua 7 năm tù cải tạo. Đến năm 1982, ông được trả tự do và sau đó sang định cư tại tiểu bang Minnesota, Hoa Kỳ cho đến ngày qua đời.

Dương Thu Hương và Chốn vắng

Ký tên vào sách cho khách viếng Liên hoan sách Paris 2006
Nhà văn Dương Thu Hương đang ở Paris để cùng với nhà xuất bản Sabine Wespieser ra mắt cuốn sách mới của bà nhan đề là Terre Des Oublis, bản tiếng Pháp dịch từ tác phẩm Chốn vắng.
Cuốn sách được giới thiệu tại Liên hoan sách lần thứ 26 tại Paris, qui tụ sách của trên dưới 2.000 tác giả đến từ nhiều nơi trên thế giới.

Trong khung cảnh nhộn nhịp của một quán cafe ở thủ đô nước Pháp, nhà văn Dương Thu Hương (DTH) đã trò chuyện với Christine Nguyễn (CN), cộng tác viên của đài BBC tại Pháp.

CN: Bà nói rằng những nhân vật trong truyện có thực ngoài đời, đó là những người đàn bà Việt Nam trong chiến tranh và họ đã thôi thúc bà viết cuốn Chốn vắng?

DTH: Vâng, hoàn toàn tất cả những tiểu thuyết của tôi đều dựa trên những câu chuyện thật và Chốn vắng cũng như vậy, tức là những nhân vật này tôi đã gặp họ và câu chuyện của họ xảy ra ở tại Quảng Bình. Tất nhiên là khi tôi viết thì tôi có gia cố vào đó tất cả những suy tưởng của tôi, những giấc mộng của tôi và những ý tưởng và những quan niệm sống của tôi. Và đương nhiên là tôi phải nói một cách rành rọt: phần kết chính là phần mà tôi sáng tạo. Cái đoạn kết người ta gọi là có hậu đó chính là giấc mơ của tôi cho số phận những người đàn bà như Miên. Còn trong cuộc sống thì có lẽ mọi người đều biết rằng sau cuộc chiến tranh này hàng vạn người đàn bà chết già bởi vì không có ai lấy họ nữa và họ bị dồn vào những nông trường xa xôi, những nông trường trồng cam ở Hòa Bình và các tỉnh miền núi khác, trồng cam, trồng lạc, trồng sắn và những nông trường toàn đàn bà đến nỗi ở một cái chân trời không bao giờ hiện lên một người đàn ông nào cả. Và nếu có một vài thi thoảng hiện lên một người đàn ông thì đối với họ đấy là những cái hạnh phúc rất là hiếm hoi, mặc dù nó chỉ là một cái thứ hạnh phúc vay mượn và chụp giật.

CN: Với ba nhân vật: cô Miên, anh Bôn và anh Hoan thì ba nhân vật này tạo thành một cái bi kịch trong xã hội sau thời chiến. Ý đồ sáng tác của bà khi viết tác phẩm Chốn vắng này là gì?

DTH: Thật ra tôi là người viết văn không có ý đồ. Khi nào tôi định viết, khi nào có thời gian và khi nào có đủ điều kiện để có thể ngồi viết được thì những câu chuyện mà nó còn tích trữ trong óc tôi thì nó tự nó mở đường chui ra và tôi viết là dưới sức ép của nó như người ta nói là viết như một sự ám ảnh và tôi hoàn toàn không có ý đồ gì cả. Khi tôi đã bắt đầu viết thì câu chuyện đó nó sống dậy và những nhân vật đấy nó kéo tôi theo chứ tôi không kéo họ theo.

CN: Như vậy thì phải chăng sự ám ảnh đó chính là những thân phận của những người lính cũng như là của những người phụ nữ sau chiến tranh thống nhất đất nước, thưa bà?

DTH: Vâng, chính là những lịch sử, những con người cụ thể họ luôn luôn ám ảnh tôi và tôi như một thứ tù nhân của họ vậy. Đấy là cái nhà tù lớn nhất mà tôi phải chịu đựng.

CN: Cô Miên là một trong 3 nhân vật chính, vì phải đối đầu với những sức ép truyền thống, sức ép xã hội mà phải quay về với người chồng cũ sau bao nhiêu năm thất lạc. Phải chăng sự phát triển của nhân vật này nó có một cái gì đó không được bình thường, hay là nói khác đi là nó không có đại diện cho đa số những cái trường hợp đại loại như thế có thật xảy ra ở Việt Nam, thưa bà?

DTH: Nó rất bình thường với thế hệ của chúng tôi và nó xa lạ với thế hệ của các chị. Vì bây giờ các chị trẻ tuổi và các chị đã tự cho mình quyền được sống cuộc đời của các chị. Các chị không chịu sức ép của truyền thống và sự hy sinh một cách vô tận như chúng tôi. Cho nên tôi đã nói lại là cái thích của người này có thể là cái không thích của người khác. Cái của đối với người này là tất nhiên thì đối với người khác là hoàn toàn ngược với lý chí và có thể là không tất nhiên.

CN: Cũng là một người phụ nữ đã từng tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam thì bà nghĩ gì về thân phận những người phụ nữ sau cuộc chiến hiện nay?

DTH: Tôi nghĩ rằng những thế hệ sau chiến tranh đã tiêu mòn và đã già rồi như tôi rồi và tất cả những thế hệ ấy là những cuộc đời bị đánh mất trong hoàn toàn câm lặng và quên lãng. Tôi hy vọng là các chị và những người trẻ hơn các chị sẽ không bao giờ nếm trải lại những cái địa ngục mà chúng tôi đã trải qua.

CN: Phải chăng ngoài những điều bà vừa tâm sự ra, đâu đó cũng chính là cuộc đời thật của bà được dàn trải trong quyển sách này?

DTH: Cuộc đời thật của tôi thì nó có giống cô Miên, tức là tôi luôn luôn phải hy sinh thân tôi vì người khác, và cuộc đời của tôi là một cuộc đời tù đày vì người khác. Tù đày đây không phải nghĩa là trong nhà giam của cộng sản, mà còn tù đày trong một cái nhà giam lớn hơn, vì đối với tôi thì con người ta luôn luôn phải gánh vác trách nhiệm. Và cái trách nhiệm đối với tôi thì nó cao cả hơn là cái hạnh phúc của chính bản thân mình. Cho nên khi tôi viết cô Miên thì tôi cảm thất rất là dễ dàng bởi vì tôi hiểu được cái tâm trạng của người đàn bà đó. Bản thân cuộc đời tôi cũng là một mảnh của cuộc đời người ta.

Ám ảnh có thật

Cách đây mấy năm, tôi về huyện T., đi viết về nông nghiệp nên phải mất mấy ngày.

Huyện T. ngày đó có phong trào nuôi vịt và làm vụ đông rất thắng lợi. Tôi đi tìm hiểu tình hình, về xã rồi về xóm. Có đêm tôi không về xã mà nghỉ lại xóm. Xóm ấy là một xóm lẻ. Trông bề ngoài như một xóm trại, cũng giống như một làng mà dân mới di cư đến. Nhà cửa đa số vách tre mái rạ, vườn tược rào dậu sơ sài.

Một đêm, tôi ngủ với ông lão chăn vịt. Mùa hè rất nóng, hai người hai cái chõng tre nằm ngoài sân. Trời rất trong và bóng đêm mỏng tang. Ri rỉ tiếng dế, đôi lúc tiếng vạc đi ăn đêm buông rời rạc từng tiếng, nghe rất não nùng. Lạ nhà và nằm ngoài trời không quen, tôi mãi không sao ngủ được. Còn bác chủ nhà, chỉ một phút sau ngả lưng đã ngáy như sấm. Tôi nằm chong mắt đếm các vì sao trên trời miên man nghĩ về sự vô cùng vô tận của trời đất. Mệt mỏi và buồn. Rồi tôi cũng chợp mắt được một lúc. Chỉ một lúc thôi rồi tôi quáng quàng vùng dậy, mồ hôi vã ra đầm xương sống. Tôi vừa trải qua một giấc mơ quái dị, tôi mơ thấy ma. Một cô gái từ dưới ao sâu đội lên, đầu tóc quần áo ướt đẫm rũ rượi. Cô ta vừa đi vừa hát quanh cái chõng tôi nằm. Tiếng hát như tiếng dế rên rỉ, đứt quãng và nức nở. Cô gái có khuôn mặt trái xoan, da rỗ hoa nhưng rất trắng, trắng như sáp. Đôi mắt cô xanh biếc, cái mầu xanh lạnh như màu xanh con đom đóm. Mà hai con mắt của cô lại không có lòng đen, nó chỉ tròn như đồng xu và ánh sáng xanh phát ra từ hai đồng xu đó. Vũ điệu của cô là vũ điệu chập chờn của loài bướm, lúc gần lúc xa, lúc cao lúc thấp. Rồi cô ta đi thụt lùi ra đồng, tôi không nghe tiếng chân, dường như không có sự nhún nhẩy của bước đi. Cái áo trắng chỉ còn một chấm nhoà lẫn với mái tóc xoã dài. Cô đi mất, tôi tưởng thế, hoá không phải. Cả người cô biến thành ngọn lửa xanh tiến lại phía tôi …

Bốn bề tĩnh mịch và kinh sợ như bãi tha ma, tôi ớn lạnh sởn da gà. Mơ hay ma ?. Ông lão chăn vịt đã thức giấc, hình như tôi lục đục làm ông không ngủ được .

- Chú chưa ngủ à ? Sao chú không ngủ ?. Ông lão hỏi.
- Tôi lạ nhà, vả lại, tôi uống nước chè quá đặc. Bác cứ ngủ đi.
- Tôi thế là không ngủ lại được nữa đâu. Một giấc thôi. Cứ ba giờ sáng là tôi dậy, cố ngủ cũng không được nữa. Già hay dậy sớm mà.
- Bác ơi … Tôi lưỡng lự một giây, không biết có nên hỏi chuyện ma quỷ này không.
- Chú cần gì đấy ?. Ông lão tưởng tôi cần gì nên sốt sắng hỏi.

Tôi đành kể lại giấc mơ cho ông lão nghe. Ông có vẻ ngạc nhiên rồi bảo tôi :

- Chú yếu bóng vía đấy, chứ tôi ở đây chẳng ma quỷ nào nó đến chọc ghẹo cả. Nhưng cách đây ba năm, ở làng này có một cô gái như thế. Chính tay tôi vớt cô ấy lên.

- Nhưng ở đây có cái ao nào đâu – tôi hỏi.

- Có đấy, ngay cạnh chỗ anh nằm, nhưng đã lấp đi rồi.

Sau cái chuyện ấy xảy ra thì lấp đi. Cô ấy tên là Thơm, gần ba mươi tuổi, chồng đi bộ đội hy sinh đã lâu. Cô ấy được cả người lẫn nết, xinh xắn, siêng việc, lại hát hay. Từng đi hát nhiều nơi, cũng được thưởng cả huy chương. Các ông trên xã có chuyện gì với nhau tôi không biết. Tôi suốt ngày ở ngoài đồng với đàn vịt, không mấy để ý. Nhưng có chuyện, trên xã bao giờ chả có chuyện. Cái ông chủ tịch xã là một họ, còn ông bộ đội mới về lại họ khác. Ông bộ đội mới về này có tình ý với cô Thơm, trai gái văn nghệ với nhau như lửa gần rơm.

Thế rồi một hôm, cả trung đội dân quân được báo động, ông chủ tịch xã chia quân mấy mũi ra đồng đánh giặc. Tưởng là giặc thật, hoá ra đưa về chỉ mỗi cô Thơm. Đôi trai gái có lẽ biết đề phòng, đưa nhau ra giữa đồng không mông quạnh cho dễ canh chừng, trải rạ ra bờ cỏ ngồi tâm sự với nhau. Khi ông chủ tịch sua quân ra thì hai người phát hiện được từ xa. Anh con trai chạy thoát. Chỉ bắt được cô Thơm, cô ngồi nguyên, không chạy. Ông chủ tịch phát điên lên, vì bỏ công bố trí, theo dõi rồi tập kích bài bản như thế mà không bắt được kẻ thù, không bắt được trai trên gái dưới, để ròng chúng tồng ngồng như thế về xã thì uổng quá ! Cô Thơm nhất định không khai gì hết. Mà ông chủ tịch, ông công an đã hỏi như hỏi cung.

Câu chuyện hơi tục một tý. Tra : "cô ngủ với nó rồi phải không ? nói thật đi ! Nhất định ngủ với nhau rồi, khai ra ! Không ngủ với nhau tại sao phải đưa nhau ra giữa đồng ?…". Cứ thế. Nhưng cô Thơm chỉ một mực không là không. Cô nói : "cô buồn nên ra ngồi một mình, các ông đừng gắp lửa bỏ tay người. Các ông bảo người ta hủ hoá thì hủ hoá với ai, người đó đâu, chỉ ra.". Phụ nữ mà như thế thì cũng đã cứng cỏi lắm. Chủ tịch, công an xã với cả trung đội dân quân xem ra đuối lý. Ông chủ tịch như bị chọc tiết, mắt long lên, đập bàn đánh rầm một cái:

- Con đĩ, mày già mồm. Xem mày có chịu ký vào biên bản không nhé. Các đồng chí dân quân ! hãy khám nó. Có tinh dịch đàn ông trong ấy là nó trắng mắt ra.

- Sáng hôm sau - ông lão chăn vịt nói tiếp - tôi đưa vịt ra đồng sớm, nhìn thấy cái bóng trăng trắng mờ mờ dưới đáy ao. Một xác người ! Tôi dựng cả tóc gáy lên. Có lẽ cô chết vì không thể chịu đựng được trên đời này lại có sự nhục mạ con người đến như vậy. Đúng là hôm ấy cô Thơm mặc cái áo sơ mi trắng và tóc buông xõa sau lưng.

Hơn một năm sau tôi lại có việc về huyện T. Nhân tiện có xe, tôi lại về nhà ông lão chăn vịt để thăm ông. Năm nay ông nuôi gần ba trăm con vịt, lại xây cả lò ấp trứng nữa. Ông giữ tôi lại một ngày và suốt ngày đó tôi và ông chỉ uống rượu với trứng vịt lộn.

- Này, - ông lão nói với tôi lúc chia tay - cái ông chủ tịch xã thế mà bị mù rồi đấy.

Phải một lúc tôi mới nhớ ra và ngạc nhiên hỏi :

- Mù làm sao ?
- Tự nhiên hai con mắt nổ tung con ngươi ra ngoài. Đi khắp nơi không chữa được.

Dọc đường về huyện tôi cứ nghĩ mung lung. Tôi sinh ra ở làng quê, người dân quê tôi hay nói: ở hiền gặp lành, ác giả ác báo. Đó là công lý dân gian chứ không phải là giáo pháp của một tôn giáo nào.

Tôi cũng nghĩ như thế. Tôi cũng tin như thế. Nhưng câu chuyện tôi vừa nghe kể không ngờ lại nhanh như vậy ./. (Trần Huy Quang)

Những người thích đùa

Azit Nesin là nhà văn trào phúng Thổ Nhĩ Kỳ nổi tiếng thế kỷ 20, trong câu chuyện "những người thích đùa" [1], ông mô tả về việc một anh chàng đột nhiên thấy mắt mình mờ hẳn. Nghi ngờ tính chính xác của đôi kính của mình, anh đi khám mọi nơi, mỗi nơi một kiểu với những chuyện hết sức bi hài, nhưng kết quả vẫn không như mong muốn....

Trong tuần qua, đất nước chúng ta cũng đang phải chứng kiến những kẻ đùa dai ...

Đầu tiên phải kể đến vụ đùa dai (có thật 100%) tại PMU18 [2]. PMU18 là cái gì? đó là một trong nhiều "vườn trẻ trung ương", nơi các cậu ấm, cô chiêu "đỏ" đang tung tăng học cách "mồm xưng đầy tớ, tay vớ tiền dân"! Những vụ việc mới phanh phui theo kiểu phim Porno (nửa kín, nửa hở) tại PMU trong cả tháng qua, khiến người dân không thể không "sôi gan, bầm tiết". Trong khi người dân đang phải sống trong khó hăn do vật giá leo thang, và phải oằn lưng đóng thuế để giả nợ quốc tế, mà rất nhiều trong số đó vay về để giải ngân dự án cho PMU18, thì những kẻ thích đùa tại PMU18, lại ăn chơi phè phỡn, vung tiền mua sắm hàng trăm ô tô xịn (cỡ khoảng vài chục, đến vài trăm ngàn con trâu), đánh bạc, cá độ, bao gái đến cả triệu USD mỗi tháng. Nổi bật trong đó là cặp thầy -trò Nguyễn Việt Tiến (thứ trưởng), Bùi Tiến Dũng (tổng giám đốc PMU), mà báo chí đã và đang "ca ngợi" rôm rả về cái sự giầu của hai ông này. Trong tình hình "nước sôi, lửa bỏng" như vậy mà họ vẫn còn sức để đùa, với việc ông Nguyễn Việt Tiến chủ trì hội nghị bộ giao thông vận tải về "Tiết kiệm chống lãng phí"! Than ôi, "tấn trò đời" sao lắm kẻ thích đùa dai! Nhưng tại sao các quý ông này lại dám đùa dai trước nhân dân đến vậy? Bởi họ có tiền, tiền dự án, nhiều đến độ mà hút một điếu thuốc sẵn sàng trả 10000 USD! Tại sao họ lại có nhiều dự án? Vì họ gần như độc quyền dự án! [3]

Nguyễn Việt Tiến và PMU18 không diễn trò một mình, những kẻ đùa dai khác trong tuần qua còn có "ông độc quyền" Điện lực. Những tưởng khi phát tín hiệu trưng cầu dân ý về việc tăng giá điện, "ông" đã đi tiên phong trong việc thực hiện một hành động tôn trọng "ông chủ" -những "thượng đế" của mình. Ấy vậy mà hoá ra "ông ta" lại đùa [4] khi tuyên bố, "ý kiến của nhân dân chỉ để tham khảo"! (sau khi thấy nhân dân không đồng ý với việc tăng giá điện (vì chưa tăng thì cũng đã thuộc vào loại cao nhất nhì thế giới rồi!)). Ôi sao mà đùa dai đến thế. Hay nhất là phát biểu của ông Tham, vụ trưởng vụ tài chính bộ CN :"Nhân dân phải lựa chọn giữa tăng giá và cắt điện"! Sao lại chỉ có hai lựa chọn thưa ông Tham ? hay là ông lại thích đùa!!! Ai cũng hiểu, sở dĩ ngành điện thường xuyên có kiểu "đùa khủng bố" (vâng đùa khủng bố!) này là vì xét cho cùng họ còn có thể "cùn" hơn:" Anh không dùng điện của tôi thì dùng của ai ???". Lại một kiểu độc quyền sinh đùa dai.

Cũng trong tuần qua, luật trưng cầu dân ý [5], được soạn thảo để đưa ra quốc hội. Đây có thể nói là một bước tiến quan trọng, đáng khích lệ từ phía Đảng CS. Người dân Việt Nam lần đầu tiên sau khi thoát khỏi ách nô lệ của Đế quốc 50 năm trước, được phát biểu lên ý kiến của mình một cách công khai. Ấy vậy nhưng luật vẫn được "thòng" cẩn thận mấy điều cấm, trong đó đáng kể là cấm trưng cầu dân ý về thể chế chính trị! Điều này cho thấy, xu thế cởi mở và đóng kín, cấp tiến và bảo thủ vẫn còn đang đan xen trong lòng ĐCS mà chưa bao giờ lại được thể hiện rõ như trong thời kỳ "hậu toàn trị" này. Nếu điều luật được thông qua kèm theo điều cấm trên, thì liệu có kẻ nào tiếp tục đùa dai mà xảo ngữ rằng: "Chế độ của dân, do dân vì dân", "Con đường mà Đảng, Bác và Nhân dân đã lựa chọn"? Rất có thể, vì điều 4 trong hiến pháp đã quy định một kiểu độc quyền, và như đã thấy ở trên, độc quyền thường hay sinh ra những người thích đùa (dai) ! Nhân dân ta là những người rất vui tính, thích đùa, nhưng liệu cứ một trò độc quyền mà đùa mãi thì chẳng phải là sẽ nhạt hay sao ?

Kết thúc câu chuyện "những kẻ thích đùa" của Azit Nesin, anh chàng khốn khổ nọ cuối cùng đã tìm được cái kính cho riêng mình đó là cái kính sau khi mắt kính đã bị vỡ !!!!

Để chấm dứt cảnh nhân dân bị "những kẻ đùa dai" coi thường, những độc quyền (kể cả độc quyền đùa dai) cần bị phá vỡ. Xét cho cùng giống như anh chàng khốn khổ trong câu chuyện kia, nhân dân Việt Nam đâu cần những cái độc quyền đó làm mắt kính cho mình ???? Mọt Sách Già

Bộ Văn hóa - Thông tin CSVN yêu cầu Trả lại cảnh quan cho di tích núi Nàng Tô Thị

Bộ Văn hóa - Thông tin CSVN đã có công văn gửi Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lạng Sơn đề nghị đình chỉ để xử lý các vi phạm tại di tích núi Nàng Tô Thị, Lạng Sơn.Công văn nêu rõ: Mật độ xây dựng các công trình rất lớn, phá vỡ cảnh quan di tích và không phù hợp với tính chất di tích. Việc Ủy ban Nhân dân tỉnh Lạng Sơn cấp giấy phép cho Công ty Hoàng Việt Anh triển khai các hoạt động xây dựng trong di tích mà chưa có ý kiến thỏa thuận của Bộ Văn hóa - Thông tin là vi phạm Luật Di sản văn hóa.

Để bảo vệ di tích này Bộ Văn hóa - Thông tin đề nghị Công ty Hoàng Việt Anh dừng ngay mọi hoạt động trong khu di tích núi Nàng Tô Thị, hoàn chỉnh các hồ sơ thủ tục. Những công trình nào đã xây dựng mà không phù hợp với tính chất di tích phải được dỡ bỏ, trả lại cảnh quan cho di tích.

Chỉ vì " một miếng đỉnh chung" phù phiếm , nhạc sĩ Phạm Duy lại bị bọn văn nô CS làm nhục

LTS HNPĐ: Mặc dù đã nhiều lần bầy tỏ sự bất mãn về con người và việc làm của Nhạc sĩ Phạm Duy ( Xin đọc lại Thư ngỏ gửi nhạc sĩ Phạm Duy.) nhưng khi đọc 2 bài viết: Một của " ông nhà văn Chu Lai" và một của " ông nhạc sĩ Nguyễn Lưu", chúng tôi bỗng thấy ngậm ngùi cho Nhạc sĩ họ Phạm. . .Đã đến tuổi gần đất xa trời, chỉ vì " một giải phù vân" khiến cho những tên Cộng sản vô học với đầu óc đặc những mớ suy tư đần độn và cố chấp, làm nhục.
Chúng tôi cũng rất tiếc việc báo Đầu Tư mà đối tượng là những Việt kiều lại cho đăng những tài liệu rác rưởi như thế ( Nguyễn Trọng Hoàn HNPĐ)

Bài trên Báo Đầu tư : Không thể tung hô

Có thể nói, một trong những niềm tự hào, tự tôn của dân tộc Việt Nam là triết lý "đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại". Tuy nhiên, "không đánh kẻ chạy lại" cần được hiểu thêm rằng, kẻ chạy lại là ai, và "không đánh" có nhất thiết đồng nghĩa với việc xem người ấy là thần tượng, là nhân vật tiêu biểu để đón rước trọng thể...? Tôi muốn nói đến trường hợp của nhạc sĩ Phạm Duy, người mới được xưng tụng sau đêm nhạc "Ngày trở về" (diễn ra tại Nhà hát Hòa Bình, TP.HCM). Một người bạn, nhà văn Chu Lai đã tỏ ra tâm đắc với ý tưởng này và cho biết, Tạp chí Thế giới mới số mới nhất có đăng một bài viết, với nội dung gói gọn: "Một người từng bỏ kháng chiến theo thực dân Pháp, khi Pháp rút lại theo Ngô Đình Diệm và khi ngụy quyền sụp đổ lại chạy qua Mỹ. Và tại đó, đã viết hàng loạt bài kêu gọi chống Cộng, với giọng điệu “sặc mùi” hiếu chiến. Nay, thấy Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, lại xin trở về! Hà cớ gì phải tung hô, xưng tụng đến như thế!".

Đất nước đang đổi mới, chúng ta chấp nhận việc khép lại quá khứ để xây dựng tương lai, nhưng điều ấy không đồng nghĩa với việc bỏ quên tất cả, từ những hy sinh gian khổ đến những bài học máu xương... Chúng ta cũng không quên tổ tiên ta luôn tỏ rõ nghĩa khí, quyết không sợ xâm lăng và cũng không trù dập kẻ thất trận. Tù binh giặc còn được cấp lương, thuyền để chúng "ra đến bể chưa thôi trống ngực" hay "về đến nhà còn đổ mồ hôi" (Cáo bình Ngô). Nhưng cái khái niệm ân nghĩa bốn bể ấy cũng có những nguyên tắc và với trường hợp của Phạm Duy, chúng ta lại càng cần phải hiểu cho rõ ngọn nguồn.

Nửa thế kỷ trước, khi còn là một "chú nhóc" tại trường Thiếu sinh quân chuẩn bị qua Trung Quốc học tập, ở Việt Bắc, tôi đã cùng bè bạn trong đơn vị hát những ca khúc rất hay của Phạm Duy, khi ấy đang là một trong những cán bộ văn hóa của chính quyền cách mạng. Tôi đã thuộc lòng câu hát "Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời..." và sau này, lớn lên một chút mới hiểu ra rằng, cái tứ ấy, có gì giống với luận điểm của Nguyễn Văn Vĩnh (truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, mà tiếng ta còn thì nước ta còn - cách nói ấy là để biện minh cho việc ôm chân giặc xâm lược của Nguyễn Văn Vĩnh và bè lũ bán nước). Phạm Duy có những tác phẩm làm say đắm lòng người, như Thiên Thai, Trương Chi, Nhạc tuổi xanh, Quê nhà em... Rồi sau đó là các bài như Thuyền viễn xứ, Bà mẹ Gio Linh, Cây đàn bỏ quên, Nghìn trùng xa cách... Khai thác chất liệu dân ca đồng bằng Bắc Bộ, khó có ai qua mặt Phạm Duy. Bài Ru con, Phạm Duy viết ở Việt Bắc có câu "Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời giặc Pháp có thương dân mình", chuyển từ điệu "thứ" qua "trưởng" thật đắt, còn nhịp ba trong Quê nhà em lại rất hay, dí dỏm và tố cáo giặc đốt nhà, phá đường...

Nhưng, ngay trong thời kỳ ấy, chất lãng mạn tiểu tư sản, sợ khổ, sợ chết đã bộc lộ qua sáng tác của Phạm Duy. Khi ấy, dù còn bé, song tôi đã biết bài Bà mẹ Gio Linh bị cấm, bởi có những câu mà khi hát lên, liệu còn ai, còn bà mẹ nào dám để con đi bộ đội. Và chất đa tình cố hữu, ta thường thấy ở giới nghệ sĩ, ở Phạm Duy được xem là nhược điểm. Và cái phải đến đã đến, Phạm Duy "dinh tê", bỏ kháng chiến vào thành, lập ra ban nhạc "Đêm màu hồng" với Thái Thanh, Thái Hằng, có cả Phạm Đình Chương, Duy Quang... Và từ đó trở thành tên tuổi hàng đầu trong đám văn nghệ sĩ chống Cộng.

"Đỉnh cao" sự nghiệp chống Cộng của Phạm Duy là bài Mùa thu chết. Ở đó, tác giả đã công khai tư tưởng chống Cộng của mình. Ông ta đã từ bỏ tình yêu với Tổ quốc bằng một bút pháp thật sâu cay, đểu giả và ít ai quên cái mùa thu trong ca khúc ấy chính là Cách mạng mùa thu, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Khi đất nước bị chia cắt, Phạm Duy đã vào Nam theo chính quyền Ngô Đình Diệm, lần lượt đi sâu vào con đường chống Cộng và lên đến chức Bộ trưởng Văn hóa. Nhưng, sự nghiệp âm nhạc của ông ta vẫn càng lún vào "vũng bùn" phản quốc. Bài Ru con đã thay câu cuối cùng bằng “Mấy đời Cộng sản biết thương dân mình”. Nhạc tuổi xanh đã bị biến chất để đi ngược lại điều đã ấp ủ của cả một thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam đang lên đường đổi cả sinh mạng lấy tự do, độc lập. Và để khẳng định mình, Phạm Duy liên tiếp cho ra đời những tác phẩm vừa chống Cộng, vừa bệnh hoạn.

Ngày miền Nam mới giải phóng, tôi có gặp TS Nguyễn Văn Trung, nguyên giảng viên Đại học Sài Gòn. Trước khi di tản đi Mỹ, ông Trung bất đắc chí đã kể cho tôi nghe nhiều chuyện, trong đó có lời miệt thị một nhạc sĩ có tài là Phạm Duy mà lại đi viết cả những bài hát để ủng hộ sự loạn luân!? Chính TS Trung đã qua Mỹ dạy học, còn nhạc sĩ Phạm Duy di tản sang Mỹ để trốn chạy trước sự trở về của những người đã từng chung một chiến hào với ông ta. Tại Mỹ, Phạm Duy làm nhiều người (trong đó có tôi) sôi sục căm thù, khi viết bài kêu gọi các nam thanh, nữ tú đất Việt hãy xông lên, lấp sông Bến Hải, giải phóng Việt Nam khỏi tay Cộng sản... Và bây giờ, khi đã sắp đến lúc nhắm mắt xuôi tay, ông ta muốn trở về trong sự đón tiếp nồng hậu của những người từng bị ông chà đạp về tinh thần!

Tôi đọc Nam Cao và tâm đắc với nhận xét: "Những thằng chuyên ác chỉ có thể hết làm việc ác nếu chúng không còn đủ sức để làm ác". Bây giờ, với Phạm Duy cũng là như vậy. Một Việt Nam đang vươn lên, môi trường này đang sống động và có vị thế mới đã có thể làm mềm lòng mọi kẻ vốn kỳ thị với dân tộc này, tất nhiên đủ sức làm "kẻ chạy đi" mong được trở về, song, như đã nói trên, không thể có sự trở về như một người hùng. Chia sẻ điều này, nhạc sĩ Tân Huyền cho hay, đó là điều kỳ lạ, hiếm thấy, tuy ông bảo: "Bây giờ, tư nhân cũng có thể làm ra một trang web để tôn vinh mình, nói gì...". Và tôi hiểu, tác giả Cỏ non thành cổ làm sao chấp nhận sự trở về trong thứ vinh hoa kiểu ấy, nó làm cho sự hy sinh của những đồng đội, những nấm mồ liệt sĩ kia có thêm những nỗi đau thế thái.

Có một lần, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn trả lời báo chí, ông khẳng định, không bao giờ đánh giá một nhạc sĩ dám dâng hiến tuổi trẻ trong đội ngũ những người chiến sĩ, ngang bằng một tác giả không dám lâm trận và chỉ ngồi trong lòng địch để than thân trách phận, hay ngợi ca một hạ trắng, thu vàng, chứ đừng nói đến một tác giả đã nhảy vào lòng địch để chống Cộng, rồi sau này, khi hết "đát" lại nói lời xí xóa. Tôi cam đoan không một nhạc sĩ cách mạng Việt Nam nào không vui mừng trước nghĩa cử đầy nhân ái của đất nước, song tất cả họ đều chung một suy nghĩ, rằng người trở về đâu phải ai cũng như ai. Lời nói ấy của người nhạc sĩ - chiến sĩ, đã giúp tôi có thêm nghị lực, để nghĩ, để nói và để thể hiện chính kiến, để không bị hòa tan trong những đợt sóng vàng vọt đâu đây.

Ai muốn coi Phạm Duy là thần tượng, tùy ý, còn tôi, trước sau xin nói không!

Nhạc sĩ Nguyễn Lưu

Văn bản của Công ty Phương Nam

TP Hồ Chí Minh, ngày 16.3.2006

Kính gửi: - Ban Tư tưởng - Văn hóa TW

- Bộ Văn hóa - Thông tin

- UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư

- Cục Bảo vệ an ninh văn hóa tư tưởng

- Ban biên tập Báo Đầu tư

Đồng kính gửi: - UBMTTQ TP Hồ Chí Minh

- Ban Tư tưởng - Văn hóa Thành ủy TP.HCM

- Sở Văn hóa - Thông tin TP.HCM

- Phòng Bảo vệ an ninh văn hóa tư tưởng Công an TP.HCM

- Các cơ quan thông tin đại chúng

Trên số báo Đầu tư số ra ngày thứ hai 13.3.2006 có đăng bài Không thể tung hô của nhạc sĩ Nguyễn Lưu viết về "trường hợp của nhạc sĩ Phạm Duy, người mới được xưng tụng sau đêm nhạc Ngày trở về" diễn ra tại Nhà hát Hòa Bình, TP Hồ Chí Minh. Mặc dù trong bài viết của mình, tác giả không đề cập gì đến Công ty Văn hóa Phương Nam là đơn vị tổ chức biểu diễn, nhưng với tư cách là người mua bản quyền khai thác các tác phẩm hợp pháp của nhạc sĩ Phạm Duy, với trách nhiệm của đơn vị tổ chức đêm nhạc Ngày trở về, chúng tôi xin bày tỏ một số ý kiến:

1. Đường lối đổi mới của Đảng trong hai thập niên qua đã mang lại những thành tựu to lớn đầy sức thuyết phục. Chủ trương đại đoàn kết dân tộc theo tinh thần Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị đang thổi một luồng sinh khí mới, động viên tinh thần yêu nước của tất cả mọi người Việt Nam không phân biệt tôn giáo, chính kiến ở trong cũng như ngoài nước để cùng hướng tới mục tiêu "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Những luận điệu chống cộng cực đoan ở hải ngoại ngày càng trở nên lạc lõng. Nhiều người bỏ nước ra đi nay lần lượt trở về góp phần xây dựng đất nước dưới hình thức này hoặc hình thức khác. Ông Nguyễn Cao Kỳ, Phó tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ đã trở về. Đó là những minh chứng hùng hồn cho tính đúng đắn của chủ trương đại đoàn kết dân tộc.

Đối với những kẻ thù xâm lược, chúng ta cũng đang xếp lại quá khứ để cùng hướng tới tương lai, nhưng đọc bài báo của nhạc sĩ Nguyễn Lưu, nhiều người hẳn sẽ băn khoăn tự hỏi tại sao việc "xếp lại quá khứ" đối với một bộ phận người Việt lại khó khăn đến thế ? Khép lại quá khứ hoàn toàn không đồng nghĩa với việc "bỏ quên tất cả" như ông Nguyễn Lưu nói. Và cũng không thể xếp lại quá khứ theo kiểu lôi hết "ngọn nguồn" của một người để phơi bày trên mặt báo như ông Nguyễn Lưu đã làm ! Dù nhắm tới một đối tượng cụ thể là nhạc sĩ Phạm Duy, nhưng khi ông Nguyễn Lưu (dẫn lời nhà văn Chu Lai) nói rằng "Nay, thấy Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, lại xin trở về" chắc chắn sẽ làm những người đã hoặc đang có ý định trở về chạnh lòng và cảm thấy bị xúc phạm. Đó là lối nói kiêu ngạo vô trách nhiệm, gây mất lòng tin vào đường lối, chủ trương của Đảng.

2.Việc Công ty Văn hóa Phương Nam tổ chức đêm nhạc Ngày trở về là một hoạt động bình thường của một đơn vị kinh doanh trên lĩnh vực văn hóa, không nhân danh một sự kiện gì, không nhằm tôn vinh thần tượng và cũng chẳng tổ chức "đón rước trọng thể". Ai có nhu cầu thì mua vé vào xem. Thế thôi. Mọi hoạt động kinh doanh của Công ty Văn hóa Phương Nam liên quan đến nhạc sĩ Phạm Duy đều tuân thủ đúng pháp luật.

Chúng tôi không chỉ tổ chức đêm nhạc Ngày trở về mà trước đó đã từng tổ chức những chương trình biểu diễn nghệ thuật khác. Cũng như vậy, chúng tôi không chỉ liên kết xuất bản và phát hành những tác phẩm của Phạm Duy được Bộ Văn hóa - Thông tin cho phép mà chúng tôi còn từng liên kết với các nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân và một số nhà xuất bản khác để tổ chức những tủ sách với hàng trăm tác phẩm viết về cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, trong đó có cả những tác phẩm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng và các tướng lĩnh khác như Nguyễn Quyết, Trần Văn Trà; của các nhà văn hóa lớn như Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Văn Huyên, Ngô Tất Tố, Huy Cận, Hà Văn Tấn, Trần Văn Khê; gần trọn bộ tác phẩm của các nhà văn thuộc nền văn học cách mạng như Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng... và cả một số tác phẩm của nhà văn Chu Lai.

Bài viết của nhạc sĩ Nguyễn Lưu không mang tính phê bình học thuật, lại đăng tải trên một tờ báo chuyên về đầu tư, vì vậy, từ góc độ kinh doanh, chúng tôi có quyền nghi ngờ đây là một sự cạnh tranh không lành mạnh.

3.Một điều đáng tiếc nữa là trong lúc dẫn dắt người đọc "hiểu cho rõ ngọn nguồn" trường hợp Phạm Duy, nhạc sĩ Nguyễn Lưu lại đưa người đọc lạc vào những lỗ hổng kiến thức của chính mình. Lỗi tác giả một phần, một phần do lỗi của tòa soạn trong khâu biên tập. Chúng tôi xin nêu một vài thí dụ: Nhạc sĩ Nguyễn Lưu viết: "... Ở Việt Bắc, tôi đã cùng bè bạn trong đơn vị hát những ca khúc rất hay của Phạm Duy... Tôi đã thuộc lòng câu hát "Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời..." và sau này, lớn lên một chút mới hiểu ra rằng, cái tứ ấy, có gì giống với luận điểm của Nguyễn Văn Vĩnh (Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, mà tiếng ta còn thì nước ta còn - cách nói ấy là để biện minh cho việc ôm chân giặc xâm lược của Nguyễn Văn Vĩnh và bè lũ bán nước)".

Thứ nhất, câu nói nổi tiếng (và cũng bị nhiều tai tiếng): "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn" không phải của Nguyễn Văn Vĩnh mà là của Phạm Quỳnh (thân sinh của nhạc sĩ Phạm Tuyên, tác giả ca khúc nổi tiếng Như có Bác hồ trong ngày vui đại thắng). Bài viết của Phạm Quỳnh được đăng trên tạp chí Nam Phong, về sau được in lại trong Thượng Chi văn tập. Tuy tiếng Việt của Phạm Quỳnh là tiếng Việt của đầu thế kỷ 20 nhưng không có lối hành văn "thì mà là" như tiếng Việt của nhạc sĩ Nguyễn Lưu ở đầu thế kỷ 21!

Thứ hai, nếu chỉ nói quá đơn giản như Nguyễn Lưu thì nhiều học sinh ngày nay sẽ không thể nào hiểu được vì sao Truyện Kiều được tôn vinh như là một kiệt tác của văn học Việt Nam, nhưng khen Truyện Kiều thì lại mắc cái tội "biện minh cho việc ôm chân giặc xâm lược"? Ai cũng biết rằng, sinh thời Nguyễn Du là người theo phò nhà Lê thời Lê Chiêu Thống, chống lại Tây Sơn, đã từng bị quân Tây Sơn bắt giam 3 tháng ở Nghệ An, sau theo phò Gia Long, ra làm quan với triều Nguyễn, nhưng điều đó lại không liên quan gì đến việc đề cao Truyện Kiều "là để biện minh cho việc ôm chân giặc xâm lược". Cũng như vậy, làm sao con cháu chúng ta có thể hiểu được "Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời..." mà lại bị ghép vào tội... phản quốc ?

Ở một đoạn khác, nhạc sĩ Nguyễn Lưu viết: "Đỉnh cao sự nghiệp chống Cộng của Phạm Duy là bài "Mùa thu chết" (...) Ông đã từ bỏ tình yêu với Tổ quốc bằng một bút pháp thật sâu cay, đểu giả và ít ai quên cái mùa thu trong ca khúc ấy chính là Cách mạng mùa thu, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam".

Độc giả, đặc biệt là những người từng ở miền Nam trước năm 1975 ai cũng biết rằng bài Mùa thu chết rất nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Duy là phổ thơ Apollinaire, một nhà thơ Pháp sinh năm 1880 và chết năm 1918. Bài thơ của Apollinaire vỏn vẹn chỉ có 5 câu, mang tựa đề L'Adieu (Giã biệt), chúng tôi xin ghi lại nguyên văn:

J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends

Tạm dịch:

Ta ngắt một cành thạch thảo
Em hãy nhớ cho mùa thu đã chết rồi
Chúng ta không còn được nhìn nhau nữa trên đời
Mùi thời gian đẫm hương thạch thảo
Em hãy nhớ rằng ta vẫn chờ em

Nội dung bài thơ chỉ có thế, khi phổ nhạc vẫn giữ gần như nguyên vẹn, chẳng liên quan gì đến cuộc Cách mạng tháng Tám của dân tộc chúng ta xảy ra sau khi tác giả của nó đã qua đời 27 năm! Nếu lập luận theo kiểu Nguyễn Lưu thì mọi người sẽ nghĩ sao về trường hợp Văn Cao với bài Buồn tàn thu và Phạm Trọng Cầu với bài Mùa thu không trở lại ?

Trước đây, ngay ở miền Nam, bên cạnh những người ca ngợi Phạm Duy cũng có không ít người không đồng tình với một số việc làm của Phạm Duy, thậm chí có người đã viết cả một cuốn sách để phê phán Phạm Duy. Âu đó cũng là chuyện bình thường. Ngay cả Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có lắm người khen, kẻ chê "Bạc phận chẳng lầm người tiết nghĩa/Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm" hay "Đàn ông chớ kể Phan Trần/Đàn bà chớ đọc Thúy Vân Thúy Kiều" đó sao ? Nhưng suy diễn đến mức như ông Nguyễn Lưu thì chưa hề có !

Là những người hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực gắn liền với văn hóa, nhiều khi chúng tôi không khỏi âu lo khi thấy trong sinh hoạt học thuật của nước nhà, một số người vẫn quen dùng vũ khí suy diễn, xuyên tạc, chụp mũ chính trị để đẩy đối phương vào chỗ chết thay vì cùng tranh luận minh bạch để tiếp cận chân lý. Văn hóa muốn phát triển cần có một nền học thuật. Cái cách phê bình "cả vú lấp miệng em" như vậy đang gây ô nhiễm nặng môi trường học thuật của chúng ta. Quá trình hội nhập của đất nước đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, vì vậy cần thiết phải loại ra khỏi đời sống học thuật những cách ứng xử thiếu văn minh như thế.

Ngoài ra, trong bài viết của nhạc sĩ Nguyễn Lưu còn một số chi tiết khác không chính xác, chẳng hạn: trong sáng tác của nhạc sĩ Phạm Duy không hề có bài Quê nhà em, Phạm Duy chưa bao giờ được làm Bộ trưởng Bộ Văn hóa của chính quyền Sài Gòn, ở Sài Gòn trước năm 1975 không hề có cái gọi là "ban nhạc Đêm màu hồng", GS Nguyễn Văn Trung cũng chẳng phải di tản đi Mỹ mà đi Canada theo diện đoàn tụ gia đình sau 1975, và GS Nguyễn Văn Trung cũng không hề dạy học ở Mỹ.

Cuối cùng, chúng tôi nghĩ rằng báo Đầu tư là tờ báo chủ yếu dành cho các doanh nhân, trong đó có những doanh nhân là người Việt ở nước ngoài, một trong những đối tượng mà chúng ta đang mời gọi. Việc đăng một bài báo có nội dung mạt sát một Việt kiều muốn về quê hương và đã được phép trở về như nhạc sĩ Phạm Duy có thể sẽ làm một số người khác giật mình phân vân trước sự chọn lựa nên hay không nên trở về để khỏi phải chuốc lấy những phiền toái như trường hợp của nhạc sĩ Phạm Duy.

Trân trọng.

Tổng giám đốc Công ty Văn hóa Phương Nam
Phan Thị Lệ


.

Thiên cổ đoạn trường kim nhất tục.
Phiếm Đàm tòng thử kế Thừa sai.

Tìm kiếm tin đã đưa
Liên kết website
 

Tin mới nhất của BBC
Tin mới nhất của RFA
Tin mới nhất từ SBS
Tin mới nhất của VOA

Ca khúc ngày hôm nay

 

 

 

ĐIẠ CHỈ: WWW.HAINGOAIPHIEMDAM.COM.

EMAIL: HAINGOAIPHIEMDAM@YAHOO.COM

|Tại sao? | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu | Du Lịch | Thư tín|TRÁI TIM HỒNG CHĂN GỐI | Rừng cười |Ẩm thực |MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn|CỔ THI | Nhân vật |Đó Đây| Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ | Đọc Truyện | Chuyển chữ Việt ( Thanh Niên) |