| 
Mạn
Đàm Về Tiếng Việt
Ngôn
ngữ đóng một vai trò quan trọng để phản ảnh những
bước tiến về lịch sử cũng như về chính trị, khoa
học … của một nước. Âm mưu Hán hóa dân tộc Việt
thời nước ta bị Trung Hoa đô hộ đã thất bại vì sự
ra đời của chữ Nôm, thứ chữ riêng của người mình,
thường là sự ghép của hai chữ Hán lại, đã được xem
là một chiến thắng vinh quang của ngôn ngữ Việt,
vì người Hoa nhìn thấy chữ Nôm từa tựa như chữ Hán
của họ, nhưng họ không thể đọc và hiểu được. Đến
khi các ông cố đạo ở Âu Châu sang nước ta, các ông
ấy mới đặt ra chữ Quốc Ngữ bằng những mẫu tự La
Tinh, tức chữ viết ta dùng ngày nay.Trong giới hạn
của bài viết, một vài chữ Việt được đề cập đến để
thử tìm hiểu tính chất phong phú, thâm thúy của
tiếng Việt khi được sử dụng như thế nào?
Chữ
quốc, ngoài nghĩa là một loài chim, quốc thường
được dùng có nghĩa là nước (nhà), mà bà Huyện Thanh
Quan đã có lối chơi chữ tài tình trong câu:
Nhớ
nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Một
bài thơ có liên quan đến chữ quốc, còn được lưu
truyền đến ngày nay. Chuyện rằng Lý Thường Kiệt,
một danh tướng đời vua Lý Nhân Tôn, khi quân Tống
sang xâm lược nước ta, thế giặc rất mạnh. Lý Thường
Kiệt bèn nghĩ ra một kế: làm một bài thơ tứ tuyệt
rồi sai người vào đền Thánh Tam Giang ngâm vang
bài thơ này. Sau đó ông cho loan tin đồn rằng Thần
đã giáng bút làm bài thơ để báo trước lẽ tất thắng
của quân ta, dụng ý để quân dân nức lòng đánh giặc.
Bài thơ ấy như sau:
Nam
quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Tạm
dịch là
Nước
Nam của vua Nam ở
Sách trời đã định rõ như vậy
Vậy giặc kia sao dám xâm lấn
Chúng bây sẽ phải thất trận
Vậy
là ngôn ngữ đã được người xưa dùng như một thứ vũ
khí để đánh giặc cứu nước.
Bàn
về chữ vô, có nghĩa là không. Trong từ nhà Phật
thường đề cập đến từ vô ngã. Chúng ta ai ai cũng
đều mang ngã tính trong người, cái cảm nhận về "tôi",
"cho tôi" và "cái của tôi".
Vào thời Đức Phật và cả thời nay, nhiều người tin
rằng chúng ta có một tâm linh riêng biệt, bất biến,
bất diệt còn gọi là linh hồn, hay tiểu ngã. Tuy
nhiên sau khi chứng ngộ, Đức Phật đã nhìn thấy rằng
trên thế gian này chẳng có gì là biệt lập, là vĩnh
cửu cả. Chúng ta sinh ra, tồn tại một thời gian
rồi mất đi… Ý niệm vô ngã hình thành từ đó. Những
ai đã từng kinh qua chân lý vô ngã đều có thể thấy
rằng ý niệm đó chẳng có gì đáng phải sợ cả, mà ngược
lại còn là điều đáng mừng nữa, vì nó mang ý nghĩa
giải thoát chúng ta khỏi cái nhà tù chật hẹp của
cái "tôi". Chẳng thế mà trong Cung Oán
Ngâm Khúc, một trong những áng văn chương tiếng
Việt tuyệt vời của cụ Ôn Như Hầu từ đời Hậu Lê,
đã có những câu rất gần gũi với ý niệm vô ngã này:
Tuồng
huyễn-hóa đã bày ra đấy,
Kiếp phù-sinh trông thấy mà đau!
Trăm năm còn có gì đâu,
Chẳng qua một nắm cổ-khâu xanh rì!
Tác
giả Đông Phong trong quyển Bản Sắc Dân Tộc có viết
rằng tiếng Việt là tiếng của nghệ thuật âm thanh.
Nhịp điệu và ngôn ngữ trong tiếng Việt không những
chỉ dùng để biểu hiện tư tưởng của ta, mà còn là
cái vốn trời cho để dân tộc ta tồn tại và phát triển
qua bao nhiêu sóng gió của lịch sử. Tiếng Việt là
loại ngôn ngữ mà ý và thanh hòa quyện với nhau,
qua cách dùng phối âm, đối âm. Đối âm và phối âm,
theo Đông Phong, đã khiến cho tiếng Việt không còn
là tiếng đơn âm, mà cũng không hẳn là tiếng đa âm.
Phải chăng nhờ đặc thù ngôn ngữ này mà ca dao tục
ngữ nở rộ trong khu vườn văn học dân gian ta? Ngoài
ra, theo tác giả, câu và nhịp trong tiếng Việt lôi
cuốn nhau, húc đẩy nhau, bổ túc nhau. Nhịp điệu
câu nói thì uyển chuyển biến hóa.
Theo
tác giả Đông Phong, thanh của tiếng Việt thật là
tuyệt vời. Đối với người Âu Mỹ thì thanh tiếng Việt
khó học vì nhiều lý do: Thứ nhất, tất cả mọi tiếng
đều là cách ngữ. Thứ nhì, cùng một tiếng phát âm
một cách khác nhau, có thể có nhiều nghĩa, và có
khi nghĩa những tiếng này lại đối nghịch nhau. Thứ
ba, thanh của mỗi tiếng đôi khi rất nhẹ và khá tế
nhị. Thứ bốn, đây là điểm khó khăn nhất trong khi
dùng tiếng Việt, đó là việc phát âm. Trong khi đọc
lên một tiếng, ta phải làm thế nào để hơi thở, môi,
răng, lưỡi, và họng cùng hòa hợp để phát ra một
tiếng vừa phải và chính xác. Có như thế thì tiếng
được phát ra mới diễn tả đúng sự việc mà ta muốn
nói. Một thí dụ mà tác giả Đông Phong thuật lại
là câu chuyện ông trích trong cuốn Lịch Sử Chữ Quốc
Ngữ của Đỗ Quang Chính. Chuyện kể về một Linh Mục
bạn với Giáo Sĩ Đắc Lộ, một hôm bảo người làm đi
chợ mua cá. Khi đi chợ về, người làm báo cho ông
hay là đã mua đúng như ý ông. Vị Linh Mục liền xuống
bếp xem loại cá nào. Ông bỡ ngỡ khi nhìn thấy cả
một thúng đầy cà.
Các
nhà ngôn ngữ học xưa thường xếp tiếng Việt vào loại
đơn âm. Điều này có vẻ hợp lý vì tiếng Việt không
biến dạng như đa số tiếng của các ngôn ngữ Âu Tây.
Tất cả mọi tiếng đều là cách ngữ, mỗi tiếng Việt
chỉ phát ra một âm, thí dụ từ đẹp trong tiếng Việt,
tiếng Anh phải phát ra ba âm, beau-ti-ful. Theo
Đông Phong, cách xếp loại đơn giản như thế không
được chính xác cho lắm. Nếu công nhận mỗi từ chỉ
diễn đạt một nghĩa thì tiếng Việt không những chỉ
là tiếng đơn âm, mà còn có phối âm và đối âm.
Đối
âm là một từ hay một cụm từ có hai vế, cả ý nghĩa
và thang âm đều đối nhau, cuốn hút nhau theo luật
âm dương tương thôi tương thành. Tương thôi là cùng
lôi cuốn hút đẩy nhau. Tương thành là cùng nhau
làm nên một ý nghĩa mới. Đối âm tách ra đều có nghĩa,
nhưng đi chung lại mang một ý mới, và ý cộng hưởng
không muốn tách rời. Ông thí dụ đất có nghĩa riêng,
nước có nghĩa riêng. Đất nước, khi đi chung lại
mang một nghĩa khác, một nghĩa khơi dậy những tình
cảm đặc biệt về địa lý, lịch sử, về dĩ vãng, hiện
tại, tương lai, về cuộc sống của một dân tộc. Đối
âm, dù được dùng làm chủ từ, động từ hay túc từ,
chỉ mang một nghĩa, diễn đạt một ý thôi: cha mẹ,
làm ăn, mẹ tròn con vuông, một nắng hai sương, ăn
dầm ở dề…. vì thế khi viết những từ hay cụm từ đối
âm thì ta không thể cho dấu phết vào giữa, và khi
nói thì ta không thể tách rời câu được. Thí dụ cha,
mẹ, khi nói rời để chỉ hai người: cha và mẹ, nhưng
khi đi chung với nhau thì thường mang một ý sinh
thành dưỡng dục. Đặc tính đối âm làm cho não bộ
người Việt luôn phải so sánh, đối chiếu. Nhờ thế,
người Việt dễ cảm nhận những dị biệt phải trái,
nên dễ tiếp thu các môn học có tính cách so sánh,
đối chiếu.
Phối
âm là hai, ba, bốn âm đi chung với nhau để diễn
tả một nghĩa, như đo đỏ, sạch sành sanh, đỏng đa
đỏng đảnh…. Tách rời những âm đó ra thì ý nghĩa
hơi thay đổi, có khi không còn đúng với ý muốn diễn
tả nữa. Ngoài ra, hai âm, ba âm, hay bốn âm, có
phối trí liên hợp nên khi nói, ta không thể tách
rời những tiếng này được. Những từ phối âm của tiếng
Việt phát ra những sóng âm dội vào tâm thức một
ý niệm và chỉ gợi lên một ý. Theo ông, tiếng Việt
không những chỉ dùng lý trí để nhận thức sự vật
qua giác quan tai mắt, mà còn dùng tâm thức để tiếp
nhận mọi điều qua giác quan và cảm quan. Từ đó,
não bộ người Việt quen dần với phân tích, liên hệ,
điều phối những ý niệm, những tri thức để cảm nhận
chân lý. Đặc tính phối âm của tiếng Việt, theo tác
giả Đông Phong, đưa tâm thức người Việt lên cao,
dễ tiếp thu những khái niệm thần học, triết học,
khoa học, toán học … đồng thời đặc tính này cũng
làm cho tiếng Việt có nhạc tính phong phú, dễ đưa
tâm hồn người Việt vào thi ca. Ngoài ra, theo tác
giả Đông Phong, sóng âm phát ra qua mỗi từ, truyền
qua hệ thần kinh thính giác một tín hiệu, dội vào
tâm thức một rung động, nên trong một câu tiếng
Việt, nhạc điệu lên xuống vờn lượn với nhau một
hơi, dài ngắn tiết tấu nhịp nhàng, mới đem đến người
nghe một cảm thông, một hiểu biết. Bàn về nhạc điệu,
tiếng Việt biến hóa thần kỳ. Ngoài sáu âm chính
(năm dấu và không dấu), tiếng Việt còn có vô số
âm phụ. Có khi cùng một dấu mà trường độ, cao độ,
và cường độ khác nhau. Thí dụ như bá không cùng
thang âm với bách; rã không cùng thang âm với rãnh…
Chính sự khác từ khác dấu này phát ra những sóng
âm khác nhau. Mỗi sóng âm dội vào tai một tần số,
truyền vào não một tín hiệu, khiến hệ thống thần
kinh rung lên một mệnh lệnh, kích thích hoạt động
của cơ thể. Sóng âm tiếng Việt biến hóa hơn nhiều
ngôn ngữ khác, nhờ đó não bộ người Việt ta khá nhạy
bén và tinh tế.
Liên
quan đến nhạc tính trong tiếng Việt, Nhạc Sĩ Võ
Thanh Tùng trong quyển Nhạc Khí Dân Tộc Việt có
viết: tiếng Việt là tiếng nói của âm nhạc. Khác
với các ngôn ngữ khác, tiếng Việt mỗi từ có 6 thanh
với 6 cao độ khác nhau, do đó người Việt khi nói
chuyện dễ tạo cho người nghe cảm giác như đang hát.
Bắt nguồn từ ngôn ngữ Việt Nam, trong âm nhạc dân
tộc cổ truyền, mỗi cung của thang âm được quyện
quanh bởi những âm tô điểm, nhấn nhá, luyến láy
làm cho âm thanh trở nên mềm mại hơn. Người Việt
đã chế tạo những nhạc khí truyền thống như cây đàn
với những ngón nhấn, ngón luyến; ống sáo với những
ngón vuốt, ngón láy mà khoảng cách âm thanh giữa
các phím, các lỗ bấm phù hợp với các cung bậc của
thang âm dân tộc. Theo Nhạc Sĩ Võ Thanh Tùng, vấn
đề cơ bản của điệu thức là hệ thống thang âm. Theo
các tài liệu nghiên cứu, hệ thống định âm trong
âm nhạc truyền thống Việt Nam không trùng khớp với
hệ thống bình quân luật của âm nhạc cổ điển phương
Tây. Các điệu thức Việt Nam không cấu thành từ hệ
thống 12 bán cung chia đều trong một quãng Tám…
Sự khác biệt về hệ thống định âm này chỉ có thể
giải thích là do thẩm âm khác nhau mang tính bản
sắc dân tộc của từng khu vực, từng dân tộc.
Ngữ
pháp tiếng Việt thật đơn giản, nghĩ sao nói vậy:
Ăn được không? Không được ăn. Không ăn được. Được
ăn không?. Chỉ có ba từ mà có đến bốn cách nói.
Ngữ pháp càng đơn giản thì não bộ càng phải hoạt
động mau lẹ và tinh tế để có thể bắt ý hiểu lời.
Hệ thần kinh não bộ càng làm việc nhiều thì năng
lực của trí não càng phát triển, khiến ta có khuynh
hướng mau hiểu, mau nhớ. Nhưng nếu không biết định
hướng thì trí thông minh này có thể khiến ta trở
nên ranh mãnh, láu cá.
Ngoài
ra, theo tác giả Đông Phong, tiếng Việt còn có lối
nói bóng nói gió, lối chơi chữ chơi điệu thật độc
đáo
Nói
gió mà chạnh lòng mây,
Tuy rằng nói đó nhưng đây chạnh lòng
Ngôn
ngữ một dân tộc dĩ nhiên gắn liền với định mệnh,
với nguồn gốc dân tộc ấy. Tiếng Việt, tuy có chịu
ảnh hưởng nước ngoài, vay mượn nhiều của người Hoa,
vẫn có những nét đặc thù riêng. Chúng ta có thể
chọn cái hay của tiếng người mà dung hòa với cái
hay của tiếng mình ngõ hầu giữ được tiếng nước ta
có cơ hội tiến hóa mà vẫn không mất bản sắc dân
tộc. Những bản sắc dân tộc này đã gắn liền với chúng
ta trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước. Lời
cụ Phạm Quỳnh dường như còn vang vọng bên tai: "Truyện
Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn thì nước ta
còn". Tiếng hát Thái Thanh dường như cũng văng
vẳng đâu đây:
Tôi
yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi
Bốn ngàn năm ròng rã ngược xuôi
Khóc cười theo vận nước nổi trôi…
Quách
Nam Dung


Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|