VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Những
uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong (2)
Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh (giữa), Nguyễn Văn
Vĩnh năm 1920
Cậu bé Phạm Quỳnh được lớn lên trong tình thương
của bà nội sau sự ra đi vội vàng của người mẹ và
cái chết bí ẩn của người cha.
Sau này, Phạm Quỳnh học hành đỗ đạt rồi trở thành
chủ báo Nam Phong. 16 người con của ông đều là những
người thành đạt, trong đó có nhạc sỹ Phạm Tuyên.
... Ca khúc có con số kỷ lục là người hát lẫn người
nghe và giai điệu được phát nhiều nhất đông nhất
là bài Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng dường
như phá cả kỷ lục dân Liên Xô vui hát trên đồng
hoa hồi mới hoà bình lập lại trên miền Bắc của nhạc
sĩ Đỗ Nhuận?
Hình như có một lần tôi đã mang nhận xét ấy mà
hỏi nhạc sĩ Phạm Tuyên bởi ông là tác giả... Hỏi
thế bởi nghĩ có giống nghệ sĩ nào mà sao nhãng với
những đứa con tinh thần của mình? Nhưng nhạc sĩ
vẫn cung cách lặng lẽ và cái cười lặng lẽ cố hữu
bao năm mình cũng không biết nữa... Không biết (nhạc
lẫn hát) nhưng thích nghe hát! Cố tật ấy tôi đã
lẫn vào trong bạt ngàn của thiên hạ và hằng bao
năm nay (như một số đông, tôi chắc thế) là trong
các hướng ngoảnh, tôi vẫn có một góc Phạm Tuyên
trong sự chú mục mỗi khi lòng dạ chùng xuống không
phải chặt chẽ lẫn căng thẳng trên hành lộ mưu sinh.
Có một gia đình không thường
Như mỗi lúc lòng mình đang chùng khi ngồi với nhạc
sĩ trong căn gác nhỏ dùng làm phòng khách. Hình
như có mấy bận di dời. Khi bê năm hai tan xác ngay
trên bầu trời, hào khí Thăng Long cháy lên ngời
ngời... là cái đận căn nhà của nhạc sĩ trong khu
tập thể Đại La Đài tiếng nói Việt Nam nát tan vì
bom Mỹ năm 1972.
Bây giờ thì nánh ra làng Vạn Bảo nhưng có vẻ tùng
tiệm so súi tận tầng ba của một khu tập thể chật
người lúc nào guốc dép cũng cứ khua rộn cầu thang.
Phòng khách chật và thấp nhưng các góc cũng nhô
ra một cách khiêm tốn và thứ tự các ấn phẩm nhạc
mà Phạm Tuyên đã viết từ năm 1950.
Tạm tính hơn sáu trăm bài tính đến tiết ngâu năm
Dậu này. Như một người chép sử có duyên. Từng bài,
từng bài như một sự chào, sự làm quen tử tế suốt
lượt những nam phụ lão ấu... Tiến lên đoàn viên
em ước ao bao ngày... Ai bảo rừng xanh là quái ác...
Hồng như màu của bình minh. Đỏ như màu máu của mình
tim ơi... Từ một ngã tư đường phố... Con kênh ta
đào chưa có nước chảy qua... Thương cái rét của
thợ cày thợ cấy... Việt Nam Hồ Chí Minh vv... và
vv...
Những giai điệu mà ngành nào giới nào cũng tự nhận
nhạc sĩ viết riêng cho mình! Đạt được tầm ấy, xếp
vào thang trật như vậy lại cũng chả sướng sao? Và
cũng lô nhô vô số phần thưởng trong đó có chứng
nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
đợt I (năm 2001).
Một bức hoành sơ sài nhưng treo hơi bị sái chắc
chưa có điều kiện khắc tử tế nhưng nếu có làm được
thì không gian cũng hơi bít bùng. Tôi được nhạc
sĩ giải thích bốn chữ của bức hoành ấy là Thổ nạp
Á Âu bằng chữ Nôm. Ấy là cô đúc tinh thần hành động
của tạp chí Nam Phong suốt 17 năm trên 210 số tạp
chí từ năm 1917 đến năm 1934.
Còn phía góc kia là 12 chữ Nôm vuông thành sắc
cạnh được viết rất sắc nét kia theo lối câu đối
của một người tốt chữ, bạn của nhạc sĩ Truyện Kiều
còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn nước ta còn. Chữ
trên hoành trên đối ấy là của thân phụ nhạc sĩ,
nhà văn hoá Phạm Quỳnh!
Có lần tôi tò mò trong mười ba người con của cụ
Phạm Quỳnh có ai phát về đường nhạc ngoài nhạc sĩ
Phạm Tuyên? Nghe chuyện của nhạc sĩ đâm giật mình...
Phạm
Quỳnh ở Marseille năm 1922
Thì ra trên nhiều số báo Nam Phong, ông chủ bút
Phạm Quỳnh đã trực tiếp bàn trực tiếp viết về loại
hình cũng như thể thức cung cách của hát cô đầu
hát xẩm, hát trống quân nhiều bận!
Cái khiếu âm nhạc ấy nhạc sĩ Phạm Tuyên hưởng của
ai nhỉ? Cụ Phạm ông, cụ Phạm bà, của chị gái, anh
rể?... Cái giật mình xen sự ngỡ ngàng bởi thời nay
hầu như đã vắng bặt những kiểu gia thế như thế,
bởi mình đang chạm vào cánh cửa của một gia tộc
không thường?
Cụ Phạm có… 16 người con cả thẩy. Nhưng không may
khuyết mất ba đốt hồi còn bé. Mà chỉ có một người
vợ! Quả là dưỡng nhân loại chi công. Người con cả
là Phạm Giao.
Khi anh con trai trưởng vào Nam mở một tiệm ăn,
nhiều người dị nghị sao ông cụ lại để ông con cả
lấy nghề của chú ba Tàu? Cụ Phạm chỉ cười. Cái cười
của một nhà Nho lạc bước, của một người tân thời
không coi trật tự sĩ nông công thương làm trọng?
Tôi cứ nghĩ lẩn mẩn rằng nội hoàn cảnh của ông
Giao đây (nếu trời thương cho sống cho thọ thì năm
nay người con trưởng của cụ Phạm cũng đã ngót trăm
tuổi trời) rơi vào một tay viết kheo khéo tránh
được những phạm thượng này khác về đời tư và nếu
được ông cho phép thì phải là một cuốn sách bắt
mắt lắm!
Vợ ông Giao là bà Nguyễn Thị Hy, chắc phải là một
trang tuyệt sắc? Bằng cớ là cụ Trần Huy Liệu vô
Huế để làm nhiệm vụ tước ấn kiếm của Bảo Đại đã
phải lòng rồi sau này thành hôn thú với bà Hy!
Người con gái thứ hai là Phạm Thị Giá sinh năm
1913. Bà là vợ của quan Đốc học trường Thăng Long
Tôn Thất Bình (Đại tướng Võ Nguyên Giáp có thời
gian là giáo sư dạy sử của trường này). Vợ chồng
bà Giá mất đã lâu. Bà Giá nghe đâu có viết một cuốn
hồi ký mà nhà văn Vương Trí Nhàn có mấy lần dợm
hỏi nhạc sĩ Phạm Tuyên cố tìm xem đang ở đâu để
đưa xuất bản!
Người con thứ ba là Phạm Thị Thức năm nay 92 tuổi.
Bà Thức là vợ giáo sư Đặng Vũ Hỷ chuyên ngành da
liễu. Giáo sư Đặng Vũ Hỷ đã được nhận Giải thưởng
Hồ Chí Minh về những công trình nghiên cứu của mình.
Ông bà cũng góp cho đất nước cho cơ chế một người
làm khoa học. Đó là một quan chức của Trung tâm
Khoa học công nghệ, ủy viên Trung ương Đảng Đặng
Vũ Minh.
Người con thứ tư là Phạm Bích sinh năm 1918. Ông
Bích là Tiến sĩ Luật lập nghiệp ở Thụy Sĩ đã mất.
Người con thứ năm là Phạm Thị Hảo vợ dược sĩ Phùng
Ngọc Duy nổi tiếng ở Hà Thành những năm năm mươi
thế kỷ trước hiện đang định cư ở Washington D.C.
Người con thứ sáu là Phạm Thị Ngoạn sinh năm 1922.
Bà là vợ ông Nguyễn Tiến Lãng. Ông Nguyễn Tiến Lãng
vốn là con nuôi Toàn quyền Đông Dương, bố vợ lại
là Thượng thư Bộ Lại nhưng trong kháng chiến chống
Pháp, không rõ tướng Nguyễn Sơn có biệt tài gì mà
cảm hoá được nhà văn đa tài này, có một thời gian
dài Nguyễn Tiến Lãng đã phục vụ dưới trướng Nguyễn
Sơn. Về sau hai ông bà sang định cư ở nước ngoài.
Bà Ngoạn thừa hưởng gien cha hay ảnh hưởng chồng
trong thời gian ở nước ngoài chả biết nhưng đã hoàn
thành luận án Tiến sĩ văn chương. Đề tài chính lại
là về những số báo Nam Phong của thân phụ.
Người con thứ bảy là Giáo sư Phạm Khuê sinh năm
1925, Giáo sư Viện trưởng Viện Lão khoa, Chủ tịch
Hội Người cao tuổi Việt Nam vừa từ biệt chúng ta
cách đây chưa lâu, yên nghỉ ở Nghĩa trang Mai Dịch.
Người con thứ tám là Phạm Thị Hoàn sinh năm 1927
hiện đang định cư ở nước ngoài. Hồi còn con gái,
giọng ca của bà Hoàn đã trở nên quen thuộc với người
Hà Nội tạm chiếm trong những năm đầu năm mươi khi
cô Hoàn với cái tên Thu Hương thường hát trên Đài
phát thanh. Chồng bà Hoàn là nhạc sĩ Lương Ngọc
Châu, cháu nội cụ Cử Lương Văn Can. Nhạc sĩ Lương
Ngọc Châu có ca khúc tiền chiến Một đi không trở
về... mà nhiều chiến sĩ Vệ quốc đoàn thuộc.
Và thứ chín là nhạc sĩ Phạm Tuyên đây... Hình như
gien nhạc nhà ấy chỉ trồi và trội lên ở người con
thứ chín này? Cụ Phạm bà, quê ở một vùng quan họ
nổi tiếng Kinh Bắc. Bà thạo chữ Nho nhưng có thời
bà đã từng đi hát quan họ đã thuộc rất nhiều làn
dân ca quan họ cả hát trống quân hát chèo. Khi về
làm bạn với cụ Phạm, bà đã giúp chồng rất nhiều
trong việc sưu tầm biên khảo ghi lại các làn điệu
dân ca để cụ Phạm có vốn mà đề cao văn hoá âm nhạc
dân tộc trên tờ Nam Phong...
Bốn người con nữa là Phạm Thị Diễm sinh năm 1932,
Phạm Thị Lệ sinh 1943 và Phạm Tuân, Phạm Thị Viên.
Cả bốn người đều đang định cư ở nước ngoài.
Ngó nhạc sĩ thoải mái trong chiếc sơmi kẻ sọc và
quần bò màu xanh lợt cùng nụ cười gần như thường
có trên môi... Tất thảy dường như không thực như
trẻ hơn cái tuổi bảy mươi lăm! Và tôi đang nghĩ
đến cái gien thọ của cái nhà này... Thế nhưng, thật
khắc nghiệt, cụ Phạm chỉ được hưởng tuổi trời 53
năm? Cụ Phạm bà cũng đi theo cụ ông 8 năm sau đó...
Tuổi thơ khắc nghiệt
Cũng na ná như hoàn cảnh của danh nhân cùng làng
trùng họ Hoàng giáp Phạm Quý Thích (trước đó, ông
tổ của Phạm Quỳnh rời làng Hoa Đường (nay thuộc
huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) lên Thăng Long
không rõ vào năm nào. Ông nội và bố đều là nhà Nho.
Phạm Quỳnh sinh năm 1892 ở 17 phố Hàng Trống.
Nếp Nho thanh bần trong ngôi nhà khiêm nhường gần
bên hồ Trả Gươm ấy những tưởng bình lặng bền lâu
mãi với không khí yên hàn cuối thế kỷ XIX khi tiếng
súng bình định thành Hà Nội của Pháp đã tạm lắng.
Nhưng một tai hoạ đã giáng xuống mái nhà yên ả
ấy. Như người ta nói, chưa rời vú mẹ, cậu bé Phạm
Quỳnh đã mồ côi bởi người mẹ thân yêu đột ngột ra
đi vì bạo bệnh!
Khi ấy cậu bé Phạm Quỳnh mới được 9 tháng tuổi!
Công lao dưỡng dục của bà nội cùng muối dưa đắp
đổi cũng lần hồi được đến đoạn khi cậu bé Phạm Quỳnh
lên 9 tuổi thì lại tiếp theo một tai hoạ nữa: Mất
cha! Mà cái chết của ông mới không bình thường,
thậm chí còn tức tưởi là khác!
Cụ Hoàng Đạo Thúy vốn là người thân quen từ lâu
của gia đình, là bạn cụ Phạm Quỳnh đã kể cho nhạc
sĩ Phạm Tuyên nghe nhiều lần câu chuyện này. Lần
thi năm 1901 ấy, giờ vẫn chưa rõ thi hương hay thi
đình và ở trường thi nào, như bao thí sinh khác,
người cha cặm cụi với bài thi của mình. Từng khắc
từng giờ cứ khắc nghiệt lặng lẽ qua...
Trống lệnh thu quyển đã điểm, người ta cứ tưởng
người thí sinh kia làm bài xong chắc mệt quá đang
nằm thiếp đi một chốc như thế. Đợi mãi rồi phải
giục phải lay... Cả trường thi tá hỏa khi phát hiện
ra người thí sinh kia đã lạnh cứng tự bao giờ.
Cái chết ấy có thể là do ngộ cảm hay căng thẳng
quá chả biết nhưng từ thời điểm ấy cậu bé Phạm Quỳnh
đã phải mồ côi cha. Nhưng vòng tay của bà nội đã
không thể để tuột đứa cháu mồ côi của mình. Ngoài
việc thuê thày dạy chữ Nho lẫn chữ Pháp ở nhà cậu
vẫn được đến trường đều đặn.
Trời lấy cái này trời bù trì cái khác. Dĩnh ngộ
và sáng dạ... Cậu đã lần lượt bước qua những mê
cung những mẹo luật của thứ tiếng Pháp tiếng Anh
rắc rối lẫn cái cách nhiêu khê của mẹo mực chữ Hán
chữ Nôm.
Năm 12 tuổi nhập học trường Bưởi (tức trường thông
ngôn cũ). Năm 1908 tròn 16 tuổi Phạm Quỳnh đỗ đầu
bằng Thành chung được bổ nhiệm làm phụ tá phục vụ
tại trường Viễn đông Bác cổ Hà Nội.
Xuân Ba

|