VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Những
uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong (1)
Phạm Quỳnh tại biệt thự Hoa Đường - An Cựu,
Huế
...Tôi đứng trước ngôi nhà số 5 phố Hàng Da (Hoàn
Kiếm, Hà Nội), bây giờ là một hiệu buôn nhỏ để cố
tưởng tượng ra cái năm 1917 ấy, chàng thanh niên
25 tuổi Phạm Quỳnh thấp thoáng trong đó với tư cách
là Tổng biên tập báo Nam Phong.
Hình như cái chức chủ nhiệm kiêm chủ bút thời ấy,
về ngạch hành chính cao hơn chức danh Tổng biên
tập bây giờ?
Trên tay tôi đang có một tờ Nam Phong. Tờ Nam Phong
số 34 tháng 7/1920 trang bìa cũng như tất thảy 210
số Nam Phong tồn tại suốt 17 năm (1917 - 1934) dưới
hai chữ Nam Phong lớn là 6 chữ nhỏ hơn Văn học -
Khoa học - Tạp chí.
Dòng nhỏ hơn dưới nữa là trích câu của Roosevelt
"Có đồng đẳng mới bình đẳng được" (Il
n’y a que ceux qui sont des egaux qui sont egaux).
Các dòng dưới nữa Chủ bút kiêm quản lý (Directeur
Rédacteur en Chef: Phạm Quỳnh) Mỗi tháng xuất bản
một kỳ. Giá mỗi số 0$40 (4 hào tiền Đông Dương).
In tại Đông Kinh Ấn Quán, 14-16 Rue du Coton, Hanoi.
Mỗi số bình quân ngót 400 trang so với sức in lẫn
sức đọc hồi ấy kể cũng là dày dặn!
Nam Phong số 34 có các bài như thế này 1. Bàn về
sự tăng lương cho các viên chức tòng sự chánh phủ
Bảo hộ; 2. Sự giáo dục trong gia đình; 3. Một sự
thí nghiệm đã nên công; 4. Các việc lớn ở châu Âu
từ sau chiến tranh đến giờ; 5. Khảo về lịch sử luân
lý học nước Tàu; 6. Văn uyển; 7. Đoản thiên tiểu
thuyết; 8. Tập kỷ yếu của Hội Khai trí Tiến Đức.
Phạm Quỳnh là người chủ trương đọc sách Tây là
để thâu thái lấy tư tưởng tinh thần văn hoá Tây
Âu để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết,
để chọn cái hay của người mà dung hoà với cái hay
của mình ngõ hầu gìn giữ cho cái học của mình không
mất bản sắc mà có cơ tiến hoá được. Có lẽ nói về
đóng góp của Nam Phong không thể không kể đến nhận
xét của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan
...Trong 17 năm chủ trương Nam Phong Tạp chí, Phạm
Quỳnh đã cho xây đắp nền móng quốc văn được vững
vàng bằng những bài khảo cứu và bình luận rất công
phu mà từ Bắc chí Nam người thức giả đều phải lưu
tâm đến. Nhiều người có thể căn cứ vào những bài
trong Nam Phong để bồi bổ cho cái sự học còn khiếm
khuyết của mình.
Thậm chí có người còn lấy Nam Phong làm sách học
cũng thâu thái được ít nhiều tư tưởng học thuật
Đông Tây. Muốn hiểu những vấn đề đạo giáo, muốn
biết văn học sử cùng tư tưởng nước Tàu nước Nhật
nước Pháp, muốn đọc thi ca Việt Nam từ đời Lý Trần
cho đến ngày nay, muốn biết thêm lịch sử nước Nam
tiểu thuyết các đấng danh nhân nước nhà muốn am
hiểu các vấn đề chính trị xã hội Âu Tây và cả học
thuyết của cổ Hy - La chỉ đọc kỹ Nam Phong là có
thể hiểu được.
Một người chỉ biết đọc quốc ngữ mà có khiếu thông
minh có thể dùng Tạp chí Nam Phong để mở mang học
thức của mình. Nam Phong sinh sau Đông Dương tạp
chí 4 năm, nhưng sống lâu hơn.Nam Phong tạp chí
được rực rỡ như thế bởi có ông chủ bút là một nhà
văn học vấn uyên thâm lại có tài lịch duyệt.
Thật thế Phạm Quỳnh là một nhà văn có thể bàn luận
một cách vững vàng và sáng suốt bất kỳ một vấn đề
gì từ thơ văn cho đến triết lý đến đạo giáo chính
trị xã hội không một vấn đề gì ông không tham khảo
tường tận trước khi đem bàn trên mặt giấy.
Không có chi quá đáng nếu đem so Nam Phong với
những tạp chí xuất bản ở Pháp trong mấy năm gần
đây như Revue de Paris, Grande Revue, Mercu de France,
Nouvelle Revue France người ta sẽ thấy những tạp
chí này thiên về mặt văn chương, thêm một chút triết
học và khoa học, còn không một tạp chí nào lại tham
khảo cả về mặt học thuật tư tưởng Đông Tây và chuyên
cả việc khảo cứu cùng biên tập thơ văn kim cổ như
Nam Phong tạp chí.
Một người có văn tài đứng chủ trương một cơ quan
văn học báo chí tức là hồn của cơ quan ấy cũng như
Phạm Quỳnh là hồn của Nam Phong vậy (Vũ Ngọc Phan
- Nhà văn hiện đại. Quyển I, Trang 127. NXB Vĩnh
Thịnh Hanoi, 1951).
Chưa hết! Không biết là thời gian chính hay phụ
đây để ông tham gia sáng lập và làm Tổng thư ký
Hội Khai Trí Tiến Đức tại Hà Nội và làm Hội trưởng
Hội Trí tri Bắc Kỳ. Chính cuốn Việt Nam Tự điển
do Hội Khai trí Tiến Đức chủ trương cùng 10 người
danh tiếng thời ấy biên soạn (Phạm Quỳnh, Nguyễn
Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Luận,
Phạm Huy Lục, Dương Bá Trạc, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn
Đôn Phục, Đỗ Thận).
Phạm Quỳnh khi ấy mới độ tuổi ngoài 20 lại tập
hợp được những tên tuổi làm cộng tác viên nhiệt
thành cho Nam Phong cũng như Khai trí Tiến Đức như
các ông Nguyễn Bá Học (khi đó đã 60 tuổi), Nguyễn
Hữu Tiến (43 tuổi), Phạm Duy Tốn (34 tuổi), Tản
Đà (trên 30 tuổi)...
Có tài liệu chép một việc Nguyễn Bá Học với Phạm
Quỳnh có trao đổi bài vở chi đó với thái độ thành
thực thẳng thắn và liên tài. Kết thúc cuộc trao
đổi tranh luận hôm ấy, ông già Nguyễn Bá Học có
xá Phạm Quỳnh một vái rồi vui vẻ dẫn ra cái câu
lão ô bách tuế bất như phượng hoàng sơ sinh (Quạ
già trăm tuổi cũng chả bằng giống phượng hoàng mới
đẻ).
Về sáng tác, các bài của ông được tập hợp và in
thành sách như: Văn minh luận, 3 tháng ở Paris,
Văn học nước Pháp, Chính trị nước Pháp, Khảo về
tiểu thuyết, Lịch sử thế giới, Lịch sử và học thuyết
Voltaire, Phật giáo đại quan, Cái quan niệm của
người quân tử trong Đạo Khổng, Bộ Thượng Chi Văn
tập gồm 5 quyển (Nhà xuất bản Alexandre de Rhodes
Hanoi ấn hành năm 1943).
Có lẽ dưới ánh ngày Đổi Mới, những ấn phẩm của
Phạm Quỳnh mai kia sẽ được các nhà xuất bản của
ta giới thiệu lần lượt với bạn đọc?
Đoạn đắc ý trong cuộc đời Phạm Quỳnh
Tôi đồ rằng cuộc đời Phạm Quỳnh đắc chí nhất là
3 tháng ở nước Pháp mà kết quả là cuốn sách nhà
xuất bản Hội Nhà văn mới cho in lại Pháp du hành
trình nhật ký của Phạm Quỳnh kể chuyện ông đi Pháp
từ tháng 5 đến tháng 8/1922.
Mở đầu những dòng hồi ký, Phạm Quỳnh ghi rất giản
dị: Tôi được quan Thống sứ Bắc kỳ cử sang Pháp thay
mặt cho Hội Khai trí Tiến Đức để dự cuộc đấu xảo
Marseille lại được quan toàn quyền đặc phái sang
diễn thuyết tại mấy trường lớn của Paris, ngày 9
tháng 3 tây năm 1922 tức là ngày 11 tháng 2 tôi
xuống Hải Phòng để đáp tàu sang Pháp...
Có lẽ chỉ với 2 cuốn Mười ngày ở Huế (Nhà xuất
bản Văn học in lại năm 2001) và Pháp du hành trình
nhật ký những người yêu mến bút ký văn học có thể
tìm thấy nhiều điều sở đắc.
Và rất nên nếu như các nhà báo tương lai ở trường
báo chí của ta tập làm quen và khảo sát lối viết
này qua những công trình khoá luận lẫn luận án tốt
nghiệp, sẽ thu hoạch được nhiều điều bổ ích! Đó
là lối viết, kiểu viết không phải là rặt ngồn ngộn
những chuyện, tóm lại chỉ thấy cây chứ không thấy
rừng, chỉ thấy việc chứ không thấy văn.
Chuyện, việc, sự kiện trong ghi chép của Phạm Quỳnh
đều có nhưng liều lượng vừa phải, là cái cớ để ông
đưa người đọc vào những chiêm nghiệm suy ngẫm lý
thú bất ngờ. Lý thú và bất ngờ nữa bởi sức đọc sức
nghĩ và sự chiêm nghiệm trên tầm sự kiện của một
người viết mới tròm trèm 30 (khi viết những ngày
ở Huế và Nam Bộ ông mới 26 tuổi) mà bằng lối văn
bằng con chữ của nước Việt đầu thế kỷ XX.
Mà lối văn mà con chữ ấy Phạm Quỳnh là người đang
tiên phong rèn giũa cho nền quốc văn của nước nhà!
Thời điểm ấy Phạm Quỳnh đang khuyến khích hô hào
cỗ võ dưới hình thức này hay hình thức khác hy vọng
chữ quốc ngữ sớm trưởng thành và văn chương nước
Việt mau phong phú.
Ông bàn về văn minh phương Tây nhân đi coi Bảo
tàng Louvre thế này ... Duy cái văn minh Tây phương
nó phồn tạp quá các phương diện nhiều quá. Muốn
bao quát cho được hết mà thu gồm lấy cái toàn thể
toàn bức thật là khó!
Phải có một sức học lớn một trí lự một con mắt
khác thường mới có thể xét không sai và đoán không
lầm được! Cho nên còn lâu năm nữa cái văn minh Tây
phương vẫn còn ngộ hoặc được nhiều người nhiều thời
gian mai hậu nữa ... ( Thứ năm ngày 13 tháng 7 năm
1922).
Bây giờ trên một số diễn đàn, người ta đang ầm
cả lên rằng có nên dạy chữ Nho cho học sinh trong
nhà trường phổ thông hay không? Thiết tưởng cũng
nên tham khảo ý kiến non trăm năm trước của Phạm
tiên sinh khi ông trình bày thật khúc triết hùng
hồn trước Ban lý luận chính trị Viện hàn lâm Pháp
với đề tài một vấn đề dân tộc giáo dục:
Nhưng ngặt thay dân An Nam không phải là tờ giấy
trắng mà muốn vẽ gì lên cũng được. Tức là một tập
giấy đã có sẵn chữ viết từ đời nào đến giờ! Nếu
bây giờ viết đè một chữ mới lên trên e thành giấy
lộn mất!
Cho nên bây giờ khắp nơi dạy chữ Tây cho người
An Nam từ tuổi nhỏ đến lớn như các trường Pháp Việt
ngày nay kết quả chỉ làm cho người An Nam mất tính
cách An Nam mà chưa chắc đã hoá được Tây hẳn thành
ra là một giống lửng lơ thật nguy hiểm.
Muốn tránh sự nguy hiểm ấy chỉ còn cách là dạy
cho trẻ con An Nam từ nhỏ bằng tiếng An Nam cho
hết bậc tiểu học. Lấy cái phổ thông giáo dục bằng
quốc văn làm gốc như thế vừa tiện vừa mau vì không
mất thời giờ để học một thứ tiếng ngoại quốc dang
dở không đến nơi và cũng không dùng được việc gì.
Học trò đã được bằng tiểu học tốt nghiệp bằng tiếng
An Nam rồi bấy giờ mới kén chọn người nào có sức
học lên nữa như trung học đại học thời cho vào một
trường dự bị chỉ chuyên học tiếng Pháp. Nhưng mà
theo cách học tấn tốc như người Pháp học tiếng Anh
tiếng Đức nghĩa là học như học tiếng ngoại quốc
vậy. Học thế chỉ vài ba năm là có thể thông chữ
Pháp đủ theo được các lớp trung học như bây giờ.
Như thế mới khỏi được cái nguy hiểm thành một hạng
người dở dang tốt nghiệp trường tiểu học ra chữ
Tây không đủ dùng được một việc gì mà cái phổ thông
thường thức học bằng chữ Tây cũng còn mập mờ chưa
lĩnh hội được, còn tiếng nước nhà thì hầu như quên
cả! (Thứ Tư ngày 19 tháng 7 năm 1922).
Vượt lên sự kiện của một buổi tham quan, cái thành
thực của Phạm Quỳnh đâm thân gần và có sức lây lan
đồng cảm nhiều lắm bởi nó là lời cởi mở rất bạn
bè ... Một người thuần cựu học mà xem tranh Tây
mà không có cảm gì thì còn có lẽ nhưng đến như mình
có sở đắc về Tây học ít nhiều mà không biết thưởng
thức cái hay cái đẹp của mỹ thuật phương Tây thì
cũng lạ thật?
Có lẽ bởi cái óc tối tăm mà chưa khai quang được
chăng? hay bởi con mắt thịt thiếu tia sáng về mỹ
thuật? Chẳng hay bởi cớ gì nhưng trông những bức
vẽ đàn bà trần truồng thỗn thện thịt bắp vai u thật
cũng không hiểu cái tứ của họa sĩ là ra thế nào.
Nghe người ta cắt nghĩa thì cũng chỉ biết vậy,
hoặc đọc trong sách thì cũng hiểu tạm vậy, thấy
người khen thì cũng gật gù mà khen cho khỏi tiếng
dốt chứ kỳ thực cũng chả cảm thấy một chút nào.
Có những lúc nghĩ lẩn thẩn có những bức mà họ cho
là tuyệt bút kia giá đáng kể hàng muôn hàng triệu
tưởng giá có người đem cho mà về treo ở nhà thời
cũng chả lấy làm thích vì không hiểu nó là cái chi!
Nhiều khi vẫn lấy làm lạ cái đó là một điều khiếm
khuyết trong sự giáo dục của mình... Vì những cái
công trình mỹ thuật kia cả một phần thế giới có
tiếng là văn minh đều công nhận là tuyệt phẩm là
tuyệt tác mà mình tuyệt nhiên chẳng biết cảm phục
thời chẳng ngu xuẩn và chẳng dốt lám ru?
Cũng biết thế nhưng không thể nào làm khác được
thời thà thú thật là dốt là ngu còn hơn miễn cưỡng
mà a dua. Song xét cho cùng thì ra cái tinh thần
của đông tây nó khác xa nhau nhiều quá. Có khi tưởng
rằng hiểu nhưng xét kỹ ra thực không rõ lắm bởi
khác nhau về cái cảm.
Lại có khi miễn cưỡng muốn cảm cho được thì là
cái cảm ấy nó lại không thành thực. Cho nên mỗi
khi thấy người khen tranh Tây đẹp bài hát Tây hay
mình vẫn tự hỏi không biết lời khen ấy có thành
thực không nhỉ? Đông tây tuy vậy vẫn còn cách xa!
Chúng ta cũng không nên quên rằng thời gian đó
ở Pháp có thiếu gì những thanh niên Việt Nam trí
thức chữ nghĩa và bằng cấp cao như Phan Văn Trường,
Trần Văn Chương, Nguyễn Khắc Vệ...
Trong khi Phạm Quỳnh chỉ là một ký giả thường tốt
nghiệp trung học thế mà dám đứng trước Nghị viện
Pháp đặt vấn đề người Pháp phải tôn trọng chủ quyền
và truyền thống văn hoá Việt Nam! Dân tộc Việt Nam
chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng.
Chúng tôi là một quyển sách dầy đầy những chữ viết
bằng thứ mực không phai đã hàng mấy mươi thế kỷ.
Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp
với thời trang nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài
in lên những dòng chữ cũ.
Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào
cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay
vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không
còn quốc tính để biến thành một dân tộc vô hồn không
còn tinh thần đặc sắc gì nữa như mấy thuộc địa cũ
của Pháp...
Thiển nghĩ phải có tài phải tự tin và nhất là phải
có lòng! Tại Paris ông đăng đàn tới 4 lần sâu sắc
hấp dẫn có nhiều tiếng vang được nhiều tờ báo lớn
uy tín ở Paris... đã đăng lại các bài diễn thuyết
hoặc phỏng vấn.
Xuân Ba (Còn nữa

|