VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Những
uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong
Nhà văn Nguyễn Công Hoan viết “Khi viết truyện Kép
Tư Bền, tôi liên tưởng ngay đến bề ngoài cười nụ
bề trong khóc thầm chính là trường hợp của Phạm
Quỳnh!"
Từ Tổng Biên tập tới Bộ trưởng hay động cơ làm
quan của Phạm Quỳnh
Trong báo cáo ngày mồng 8 tháng Giêng năm 1945
gửi cho đô đốc Decoux và cho Tổng đại diện Mordant,
ông Thống sứ Trung Kỳ Healewyn đã phàn nàn về Phạm
Quỳnh như thế này...
Hội Trí Tri Bắc Kỳ - Hội trưởng Phạm Quỳnh, thứ
4 (hàng thứ nhất, từ trái sang)
Vị thượng thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời
mình bằng ngòi bút và bằng lời nói không bao giờ
bằng vũ khí cho sự bảo trợ của Pháp cho việc khôi
phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ
(Bắc, Trung Nam) và cho việc người Việt Nam nắm
trong tay vận mệnh của chính mình.
Một lần nữa vị Thượng Thư Bộ Lại đã kịch liệt chỉ
trích việc trưng thu gạo cho những người Nhật. Ông
ta đã nhắc lại lời đề nghị của mình về xứ Bắc Kỳ
và sự giải phóng mà người Pháp đã hứa. Tôi đã nhận
xét với Hoàng đế Bảo Đại là vị Thượng thư Bộ Lại
của ông ta đã vượt quá chức trách của mình khi vẫn
khăng khăng đòi mở rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật.
Ông ta đòi chúng ta phải triển khai trong thời
gian ngắn những lời hứa về sự giải phóng tiến bộ
theo một kỳ hạn chính xác và đòi chúng ta khôi phục
cho nhà Vua những biểu hiện của một chủ quyền quốc
gia trải rộng ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ.
Phạm Quỳnh còn dọa sẽ khuyến khích phong trào chống
đối nếu như trong những tháng tới chúng ta không
thương lượng với vua Bảo đại về một thể chế chính
trị cho phép chuyển chế độ bảo hộ thành một kiểu
Commonwealth (khối thịnh vượng chung) trong đó những
chức vị chính sẽ được giao cho người bản địa.
Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc
chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ
bảo hộ (Trung Kỳ và Bắc Kỳ) khước từ chế độ thuộc
địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam.
Tôi xin lưu ý ngài một điều là, dưới vẻ bề ngoài
nhã nhặn và thận trọng con người đó là một chiến
sĩ không lay chuyển nổi nền độc lập của Việt Nam
và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước
chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ
nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương
một cách hậu hĩ.
Cho tới nay đó là một địch thủ thận trọng nhưng
cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và
ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan
nhượng nếu ông ta để cho mình bị cám dỗ bởi những
lời hứa hẹn về Thuyết Đại Đông á của người Nhật
Bản.
Năm 1932, Phạm Quỳnh rời tờ Nam Phong (cũng từ thời
điểm ấy vắng một người chủ trương sâu sát, Nam Phong
gần như tuột dốc chất lượng kém hẳn để đình bản
hai năm sau đó) được vời vào Huế. Thoạt đầu làm
Ngự tiền Văn phòng sau rồi Thượng thư Bộ Học ( Giáo
dục) cho đến năm 1944 thì chuyển chức Thượng thư
Bộ Lại - Bộ Nội vụ. Về con đường hoạn lộ của Phạm
Quỳnh cũng có nhiều ý kiến.
Phạm Quỳnh có ôm ấp ý định làm quan không? Có thể
tham khảo những lời nhận xét sau đây của nhà văn
Nguyễn Công Hoan “Khi viết truyện Kép Tư Bền, tôi
liên tưởng ngay đến bề ngoài cười nụ bề trong khóc
thầm chính là trường hợp của Phạm Quỳnh!
Tôi cho Phạm Quỳnh là người có chính kiến. Thấy
nước ta ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau.
Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết Trực trị.
Người Pháp trực tiếp cai trị người An Nam như ở
Nam Kỳ không phải vua quan người Nam thì dân được
hưởng chế độ rộng rãi hơn.
Phạm Quỳnh, trái lại chủ trương thuyết lập Hiến.
Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884 nghĩa
là chỉ đóng vai trò bảo hộ còn công việc trong nước
thì để vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy.
Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải
vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều
Thượng thư Nam Triều. Mà cũng chẳng phải vì lợi.
Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, Phạm Quỳnh được cấp
600 đồng một tháng. Món này to hơn lương Thượng
thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ đổi lấy danh nghĩa
Chính phủ Nam Triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884.
Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ
phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là
một việc miễn cưỡng trái với ý mình để khuyến khích
bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng
một người dân mất nước ai không đau đớn ai không
khóc thầm.
Thế là tôi nghĩ ra được truyện Kép Tư Bền tả một
anh kép nổi tiếng về bông lơn đã phải vì giữ tín
nhiệm với khán giả mà lên sân khấu nhà hát làm trò
cười ngay cái tối cha mình đang hấp hối" (Đời
viết văn của tôi- NXB Văn học Hà Nội năm 1971).
Năm 1931, trước thời điểm được vời vào Huế làm
quan và với cương vị chủ bút Nam Phong, nhân dịp
Tổng trưởng thuộc địa Paul Reynaud qua Đông Dương
kinh lý, Phạm Quỳnh đã gửi bức thư ngỏ tha thiết
yêu cầu chính phủ Pháp hãy cho chúng tôi một Tổ
Quốc để thờ. "Vì đối với dân tộc Việt Nam,
Tổ Quốc đó không phải là nước Pháp!"
Kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết
Quân Chủ Lập Hiến, Phạm Quỳnh ôm ấp ảo tưởng tạo
thắng lợi bằng đường lối thuyết phục điều đình không
bạo động! Mong vãn hồi chủ quyền quốc gia cho dù
chỉ tương đối căn cứ vào phạm vi Hiệp ước Patenôte
năm 1884, hầu như mọi cố gắng của Phạm Quỳnh đã
trở thành bi kịch.
Bi kịch ấy là hậu họa của một thứ ảo tưởng! Mặc
dù ông đã sớm nhìn ra điều không tưởng của thuyết
Pháp Việt đề huề từ tháng Giêng năm 1919 như ông
đã viết trong chuyến thăm Nam Kỳ ...
"Nhiều người tin rằng người Pháp và nước Nam
có thể lấy tình thân ái mà xum hiệp một nhà coi
nhau như anh em và cùng nhau ra công giúp sức cho
nước Nam được tiến bộ nhưng sự thực khó lòng mà
thành hiện thực được! Người Tây bao giờ cũng giữ
bề trên.
Người Nam bao giờ cũng giữ phận dưới có bình đẳng
đâu mà thiệt lòng thân ái như anh em một nhà được.
Những mong lấy tình thân ái mà gây thành một nền
Pháp Việt vững bền thì e rằng còn sớm quá!"
(Một tháng ở Nam Kỳ. NXB Văn học tr. 176) Và thơ
ngây nữa...
Kêu gọi Pháp trao quyền quốc gia quyền dân tộc,
trao cho Tổ quốc mà thờ? Chao ôi dễ dàng quá! Đi
thăm Nam Kỳ thấy đồng ruộng thẳng cánh cò bay đất
đai phì nhiêu dễ làm ăn, ông nóng lòng xót ruột
thốt lên lời than rằng tại sao dân Bắc lại không
vào đây mà sinh cơ lập nghiệp bám chi lấy xứ Bắc
Bộ đất đai bạc màu manh mún lụt lội hạn hán triền
miên mà không biết rằng người nông dân Nam Bộ khi
ấy đang bạc mặt vì trăm ngàn phương thức bóc lột
của những điền chủ giàu có, đang có rất nhiều người
phải bỏ xứ, bỏ ruộng mà đi! Chao ôi có chút chi
đó tồi tội khi ông lâm sự với tư cách là nhà kinh
tế, nhà chính trị như thế?
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Chính
phủ Trần trọng Kim thành lập. Ông xin về hưu trí
sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào
Phủ Cam hiền hòa...
Ông ôm ấp hoài bão trở lại với văn chương, khởi
viết một số bài gom dưới đề kiến văn cảm tưởng nghĩa
là suy ngẫm về những điều đã nghe đã thấy cùng dịch
nôm và bình nghĩa 51 bài thơ của Đỗ Phủ...
Cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi trên cả nước.
Một buổi sáng mùa hè, ông được chính quyền cách
mạng mời đi họp tại trụ sở Tòa Khâm sứ cũ, Phạm
Quỳnh lanh lẹn, vô tư khăn áo ra đi, hẹn với người
thân chiều sẽ về. Nhưng rồi không bao giờ trở lại...
Mãi 11 năm sau, năm 1956 gia đình mới tìm thấy
di hài của ông tại khu rừng Hắc Thú thuộc Quảng
Trị cách kinh thành Huế khá xa, một địa điểm hiểm
trở xa vắng đêm đêm thường có thú dữ lai vãng.
Nhờ hỏi thăm các chứng nhân còn sống mới biết Phạm
Quỳnh mất ngày 6 tháng 9 năm 1945. Di hài Phạm Quỳnh
được gia đình cải táng ngày 9 tháng 2 năm 1956 tại
Huế đặt trong khuôn viên chùa Vạn Phước. Mộ chí
ghi chú bằng Hán tự thật đơn giản Nam Phong chủ
bút Phạm Quỳnh Thượng Chi.
Bằng chất giọng ngậm ngùi, bà vợ nhạc sĩ Phạm Tuyên
đã kể tôi nghe chuyện di dời thi hài Phạm Quỳnh
về chùa Vạn Phước mùa xuân năm Thân mà bà đã nghe
người chị gái cùng em trai chồng trực tiếp làm việc
ấy...
Sau khi tìm được mộ, chính quyền Ngô Đình Diệm
tổ chức lễ sang cát cho Ngô Đình Khôi cực kỳ long
trọng.
Bởi vì hai người (Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh) cùng
chung một nấm nên đành phải thực hiện việc sang
cát cùng một lúc. Thế là một bên cờ quạt trống chiêng
thanh la não bạt cúng kiếng rầm rĩ. Một bên lặng
lẽ thui thủi chỉ có hai chị em... Họ nhận ngay ra
cha mình bởi cặp kính cố hữu quen thuộc. Hai người
ôm cái tiểu đựng hài cốt cha rồi thuê thuyền xuôi
dòng Hương Giang đáp về mạn chùa Vạn Phước.
Ngôi chùa mà lúc sinh thời, khi ở cương vị Đổng
lý Ngự tiền và Thượng thư bộ Học lẫn Bộ Lại, mỗi
khi có việc chi căng thẳng Phạm Quỳnh thường tới
đây một mình để di dưỡng... Nhà chùa từ lâu dành
cho ông một trai phòng lẫn chiếc ghế xích đu. Sư
trụ trì từ lâu vốn quen thân với ông Thượng thư
Phạm Quỳnh bữa ấy đã lặng lẽ đón người quen cũ vào
khuôn viên của chùa.
Nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng cho tôi hay, nhà chùa hiện
còn giữ một vài kỷ vật của Phạm Quỳnh như hoành
phi câu đối. Cả bức hoành bốn chữ Thổ nạp á Âu (Thâu
nạp văn minh Âu á) nói lên tiêu chí của tờ Nam Phong
nghe đâu là thủ bút của Phạm Quỳnh hiện chùa vẫn
giữ. Một lần nhạc sĩ có ý xin nhưng sư trụ trì,
một người mới nhã nhặn rằng chúng tôi đã có di huấn
là cụ nhà có nhiều kỷ niệm ở đây cứ để cho bản tự
lưu giùm...
Cái chết của Phạm Quỳnh
Có không ít tư liệu lẫn sự đồn thổi về cái chết
của học giả Phạm Quỳnh rằng ông bị cách mạng xử
án tử hình (!?). Có hẳn cả một phiên toà!? Ngay
cuốn Tác gia văn học Thăng Long Hà Nội từ thế kỷ
XI đến giữa thế kỷ XX, mục về Phạm Quỳnh ( 1892-1945)
cũng có một dòng Đến Cách mạng Tháng Tám 1945 chính
quyền nhân dân khép án tử hình!
... Tôi may mắn có vài chuyến đi công tác với nhà
sử học Văn Tạo. ở tuổi bát tuần mà nhà sử học cao
niên nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam vẫn
liên miên những chuyến đi điền dã khắp đất nước
tìm tòi thu thập nhiều tư liệu để phục vụ cho công
tác nghiên cứu của mình. Tình cờ, tôi được biết
Giáo sư cùng quê với nhà văn hóa Phạm Quỳnh. Một
lần, tôi đã hỏi Giáo sư về cái chết của Phạm Quỳnh.
Giáo sư đã kể lại câu chuyện dưới đây.
... Cách đây gần 10 năm khi còn là huyện Cẩm Bình
(Cẩm Giàng, Bình Giang họp lại) tôi được huyện ủy
mời về thăm và làm việc trong một tuần lễ. Sau khi
đi thực tế về, Huyện ủy có hỏi tôi “Nay trong các
xã của huyện đang quy hoạch lại cơ sở hạ tầng để
nâng cao kinh tế phát triển văn hóa vậy đối với
Lương Đường các di tích họ Phạm nhất là gia đình
họ Phạm Quỳnh nên như thế nào?’’.
Tôi nói sử học chúng tôi trọng Công minh lịch sử
vốn là thuộc tính của ngành khoa học vì có công
minh lịch sử mới có công bằng xã hội. Xét về nhà
trí thức Phạm Quỳnh ở tỉnh ta thì mọi di tích lịch
sử vẫn nên bảo tồn. Thực tế ông ra làm quan trong
thời bĩ thì dẫu chúng ta không mê tín vào phong
thuỷ Mộ Trạch quan thiên hạ an. Lương Đường sĩ,
thiên hạ bi thì cũng khách quan thấy được rằng sinh
thời của ông là lúc phong kiến đi xuống đất nước
bị thực dân nô dịch khiến chính vua Bảo Đại người
dùng Phạm Quỳnh làm Ngự tiền văn phòng cũng than
rằng mình cũng chỉ là ông vua bù nhìn. Khi thoái
vị còn nói “Làm dân một nước Độc lập còn hơn làm
vua một nước nô lệ”.
Phạm Quỳnh với danh nghĩa là Ngự tiền văn phòng
thì làm sao tránh khỏi phải thực thi mệnh lệnh của
triều đình. Còn xét về hành động thì Phạm Quỳnh
không có hành vi nào tàn ác với nhân dân không đàn
áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại
thời Nguyễn không ra lệnh bắt bớ tù đầy các nhà
yêu nước và cộng sản.
Phạm Quỳnh đã ra làm chủ bút báo Nam Phong do trùm
mật thám Đông Dương Louis Marty chủ trì. Với chức
danh đó ông có thể có vài sai lầm làm hại đến quyền
lợi dân tộc. Nhưng mặt khác ông lại có công chuyển
tải văn hóa Đông - Tây trên văn đàn báo giới Việt
Nam góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ văn
hóa dân tộc Việt Nam thời đầu thế kỷ XX, công lao
lớn đó đáng được ghi nhận.
Về đóng góp của Phạm Quỳnh thì đến nay không ít
nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam đã ghi lại lời Phạm
Quỳnh nhân kỷ niệm Nguyễn Du (Nam Phong năm 1919)
"Truyện Kiều còn! Tiếng ta còn! Tiếng ta còn,
nước Nam còn!" Coi đó là lời nói có ý nghĩa
tích cực đáng ghi nhận!
Gần đây vẫn có người cho rằng vì ông phản động
nên Việt Minh đã thủ tiêu ông? Với những tài liệu
mà tôi có được thì thấy thực không là thế!
Năm 1945 khi Bảo Đại vừa thoái vị trao ấn kiếm
cho chính phủ lâm thời thì có tin Pháp thả dù biệt
kích và gián điệp xuống vùng ngoại vi thành phố
Huế mang theo chỉ thị của Chính phủ Đờ Gôn là phải
tiếp xúc cho kỳ được Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh?!
Lúc đó Bảo Đại trên đường ra Hà Nội đã ra đến Thanh
Hóa còn Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh vẫn ở Huế nên
trên (?) có lệnh cấp tốc di dời hai vị này ra khỏi
cố đô đề phòng những chuyện bất trắc không hay sau
này. Chuyến di dời này có 4 người là Ngô Đình Khôi
(anh ruột Ngô Đình Diệm), Phạm Quỳnh và con trai
Ngô Đình Khôi cùng Nguyễn Tiến Lãng (con rể Phạm
Quỳnh).
Nhưng phương tiện lúc ấy chỉ có một cái xe ọc ạch,
chở được 3 người là Phạm Quỳnh và cha con Ngô Đình
Khôi cùng nhóm du kích áp tải. Nguyễn Tiến Lãng
phải ở lại đi bằng phương tiện khác. Nhóm du kích
áp tải đến một quãng rừng cách xa Huế thì nghe tiếng
tàu bay Pháp ầm ì trên đầu tưởng đâu như tiếng máy
bay thả biệt kích!? Sợ không hoàn thành trách nhiệm
di dời nên nhóm áp tải đã tự động thủ tiêu cả ba
người mà không chờ chỉ thị của cấp trên!
(Cũng có một chi tiết nữa, cần phải được kiểm chứng
kỹ, có người cho rằng trong số người đi áp tải chuyến
di dời đó có người nhà Thượng thư Nguyễn Hữu Bài,
người có mối hiềm từ lâu với Phạm Quỳnh nên đã lợi
dụng việc này mà giải quyết ân oán?!).
Sự việc diễn ra như một ngẫu nhiên. Nó cũng đã
để lại những dấu ấn tiêu cực trong các mối quan
hệ nhân quả không lường trước được. Cụ thể trong
cuộc gặp gỡ với đồng chí Vũ Ngọc Nhạ (một anh hùng
tình báo của ta vừa qua đời) tại cuộc hội thảo khoa
học do Viện Bảo tàng chứng tích chiến tranh vào
cuối năm 2001, tôi đã được nghe Vũ Ngọc Nhạ cho
biết: Có lần Ngô Đình Diệm đã bộc lộ lòng kính trọng
Cụ Hồ. Nhưng lại nói, tôi không thể đi với Việt
Minh được, vì nếu vậy thì tôi biết ăn nói gì với
gia đình tôi về cái chết của anh ruột và cháu tôi?”.
Như vậy sự kiện về Phạm Quỳnh qua đời nay vẫn còn
chưa được làm rõ. Ngày 4 tháng 10 năm 2002, nhân
gặp Huy Cận một trong ba người tước ấn tín của Bảo
Đại sau Cách mạng Tháng Tám, tôi hỏi về cái chết
của Phạm Quỳnh thì nhà thơ Huy Cận nói: “Chính tôi
đã được Bác Hồ giao cho việc đi đón bà Phạm Quỳnh
và con gái xin vào gặp Bác Hồ...
Vừa tới nơi Bác đã ân cần hỏi thăm sức khỏe và
nói ngay với bà Phạm Quỳnh “Bà ơi! Đã lỡ mất rồi...”.
Bác còn dặn dò là bà Phạm cố gắng dạy dỗ con cháu,
tích cực làm việc cho dân cho nước’’ Các con cháu
bà cho đến nay đã thực hiện được lời khuyên của
Bác như các ông Phạm Khuê, Phạm Tuyên...
Kết thúc cuộc trao đổi, Giáo sư Văn Tạo nói thêm,
đối với quê hương Hải Dương chúng tôi, nên làm rõ
được sự kiện lịch sử này thì cũng có lợi cho việc
thực hiện tính công minh lịch sử nhằm đảm bảo tính
công bằng xã hội đúng với mục tiêu Đảng đề ra Dân
giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục
Có một nhà thơ nước ngoài đã lấy đề tài về Phạm
Quỳnh để hoàn thành một bản trường ca.
Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục - Đó là tên một
trường ca của thi sĩ người Đan Mạch tên là Erik
Stinus. Thời điểm ông hoàn thành bản trường ca là
một giai đoạn khó khăn và có thể nói là bi tráng
của đất nước Việt Nam. Như những dòng ông viết kết
thúc bản trường ca Copehagen 17-9-1979. Thành phố
Hồ Chí Minh 11-10-1980.
Trong một chuyến thăm Đan Mạch tháng 7 năm 1997,
nhà thơ Phạm Tiến Duật đã mang về Việt Nam trường
ca này đưa cho nhạc sĩ Phạm Tuyên. Để cho chắc,
nhạc sĩ Phạm Tuyên nhắn cho bà chị ruột mình là
Phạm Thị Hoàn đang định cư ở Mỹ nhờ một kênh nào
đó liên lạc với Đan Mạch. Kênh liên lạc của bà Hoàn
đã có kết quả.
Thi sĩ Erik đã nhận được sách về Phạm Quỳnh do
bà Phạm Thị Hoàn gửi tặng và ông đã sốt sắng biên
thư trả lời cho bà Hoàn cùng bản sao trường ca Phạm
Quỳnh và câu chuyện tiếp tục (bản tiếng Đan Mạch
và tiếng Anh) do chính tay ông đề tặng.
Với bút pháp siêu thực, các chương trường ca (
nếu được xuất bản) chắc sẽ mang cho người đọc nhiều
sắc thái thẩm mỹ phong phú. Người chuyển ngữ ra
tiếng Việt hơn 300 câu của trường ca (bản thảo hiện
lưu tại gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên) có thể nói
khá thành công là bà Trịnh Thị Ngọ, nghệ sĩ ưu tú,
nguyên phát thanh viên tiếng Anh của Đài Tiếng nói
Việt Nam.
Xin trích ra đây bức thư của thi sĩ Erik Stinus
gửi bà Phạm Thị Hoàn, con gái nhà văn hóa Phạm Quỳnh
để bạn đọc biết thêm được cơ duyên ra đời của bản
trường ca độc đáo này.
... Bà ( con gái Phạm Quỳnh-NV) đã đặt cho tôi
một câu hỏi rất khó. Đó là tại sao tôi lại biết
đến cụ thân sinh của bà với công trình của một học
giả về văn chương. Tôi đã cố gắng ôn lại những chặng
đường của mình và những điều tôi đã đọc qua nhiều
năm nhưng chưa thể làm sáng tỏ câu hỏi của bà được.
Như bà đã biết, tôi là một người làm thơ và hư
cấu... Đã có biết bao điều xảy ra trên thế giới
này với tôi, cũng vì vậy có biết bao nhiêu người
đã toả sáng trong những trang tôi đã viết và những
trang tôi sẽ viết.
Quê hương Việt Nam và nhân dân của bà đã ở trong
tâm trí tôi nhiều năm và Pham Quynh Og Den Videre
Historie (Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục) chính
là một tựa đề như có sẵn trong bài thơ thứ sáu mà
tôi viết về Việt Nam.
Tôi viết bằng tiếng Đan Mạch, một thứ ngôn ngữ
chỉ dành cho 5 triệu người. Vì vậy những gì mà tôi
viết ra thông thường khó mà được ai biết đến ngoài
đất nước Đan Mạch.
Vì vậy tôi có phần lúng túng khi được biết là bà
lại có thể biết (và do đâu?) về bài thơ của tôi,
nhưng tất nhiên tôi đặc biệt vui mừng thấy bà lại
có thể biết nó qua một bản dịch mà bà có được qua
một trong những người bạn của tôi ở Việt Nam, tôi
tin là như thế!
Tôi đã đến Việt Nam 3 lần. Lần đầu là dịp kỷ niệm
lần thứ 600 nhà thơ Nguyễn Trãi. Vào dịp đó cùng
với một số nhà thơ của nhiều nước, tôi đã có dịp
gặp một số nhà văn và học giả của Việt nam. Tôi
cũng đã gặp Phạm Văn Đồng và Tướng Giáp. Và tôi
đã được đọc nhiều sách của Việt Nam qua những bản
dịch mà tôi có được.
Một trong những sách đó là Truyện Kiều của Nguyễn
Du. Cũng giống như lời tựa và bài giới thiệu mà
cụ thân sinh ra bà đã giới thiệu về tập thơ nhưng
cũng có thể do một trong những người dự hội thảo
về Nguyễn Trãi đã nói về công trình của Phạm Quỳnh.
Tại hội thảo này có nhiều nhân vật nổi tiếng tham
gia, trong đó có cả một số người Việt không sống
ở Việt Nam mà ở ngoài nước. Một trong số người đó
là một học giả về âm nhạc, ông ấy đã giới thiệu
cho tôi về nền âm nhạc cổ điển của Việt Nam.
Những bài thơ tôi viết bằng sự tưởng tượng của
riêng mình mà không hỏi bất cứ người nào khác. Trong
bản trường ca đó bà có thể thấy những trăn trở,
những giấc mơ và những niềm hy vọng của tôi qua
việc phác thảo những thời điểm rối ren và đầy xáo
động.
Tôi hoàn thành tác phẩm của tôi trong chuyến thứ
hai thăm Việt Nam.
Đó là tất cả những gì tôi có thể nói cùng bà và
tôi rất vui mừng vì đối với bà nó cũng phản ánh
một chuyện có thật về thân phụ của bà, ít nhất trong
một chừng mực nào đó.
Người làm thơ có thể mong mỏi một chút rằng họ
có được vài người nghe và hiểu họ. Và chính bà lại
là người đã nghe được và điều đó đối với tôi quả
thật là nhiều hơn một chút.
Với lời cầu chúc nồng nhiệt nhất của tôi.
Erik Stinus
Làng Lon- Mùa Vu Lan năm Dậu
Xuân Ba

|