| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Trang
tưởng niệm Phạm Quỳnh
Những uẩn khúc trong cuộc
đời ông chủ báo Nam Phong (1)
Những uẩn khúc trong cuộc
đời ông chủ báo Nam Phong (2)
Những
uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong
Phạm
Quỳnh :Pháp du hành trình nhật ký

Phạm
Quỳnh: Người Nặng Lòng Với Tiếng Ta
Thượng
Thư Bộ Lại Phạm Quỳnh trong y phục đại trào
*Tiếng Ta "Cái Vốn Qúy Báu Nhất"
*"Truỵện Kiều Còn, Tiếng Ta Còn, Nước Ta Còn..."
Phạm Quỳnh quê gốc làng Lương Ngọc, trước là Lương
Đường mà tên về đời Lê là Hoa Đường thuộc phủ Bình
Giang tỉnh Hải Dương. Nhưng lại sinh tại Hà Nội,
số nhà 1 phố Hàng Trống, bên hồ Hoàn Kiếm, ngày
30/1/1893, cuối năm Nhâm Thìn (1) . Gia đình ông
sớm lên Hà Nội lập nghiệp; vì cả làng hầu như chỉ
có một nghề là “nghề dạy học”
Từ khi lọt lòng, Phạm Quỳnh đã èo uột. Chín tháng,
mẹ đột ngột qua đời. Bà nội là cụ Cả phải bế đi
xin bú chực hàng xóm, láng giềng và mớm cơm cho
ăn. Còn phải chăm sóc cháu ốm đau luôn; vất vả nhất
là hồi bị đậu mùa. Sau này, di chứng sót lại là
khuôn mặt tuy trắng trẻo, có vẻ thư sinh, lại hơi
rỗ hoa, và một bên mắt nhìn rất kém. Mãn tang vợ,
ít lâu sau, cha tục huyền, sinh được một trai, đặt
tên là Phạm Bái. Còn èo uột hơn cả anh.
Thân phụ là Phạm Hữu Điển, xuất thân tú tài nho
học, dạy nhiều học trò. Nhưng, chính con trai, thì
trước sau chỉ học được có hai chữ nho viết tên mà
thôi! Năm Phạm Quỳnh lên chín, lại mất cha. Chẳng
bao lâu sau, cậu bé Bái cũng mất. Bà mẹ kế còn ít
tuổi, được phép nhà chồng, đi bước nữa.
Phạm Quỳnh được bà nội nuôi cho ăn học. Hai bà cháu
sống cùng bà cụ Tú, vợ người tuyệt tự đã cho ông
nội hưởng thừa tự một căn nhà hình ống nhỏ hẹp.
Nhà này do học trò dựng để thờ thầy là cụ Dưỡng
Am Phạm Hội, thân sinh chồng bà cụ Tú.
Hai bà cụ tính, dù sao cũng phải cho đứa cháu côi
cút, yếu ớt “đi học cho có cái chữ, để sau này còn
có cái ra mà sống với đời chứ.” Bèn cho đi học ở
trường Pháp Việt gần nhà.
Học chữ quốc ngữ và chữ Pháp thì Phạm Quỳnh rất
ham, học nhanh lắm. Chẳng bao lâu, được vào học
không mất tiền ở Trường Thông Ngôn Hà Nội (Collège
des Interprètes) bên sông Hồng. Sau đó, trường này
hợp nhất với trường Thành Chung Nam Định (Jules
Ferry) thành trường Thành Chung Bảo Hộ (Collège
du Protectorat) mà dân ta thường gọi là trường Bưởi,
tức trường Chu Văn An sau này. Vẫn không mất tiền
học, lại còn được học bổng (2). Năm 1908, Phạm Quỳnh
tốt nghiệp thủ khoa khoá đầu trường Thành Chung
Bảo Hộ. Tuy mới 15, 16 tuổi đầu, ông đã chính thức
trở thành công chức, làm thông ngôn tại trường Pháp
Quốc Viễn Đông Bác Cổ (École Francaise dExtrême-Orient)
ở Hà Nội. Hằng ngày, đi bộ từ phố Hàng Trống, qua
hồ Hoàn Kiếm đến đấy làm việc và học tập miệt mài.
Ham học đến nỗi có lần bị khiển trách vì “lơ là
công việc được giao”.
Người vợ đảm đang
Bà
Phạm Quỳnh trong y phục đại trào
Thấy cụ Tú đã già và cụ Cả còn khoẻ, nhưng tuổi
cũng đã cao mà hai cụ vẫn phải sớm hôm chăm lo,
bận rộn vì mình, ông áy náy quá.
Năm sau, nhờ người mai mối, ông cưới cô Lê Thị Vân,
con cả một gia đình ký lục, gốc nông dân. Cô cũng
sinh năm Nhâm Thìn như ông, nhưng là đầu năm, có
hai em gái và một em trai út. Cô này khoẻ mạnh,
tươi tắn, trắng nõn nà. Tóc để đuôi gà, răng đen
nhưng nhức hạt huyền, đúng như lòng ông hằng mơ
ước. Chính năm 1909 này, Trường Viễn Đông Bác Cổ
cử ông sang Pháp làm chức trợ giáo cho giáo sư Deloustal,
giảng dạy tại khoa tiếng An Nam Trường Đông Phương
Bác Ngữ (École des Langues Orientales). Nhưng, bấy
giờ, mới lấy vợ, ông không chịu đi. Trường phải
thay bằng ông Phan Văn Trường.
Đôi vợ chồng son vẫn sống trong căn nhà nhỏ hình
ống với hai bà cụ, nhưng ở buồng ngoài, có cửa tò
vò, sát đường phố. Tiếp đó là cái sân nhỏ, có giếng
nước. Rồi đến buồng hai bà cụ và bàn thờ hai cụ
ông. Đây cũng là nơi kê bàn học và làm việc của
Phạm Quỳnh thời trẻ. Và cho đến những ngày cuối
đời, bao giờ ông cũng giữ nếp đó: học hành, viết
lách, làm việc trước bàn thờ tổ tiên, như để tổ
tiên hằng ngày chứng giám mọi điều mình nghĩ, mọi
việc mình làm. Sau một cái sân con nữa là nhà thờ
cụ Dưỡng Am Phạm Hội. Trong cùng là một khoảnh vườn
khá to. Giữa vườn có cây táo và một cây bồ hòn,
lấy quả để giặt giũ.
Cuộc sống gia đình đỡ gieo neo, hai cụ đỡ vất vả,
Phạm Quỳnh yên lòng, cảm thấy hạnh phúc đơn sơ mà
thật quý báu vô cùng.
Cô Vân, vốn con nhà nông, hay làm, khéo quán xuyến
việc nhà, lại tài nấu nướng, để chồng yên tâm đèn
sách. Cô còn giỏi ca dao, sành tục ngữ, tài ví von,
thuộc nằm lòng nhiều truyện nôm, nhất là Truyện
Kiều, nhưng không biết chữ nho, cũng chẳng biết
chữ quốc ngữ. Chỉ rất rành tiếng ta, nhất là khẩu
ngữ dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ, các sự tích
vùng quanh làng Lương Ngọc quê chồng, hay làng Thọ
Vực tổng Xuân Cầu huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh,
“quê hương quan họ” của cô.
Vốn ham học, giàu lòng yêu nước thương nòi, yêu
tiếng ta, quí trọng lịch sử dân tộc, Phạm Quỳnh
tìm thấy trong chữ quốc ngữ mới phôi thai như một
vũ khí chiến đấu phục vụ Tổ Quốc hợp với sức mình.
Ông lại được tắm mình trong cội nguồn ngôn ngữ dân
tộc hằng ngày qua lời ăn, tiếng nói của hai cụ bà
và cô vợ trẻ yêu. Từ câu hỏi thăm sức khoẻ buổi
sáng, những lời trò chuyện, bàn bạc trong hai bữa
cơm đến những khi gia đình sum họp dưới ánh đèn
chuỵên vãn và cả lúc đêm khuya thanh vắng, nghe
lời thỏ thẻ của cô vợ trẻ, đang lúc dào dạt yêu
thương. Những lời ăn tiếng nói dân gian ấy cứ tự
nhiên thấm vào lòng, quyện với những tri thức Đông
Tây, kim cổ mà chàng thanh niên ham học hấp thụ
hằng ngày trong công việc khảo cứu tại trường Viễn
Đông Bác Cổ, khiến chàng càng tin vào sức sống mãnh
liệt của tiếng ta. Nhất là từ nay, đã có phương
tiện thuận lợi để thể hiện trên mặt giấy. Đó là
chữ quốc ngữ. Ông hăm hở lục lọi các kho tư liệu
cũ nát phủ đầy bụi thời gian, viết bằng chữ Hán
và chữ Nôm, hai thứ chữ do công việc bắt buộc ông
phải khổ công tự học, đến nay, đã làm chủ được rồi.
Một hôm, ông sững sờ khi đọc lần đầu tiên hai bài
văn tế tướng sĩ viết bằng chữ Hán của một nhà nho
yêu nước chống Pháp, trong tập Lệ ngữ văn tập. Bài
văn lay động mạnh tâm hồn ông. Ông bắt tay ngay
vào dịch với mong muốn để nhiều người, cả Việt lẫn
Pháp, có thể tiếp xúc được với ngọn lửa yêu nước
thương dân ngùn ngụt cháy trong lòng nhà nho nọ.
Một việc làm quá sức ông. Nhưng, với lòng kính yêu
tha thiết các chiến sĩ chân đất đã dũng cảm đứng
lên cứu nước trong cuộc chiến không cân sức, một
mình Phạm Quỳnh đã lặng lẽ tra cứu, so sánh, nghiền
ngẫm, rồi dịch ra Pháp văn, và khôn khéo đưa vào
tạp chí thường kỳ của Trường Viễn Đông Bác Cổ (số
đặc biệt) như “một tài liệu nghiên cứu mới được
phát hiện để giúp độc giả hiểu thêm về Việt Nam”
Sau những ngày làm việc, học tập căng thẳng, những
giờ phút nghỉ ngơi bên gia đình yêu dấu - cô vợ
trẻ, bà nội, cụ Tú - thật là quý báu, bổ ích. Bên
chén chè, họ bàn chuyện nhà chuyện họ tộc làng xóm
ở hai quê nội ngoại, Phạm Quỳnh ghi nhớ và còn ghi
chép nữa, biết bao là tục ngữ, ca dao, lời ăn tiếng
nói độc đáo từ “ba nguồn suối ngôn ngữ dân gian”
ấy. Có những lúc cả ba người phụ nữ như chỉ toàn
nói bằng tục ngữ ca dao mà vẫn diễn đạt được trọn
vẹn ý mình muốn nói. Mà còn ý nhị, dí dỏm, duyên
dáng, sâu sắc hơn lời nói thường. Càng sinh động
hơn hẳn những gì hằng ngày ông vẫn đọc trong sách,
báo. Ông chỉ nghe; khi chưa nghe rõ thì hỏi, chứ
tịnh không dám nói gì. Vì biết mình không thể nói
gì hay hơn, đúng hơn các bà. Và ghi chép. Rồi suy
nghĩ, nghiền ngẫm. Còn đọc thêm những gì người trước
đã viết về ca dao, tục ngữ, nhất là các tập sưu
tầm tục ngữ, ca dao các miền đất nước. Để so sánh,
đối chiếu, cố gắng hiểu cho ra ý nghĩa đích thực
của từng bài, từng câu, thậm chí từng từ. Rồi những
ngày Tết nhất, những dịp giỗ chạp, các cụ các bà,
trong đó có bà Cả Mọc (Hoàng Thị Uyên - một nhân
vật nổi tiếng của Hà Nội xưa) gọi bà cụ Tú bằng
mợ, và các cụ học trò cụ Dưỡng Am, như ông ký lục
Đỗ Thận, ông lang Hàng Đường, v.v đến dự, trò chuyện
rôm rả, ông lại càng kinh ngạc trước sức mạnh diệu
kỳ của tiếng ta, càng học thêm được bao cách nói
tài tình, táo bạo, thâm thuý đến bất ngờ của ngôn
ngữ dân gian. Lòng say mê ấy càng tăng lên gấp bội
trong những dịp ông cùng vợ về quê, ra đồng xem
bà con làm ruộng, trò chuyện cùng hàng xóm láng
giềng, nhất là những lúc trò chuyện cùng người thân
trong gia đình. Những câu, những chữ tưởng như đã
biết, đã hiểu quá rõ rồi, nay nghe lại thấy như
có ý nghĩa, sắc thái mới mẻ hẳn khi được nói đúng
lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng, lại trong cảnh thiên
nhiên đồng nội đẹp tuyệt vời nơi quê nhà thân thiết.
Những buổi sáng, chiều ra đồng làng xem bà con thôn
Nhân Thục quê vợ cày cấy, tát nước, lắng nghe và
ghi vào lòng mình những lời ca tiếng hát, điệu hò,
câu ví, lời đối đáp mộc mạc, dân giã mà thâm thuý,
chứa đựng những chân lý xuất phát từ lao động đời
sống mà ra, lại được kiểm nghiệm, thử thách, xác
nhận giá trị đích thực qua chính cuộc sống lao động
của nhân dân. Những lúc nghỉ ngơi giữa đồng lộng
gió, dưới mái điếm lợp ngói xưa mát rượi, cùng bà
con ăn tạm củ khoai lang với miếng cà muối, hay
củ dong riềng, Phạm Quỳnh ân cần lễ độ xách ấm đất
nung, khi thì nước vối nóng khi thì nước chè tươi,
rót ra bát mời từng bà con giải khát, cung kính
như với những người thầy đang dạy mình tiếng Việt.
Rồi những tối, sau bữa cơm chiều, cùng gia đình
uống nước bên hiên nhà, có bà con mến khách Hà Nội
sang chơi góp chuyện. Hoặc cùng vợ sang thăm tận
nhà bà con, người làng. Đều là những dịp tốt để
ông học hỏi được nhiều từ ngữ, lối ăn nói mới lạ,
khác xa trong sách vở đã đọc, đồng thời giúp xác
minh được không ít những câu, chữ đã biết, nhưng
chưa thể yên tâm về mặt chữ hoặc nghĩa. “Những người
thầy” mà ông học được nhiều nhất, vì dám hỏi nhiều
nhất, chính là người nhà. Đó là bà Ký, thân mẫu
cô Vân, các em cô như cô Hợp, còn gọi là Nhỡ, cậu
Tốn, còn gọi là Xuân. Cô Mai dưới cô Hợp, trên cậu
Tốn thì ông ít được gặp, vì cô đã bỏ nhà đi nương
nhờ cửa Phật từ nhỏ. Nhưng cô Mai lại là một nguồn
từ ngữ quý giá khác về ngôn ngữ Phật giáo dân gian
thuần Việt. Cứ như thế, năm tháng qua đi, tình yêu
người dân thường giản dị qua những người ruột thịt
quyện chặt với tình yêu tiếng nói sáng trong, đậm
đà sức sống Việt Nam đã thấm đẫm trái tim nhạy cảm
của Phạm Quỳnh. Ông chỉ mong có ngày được đem vốn
liếng quý báu nhất ấy mà mình may mắn được hưởng
cống hiến cho nhân dân, góp phần mở mang sự học,
nâng cao dân trí, hầu chung sức cùng toàn dân đưa
đất nước tiến lên bằng người. Đó là điều cứ canh
cánh bên lòng ông, chẳng giây phút nào nguôi. Càng
hiểu biết, càng rộng tầm nhìn, càng thêm khao khát
góp phần thực hiện. “Từ khi khôn lớn, biết nghĩ
đến giờ, chỉ nuôi một cái chí ở trong lòng, là đối
với nhà, làm thế nào nối được nghiệp của ông cha,
đối với nước, làm thế nào giúp cho quốc hồn được
tỉnh tao, để mong cho quốc văn được sáng sủa; cũng
biết rằng tài có khi không kịp chí, nhưng khu khu
(3) một tấm lòng thành chỉ sở nguyện có thế mà thôi,
không dám đem cái chí nguyện mà hy sinh cho sự giàu
sang” (4)
“Cái vốn quí báu nhất”
18, 19 tuổi đã sinh con trai đầu lòng, đặt tên
là Phạm Giao. Hai năm sau, một gái ra đời. Hai năm
kế, lại một gái nữa. Gia đình đông đúc dần, nhưng
tất cả vẫn đoàn tụ dưới mái căn nhà nhỏ hình ống
được thừa tự ở đầu phố Hàng Trống. Sau này, bà cụ
Tú mất được mấy năm thì ông đồng sáng lập và làm
chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong, với hy
vọng ngây thơ là sẽ lợi dụng được Tây để thực hiện
“cái chí bình sinh của mình”. Bấy giờ, ông mới bán
nhà cũ đi, mang bàn thờ tổ tiên đến nhà mới thoáng
rộng kiểu Tây ở số 5 phố Hàng Da. Bàn học và làm
việc, theo nếp cũ, vẫn kê dọc trước bàn thờ như
xưa. Phòng tiếp khách ở dưới. Hai tầng nhà này nối
với hai tầng nhà kế bên bằng một cây cầu gỗ, lát
gạch đỏ, hai bên chấn song chạy con tiện sơn xanh
lá cây. Bà nội, vợ cùng các con ở cả bên ấy. Lũ
trẻ thường chạy ùa qua cầu sang bên ông, vừa chạy
vừa gọi rối rít “Thầy ơi! Thầy ơi!”. Ông rất thương
yêu các con, nhưng vẫn cần có cuộc sống riêng của
mình. Tất cả vì “cái chí ở trong lòng”. Hằng ngày,
ông vẫn đi bộ đến làm việc ở Hội Khai Trí Tiến Đức,
ngay bên Hồ Gươm, cuối phố Hàng Trống. Còn nhà là
toà soạn tạp chí Nam Phong rồi.
Nhờ những bài văn quốc ngữ nhiệt thành, chín chắn,
sâu sắc đăng trên Đông Dương Tạp Chí từ năm 1913,
ông đã trở thành “nhà báo có hạng, văn sĩ tài danh”
rồi, mặc dù mới ở tuổi hai mươi. Trong hơn bốn năm,
ông dùng báo Nam Phong cổ động, vun đắp, bồi dưỡng
cho chữ quốc ngữ và khuyến khích việc học chữ quốc
ngữ, làm văn, làm thơ bằng chữ quốc ngữ, dùng chữ
quốc ngữ không những chỉ để dịch thơ văn chữ Hán,
mà còn dịch cả văn, thơ, triết học, khoa học từ
tiếng Pháp, sưu tầm, phiên âm thơ văn chữ nôm, dịch
thơ văn chữ Hán của ông cha, tiên tổ. Đã đến lúc
Phạm Quỳnh quyết định phải nâng cao lòng tin yêu
của người đương thời đối với tiếng ta, bằng cách
xuất ra “ cái vốn quí báu nhất” mình có, đồng thời
cũng tỏ rõ ”cái chí bình sinh của mình”.
Ngày thứ năm, 21-4-1921, ông đăng đàn diễn thuyết
về đề tài ruột, thân thiết nhất mình ôm ấp hàng
mấy chục năm ròng. Ông nói với giới trí thức đương
thời-mà phần lớn, nếu không sùng chữ Hán, thì lại
sùng tiếng Pháp- về tiếng ta. Mà lại là về phần
nôm na, dân giã nhất trong tiếng ta: Ông nói về
tục ngữ, ca dao. Trước cử toạ là các văn nhân, học
giả, giới thượng lưu trí thức; có cả những người
Pháp uyên thâm Hán học, hiểu rành rẽ tiếng Việt,
ông chân tình nói:
- Tôi bình sinh chỉ có một chút nhiệt thành là nhiệt
thành với chữ quốc ngữ, hết sức trông mong về cái
vận mệnh quốc văn ta sau này; thường nghe thiên
hạ phẩm bình về văn quốc ngữ, người khen thời hởi
dạ, người chê thời đau lòng, dường như có quan hệ
đến công phu bấy lâu nay, sự nghiệp cả một đời (5)
Ông nêu câu hỏi là hàng ngàn, hàng vạn năm qua,
người nông dân bình thường, không biết chữ “đã lấy
gì mà tả nỗi lòng?” Và khẳng định ngay: “là cái
tiếng quốc âm rất quý báu của ta.” Rồi nói tiếp
“Há chẳng phải là những lời tục ngữ, câu ca dao
ta thường nghe thấy trong dân gian, mà dẫu người
học thức lắm khi cũng phải chịu là hay, cũng không
từ dùng đến? Há chẳng phải là cái văn chương truyền
khẩu kia, mẹ dạy cho con từ khi bú mớm, chồng nói
với vợ những lúc đêm khuya, trai gái ngâm vịnh với
nhau những ngày hội hè vui vẻ hay là dưới bóng nguyệt
tờ mờ! Mà cái văn chương truyền khẩu ấy, tuy không
có sách nào biên chép, mà tôi dám quyết là một thứ
văn chương rất phong phú, tưởng không có nước nào
có một cái văn chương truyền khẩu giàu như nước
ta. Mà cái văn chương truyền khẩu ấy, thật có ý
vị vô cùng, có thể nói bao nhiêu luân lý, học thức,
mỹ thuật, văn từ phổ thông trong dân gian là bao
gồm chung đúc cả ở đây. Tiếng Việt Nam ta, không
có gì là không nói bằng phương ngôn tục ngữ được!”
(6)
Sau đó ông dẫn ra vô số tục ngữ ca dao, diễn giải
ý tứ một số câu này, bình luận một số câu nọ, khiến
người nghe thảng thốt, đi từ ngạc nhiên này đến
ngạc nhiên khác, bất giác đồng loạt vỗ tay hồi lâu
tán thưởng những khi đắc ý, rồi lại say mê hào hứng
như vừa khám phá ra một kho báu lâu nay chính mình
đã có mà không biết, để rồi hoàn toàn bị diễn giả
trẻ tuổi (bấy giờ, ông mới 28, 29 tuổi) thuyết phục.
Kết thúc bài diễn thuyết, ông nói vắn tắt mà xúc
động, vì đấy là những lời tâm huyết nhất:
-Dù ta học tiếng Tây hay học chữ Tàu, ta cũng chớ
nên quên bỏ tiếng Tổ Quốc, là cái tiếng từ khi lọt
lòng ra đã học nói, và đến khi hấp hối chết cũng
còn nói. Ta nên nhớ lấy câu ca dao của nước nhà
Ta về ta tắm ao ta
Dù trong, dù đục, ao nhà vẫn hơn (7)
Hơn mười năm sau, năm 1932, Tục ngữ ca dao được
xuất bản thành sách trong Nam Phong Tùng Thư. Cuối
bài diễn thuyết năm nào, có thêm mấy hàng chú thích:
“Tục ngữ ca dao là do khẩu truyền, cho nên lắm khi
vô bằng. Có khi một câu mà mỗi nơi đọc ra một khác,
mỗi người hiểu ra một nghĩa. Những câu tôi chép
trong bài này, hoặc sở đắc ở miệng người hoặc nhặt
ở các sách người khác biên tập, chắc cũng nhiều
câu không được đúng, không thể nào biết hết được.
Vậy có chỗ sai lầm, xin hải nội chư quân tử chỉ
giáo cho, tác giả có lời cảm ơn trước.” (8)
Tập Tục ngữ ca dao năm 1932 ấy còn có thêm phần
PHỤ LỤC ít nhiều câu tục ngữ và ca dao. Riêng phần
phụ lục ít nhiều câu tục ngữ xếp thành câu đối có
vần và một ít ca dao đã có đến 419 cặp, phần Ca
dao xếp tiếp vận có 100 cặp. Còn phần Ca dao đặt
thành bài, gồm 30 bài từ bốn câu đến 44 câu, lại
có chú thích rõ: “Những bài hát này hoàn toàn truyền
khẩu cả, nên cứ bằng vào cửa miệng mà sao, không
biết thế nào là đúng” (9)
Mặc dù tác giả đã viết: “chắc cũng nhiều câu không
được đúng”, hoặc “không biết thế nào là đúng” và
đề nghị: “Vậy có chỗ sai lầm xin hải nội chư quân
tử chỉ giáo cho”, vậy mà hơn mười năm sau khi sách
xuất bản, hơn 20 năm sau buổi diễn thuyết tại hội
Khai Trí Tiến Đức, nhà phê bình nổi tiếng Vũ Ngọc
Phan, trong Nhà văn hiện đại (tập I) do Tân Dân
xuất bản năm 1942 tại Hà Nội, khi viết về Tục ngữ
ca dao vẫn phải thốt lên: “Những cái đặc sắc trong
quyển Tục ngữ ca dao là mấy điều này: Những câu
tục ngữ, phương ngôn, và ca dao mà ông lựa chọn
đều là những câu rất đúng, không như những câu trong
mấy quyển ca dao khác phần nhiều đầu Ngô mình Sở,
câu ở bài nọ chắp vào bài kia! Ông lại định nghĩa
rất rõ thế nào là tục ngữ, thế nào là phương ngôn,
và thế nào là ca dao”. Rồi lại bình tiếp:”Quyển
Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh tuy chỉ là một bài
diễn văn dài, vừa biên tập vừa bình luận, nhưng
thật là một quyển sách viết có phương pháp và xét
nhận rất đúng. Bảo Phạm Quỳnh là một nhà văn có
con mắt xét nhận rất đúng, cũng không có gì là lạ,
vì chính ông là một nhà phê bình” (10)
Gió Nam thổi trên đất Pháp
Một năm sau buổi diễn thuyết ấy, Phạm Quỳnh sang
Pháp với tư cách là tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến
Đức do ông sáng lập, tham dự cuộc Đấu Xảo Thuộc
Địa, tổ chức tại Marseille. Chỉ mang theo một cuốn
nhật ký nhỏ xíu và một “bản Kiều tùy thân”, người
thanh niên Việt Nam nước da trắng xanh, dong dỏng
cao, có dáng “lưng tôm”, vẻ thư sinh ấy, đã tranh
thủ mọi mối quan hệ bạn bè riêng tư để bốn lần đăng
đàn diễn thuyết, mong giúp người dân Pháp hiểu đúng
người Việt Nam và văn hoá Việt Nam. Ở đâu, ông cũng
nói sâu sắc và hấp dẫn, mà chẳng hề đao to búa lớn,
không cậy nhờ ở tài hùng biện, mà chinh phục cử
toạ ưu tú nước Pháp bằng những sự thật lịch sử,
những lý lẽ hiển nhiên không thể chối cãi. Đặc biệt,
ngày 22-7-1922, trong bộ quốc phục áo dài khăn đóng
giản dị mà trang trọng, ông “cả gan” trình bày trước
Ban Luân Lý Chính Trị Viện Hàn Lâm Pháp về Một vấn
đề dân tộc giáo dục. Lời nói thật khúc chiết, hùng
hồn, tha thiết, bằng một giọng văn tiếng Pháp mẫu
mực, khiến các viện sĩ Pháp phải phá lệ, đồng loạt
đứng dậy vỗ tay hồi lâu khi ông vừa dứt lời. Một
hiện tượng chưa hề có trong lịch sử viện hàn lâm
đầy uy tín này. Báo chí Pháp đương thời đã loan
tin lạ này trên trang nhất, đăng lại bài diễn văn
và kèm theo là bức ảnh ông mặc áo gấm, bế trong
lòng cô con út mới sinh. Bức ảnh ông chụp trước
khi đi Pháp, bà vợ biết chồng nhớ con vừa gửi sang.
Bé gái Việt Nam xuất hiện trên báo chí Pháp năm
1922 ấy, sau này sẽ là Tiến sĩ Sorbonne Phạm Thị
Ngoạn, tác giả luận văn Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong
(Introduction au Nam Phong)
Chống lại chính sách ngu dân của bọn thực dân Pháp
đang thi hành ở nước ta, ông dõng dạc nói trước
những đại biểu của tinh hoa trí tuệ và lương tâm
Pháp hiện diện tại Viện Hàn Lâm Pháp những lời sau
và đã được họ tán thưởng hoàn toàn:
- Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một
tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dày đầy
những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ
mấy mươi thế kỷ. Quyển sách ấy có thể đóng theo
kiểu mới cho hợp với thời trang, nhưng không thể
đem một thứ chữ ngoài in lên dòng chữ cũ. Vấn đề
là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa
truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không
đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không còn quốc
tính, để biến thành một dân tộc vô hồn, không còn
có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy thuộc địa cổ
của Pháp kia.” (11)
Những lời được Viện Hàn Lâm Pháp tán thưởng đó là
do chính người trong bài diễn thuyết tại quê hương
năm trước, đã hào hứng, tự tin khẳng định là:
- Ngày nay, ta chỉ cần gây lấy một thứ tiếng
học vấn mà thôi, nghĩa là một thứ tiếng để diễn
dịch các học thuật tư tưởng mới, dùng làm cái lợi
khí để truyền bá văn minh tân thời trong quốc dân;
còn cái tiếng thông thường nhật dụng thời ta đã
có rồi, đã có đủ dùng rồi. Tiếng Việt ta hay lắm,
người ngoại quốc cũng phải khen là một thứ tiếng
êm như ru, vui như hát, mỗi vần đánh ra năm dấu,
đọc thành sáu giọng khác nhau, như trong cung đàn
vậy, tưởng không có mấy thứ tiếng hoà bình êm ái
bằng tiếng ta. Vậy thời bọn ta phải nên trân trọng
lấy cái quốc âm quý báu ấy, ra công luyện tập trau
dồi cho mỗi ngày một hay một đẹp hơn lên. (12)
Ngày thứ hai, 11 tháng 9-1922, ông kết thúc chuyến
“Pháp du” bằng mấy dòng nhật ký:
“Tàu ở Tourane ra đi rất mau, 12 giờ rưỡi đến
Hải Phòng”
“Vào gần bến, vừa trông thấy mẹ con Giao ở Hà Nội
xuống đón. Tàu còn từ từ vào, mỗi phút tưởng lâu
bằng mấy giờ. Cầu vừa bắc xong, kẻ trên chạy xuống,
người dưới bước lên, nửa mừng nửa cảm, khôn nói
nên lời. Bà già mạnh khoẻ, con trẻ bình yên, cửa
nhà vô sự, thế là yên lòng.” (13)
Về nước, càng rộng tầm nhìn, ông càng hăng say lao
vào “công phu bấy lâu nay, sự nghiệp cả một đời”
(14). Còn về việc riêng, ông đau đứt ruột khi mất
một bé gái sáu tháng tuổi; lại mừng vì sau đó sinh
được một trai khôi ngô, bèn đặt tên là Phạm Khuê,
mong con sau này sẽ là một ngôi sao sáng tựa sao
khuê. (Quả nhiên, sau này, Phạm Khuê trở thành Giáo
sư bác sĩ y khoa, nhà giáo nhân dân, chủ tịch đầu
tiên Hội Người cao tuổi Việt Nam, từng là đại biểu
quốc hội).
Truyền Kiêù còn...
Nặng lòng với tiếng ta, dồn hết tâm trí vào tiếng
ta, Phạm Quỳnh đã tìm đến Truyện Kiều. Càng đọc
càng say mê, đi đâu cũng mang theo một “bản Kiều
tuỳ thân”. Càng say Kiều, lại càng thêm mê tiếng
ta, hiểu tiếng ta hơn, quý tiếng ta hơn. Để lại
càng thêm yêu Kiều, “đến đem cả chủ nghĩa quốc gia
căn cứ vào Truyện Kiều! Cho tiếng là nước, có tiếng
mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia. Quốc văn
ta thời tuyệt phẩm là Truyện Kiều , trước sau chỉ
có Truyện Kiều, may có Truyện Kiều, đáng quý báu
vô cùng” (Trích từ bài Cô Kiều với tôi của Phạm
Quỳnh (15). Và rồi, không thể nào cứ giữ “mối tình”
đó trong lòng mình được mãi, ông muốn đem chia sẻ
nỗi lòng với toàn dân ta, với cả nhân dân thế giới
nữa.
Năm 1924, ông đề nghị Hội Khai Trí tổ chức lễ kỷ
niệm Nguyễn Du vào dịp giỗ mồng mười tháng tám ta
(8-9-1924). Hội gửi hơn một nghìn giấy mời đến khắp
cả hội viên Tây, Nam; còn thông báo cho nhân dân
biết. Tối hôm ấy, tám giờ, cửa hội mới mở được vài
phút, đã có đến hơn hai nghìn người vào chật khắp
trong sân, ngoài vườn, dưới nhà, trên gác, đâu đâu
cũng chật ních những người. Hội viên các tỉnh về
dự cũng đông. Các bà, các cô trong thành phố Hà
Nội đến cũng nhiều. Hội viên là người Pháp và các
bà vợ ước chừng ba bốn chục người. Có cả mấy bà
giáo mới ở Pháp sang, cứ khẩn khoản xin được dự
để tận mắt thấy “người An Nam tôn trọng một bậc
danh sĩ trong nước thế nào”.
Trên bệ cao cuối vườn, có đặt cái kỷ, bày một lư
đồng lớn. Bên trên là chiếc đèn giấy kiểu “lưỡng
long chầu nguyệt”, tựa dáng bức hoành phi, trong
có đề mấy chữ nho Tiên Điền Nguyễn Tiên sinh kỷ
niệm nhật (Tức: Ngày kỷ niệm Tiên sinh họ Nguyễn
Tiên Điền). Hai bên là hai đèn giấy hình đôi câu
đối trúc, đề hai câu bằng chữ Nôm:
Trăm năm để tấm lòng, còn nước, còn non, còn truyền
cổ lục,
Tấc thành dâng một lễ, nhớ người, nhớ cảnh, nhớ
buổi hôm nay.
Có tờ báo hồi ấy đã nhận xét: “Ở Hà Thành ta từ
xưa đến nay, có lẽ chỉ có tiệc trà đón quan toàn
quyền Sarraut diễn thuyết ở Văn Miếu năm 1919 là
họp được đông người đến thế”. (16)
Trong buổi lễ, Phạm Quỳnh đọc hai bài diễn văn.
Một tiếng ta, một tiếng Pháp. Rồi Trần Trọng Kim
“diễn thuyết về lịch sử Cụ Tiên Điền và văn chương
Truyện Kiều”. Kế đó là phần biểu diễn của kép Thịnh
và đào Tuất, thuộc rạp Sán Nhiên Đài, nổi tiếng
đương thời là người kể Truyện Kiều hay. Cuối cùng
là một cô đào đứng hát Bài ca kỷ niệm do Nguyễn
Đôn Phục soạn. (17)
Mở đầu lễ kỷ niệm, Phạm Quỳnh trang trọng nói:
- Ban Văn học Hội Khai Trí chúng tôi muốn nhân ngày
giỗ này đặt một cuộc kỷ niệm để nhắc lại cho quốc
dân nhớ đến công nghiệp một người đã xây dựng cho
quốc âm ta thành văn chương, để lại cho chúng ta
một cái “hương hoả” rất quí báu, đời đời làm vẻ
vang cho cả giống nòi
Rồi ông hào hứng nói, Truyện Kiều “ ừa là kinh,
vừa là truyện, vừa là Thánh thư Phúc âm của cả một
dân tộc”. Cho nên, “sực nhớ đến mấy câu Kiều, vỗ
bàn đập ghế, gõ dịp rung đùi, lên giọng cao ngâm:
Lơ thơ tơ liễu buông mành,
Con oanh học nói trên cành mỉa mai.
hay là
Phong trần mài một lưỡi gươm,
Những phường giá áo túi cơm xá gì.
bỗng thấy trong lòng vui vẻ, trong dạ vững vàng,
muốn nhảy muốn múa, muốn reo muốn hò, muốn ngạo
nghễ với non sông mà tự phụ với người đời rằng:
Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước
ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa
mà ngờ” Và ông sôi nổi nhấn mạnh: “Truyện Kiều là
cái “văn tự” của giống Việt Nam ta đã “trước bạ”
với non sông đất nước này. Trong mấy nghìn năm ta
chôn rau cắt rốn, gửi thịt gửi xương ở cõi đất này,
mà ta vẫn hình như môt giống ăn trọ ở nhờ, đối với
đất nước non sông vẫn chưa từng có một cái văn tự
văn khế phân minh, chứng nhận cho ta có cái quyền
sở hữu chính đáng. Mãi đến thế kỷ mới rồi, mới có
một đấng quốc sĩ, vì nòi giống, vì đồng bào, vì
tổ tiên, vì hậu thế, rỏ máu làm mực “tá tả” một
thiên văn khế tuyệt bút, khiến cho giống An Nam
được công nhiên, nghiễm nhiên, rõ ràng, đích đáng
làm chủ nhân ông một cõi sơn hà gấm vóc.”
“Đấng quốc sĩ ấy là ai? Là Cụ Tiên Điền ta vậy.
Thiên văn khế ấy là gì? Là quyển Truyện Kiều ta
vậy. Thiên văn tự tuyệt bút kia là gồm bao nhiêu
giọt máu, bao nhiêu giọt lệ kết tinh lại mà thành
ra.”
Đi xa hơn, Phạm Quỳnh còn tự hào nói lớn: “Văn chương
Tàu thật là mông mênh bát ngát, như bể như rừng.
Nhưng trong rừng văn bể sách đó, tưởng cũng ít quyển
sánh được với Truyện Kiều; mà xét cho kỹ, có lẽ
không có sách nào giống như Truyện Kiều”. Rồi lại
nữa: “Truyện Kiều có một cái đặc sắc mà những nền
kiệt tác trong văn chương Pháp không có. Đặc sắc
ấy là sự “phổ thông”, ”Người Pháp không phải là
ai ai cũng biết đọc kịch Racine hay là đọc văn Bossuet.
Người Nam thì ai ai cũng biết ngâm Kiều, kể Kiều,
“lẩy” Kiều để ứng dụng trong sự ngôn ngữ thường,
kẻ thông minh hiểu cách thâm trầm, kẻ tầm thường
hiểu cách thô thiển, nhưng ngâm nga lên thảy đều
lấy làm vui tai, sướng miệng, khoái trí, tỉnh hồn.”
“Thử hỏi cổ kim, Đông Tây đã có một áng văn chương
nào cảm người được sâu và được rộng như thế chưa.
Tưởng dễ chỉ có một Truyện Kiều ta là có thể tự
cao với thế giới là văn chương chung của cả một
dân tộc 18, 20 triệu người, già, trẻ, lớn, bé, giỏi,
dốt, sang, hèn, đều thuộc lòng và đều biết hay cả.”
Kết thúc bài diễn văn, ông thành kính nói:
- Cuộc kỷ niệm hôm nay là chủ ý tỏ lòng quốc dân
sùng bái, cảnh mộ Cụ Tiên Điền ta.` Nhưng, còn có
một cái ý nghĩa nữa, là nhân ngày giỗ này, đốt lò
hương, so phím đàn, chiêu hồn quốc sĩ,
Thác là thể phách còn là tinh anh.
“ánh tinh trung thấp thoáng dưới bóng đèn, chập
trùng trên ngọn khói, xin chứng nhận cho lời thề
của đồng nhân đây. Thề rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng
ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước
còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin rầu lòng giốc
chí cố gia công chau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà,
cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một
tỉnh tao, quốc bộ ngày một tấn tới, quốc vận ngày
một vẻ vang ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của
Tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây”.
(18)
Bài diễn văn kết thúc bằng một lời thề tâm huyết
đã được cử toạ nhiệt tình tán thưởng.
Hơn hai mươi năm sau, từ quan về sống ẩn dật tại
biệt thự Hoa Đường bên dòng sông nhỏ An Cựu, ông
khởi thảo tập Hoa Đường tuỳ bút - Kiến văn cảm tưởng
trên quyển vở học trò, viết bằng cây bút máy Waterman.
Bài cuối còn dang dở là bài Cô Kiều với tôi. Phần
cuối dở dang ấy, ông viết: “năm 1924, lần đầu làm
lễ kỷ niệm Cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp
ở sân hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một
câu:
“Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước
ta còn, có điều chi nữa mà ngờ.
“Câu ấy, người mình có người không hiểu, có người
hiểu lầm.” (19)
Và ông đau buồn mãi vì chuyện ấy.
Vì bản thân Người chính là hiện thân của lòng yêu
nước, thương dân sâu sắc, yêu tha thiết đến say
mê tiếng mẹ đẻ, đã cống hiến trọn đời mình cho tiếng
ta, với niềm tin vững chắc là : Tiếng ta còn, Nước
ta còn (20)
21/06/1999 — 14/02/2006
Phạm Tôn
1). Theo Tìm hiểu Tạp Chí Nam Phong của Phạm Thị
Ngoạn (Bản dịch tiếng Việt của Phạm Trọng Nhân -
NXB Ý Việt, Paris, 1993, trang 60): Lời của người
dịch: Theo như tác giả cuốn Introduction au Nam
Phong, ông Tố Nguyên Nguyễn Thọ Dực, trong một bài
giới thiệu luận án đó đăng trong Études Interdisciplinaires
sur le Viet Nam (Sai Gon, 1974) cho biết ông được
biết rõ ngày sinh của Phạm Quỳnh vì hồi làm việc
ở triều đình Huế, ông có dịp lấy số tử vi cho và
theo ngày tháng âm lịch Phạm Quỳnh đã cho biết thì
Phạm Quỳnh sinh vào ngày 30/1/1893. Theo tác giả
Tìm hiểu Tạp Chí Nam Phong mà cũng là con gái Phạm
Quỳnh, thì “thuyết” này đúng hơn cả, vì cũng là
một năm Nhâm Thìn như cả gia đình đều nhớ rõ. (Cũng
do ông Nguyễn Thọ Dực cho biết thì bà Phạm Quỳnh
sinh ngày 24/2 cũng năm Nhâm Thìn, tức là ngày 2/2/1892)
(2). Theo tư liệu của Nguyễn Tâm, thư ký thường
trực Ban Liên Lạc Cựu học sinh trường Bưởi-Chu Văn
An: Trường Bưởi-Chuyện ngày xưa.
(3) Theo Đại Nam Quốc Âm Tự Vị (Tome I) của Huỳnh
Tịnh Paulus Của —SaiGon, 1895 thì từ khu khu có
nghĩa là “đau đáu, mảy mảy”
(4) Trích Pháp Du Hành Trình Nhật Ký của Phạm Quỳnh,
ngày 8-7-1922. NXB Hội Nhà Văn-Hà Nội, 2004.
(5), (6) Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam
Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932
(7) Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong
Tùng Thư-Hà Nội, 1932
(8 ), (9) Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam
Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932
(10) Trích Nhà Văn Hiện Đại (tập I) của Vũ Ngọc
Phan, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 1989.
(11 ) Tuyển tập và di cảo của Phạm Quỳnh, An Tiêm,
Paris, 1992
(12 ) Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong
Tùng Thư-Hà Nội, 1932
(13 ) Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh,
Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 2004.
(14) Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong
Tùng Thư — Hà Nội, 1932
(15) Trích Tuyển tập và di cảo của Phạm Quỳnh, An
Tiêm, Paris, 1992
(16 ) , (17) Trích Tạp chí Nam Phong số 86, 1924
(18) Trích Tạp chí Nam Phong số 86, 1924
(19) Trích Tuyển tập và Di cảo của Phạm Quỳnh, An
Tiêm, Paris, 1992
(20) Câu này có khắc trên đá tại khu mộ Phạm Quỳnh,
trong khuôn viên chùa Vạn Phước, Huế. Sau 1975 cho
đến nay (2006), khu mộ vẫn được giữ nguyên vẹn
** Trong bài còn sử dụng tư liệu do Hoàng Đạo Thúy
cung cấp cho con trai Phạm Quỳnh (ngày 19/04/1991);
cụ bà Lê Thị Hợp, tức Nhỡ em vợ Phạm Quỳnh, cung
cấp cho cháu trai (từ 1960 đến 1975); cụ Phạm Thị
Giá, con gái Phạm Quỳnh, viết cho con trai ngày
12/04 và 25/05/1988, viết cho em gái là Phạm Thị
Hoàn ngày 14/09/1992

|