VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Phạm
Quỳnh :Pháp du hành trình nhật ký
Nhật ký đi Pháp từ tháng 3 đến tháng 9, 1922 (13
kì)
Vương Trí Nhàn chú giải
Ghi chú về văn bản
Mấy năm gần đây, một số du ký và bài báo của
Phạm Quỳnh (1892-1945) đã được in lại trong các
cuốn sách như Mười ngày ở Huế, Luận giải văn học
và triết học. Lần này, chúng tôi xin phép được giới
thiệu một khía cạnh khác của ngòi bút tác giả, những
trang nhật ký ông viết khi đi Pháp 1922 và được
in trong Nam phong, từ số 58, tháng 4/1922, tới
số 100, 10-11/1925. Việc giới thiệu Pháp du... là
nằm trong chương trình của bộ sách Đi Tàu đi Tây
mà Nxb. Hội Nhà văn đã cho in tập đầu vào năm 2002
(bao gồm Đi Tây của Nhất Linh, Một chuyến đi của
Nguyễn Tuân và Tôi thầu khoán hay là ba tháng ở
Trung Hoa của Lê Văn Trương).
Sinh thời tác giả, cuốn nhật ký này chỉ mới
in báo và chưa hề được in thành sách. Việc hình
thành bản thảo có phần đóng góp công sức của nhiều
người mà trước tiên là những người trong gia đình
tác giả. Đại diện của gia đình cũng đã đồng ý để
chúng tôi lược bỏ một số đoạn trong văn bản xét
ra thấy không cần thiết trong hoàn cảnh hiện nay.
In lại một cuốn sách đã viết từ khoảng tám
chục năm trước, một điều cần kíp là phải có được
một bản chú giải tường tận để giúp người đọc tiếp
cận một cách chính xác và đầy đủ những điều tác
giả đã viết. Song đó là một công việc quá lớn, bước
đầu người biên soạn chỉ cố gắng tra cứu để giải
nghĩa những chỗ khác nhau trong việc vận dụng ngôn
ngữ, nhất là những chữ Hán mà con người đầu thế
kỷ quen dùng một cách tự nhiên nhưng ngày nay đã
trở nên xa lạ. Chỗ dựa chắc chắn của chúng tôi trong
việc này là những bộ Từ điển Hán - Việt của Đào
Duy Anh, Thiều Chửu... Có một số trường hợp chúng
tôi phải trở lại với cả Huỳnh Tịnh Của. Trình độ
của người chú giải có hạn, cuốn sách chắc không
tránh khỏi thiếu sót, rất mong bạn đọc góp cho chúng
tôi những ý kiến cần thiết.
Vương Trí Nhàn
Khi cuốn sách này đã được in ra ở Hà Nội thì
người chú giải có tìm thêm được một tài liệu do
Thanh Lãng viết trên Tạp chí Văn Học ra ở Sài Gòn
số ra tháng 4-1963, có liên quan đến Pháp du hành
trình nhật ký. Mặc dù đã chủ bụng không đi vào tìm
hiểu và đánh giá tác phẩm mà chỉ chú giải, song
được một đoạn văn quý, chúng tôi xin được phá lệ
mà chép ra sau đây để bạn đọc cùng biết:
“Người ta có thể từ chối giá trị nghệ thuật
của các bài biên khảo của ông chứ ai mà có thể từ
chối giá trị nghệ thuật của các bài tuỳ bút trong
đó Phạm Quỳnh đã để chan chứa những tình cảm say
sưa. Phương chi các thiên hồi ký của ông như Mười
ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Ba tháng ở Paris
(tức là bản tóm tắt của Pháp du hành trình nhật
ký - VTN chú), thì ta phải nhận là những tập hồi
ký giá trị, giá trị vì những nhận xét tỉ mỉ, những
nét tả linh động, nhất là ở tình cảm say sưa của
một nghệ sĩ chảy tràn lan trên giấy. Phạm Quỳnh,
là một nhà thơ viết văn xuôi.
Có đọc các tập hồi ký ấy ta mới thấy Phạm Quỳnh
không phải là xa chúng ta lắm, xa dân tộc xa quê
hương đất nước như chúng ta tưởng...”
I Giữa bể, trên tàu Armand Béhic, ngày
16 Mars 1922.
Tôi được quan Thống sứ Bắc kỳ cử sang Đại Pháp
thay mặt cho Hội Khai trí tiến đức để dự cuộc đấu
xảo Marseille, lại được quan Toàn quyền đặc phái
sang diễn thuyết tại mấy trường lớn ở Paris, ngày
9 tháng 3 tây năm 1922 (tức là ngày 11 tháng 2 ta),
xuống Hải Phòng để đáp tàu Armand Béhic về Pháp.
4 giờ chiều ngày 10 tháng 3, tàu mới cất neo chạy.
Trong khi đợi tàu ở Hải Phòng, các ngài thân hào
tỉnh ấy tiếp đón khoản đãi một cách rất ân cần.
Số các phái viên Bắc kỳ đi dự đấu xảo Marseille
cả thảy có bảy người: quan tuần Cao Bằng Vi Văn
Định, quan huyện Phong Doanh [2] Trần Lưu Vị, thay
mặt cho quan trường Bắc kỳ; ông Nguyễn Văn Vĩnh,
ông Phạm Duy Tốn, thay mặt cho Tư vấn nghị viện;
ông Hoàng Kim Bảng, thay mặt cho các nhà thương
mại; ông Nguyễn Hữu Tiệp, thay mặt cho các nhà canh
nông, và tôi là đại biểu của Hội Khai trí tiến đức.
Trong bảy ông phái viên ấy, chỉ có bốn ông đi chuyến
tàu Armand Béhic, là quan tuần Vi Văn Định, quan
huyện Trần Lưu Vị, ông Nguyễn Văn Vĩnh và tôi; còn
ba ông nữa xin ở lại đi chuyến tàu sau.
10 giờ ngày mồng 9 tháng 3 tới Hải Phòng, được
đích tin rằng tàu Amand Béhic ở Hương Cảng lại đến
trưa mới tới bến và chiều ngày mai mới chạy. Ông
nghị trưởng Nguyễn Hữu Thu mời ăn cơm trưa ở nhà
Hôtel du commerce. Buổi chiều đi lấy giấy thông
hành (passeport) và đổi giấy đi tàu của Nhà nước
(réquisition de passage) lấy vé tàu của công ty.
Theo lệ mới thi hành trong một năm nay thì phàm
người dân Đông Pháp muốn đi lại trong bản xứ hay
là xuất dương sang Đại Pháp cùng những xứ thuộc
về quyền chính của Đại Pháp, chỉ phải đem theo một
cái thẻ căn cước (titre d'identité) là đủ; thẻ căn
cước ấy do các quan hành chính các địa phương phát,
như ai ở tỉnh nào thì xin quan Sứ tỉnh ấy, phải
có lý trưởng làng mình nhận thực. Thẻ căn cước ấy
không những dùng để xuất hành mà thôi, chính là
một cái chứng chỉ về bản thân mỗi người, dùng được
nhiều việc lắm: lĩnh tiền ở các kho các sở, ký nhận
thơ từ hàng hóa của nhà Giây thép, v.v… Duy khi
nào muốn xuất hành ra ngoài địa phận Đông Pháp thời
phải đem theo thẻ căn cước đến lấy chữ quan chánh
sở Cảnh sát ký nhận. Ấy theo lệ hiện hành thời chỉ
có thể là đủ, và người An Nam đi sang Đại Pháp không
cần phải giấy thông hành khác nữa. Nhưng từ Đông
Pháp về Đại Pháp, tàu phải đỗ ở mấy nơi cửa bể thuộc
về người Anh cai trị: Singapore, Colombo, Port Said.
Muốn xuống chơi những cửa bể ấy – ba mươi ngày trên
tàu, tới đâu mà chẳng muốn xuống, – thì một cái
thẻ căn cước của ta không đủ, vì người Anh không
công nhận. Bởi thế nên ai đi sang Pháp ngoài thẻ
căn cước của mình, xuống đến Hải Phòng cũng phải
lấy một cái giấy thông hành nữa. Giấy này do Toà
Đốc lý Hải Phòng phát, không lấy tiền. Được giấy
thông hành ở Toà Đốc lý rồi, phải đem ra sở Cảnh
sát để ghi vào sổ. Đoạn rồi lại phải đem ra sở Lãnh
sự nước Anh ký nhận cho phép lên các cửa bể thuộc
quyền cai trị nước Anh. Lãnh sự nước Anh là ông
quản lý chi điếm công ty (Denis frères) ở Hải Phòng.
Lấy chữ ký này phải mất 0$40 lệ phí; nghe nói trong
khi chiến tranh, tiền lệ phí ấy tới bốn năm đồng
bạc.
Các phái viên [3] An Nam đi đấu xảo Marseille,
được Chánh phủ chịu tiền tàu, và đi tàu thời được
đi hạng nhì. Trước khi đi, sở Tài chánh ở Hà Nội
đã phát cho mỗi ông phái viên một cái giấy đi tàu,
gọi là “tống phiếu” (réquisition), nghĩa là giấy
của Nhà nước tống đòi công ty tàu bể phải chở không,
rồi sẽ tính tiền với Nhà nước sau. Giấy “tống phiếu”
ấy, tới Hải Phòng phải đem lại công ty hàng hải
Messageries maritimes là công ty có tàu Armand Béhic,
để đổi lấy vé tàu. Ông Nguyễn Văn Vĩnh, ông Trần
Lưu Vị và tôi cùng lấy vé một phòng thuộc về hạng
nhì; quan tuần Vi Văn Định thời chịu trả thêm tiền
để đi hạng nhất. Theo lệ thường các quan Tuần phủ,
Thống đốc đều được đi hạng nhất cả; Sở hữu ti lần
này lại đặt quan tuần vào hạng nhì cùng với các
phái viên khác, cũng là một sự sơ ý; bởi thế nên
ngài phải trả thêm tiền để đi hạng nhất cho rõ sự
sơ ý ấy.
Tối ngày mồng 9, ông Bạch Thái Bưởi, ông Nguyễn
Hữu Thu, cùng mấy ông thân hào ở Hải Phòng đặt tiệc
ở nhà Hôtel de la marine để đãi các phái viên đi
Pháp. Tiệc có nhà trò hát, bát âm kèm, vui vẻ lắm.
Trưa ngày mồng 10 lại dự tiệc ở nhà ông Hàn Hinh,
là nghị viên Hải Phòng.
2 giờ chiều ngày mồng 10, đem hành lý xuống tàu.
Phòng hạng nhì của chúng tôi có 6 giường, hiện đã
có ba người đi tự Hương Cảng lại, chiếm mất ba giường,
là hai ông cố và một con nít 10 tuổi. Hai cố là
cố Robert, phó quản lý Hội Truyền giáo Viễn đông
ở Hương Cảng, người danh giá và đạo đức lắm, mới
được Chánh phủ Đại Pháp thưởng Bắc đẩu bội tinh,
và cố Perreaux, trước giảng đạo ở Bình Định (Trung
kỳ), gần đây sang Hương Cảng, nay đổi về Sài Gòn.
Đứa con nít là con một nhà kỹ sư ở Hương Cảng, theo
cố Robert, về Pháp để sang học bên Bỉ-lợi-thì (Belgique).
Đi bể xa khơi, gặp được hai bậc đạo nhân làm bạn,
cũng là một sự may.
Kể trong các tàu của công ty Messageries maritimes
thời tàu Armand Béhic này là vào bậc trung bình,
không được lịch sự như các tàu Porthos, André Lebon
hay là Paul Lecat, nhưng cũng không bé nhỏ chật
hẹp như nhiều tàu khác. Nói về sức chạy thời có
lẽ vào bậc nhất nhì, tốc độ thường là 13 hải lí
(noeuds). Nhưng phải một cái tật, là chạy xóc lắm:
ra tới bể hễ hơi có sóng gió một chút thời mở cuộc
“khiêu vũ” ngay, nào nhẩy, nào múa, nào nghiêng,
nào lượn, uốn éo trên mặt sóng, chẳng hay người
đứng ngoài trông có đẹp mắt không, chớ người ở trong
thời thật là khó chịu. Lần này tôi mới biết say
sóng là cái gì. Trước đi Sài Gòn cũng đã từng say
sóng mất nửa ngày, nhưng chửa thấm vào đâu với lần
này. Tàu ra chưa khỏi Đồ Sơn đã bắt đầu “múa” rồi:
bấy giờ thấy đầu lảo đảo, bụng xôn xao, rồi oẹ,
rồi nhổ, có gì trong bụng nôn ra hết. Từ Hải Phòng
tới Sài Gòn, tàu chạy có ba đêm hai ngày, mà phải
mất hai đêm một ngày say sóng, nằm dí trong phòng,
không cất đầu lên nổi, và ba bữa không ăn uống một
tí gì. Nhưng bệnh say sóng này cũng lạ: đương lúc
say thời tưởng không có gì khổ bằng; qua lúc say
thấy người tỉnh táo, khoẻ mạnh và ngon miệng muốn
ăn ngay; bấy giờ như quên hẳn, không nhớ gì đến
những khó chịu lúc trước nữa.
Say sóng dữ nhất là vào quãng ngang Tourane, Quy
Nhơn. Gần tới Sài Gòn thời bể yên, tàu vững, người
lại bảnh bao như thường.
5 giờ sáng ngày 13, tàu tới Sài Gòn, yết bảng đến
4 giờ sáng ngày 15 chạy về Singapore, đỗ ở Sài Gòn
48 giờ.
Thừa được thời giờ dài rộng như thế, bèn bỏ tàu
xuống bộ, dạo chơi thành phố và thăm hỏi bạn bè.
Nhưng trước khi đi chơi, anh em rủ nhau vào chào
quan Thống đốc Nam kỳ Dr Cognacq, ngài chính là
quan đại lý trông coi về việc đấu xảo ở bên Đông
Pháp; ngài tiếp tử tế lắm, và chúc cho các phái
viên vượt bể được bình yên, mạnh khoẻ. Nhân quan
Toàn quyền Long [4] cũng ở Sài Gòn, các phái viên
muốn xin vào chào ngài, nhưng bữa ấy ngài bận nhiều
khách, không thể tiếp được, có hẹn đến 11 giờ hôm
sau là ngày 14 lại. Hôm sau, đúng giờ ấy, các phái
viên vào chào ngài, ngài hỏi han và nói chuyện ân
cần lắm, nói rằng ngài sẽ gặp các phái viên ở bên
Pháp, vì cách vài tuần nữa ngài cũng xuống tàu về
Pháp.
Trưa ngày 13, anh em cùng nhau về Chợ Lớn, trước
là xem phố phường, sau là thử vào ăn cơm một hiệu
cao lâu ở đấy xem cách người Khách ở Nam kỳ tiếp
người An Nam thế nào. Cách đó thật là lãnh đạm vô
cùng. Người Khách ở Chợ Lớn tựa hồ như không cần
gì người An Nam cả; mà những hàng trí thức trong
Lục tỉnh ngày nay, đối lại với họ cũng lạnh nhạt
như thế. Coi đó thời biết hai giống người ác cảm
nhau đã sâu lắm; cái ác cảm ấy có lẽ cũng là một
sự hay cho đường kinh tế nước ta sau này.
Chiều ngày 13, các ông Bắc kỳ buôn bán ở Sài Gòn
đặt tiệc tại nhà ông Đắc là đại lý của hiệu Đào
Huống Mai ở Sài Gòn để đãi các phái viên. Ông Đắc
mới ra Hà Nội vắng, nhưng các bạn Bắc kỳ đến dự
tiệc cũng đông, thật là tỏ ra cái cảm tình người
đồng quận [5] .
Tiệc đoạn ở hiệu Đào Huống Mai, thời các bạn Nam
kỳ cho xe hơi đến đón đi xem trò “xiếc” (cirque)
của người đồng bào mình mới mở tại Sài Gòn được
vài bữa. Bọn xiếc này đặt tên là “xiếc Tân Nam Việt”
(cirque du jeune An-nam), tài tử toàn là người An
Nam cả, mà đứng chủ là ông André Thận, năm trước
đã sung phái bộ ra xem Hội chợ ở Hà Nội. Bọn này
mới tập có mấy tháng mà làm trò đã tài lắm, leo
dây, múa rối, chẳng kém gì các bọn xiếc của người
Mỹ người Ý đã sang làm trò ở bên ta. Có mấy vai
tài tử xuất sắc nhất, tưởng sánh với người các nước
cũng không thua, nhất là vai thầy Hào và vai cô
Mão. Đàn bà An Nam ta mà làm trò xiếc trước nhất:
chắc là cô Mão này.
Xong trò xiếc lại diễn thêm một bài tân kịch đề
là “Vợ ngoan làm quan cho chồng” của ông Hồ Văn
Lang đặt để giúp cho việc cổ động công thải 6 triệu
đồng. Bài [6] kịch soạn khéo, người diễn cũng giỏi.
Trước tôi vẫn biết trong Nam kỳ mấy năm nay mới
xuất hiện một lối kịch mới gọi là “tuồng cải lương”
thịnh hành lắm, nhưng chưa hiểu cải lương ra thế
nào. Nay được xem bài kịch này mới rõ. Tuồng “cải
lương” là một lối kịch đặt theo kiểu mới của Âu
tây, nhưng vẫn giữ cái phong vị cũ của tuồng ta,
là đương khi các vai nói chuyện như thường, lại
pha thêm mấy đoạn hát theo điệu đàn, thành ra vừa
là kịch, vừa là ca bản tân, bản cựu, tưởng cũng
là một lối tuồng hợp với trình độ người mình hiện
bây giờ. Ngoài Bắc ta thường có muốn cải lương diễn
kịch, có lẽ cũng phải theo một lối ấy trong ít lâu,
rồi mới mong tìm được một cái thể khác thích đáng
hơn. Nếu thế thì đồng bào ta trong Nam kỳ đã thí
nghiệm rồi, ta cứ việc nhân đấy mà châm chước.
Trưa ngày 14, ông Nguyễn Phú Khai, nguyên quản
lý báo Tribune indigène, hiện làm chủ hiệu buôn
nhập cảnh Thuận Hoà, mời ăn cơm ở nhà riêng ông
đường Pellerin. Ông Nguyễn cũng có thể cho là một
tay lãnh tụ trong “Tân Nam Việt” ta ở Nam kỳ, người
thông minh, linh lợi, lại có cái tư tưởng cao về
quốc gia, về xã hội, cách giao thiệp ôn hoà nhã
nhặn, rõ ra một người có tư cách khác thường. Tân
học mà được như ông cả, ấy mới thật là xứng đáng.
3 giờ chiều, ông Trương Văn Bền là một nhà công
nghiệp to ở Chợ Lớn, năm trước cũng có ra xem Hội
chợ ở Hà Nội, đem xe hơi ra đón các phái viên Bắc
kỳ về xem nhà máy dầu và máy gạo của ông ở Chợ Lớn.
Xem qua cái công cuộc ông gây dựng lên đã to tát
như thế, mà chúng tôi thấy hưng khởi trong lòng,
mong mỏi cho đồng bào ta ngày một nhiều người như
ông ngõ hầu chiếm được phần to trong trường kinh
tế nước nhà và thoát li được cái ách người Tàu về
đường công nghệ thương nghiệp.
5 giờ chiều cùng mấy ông ngoài ta đi xem vườn Bắc
kỳ nghĩa trang, cách thành phố Sài Gòn 6-7 cây-lô-mét.
Đó là nơi nghĩa địa của người Bắc ở Sài Gòn. Số
người ngoài ta vào lập nghiệp trong ấy ngày một
nhiều, mà hướng lai [7] không có một khu đất nào
riêng để chôn những người bất hạnh mất đi. Nay nhờ
có mấy ông hữu tâm xướng xuất lên, mua được một
khu đất chừng mười mẫu, kinh doanh làm thành một
vườn nghĩa địa, hiện nay đã có vài ba cái mộ mới
chôn. Tình đồng quận, nghĩa tử sinh, thật là một
việc đáng khen lắm.
7 giờ tối thời các bạn Nam kỳ đặt tiệc tại nhà
Saigon-palace-Hôtel để đãi phái viên Bắc kỳ. Dự
tiệc bữa ấy, ngoài mấy anh em chúng tôi, có những
vị như sau này: ông Nguyễn Phú Khai, ông Trương
Văn Bền, ông Lương Văn Mỹ (công chính kỹ sư ở Chợ
Lớn), quan Đốc phủ Chợ Lớn Nguyễn Tấn Sử, ông Nguyễn
Phan Long, ông Nguyễn Chánh Sắt, ông Lê Hoàng Mưu,
ông Nguyễn Tử Thức, ông Lê Đức, ông Nguyễn Văn Thường,
ông Hồ Văn Lang, ông Tự An (ở báo Tribune indigène),
ông Nghiêm. Tiệc thật là vui vẻ lắm, rõ hiểu cái
tình liên lạc kẻ Bắc người Nam. Khi uống champagne,
ông Nguyễn Phú Khai thay mặt các bạn Nam kỳ chúc
phái bộ Bắc kỳ vượt bể bình yên và sang bên Đại
Pháp quan sát được nhiều điều ích lợi cho đồng bào.
Ông Nguyễn Văn Vĩnh thay mặt các phái viên Bắc kỳ
cám ơn các bạn Nam kỳ.
Tiệc xong, ông Trương Văn Bền và ông Nguyễn Phú
Khai đem xe hơi riêng đưa các phái viên đi chơi
phố phường, về Chợ Lớn, rồi ra Sài Gòn theo đường
bờ sông cho đến nơi gọi là Lang Thô, một bên thuyền
bè đậu, một bên dẫy đèn điện dài nhấp nhánh như
sao sa, trên trời, mặt trăng chiếu rọi, thật là
một cảnh ngoạn mục.
Buổi tối này là một buổi tối cuối cùng của anh
em chúng tôi còn để chân trên đất nước nhà, trước
khi dời mình sang những phương xa cõi lạ. Từ Hải
Phòng đến Sài Gòn, tuy lênh đênh trên mặt bể, nhưng
vẫn chưa ra khỏi hải phận nước nhà; từ đây trở đi
mới thật là băng miền di vực [8] . Cho nên trước
khi từ biệt các bạn Nam kỳ để xuống tàu, ai nấy
cũng thấy có chút cảm động trong lòng, cảm động
vì cái tư tưởng cố quốc tha hương.
4 giờ sáng ngày 15, tàu cất neo chạy về Singapore
(Tân-gia-ba). Ra khỏi Vũng Tàu (Cap Saint-Jac-ques),
lại gặp sóng to, say sóng mất non một ngày, mãi
đến hôm nay16, mới tỉnh dậy, ăn được một bữa, thấy
người hơi khoan khoái, vào trong phòng khách, viết
mấy dòng này.
*Giữa bể, ngày 18 Mars 1922 (khỏi Singapore,
gần Penang)
4 giờ sáng ngày 15 Mars, tàu dời bến Sài Gòn chạy
về Singapore (Tân-gia-ba). Tự Sài Gòn ra đến bể
có sáu chục cây-lô-mét tàu đi khúc khuỷu theo con
sông Sài Gòn; đến 8 giờ sáng thì vừa tới Cap Saint-Jac-ques
(Vũng Tàu), địa thế chỗ này cũng hiểm trở và cảnh
trí cũng ngoạn mục: hai bên núi bao bọc như cái
tay ngai, giữa một cái vũng to, nước nửa xanh, nửa
đỏ, nước đỏ là nước sông chảy ra, nước xanh là nước
bể dồn vào; ngoài xa là bể khơi man mác. Trên núi
trông xa xa thấy những nhà lầu trắng xoá ở giữa
đám cây xanh um tùm: đó là nhà biệt thự (villas)
của các quý quan mùa nóng ra nghỉ mát, vì nơi Vũng
Tàu này chính là một sở nghỉ hè như Đồ Sơn, Sầm
Sơn ở Bắc kỳ vậy. Trong Nam kỳ nói đi chơi “Ô-Cắp”
(Au Cap) cũng là một cách phong lưu lịch sự như
ngoài Bắc nói đi tắm Đồ Sơn vậy.
Ô-Cắp không những là một nơi nghỉ chơi, lại là
một cái chiến cảng để giữ cửa Sài Gòn và cả miền
hải phận Nam kỳ, và là nơi sở tại của một quan đại
lý thuộc về tỉnh Bà Rịa. Nên ngoài những nhà mát
của các quý quan, lại còn những toà sở khác nhiều
lắm, và thường khi có tàu chiến đậu. Đi ngoài trông
vào, không khác gì một nơi tỉnh thành lớn.
Tự Sài Gòn ra Tân-gia-ba có đi ngang qua quần đảo
Côn Lôn (Poulo Condore) nhưng đi tận ngoài xa, không
trông rõ.
Mới ở Vũng Tàu ra, bể hơi có sóng gió, lại say
sóng mất quá nửa ngày nữa, nhưng ra quá bên ngoài
thời yên ngay, và cho đến tận Singapore đều được
bình tĩnh như thường.
8 giờ sáng ngày 17 Mars, tàu tới Singapore. Đáng
lẽ tới từ 4 giờ đêm, vì tự Sài Gòn đến Singapore
đi có hai ngày tròn, nhưng nghe đâu người Anh có
lệ không cho tàu ngoại quốc xuất nhập đương đêm.
Cho nên tàu đến trước cửa Singapore tự nửa đêm mà
còn phải đậu ở ngoài xa, đến sáng rõ mới quay mũi
vào bến.
Mặt trời mới mọc, trông vào bến Singapore, không
cảnh gì đẹp bằng, như một bức tranh sơn thủy vậy.
Lần này mới được trông thấy một nơi hải cảng là
lần thứ nhất, thật là một cái cảnh tượng to tát.
Cửa Hải Phòng, cửa Sài Gòn của ta kể cũng khá to,
nhưng sánh với cửa Singapore này còn kém xa nhiều.
Bến liền nhau với bể, chạy dài đến mấy nghìn thước,
tàu đỗ không biết cơ man nào mà kể, tàu của khắp
các nước đi tự Á Đông sang Ấn Độ và Âu Tây đều phải
qua đấy.
Cửa Singapore này là đặt ở trên một cái đảo ở cuối
bán đảo Malacca, ngay đầu eo bể Malacca, địa thế
thật là tiện lợi cho đường buôn bán, và cũng tiện
lợi cho sự quân bị. Người Anh ở á Đông, phía trên
giữ được cửa Hồng Kông (Hương Cảng), phía dưới giữ
cửa Singapore, thật là chiếm được hai nơi then chốt
ở cõi á Đông này, địa thế hiểm yếu không đâu bằng.
Mà hai nơi ấy trước kia là hai cái đảo nhỏ cùng
tịch [9] , bỏ hoang không ai đi đến bao giờ; nhất
đán vào tay người Anh kinh doanh trong mấy chục
năm, trở nên hai nơi hải cảng và thương phụ [10]
nhất nhì trong thế giới: cái nghị lực của giống
người Anh cũng khả kinh vậy.
Bây giờ bao nhiêu tàu bể của các nước đi qua lại
bên Á Đông này, tất phải do qua hai cửa Singapore
và Hồng Kông; hai cửa ấy lại theo cái chế độ “tự
do mậu dịch” của nước Anh, đồ hàng hoá các nước
đem vào không phải thuế thương chánh, nên cái phong
trào buôn bán thật là có vẻ phồn thịnh hơn các cửa
bể khác nhiều.
Trước khi tàu ghé bến, phải đợi cho quan thầy thuốc
Anh xuống khám xem hành khách có ai mắc bệnh truyền
nhiễm không. Đến khi tới nơi, hành khách chưa được
xuống vội, phải đợi cho quan cảnh sát lên khám giấy
thông hành. Trong khi chiến tranh thì ai muốn xuống
bến cũng phải trình giấy thông hành cả, nhưng bây
giờ thì chỉ người nào đỗ hẳn ở Singapore mới phải
trình giấy mà thôi; còn các hành khách khác xuống
chơi vài ba bốn giờ rồi lại về tàu thời được tự
do đi lại; lệ có khoan hơn trước nhiều.
Trên bến thấy mấy viên quan cảnh sát Anh và lính
cảnh sát toàn là người Mã Lai và người Ấn Độ cả.
Còn những phu chở hàng và mang đồ hành lý thì phần
nhiều là người Tàu và người Mã Lai.
Vào đến trong phố thời nghiễm nhiên là một nơi
đô hội của người Tàu, chẳng kém gì thành phố Chợ
Lớn. Phố xá đông đúc, san sát những hiệu Khách cả,
có mấy dãy phố toàn những nhà tửu lâu khách sạn,
ngày đêm tấp nập những khách ăn chơi, người đi lại.
Đi lại trong phố phường, có xe kéo và xe hơi, xe
kéo người Khách kéo, xe hơi người Khách cầm máy.
Đại để, công việc gì cũng là người Khách làm cả,
từ bán cháo rong cho đến làm chủ hiệu, tựa hồ như
người Anh mở mang đất này riêng cho người Tàu đến
sinh lý, còn thổ dân là giống Mã Lai thời bị khu
trục [11] ra ngoài cái sinh hoạt giới tuyến vậy.
Coi đó cũng đủ biết cái nghị lực của người Tàu,
kể không kém gì người Anh vậy. Người Anh có cái
tài sáng tạo kinh doanh, người Tàu có cái sức thừa
hành lao động, người Anh là cái óc sắp đặt, người
Tàu là cái tay làm lụng, hễ đâu có hai giống người
ấy tất là nơi sinh hoạt phồn thịnh.
Singapore có thể chia ra hai phần: một phần là
phố Khách, một phần là phố Tây; phố Tây cũng sầm
uất bằng phố Khách mà lại có cái vẻ nguy nga hơn.
Phố Tây ở Singapore này có khác phố Tây ở các nơi
khác, nhất là khác các phố Tây của người Pháp ở,
như trong các thành phố ta; người Pháp ở đâu thì
những nhà lầu to lớn phần nhiều là các dinh thự
công sở của Nhà nước; người Anh ở đâu thì những
nhà lầu to lớn là các cửa hàng, các hội buôn, các
công ty, các ngân hàng. Những hàng buôn của người
Anh ở Singapore thật là những lâu đài vĩ đại, có
khi chiếm từng dãy phố dài.
Ngoài các phố phường buôn bán, đến những nơi nhà
ở riêng, làm theo lối “biệt thự” (villas) của người
Anh, nhà xây ở chỗ đất cao, chung quanh vườn rộng,
xe hơi chạy lùng khắp được. Những nhà ấy phần nhiều
của người Anh, nhưng cũng có nhà của các chủ hiệu
Khách lớn; ban ngày xuống phố làm việc, chiều tối
về nhà riêng nghỉ.
Xe hơi ở Singapore, thật không biết cơ man nào
mà kể, nào xe riêng, nào xe thuê, cả ngày chạy như
mắc cửi. Vào đến Sài Gòn, thấy xe hơi chạy đường
Catinat đã lấy làm nhiều, nhưng xe hơi ở Singapore
lại còn nhiều hơn nữa, và ở Singapore đường phố
nào cũng như đường Catinat hết thảy.
Ở trên tàu xuống, anh em đi dạo qua mấy phố gần
bến, mỗi người đổi mấy đồng bạc Đông Pháp lấy tiền
Singapore để tiêu dùng cho dễ. Bạc Đông Pháp, nhất
là bạc đồng, ở đây chuộng lắm; mỗi đồng bạc của
ta, trừ tiền cáp còn được một đồng năm xu bạc Singapore;
coi đó thời biết rằng bạc ta có giá trị, vì lệ thường
đem tiền mình đi dùng ở xứ khác, chỉ có thiệt, không
có lợi bao giờ.
Đi chơi vừa đến trưa, không trở về tàu ăn cơm,
rủ nhau vào một hiệu cao lâu Khách, gọi là Shanghai
Hôtel; cách bày biện tiếp đãi ở trong các cao lâu
khách đây có ý lịch sự hơn các cao lâu ở Chợ Lớn
nhiều. Khách trong cao lâu là người Quảng Đông cả;
nhân trong bọn chúng tôi có quan tuần Vi thông tiếng
Quảng Đông, nên nói năng giao thiệp cũng dễ. Người
khách không biết chúng tôi là người An Nam, vì trước
khi xuống bến anh em đã nhất luật cải âu phục cả.
Họ hỏi có phải là khách Thượng Hải mới ở Mỹ về không.
Chúng tôi cũng đáp rằng phải, và hiện nay đi du
lịch sang nước Pháp. Coi đó thời biết rằng người
Tàu hễ khác tỉnh thời không nhận biết được nhau
nữa, vì ngôn ngữ bất đồng, người Quảng Đông với
người Thượng Hải đối nhau cũng bớ ngớ như người
khác nước vậy.
Người Khách ở Singapore chỉ có người Quảng Đông
buôn bán to và người Phúc Kiến Triều Châu làm các
nghề nghiệp nhỏ; còn người Thượng Hải ít lắm; cho
nên trong khi đi dạo chơi các phố Khách, người Khách
nào cũng cho bọn chúng tôi là người Thượng Hải.
Ăn cơm xong, anh em thuê hai cái xe hơi để đi dạo
quanh khắp tỉnh thành một lượt trước khi tàu chạy.
Xe hơi chạy thuê ở đây nhiều và rẻ lắm: ở các đầu
phố thường đỗ hàng chục cái, giá thuê giờ thứ nhất
là ba đồng, giờ thứ nhì hai đồng, đi hai giờ thời
chạy vòng quanh được thành phố Singapore một lượt,
đi tự dưới bến, qua các phố Khách phố Tây, men các
đồi cao su ở sau bến, vào xem vườn hoa, rồi lại
quay về bến, vừa đúng ba giờ, xuống tàu nghỉ chơi
một lúc thời tàu chạy.
Tự Singapore đến Penang tàu chạy phải 36 giờ, chừng
sớm mai thì tới nơi. Penang cũng là một cái cửa
bể ở về phía tây bán đảo Malacca. Người ta nói rằng
tự Singapore ra Penang có đường xe lửa liền, đi
mất chừng 10, 12 giờ. Hành khách xuống chơi Singapore,
có lỡ không về tàu kịp thời cứ xe lửa ra Penang,
rồi đợi tàu ở đấy cũng được. Người làm trong tàu
có khuyên chúng tôi nên làm như thế, cũng là một
cách du lịch hay, nhưng nghĩ đến ngồi trong xe lửa
10, 12 giờ ở một xứ xa lạ mình không biết tiếng,
tưởng cũng không có thú gì, nên anh em đúng giờ
trở về tàu cả.
*Chủ nhật, 19 Mars 1922
8 giờ sáng hôm nay tàu đến Penang, đỗ 6 giờ, đến
2 giờ chiều lại chạy. Tàu không ghé áp tận bến,
đứng cách xa ngoài chừng một nghìn thước, hành khách
muốn vào bến phải đi bằng cái “sà-lúp” của công
ty, hay là thuê thuyền chở vào. Khách lên xuống
ở bến này cũng ít, phần nhiều là người Chà Và (Ấn
Độ).
Penang là một cái cửa bể ở trên một hòn đảo về
phía tây bán đảo Malacca, tức đất danh là Poulo
Penang, Poulo Penang là tiếng Mã Lai: poulo nghĩa
là cù lao, penang nghĩa là cây cau, Poulo Penang
là “cù lao cây cau”, vì ở đấy có nhiều cau lắm.
Tên đất này cũng có quan hệ chút đỉnh với lịch sử
nước ta: chính đấy là chỗ Đức cha Bách Đa Lộc [12]
hồi sang giúp đức Cao Hoàng [13] ta thường đi lại
ở đó, và chính đấy là chỗ có trường đại tập của
dòng truyền giáo Gia Tô ở Á Đông, phần nhiều các
cố đạo sang giảng giáo bên ta từ xưa đến nay và
các thày giảng ta đều học qua ở đấy.
Penang bây giờ thuộc quyền cai trị của người Anh.
Kể là một nơi thương phụ thì kém không bằng Singapore,
phố phường không có đông đúc rộn rịp, sinh hoạt
không có sầm uất phồn thịnh bằng. Nhưng kể là một
chốn đô hội thời cũng là một chốn đô hội to, mà
lại có một cái vẻ phong phú riêng khác với Singapore.
Singapore là chỗ làm lụng, Penang là chỗ nghỉ ngơi.
Đi ra ngoài mấy phố buôn bán, toàn là những nhà
ở riêng của các phú thương người Anh, người Khách,
cũng làm theo một lối “biệt thự”như ở Singapore,
nhà giữa, vườn cây chung quanh, nhưng rộng rãi,
mát mẻ hơn nhiều. Vườn nào cũng đặt đường chạy quanh
cho ô tô đi được. Có nhiều cái vườn rộng mênh mông,
trồng toàn cau và dừa, như vô số những cột thẳng
một dóng cau, trên lá xoè như cái tán trông đẹp
lắm. Các biệt thự của người Tàu có những hoành phi,
câu đối, chậu hoa, ghế đá, đôn sứ, núi giả, nghiễm
nhiên ra cái vẻ phong lưu của người Đông Á. Người
Tàu lại còn có những nhà hội quán riêng, làm theo
kiểu các “câu lạc bộ” (clubs) của người Anh, có
câu lạc bộ cho đàn ông, lại có câu lạc bộ cho đàn
bà. Nói tóm lại, người Tàu ở đây có cái vẻ phong
phú, khác các nơi đô hội Tàu khác, là không ồn ào,
rộn rịp, mà bình tĩnh êm đềm, ra cái phong vị các
nhà phú ông điền chủ nước Anh. Các nhà biệt thự
ở đây có lẽ là của những tay phú thương ở Singapore,
ngoài thì giờ làm việc về đấy để hưởng cái thú thanh
nhàn bình tĩnh.
Đến Penang có một nơi thắng cảnh tuyệt thú, khách
du lịch ai cũng phải đến xem. Đến xem một nơi ấy
cũng đáng công tự trên tàu xuống bộ. Nơi ấy là chùa
“Cực lạc” của người Tàu đặt ở trên một ngọn núi,
cảnh trí đã đẹp, đứng trên núi cao trông xuống dưới
biển, kiến trúc lại công phu và có một cái vẻ cực
kỳ tráng lệ. Tự dưới đi lên, xẻ thành đợt đá, như
cái thang rộng, càng bước lên càng thấy những lầu
những các, những đình những tạ, chồng chất lên nhau,
trông thật là nguy nga. Ngoài những nhà thờ Phật,
thờ Tổ, thờ các vong linh, lại có những nhà khách,
nhà mát, chỗ thưởng ngoạn phong cảnh, cùng những
núi giả, vườn hoa, cầu bắc ngang, suối nước chảy.
Chỗ nào có mảnh đá lớn lại có những chữ đề vịnh
của các văn nhân du khách đã qua đấy. Có mảnh đá
đề bốn chữ lớn Vật vong cố quốc [14] , thật là tỏ
được cái chí của người Hoa kiều đã xây dựng ra cõi
chùa này. Người Khách dời bỏ nước nhà mà đến lập
nghiệp ở đây, may làm nên giàu có, không có quên
tổ quốc, muốn gây nên một nơi cảnh trí phảng phất
có cái phong vị nước nhà để làm chỗ du ngoạn cho
di dưỡng tính tình. Vào đến cảnh chùa này không
thể không cảm phục nghị lực khác thường của người
Tàu, đi đến đâu cũng gây nên sự nghiệp cơ đồ lớn,
nghiễm nhiên làm chủ nhân ông trong đất nước người
ta, mà giữa cái cảnh phong lưu phú quý ấy không
hề bao giờ quên cố quốc, đến đâu cũng cố giữ lấy
cái phong vị cũ của nước nhà.
Ở Penang còn có một cái đền Ấn Độ của người Chà
thờ thần Siva, Vishne. Trong đền cũng không có cái
gì lạ, chỉ thấy trên trần treo lủng liểng những
đèn cốc bằng thủy tinh nhuộm xanh nhuộm đỏ, và ở
giữa thì có một cái buồng kín, đóng dóng sắt như
một cái chuồng, trong có cái tượng thần bằng vàng.
Đến Penang, mấy anh em cũng cùng nhau thuê một cái
ô tô đi chơi khắp mọi nơi như ở Singapore – Giá
ô tô ở đây cũng giống như ở Singapore và tiền tiêu
cũng một thứ như Singapore (Straits Settlements
money), có điều lạ là ô tô ở đây đều chạy về tay
trái cả không chạy tay phải như bên ta, mới trông
cũng lạ mắt.
Vừa đi quanh đảo Penang được một lượt thời vừa
đến giờ tàu chạy, vội vàng thuê một cái thuyền của
người Chà để chở tự bến ra tàu. Ra đến nơi tàu vừa
cất thang, đúng 2 giờ chạy về Colombo.
Quãng đường tự Penang đến Colombo dài lắm, phải
bốn ngày ròng rã mới tới nơi. Bốn ngày đêm nằm trong
tàu, bồng bềnh giữa bể Ấn Độ Dương, chung quanh
không trông thấy mảnh đất nào, thật cũng chồn [15]
thay! Ấy là không biết bể có yên lặng cho hay không,
hay lại sóng gió mà say sóng nữa thời khổ quá!
*
Trên tàu, thứ tư, 22 Mars
Bể không sóng gió, nước vẫn phẳng lặng, thế mà
tàu lúc lắc, đầu đảo điên, thế mới lạ. Ở bể ấn Độ
Dương này, tuy trên mặt không có sóng, mà ở dưới
có những “sóng đáy” (lames de fond), tự dưới đáy
bể lên, sức lại càng mạnh lắm, làm cho cái tàu khi
thì chồng chềnh bên này sang bên kia, khi thì nhảy
chồm đàng sau ra đàng trước, chỉ lung lay có một
phía thì còn chịu được, nếu vừa chồng chềnh hai
bên lại vừa nhảy chồm hai đầu thì người mạnh đến
đâu cũng phải say sóng. Nhà thuyền viên có tiếng
riêng để chỉ những khi sóng dữ như thế: gọi là casserole,
nghĩa là tàu nghiêng lộn như cái chảo đương đun
nấu ở trên lò. Từ bữa nọ tới nay, tuy chưa hôm nào
phải “làm chảo” như thế, nhưng mà bể có sóng đáy
cũng khó chịu lắm; phải nằm luôn trên ghế dài, hễ
ngồi dậy thời đầu lảo đảo ngay, thành ra mấy hôm
nay không cầm bút viết được một dòng nào cả.
Cứ như thế mà nằm bốn ngày luôn ở trên tàu, lại
từ Colombo đến Djibouti, nghe đâu còn phải 8 ngày
nữa, chà chà! Nghĩ mà dài ghê! Mấy ngày đầu ở trên
tàu còn thấy vui rồi sau chán quá!
Ngày nào cũng ăn rồi lại nằm, nằm rồi lại ăn, bể
lặng còn có thể đi bách bộ quanh tàu được, bể sóng
thời đành nằm dí trên ghế, nói chuyện mãi rồi cũng
đến hết chuyện, đọc sách thời nhiều khi váng đầu
không đọc được, cứ thế luôn trong một tháng trời,
phỏng có chán không?
--------------------------------------------------------------------------------
[1]Ghi chép việc thực. (Từ đây về sau các chú thích
có dấu (*) đều là của Vương Trí Nhàn.)
[2]Một huyện trước thuộc Ninh Bình, nay thuộc Ý
Yên - Nam Định.
[3]Nghĩa như đại biểu ngày nay.
[4]Tên đầy đủ: Maurice Long.
[5]Như cách nói đồng hương ngày nay.
[6]Vở kịch.
[7]Từ trước đến nay.
[8]Xứ lạ.
[9]Xa xôi, quanh quẽ.
[10]Cửa biển mở mang cho ngoại quốc thông thương.
[11]Đuổi.
[12]Tên Pháp là Pigneau de Béhaine.
[13]Chỉ Gia Long.
[14]Chớ quên nước cũ.
[15]Chữ chồn ở đây, có lẽ là trong chữ bồn chồn
lấy ra. Nay không dùng riêng.
Nguồn: Phạm Quỳnh, Pháp du hành trình nhật ký,
Vương Trí Nhàn chú giải, Nhà xuất bản Hội Nhà văn,
tr. 1-27
bản để in

|