VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Trang
tưởng niệm Phạm Quỳnh
Những uẩn khúc trong cuộc
đời ông chủ báo Nam Phong (1)
Những uẩn khúc trong cuộc
đời ông chủ báo Nam Phong (2)
Những
uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong
Phạm
Quỳnh :Pháp du hành trình nhật ký
Phạm
Quỳnh: Người Nặng Lòng Với Tiếng Ta
Phạm
Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hoá phương Tâyở
Việt Nam đầu thế kỷ XX
Đọc
lại tạp chí Nam Phong và Phạm Quỳnh

Về
cái chết của ông chủ bút tạp chí Nam Phong
Tôi
cũng ngạc nhiên đi đến phân vân khi trên số 46 báo
TPCN, nhà báo Xuân Ba ghi trên đầu cột số 5 là…
“Nhờ hỏi thăm các chứng nhân còn sống mới biết Phạm
Quỳnh mất ngày 6 tháng 9 năm 1945…"
Nhưng
ở trang 204, trong bài Introduction au Nam Phong
1917 – 1934 bà Phạm Thị Ngoạn, (con gái thứ 6 kể
cả trai lẫn gái) của Thượng chi Phạm Quỳnh lại ghi
rõ, tôi cứ trích theo bản tiếng Pháp trong toàn
tập Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises,
nouvelle série, no 2 et 3, 2e trimestre 1973, Tome
XVIII: “Khi ở Huế đầu tháng Tám 1945, Mặt trận Việt
Minh đang cướp chính quyền, trước cả ngày tuyên
bố thoái vị Hoàng đế (Bảo Đại) và cả ngày tuyên
bố Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội: un
groupe armé pénétra en voiture dans la villa Hoa
Đường et enleva l’ancien ministre et son gendre
Nguyễn Tiến Lãng, C’est le 23 Aout 1945, à 14 heures
(16ème jour du 7èm mois de l’année At Dau)
"Pham
Quynh ne revint jamais"
Vâng,
đó là lời ghi của bà Phạm Thị Ngoạn: Phạm Quỳnh
không bao giờ trở về nữa. Bà ghi rất rõ tháng ngày
theo Dương lịch: 23 tháng Tám 1945, lúc 14 giờ (tức
2 giờ chiều) (ngày 16 tháng 7 năm ất Dậu)
Rõ
ràng là thế, bà Phạm Thị Ngoạn, sinh năm 1922, hẳn
tháng Tám 1945 bà đâu có nhỏ, đã là 23 tuổi và là
vợ của Nguyễn Tiến Lãng, Lãng tiếp nhận làm chủ
bút tạp chí Nam Phong năm 1934 của bố vợ, hiệu là
Hán Thu đồng thời nằm trong Văn phòng báo chí Thống
sử Bắc Kỳ, thuộc trung tâm Hành chính Bảo hộ – (Administration
centrale du Protectorat).
Như
vậy ngày 23 tháng Tám năm 1945 là ngày Phạm Quỳnh
bị bắt cùng cha con Ngô Đình Khôi. Để rõ hơn, chúng
tôi ghi “Chú thích 2” của bà Phạm Thị Ngoạn cùng
trang 209 ở bài trên của bà “Hai người, Ngô Đình
Khôi và Phạm Quỳnh bị bắt cùng ngày (23-8-1945)
bởi những người cầm vũ khí và bí mật bị giữ trong
một ngôi nhà kín bỏ hoang (Bà Ngoạn dùng chữ “hơi
lạ” (dans un pressoir abandonné chữ đó có nghĩa
là “máy ép”) dễ hiểu lầm nếu dịch)”
Bà
Phạm Thị Ngoạn dẫn chứng một đoạn viết của nhà báo
Thanh Lãng (trang 459 – 460) là “sau ngày mồng 9
tháng 3 năm 1945, Phạm Quỳnh không tham gia trong
chính phủ Trần Trọng Kim, không chạy theo đám thực
dân người Pháp, cũng không tham gia đảng phái chính
trị nào hay gia nhập Việt Minh. Hơn nữa, người ta
thấy ông sống một cuộc sống vô tư… Nếu thực tình
Phạm Quỳnh đã là một tên tay sai cho Pháp, hoặc
tồi tệ hơn nữa là một gián điệp của Pháp, ông ta
sẽ không bị sống cách biệt, đơn độc như thế để rồi
cuối cùng dễ dàng rơi vào tay Việt Minh…”.
Chứng
minh xong điều đó của nhà báo Thanh Lãng về trường
hợp Phạm Quỳnh, bà Ngoạn viết thêm để nhắc lại là
“ngày đó Phạm Quỳnh được chính quyền (Việt Minh)
mời đến dự một cuộc họp ở tòa khâm sử cũ (Bản tiếng
Pháp của bà Ngoạn: invité à une réunion à l’ancien
Résident supérieure…) ngày 23 tháng Tám 1945 (chúng
tôi nhấn đậm T.V) vào đầu sáng buổi nghỉ trưa của
ông tại biệt thự Hoa Đường ở An Cựu, gần Huế, để
bị bắt giam rồi giết hại ít lâu sau đó”.
Bài
viết đoạn trên của bà Phạm Thị Ngoạn khá trung thực,
chúng tôi dịch đúng ý bà viết vì có lẽ chính bà
đã chứng kiến buổi trưa hôm 23 tháng Tám đó, như
phần lớn anh chị em của bà, kể cả Phạm Tuyên.
Tờ
TPCN số 47, ngày 20/11/2005 đã giải đáp trong bài
“Hai Bộ trưởng Quốc phòng và tám vị tướng một ngôi
trường”. Đó là Bộ trưởng Phan Anh và Bộ trưởng Tạ
Quang Bửu! Ngôi trường đó là trường Thanh niên Tiền
tuyến ở Huế được thành lập thời Chính phủ Trần Trọng
Kim, dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Thanh niên Phan
Anh, là cơ sở của Việt Minh cho đến ngày 23/8/1945
khi khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám ở Huế thành công.
Trường
Thanh niên Tiền tuyến là nơi hội tụ những thanh
niên trí thức, vốn là sinh viên gốc miền Trung từ
các trường Đại học ngoài Hà Nội trở về, sau ngày
mồng 9 tháng 3 năm 1945. Họ là một tổ chức nhỏ trong
Mặt trận Việt Minh.
Họ
là ai? Ngoài hai Bộ trưởng vừa nhắc ở trên, họ là
Cao Văn Khánh là Phan Hàm, Võ Quang Hồ, Đào Văn
Liêu, Nguyễn Thế Lâm, Cao Pha, Đặng Văn Việt, Đoàn
Huyên… là Lê Tư Đồng trong nhóm Việt Minh Trung
bộ, là Lê Khánh Khang, Hồ Văn Điểm… mà báo TPCN
số 47 nêu tên.
Thiếu
tướng Phan Hàm sau này, lúc đó được chú Trần Hữu
Dực phụ trách Việt Minh Trung bộ, chỉ định làm chủ
tịch Thanh niên tiền tuyến (TNTT).
Ngày
21/8/1945, khi vua Bảo Đại đang được Đại sứ Nhật
– Yokohama bảo vệ làm “Quốc trưởng Đại Nam”, đang
ngồi ở điện Kiến Trung, thì Đặng Văn Việt và Cao
Pha vào nội thành hạ cờ “quẻ ly”, treo cờ đỏ sao
vàng trên cột cờ kinh thành Huế. Lệnh treo cờ do
Phan Hàm phân công.
Ngày
22/8, trước ngày khởi nghĩa, Lê Tư Đồng (Việt Minh
Trung bộ) trao lệnh cho Phan Hàm (Việt Minh TNTT)
phải đưa những người dễ tạo điều kiện “gây hấn”
ra khỏi thành phố Huế, nghĩa là… đối với hai vị
họ Phạm và họ Ngô. Chỉ thị: “Đưa họ rời Huế mới
được mít – tinh”. Phân công: - Phan Hàm và Võ Quang
Hồ đến thăm biệt thự Hoa Hồng trên bờ sông An Cựu.
Còn Đặng Văn Việt và Đặng Viết Châu lên phía bờ
sông gần nhà thờ Phú Cam.
Nhưng
đến hai “cửa quan” đó, dù là trí thức vẫn là dân
thường vô danh tiểu tốt. Lại phải có súng để đề
phòng bất trắc, phản ứng lại của cái gia đình danh
tiếng, đầy uy thế và đông con cháu, đầy tớ (người
làm) đó.
Bởi
rằng thời gian đó, dân quanh vùng cho biết “nhà
cụ họ Phạm” có một bộ phận lính khố xanh khoảng
20 – 30 bảo vệ (ăn mặc cả đồ thường). Gia đình cụ
họ Ngô ở Phú Cam cũng có một đội bảo vệ như vậy.
Hơn
nữa, nói là Quân Giải Phóng (gọi theo ngoài Bắc
lúc ấy) nhưng anh em TNTT làm gì… có súng. May là
anh em gần đây thường tổ chức lừa lính Nhật, cả
sĩ quan để “ăn cắp” súng.
Sau
này khi bọn Tàu vàng Tưởng Giới Thạch vào thì… mua
súng khá rẻ và khá dễ (1 tô bún bò đầy thịt là được
1 “cá”). Vậy là Phan Hàm và Võ Quang Hồ có 2 khẩu
súng 6 – cỡ 35.
Nhưng
chưa xong! Hai “cậu cử tương lai” thường mặc áo
“sơ mi” quần tây, nay thắng bộ đồ quân sự thì làm
sao vô lọt “cửa quan”, nhất là khi các quan đang
cảnh giác “dân đen cách mạng làm liều” kiểu thời
phá ngục Bastille Đại cách mạng Pháp 1789… thì nguy.
Các
quan nhỏ như tri huyện, thừa phái hay đến “chầu”
quan Thượng, phải đội khăn đóng, bận áo dài đen.
Vậy là “2 cậu” phải xoay đủ bộ trong thời gian ngắn
(thời đó dễ vô cùng): áo dài đen, khăn đóng, quần
trắng. Cùng lúc là cử người đi “do thám”, để biết
rõ tình hình và địa thế khuôn viên villa des Roses.
Nhà
các quan có bảo vệ trên 20 người là đông, nên “bên
mình” cũng phải lo… tác chiến. Đã hẹn trước với
anh Phan Tử Lăng chỉ huy đồn lính khố xanh (là Việt
Minh TNTT) để lo 2 xe và mấy anh thanh niên sẽ cùng
hướng cầu An Cựu. Trước khi đến nhà cụ Thượng, 2
anh cũng đã xin ý kiến của Việt Minh Thuận Hóa là
anh Lê Tư Đồng: Nếu họ chống cự hay có triệu chứng
bỏ chạy thì… bắn. Đến 1g trưa, tức 13g (1), nhanh
nhẹn và “oai hùng” thẳng tiến. Xe đỗ gần cổng vào,
2 vị “thừa phái” ung dung đi vào không ai hỏi gì.
Nhưng
có “sự cố”, vì lúc anh Phan Hàm vừa bước xuống xe
để đi vào thì Nguyễn Tiến Lãng vừa từ trong nhà
đi ra, Nguyễn Tiến Lãng nhỏ người, gầy nhưng rất
tinh và khôn (có lẽ vì thấy có 2 xe), nên… biết
ngay “có chuyện xấu”, quay người bỏ chạy.
Anh
Phan Hàm bắn, nhưng súng chúc nòng không nổ, Nguyễn
Tiến Lãng vội chuồn, còn “ông chỉ huy” Phan Hàm
“đút khẩu súng 6 vào túi” (lúc kể, anh Phan cười:
Tưởng là hóc đạn, chứ mình đâu có biết… bắn).
Nhờ
vậy, nên… êm thắm, Cụ thượng họ Phạm không nghi
ngờ gì. Anh Võ Quang Hồ lên lầu, thấy cụ đang ngồi
trên ghế salông, khẽ chào và đưa giấy của Việt Minh.
Cụ đứng lặng rồi cùng đi xuống lầu.
Anh
Phan Hàm ở dưới… “khám nhà” cả trên lầu, thấy ở
tủ sách nhỏ của con gái Phạm Quỳnh (không biết của
cô nào) vàng lá xếp đống, trong đó. Niêm phong nhà,
lầu. Tất cả người nhà cụ Thượng họ Phạm kể cả cụ
đều xuống nhà dưới. Đột nhiên, Phạm Quỳnh xin lên
lầu cho lấy một “quả trầu” – vì cụ Thượng thường
ăn trầu. Thật không ngờ dưới bàn để toàn vàng…
Bắt
xong Phạm Quỳnh, mới họp lính bảo vệ, giải thích
và vận động họ, vì chính quyền chưa thuộc về cách
mạng. Trưa đó Phạm Khuê và Phạm Giao đều đi vắng.
Phạm
Giao hiệu là Tiêu Diêu, có viết báo ở Huế. Trong
tình thân, tôi hỏi anh Phạm Hàm về cả đống vàng
đó, có tịch thu không. Anh bảo: “Mình đâu có để
ý vì đang lo bắt Phạm Quỳnh, vả lại không quan tâm,
thời đó là thế.
Đến
trường hợp Tổng đốc Ngô Đình Khôi! Kể về tội thì
Khôi đâu có lớn bằng Quỳnh, nhưng nguy hiểm hơn
Quỳnh nếu phải bảo vệ cách mạng. Năm 1985 đó, nhiều
người ở Huế vẫn ủng hộ Khôi, cụ thể là một số anh
em trong trường TNTT: có tin là đám ủng hộ Khôi
sẽ chống lại cách mạng.
Ngay
sau đó, anh em TNTT đưa Phạm Quỳnh đến giam ở lao
Thừa phủ, có cả Nguyễn Tiến Lãng cũng mới bị bắt.
Đó là lệnh của Việt Minh Trung bộ.
Còn
Đặng Văn Việt và một cậu nữa được phân công đến
Phú Cam bắt Ngô Đình Khôi. Khôi hiền lành đi theo
không chút chống cự hay phản ứng. Nhưng lúc ấy Ngô
Đình Huân là con trai lại có mặt ở nhà. Huân đã
đỗ cử nhân thái độ anh cũng nhẹ nhàng.
Anh
đến bên bố nói, mọi người nghe rõ: “Con đi với cậu”.
Thực tình không có lệnh bắt Ngô Đình Huân. Anh tưởng
bố chỉ bị bắt “tạm” như… bị gọi đi làm rồi về. Có
lẽ Ngô Đình Khôi cũng nghĩ như vậy, nên gật đầu.
Đặng Văn Việt cũng gật đầu: “Được cậu cứ đi”.
Phan
Hàm buồn buồn: “Một cái chết khó đoán, nhưng đúng
là Huân bị… chết oan”. Bắt xong thì tin ở Huế loan
đi là đã cướp chính quyền. Cách mạng tháng Tám thành
công: Đó là ngày 23 tháng Tám năm 1945.
*
* *
Mít
tinh mừng khởi nghĩa cách mạng tháng 8 thành công
tốt đẹp. Cả Huế người là người và cờ đỏ sao vàng
phấp phới khắp mọi nơi.
Song
dư âm về chuyện có một số người dự định chống lại
cách mạng, chống lại chính quyền mới còn phảng phất
vì Bảo Đại vẫn còn ngồi trong điện Kiến Trung. Đó
là điều tất yếu với những cuộc cách mạng thay đổi
chính quyền, dù ở bất cứ nước nào, xưa và nay.
Tối
đó, tôi được chú Trần Hữu Dực cho theo xe con của
chú Tài bên Tài chính ra Vinh. Trời rét nhẹ, mưa
phùn khi xe đến phà Sông Gianh, có tấm biển báo
rõ to chữ Bac (tiếng Pháp, nghĩa là bến phà).
Còn
ở Huế?
Tối
đó, anh Phan Hàm bảo với anh Nguyễn Thế Lâm là ngay
đêm phải “giải” hai cụ ra khỏi thành phố, nghĩa
là cả Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi (có Ngô Đình Huân).
Anh Nguyễn Trung Lập, TNTT, đi theo xe. Anh Lập
lúc đó không phải trong nhóm Việt Minh trường TNTT.
Dặn
dò thế nào không rõ, vì cũng là mới khởi nghĩa cách
mạng thành công ở Huế nên anh Lập nôn nóng trở về.
Xe ra đến Hiền Sĩ, cách Huế chừng 20km, cũng không
xa giáp ranh tỉnh Quảng Trị.
Đây
là vùng cây cối um tùm, nhất là thuở đó, nhà dân
thưa thớt, cách quãng. Năm 1980 – 1986, tôi qua
lại nhiều lần vẫn thấy cây hoang dại khá rậm rạp.
Khởi nghĩa mới thành công, ai lại không vui, vậy
là anh “giam tạm” mấy người trong một gian nhà bỏ
trống, nhờ mấy “dân quân tự vệ” cũng mới vào đoàn
trông coi rồi… theo xe về Huế ngay…
Lịch
sử có những chuyện “gặp gỡ” khá kỳ lạ là hôm sau
mấy tên biệt kích Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ, vì
như vừa nói, ngoài Hiền Sĩ có đất trống, cây dại
cao thấp mọc rậm rịt như rừng, bọn chúng đâu biết
là Pháp – Nhật đã bị chính quyền cách mạng… xóa
sổ.
Và
cũng tình cờ làm sao, khi mấy tên biệt kích nhảy
dù an toàn, đang đi… về Huế, bị dân quân chặn lại,
bắt giam để báo về Huế với đầy đủ vũ khí hiện đại,
thức ăn nước uống, lại nhốt sát bên cạnh nhà giam
Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi. Dân quân địa phương không
biết gì đã đành, báo cáo về Huế mấy vị lãnh đạo
mới nắm chính quyền sốt dẻo lại không chú ý gì vì
đang bận chúi mũi bao việc tày trời mới được đảm
nhận.
Việc
“bỏ quên” đó thật tai hại, vì nơi giam các cụ và
6 tên biệt kích dù chỉ cách có… 1 hàng rào!
Anh
em TNTT đã “hốt” thực sự. Anh Phan Hàm kể tiếp:
“Tin đó làm anh em TNTT hốt, vội đi xe có đầy đủ
vũ khí ra gấp Hiền Sĩ, vừa đi vừa bàn kế hoạch”.
Ba
TNTT được Phan Hàm phái theo, trong đó có anh Lê
Thiệu Huy (con cụ Phó bảng Lê Thước, tuy nhà ở Đức
Thọ, Hà Tĩnh vẫn vô Huế tham gia TNTT bảo vệ cách
mạng).
Anh
Lê Thiệu Huy giỏi cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Đến
nơi bí mật tiếp cận hàng rào, anh Lâm Quang Minh
nấp, kê súng lên vai anh bạn sẵn sàng như đã bàn
là “nếu chúng trở chứng thì đánh”. Lúc ấy 2 tên
biệt kích Pháp ngồi ngoài hiên, bọn còn lại ở trong
nhà.
Lê
Thiệu Huy gọi và ra hiệu nói chuyện. Hai tên ở ngoài
hiên vội chạy vào nhà. Tên Castella, thiếu tá chỉ
huy ra nói chuyện, hỏi ngay: “Phạm Quỳnh ở đâu?”
Rõ ràng là chúng nhảy dù có chủ đích nhưng không
biết là Phạm Quỳnh ở ngay nhà bên cạnh.
Lê
Thiệu Huy nói: “Tôi được chỉ thị của Chính phủ tôi
là bắt giữ các anh lại!”. Tên Castella vặn: “Chính
phủ nào”. Đáp ngay: “Chính phủ lâm thời!”. Castella
nói xấc: “Quel drôle de… gouvernment!”. Các anh
rạo rịt tay súng, nhưng Lê Thiệu Huy vẫn bình tĩnh:
“Chính phủ là thiêng liêng, dù là Chính phủ lâm
thời…”.
Nhưng
anh em đã ào xông vào… Bọn Pháp sợ vì lúc ấy dân
quanh đó và dân quân vài người đến, thấy đông chúng
xin hàng ngay. Tịch thu súng, mọi thứ tịch thu hết.
Lúc anh em về lại Huế, báo cáo cấp trên là tùy lãnh
đạo, ngoài ra không biết gì.
Vì
vậy, sau đó anh em TNTT cách ly bọn biệt kích Pháp,
đưa xuống Sỵa, còn đám 2 cụ thì giao cho dân quân
địa phương xử lý, chứ không phải Việt Minh Trung
bộ (tức chính quyền mới thành lập), theo lời anh
Hoàng Ngọc Diệu là dân địa phương (Hiền Sĩ), kể
sau này.
Sự
thật quá rõ ràng, vì ngày 23/8, sau khi tuyên bố
chính quyền Cách mạng được thành lập, chỉ mới vừa
đúng 1 ngày, người ta đang lo bao việc lớn, khi
quân Nhật đầu hàng còn “bảo vệ các cơ sở” để bàn
giao cho quân Tàu Tưởng vào giải giáp, lại tin quân
Pháp theo quân Anh đang có âm mưu chiếm lại Sài
Gòn, đánh Việt Nam.
Cũng
là lúc Bảo Đại còn đó, đang ngồi ở điện Kiến Trung,
mọi việc đều cấp bách thì cái chuyện giải 2 cụ ra
xa thành phố cũng chỉ là việc nhỏ, tránh những người
chống đối phá quấy.
Mà
lúc ấy trong dân chúng, buổi đầu cách mạng, cũng
là trong ngày đầu chính quyền mới do dân làm chủ
thì mấy tiếng Việt Gian, diệt Việt gian kèm theo
hành động lan truyền… khắp mọi nơi, nhất là đối
với những người có “thành tích” thân pháp.
Mà
hai cụ họ Phạm là Ngô thì rõ ràng quá, tránh sao
lúc trong dân, chỉ mới hưởng 1 ngày đầu chính quyền
cách mạng, còn căm thù bọn thống trị Pháp và đám
tay chân người bản xứ của chúng, có hành động manh
động. Đó hẳn là “nỗi uẩn khúc” cuối cùng của ông
chủ báo Nam Phong… cho nên dù cái ngày đó là ngày
23 tháng Tám năm 1945 hay ngày 6 tháng 9, nghĩa
là trên 10 ngày sau cũng chỉ là trong phạm vi giai
đoạn thời gian của sự việc.
Ngày
02-12-2005
Nhà
văn Thái Vũ
(1)
Bà Phạm Thị Ngoạn ghi 14h

|