VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Nguyễn
Du với chúng ta
Khu
mộ Nguyễn Du ở Tiên Điền, Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Ảnh: V.A.
Nguyễn Du (1765-1820) là người tiêu biểu, kết tinh
của chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam. Nguyễn Du là người
đã lấy con người, quyền sống và phẩm giá con người
làm tiêu điểm nghệ thuật. Hơn thế, Nguyễn Du còn
soi rọi ngọn đèn thơ của mình vào thế giới bên trong
sâu thẳm của con người, với những đối thoại, những
độc thoại nội tâm, những tự ý thức... - một dạng
thức của con người hiện đại.
Từ
Thanh Tâm tài nhân qua Truyện Kiều, Nguyễn Du không
những đã thay đổi thể loại (“tôi không viết tiểu
thuyết, mà viết tiểu thuyết bằng thơ, một sự khác
biệt khủng khiếp” - thi hào Nga Pushkin, người viết
truyện thơ, từng nói thế); mà quan trọng hơn, thay
đổi cả cảm hứng chủ đạo, thay đổi cách nhìn con
người và thay đổi điểm nhìn khi thể hiện.
Có thể xem chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du tương
ứng với chủ nghĩa nhân đạo thời Phục hưng châu Âu
với những thiên tài - mẹ (génie-mère) như Cervantes,
Shakespeare… Thời đại Phục hưng là một đặc sản của
văn hóa châu âu, biểu hiện của tư trào tư tưởng
chống phong kiến, chống giáo hội, chinh phục tự
nhiên và khẳng định nhân cách, khẳng định cá nhân,
khẳng định con người - trung tâm của lịch sử và
vũ trụ.
Ở
phương Đông chúng ta, đặc biệt ở Việt Nam, trong
thời kỳ cuối của lịch sử trung đại, Nguyễn Du đã
bước một chân sang một thời đại mới có tố chất Phục
hưng. Điều này là có thể, bởi vì viện sĩ Kônrát
của Nga có luận điểm cho rằng từ đời Đường (thế
kỷ 8-9) văn học Trung Hoa đã bước vào thời đại Phục
hưng.
Luận
điểm gây tranh cãi này của ông đáng cho ta ngẫm
nghĩ: Vì nếu phương Đông, do những tích lũy lâu
đời của tư tưởng nhân đạo, đã có thể vượt qua những
điều kiện kinh tế để đi vào giai đoạn Phục hưng
sớm, thì đó là cái vĩ đại của văn hóa, văn học phương
Đông. Nguyễn Du chậm hơn, nhưng với nhân tố Phục
hưng, Nguyễn Du vĩ đại sánh ngang các thiên tài
- mẹ khác của nhân loại.
Thời
xưa, việc mượn một cốt truyện, rồi “đoạt thai hoán
cốt”, viết nên một tác phẩm của mình là chuyện thường
tình. Shakespeare đã từng làm thế, Corneille đã
từng làm thế - Truyện Kiều có nguồn gốc từ Kim Vân
Kiều truyện, đó là điều rõ ràng. Nhưng ở Trung Hoa,
dù Kim Vân Kiều truyện có ảnh hưởng và ảnh hưởng
đó thậm chí còn lan sang Nhật, Triều Tiên... Kim
Vân Kiều truyện vẫn không được xem là một kiệt tác.
Trái
lại, từ Việt Nam, qua Nguyễn Du, Truyện Kiều đã
đi vào dân tộc và nhân loại với chủ nghĩa nhân văn
tầm cao và chiều sâu, với một nghệ thuật tuyệt diệu.
Nguyễn Du đã “tập đại thành” toàn bộ nền văn hóa
dân tộc và nhân loại thời đại ông. Nguyễn Du đã
tiếp nhận tinh hoa của văn học Trung Hoa, tiếp nhận
thơ Đường, đặc biệt Đỗ Phủ - “bậc thầy thơ nghìn
đời” như ông đánh giá.
Và
chủ nghĩa nhân đạo của Đỗ Phủ và Nguyễn Du là ngang
nhau, bổ sung cho nhau; tất cả đều hướng đến số
phận con người, nhân cách con người, sự vươn lên
hoàn thiện nhân cách - chứ không phải chỉ là cá
nhân - trong một hoàn cảnh lịch sử khắc nghiệt.
Thơ Đường, thơ Đỗ... đã tan ra, bàng bạc trong Truyện
Kiều, làm nên cái chất thơ trác việt mà nhân loại
chỉ được nếm qua một thời đại.
Truyện
Kiều, với tư cách là một tiểu thuyết - một câu chuyện
kể với nhân vật và ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ người
kể chuyện, điểm nhìn người kể chuyện và sự di chuyển
hết sức linh động điểm nhìn nghệ thuật..., là ngang
tầm với những đỉnh cao của tiểu thuyết Minh - Thanh
như Hồng Lâu mộng của Tào Tuyết Cần (1724-1764)
“miêu tả nỗi lòng tương tư, tâm trạng bối rối, hy
vọng xen thất vọng, niềm vui xen nỗi buồn, chú ý
đến tâm lý của từng nhân vật - đó là cái mới của
Tào Tuyết Cần đem đến cho tiểu thuyết Trung Quốc
và đó là cái làm cho tác phẩm của ông là thành tựu
vĩ đại của văn học Trung Quốc thế kỷ 18” (Fisman,
Văn học Trung Quốc trong Lịch sử văn học thế giới,
1988). Truyện Kiều cũng mới, cũng vĩ đại như vậy.
Nhưng
điều quan trọng nhất, Truyện Kiều là trái cây của
thời đại Nguyễn Du trong lòng dân tộc. Nó là tiếng
Việt được mài giũa, sáng tạo qua hàng ngàn năm mất
nước, qua Nguyễn Trãi, Hồng Đức,... và đến Truyện
Kiều, nó trở nên “thiên thu tuyệt diệu từ”, trở
thành “tiếng thương như tiếng mẹ ru”, trở thành
dân tộc.
Đó
là tiếng của văn hóa bác học, của tinh hoa Hán học,
cổ thi; nhưng cái chính đó là tiếng nói của văn
hóa dân gian, của ca dao - tục ngữ, của quan họ
phường vải, lời ăn tiếng nói của bà mẹ Việt Nam
bình dân nâu sồng áo vải. Nguyễn Du từng viết: “Thôn
ca sơ học tang ma ngữ - Dã khốc thời văn chiến phạt
thanh” (Trong tiếng hát nơi thôn dã ta học được
lời của người trồng dâu gai - Trong tiếng khóc nơi
đồng nội ta nghe tiếng dội của chiến tranh). “Lời
quê chắp nhặt”, Nguyễn Du đã tinh luyện và nâng
cao tiếng Việt để diễn đạt hồn Việt thương đau...
Văn
hóa dân gian, nền tảng của Truyện Kiều, không phải
chỉ ở lời. Tất cả đạo đức, tình cảm, ứng xử, thế
giới bên trong... của nhân vật Truyện Kiều được
hình thành trên cơ sở của nền văn hóa dân gian Việt
Nam… Triết lý Truyện Kiều cũng vậy. Lần lượt cái
triết học Nho, Phật, Lão... đến ẩn mình trong Truyện
Kiều.
Nhưng
đó là một đạo Nho dung dị, bình dân đến nỗi Vương
ông, một đại biểu của Nho giáo, chấp nhận tình yêu
tự do của con gái: “Này cha làm lỗi duyên mày -
Thôi thì nỗi ấy sau này đã em”. Phật giáo trong
thơ chữ Hán Nguyễn Du cao xa là thế, “vô tự thị
chân kinh”, thế mà trong Kiều thì đó lại là thứ
Phật giáo bình dân, nhân quả rõ ràng, ân đền oán
trả... để rồi kết thúc: “Chữ tâm kia mới bằng ba
chữ tài...”.
Những
vấn đề chung quanh Truyện Kiều, Văn chiêu hồn, Thơ
chữ Hán... còn nhiều hướng đọc, hướng tiếp cận khác
nhau. Cần phải nghiên cứu thi pháp, văn bản, tiểu
sử, nghiên cứu so sánh, cần phải đặt tác phẩm Nguyễn
Du vào thời đại chúng ta... Thời đại đang chuyển
động và Truyện Kiều - Nguyễn Du cũng không dừng
lại.
Nhưng
có một cách đọc hiểu Nguyễn Du trên bình diện bao
quát nhất. Theo Feliks Kuznesov, Viện sĩ, Viện trưởng
Viện Văn học thế giới M.Gorki, ba nhân vật vĩ đại
nhất của văn học Nga thế kỷ 19 từng định đoạt sự
phát triển tinh thần của nhân dân Nga là Gogol,
Dostoievski, Tolstoi... Đó không chỉ là những nhà
văn, mà còn là những nhà tư tưởng lớn nhất của Nga
thế kỷ 19, những người bị dằn vặt bởi những vấn
đề tâm linh con người, những vấn đề sinh tồn mang
tính chất bản thể luận.
Nguyễn
Du phải chăng là một trong những giai đoạn phát
triển tư tưởng, tinh thần, tâm linh và tồn tại của
người Việt, đặc biệt là vấn đề con người, cái bên
trong con người, nhân cách con người, lương tâm
đạo đức con người,... Và nếu vậy, Nguyễn Du xứng
đáng được nghiên cứu trên tầm bản thể luận.
“Cách
tiếp cận mới đối với việc lý giải di sản nghệ thuật
của các thiên tài văn học Nga được hình thành hiện
nay, đó trước hết là cách tiếp cận sinh tồn, cách
tiếp cận bản thể luận”, F.Kuznersov viết. Giá trị
tinh thần của con người và xã hội, vấn đề ý nghĩa
cuộc sống, vấn đề lý giải sự tồn tại, vấn đề lương
tâm như là vấn đề chủ yếu trong hệ thống giá trị
đạo đức: sống để làm gì và sống như thế nào?...
Cách đặt vấn đề tiếp nhận giá trị cổ điển Nga như
thế đặt ra cho chúng ta phương hướng đọc Nguyễn
Du, tiếp cận Nguyễn Du không xa lạ gì với phương
pháp nghiên cứu kinh điển mà chúng ta theo đuổi.
Đây
có thể xem là hướng tiếp cận tổng quát về Nguyễn
Du, cách đọc Nguyễn Du cơ bản mà chúng ta hướng
đến.( Mai Quốc Liên )
Phương
ngữ Nam bộ trong bài ca vọng cổ của soạn giả Viễn
Châu
Nói
đến Hồ Biểu Chánh, Anh Đức, Nguyễn Đình Chiểu...,
ai cũng thừa nhận rằng các tác giả này đã vận dụng
một cách khéo léo và thành công ngôn ngữ Nam bộ
trong các sáng tác của mình. Không phải giới văn
đàn mới làm được điều đó mà ngay cả các tác giả
sáng tác tuồng cải lương, bài ca vọng cổ, trong
đó có Soạn giả - Nghệ sĩ Ưu tú Viễn Châu, cũng rất
thành công trong lĩnh vực này.
Có
thể nói, đặc trưng ngôn ngữ văn hóa – từ địa phương
– trong những bài ca vọng cổ của soạn giả Viễn Châu
đã làm cho giai điệu thêm mượt mà, sâu lắng, nhịp
nhàng. Những câu hát lời ca ấy không đượm chút hoa
mỹ, bóng bẩy mà gần gũi với lối sống hằng ngày của
mọi người. Chẳng hạn trong cách xưng hô của người
Nam bộ, ta cảm nhận một điều gì đó rất mật thiết,
đầy tình nghĩa trong bài vọng cổ “Giây phút ngậm
ngùi” của Viễn Châu:
“Tao
thấy mầy về tao nhớ nó nhiều thêm”.
Khi
nói về vợ hay chồng mình với người khác, người Nam
bộ cũng thường sử dụng nhiều cách gọi thân mật như
: ông xã, má sắp nhỏ, ba thằng X... Trong bài “Tôi
đi hớt tóc” do Văn Hường ca có đoạn :
“Mỗi
khi nghe má thằng Nhái cằn nhằn cửi nhửi
Nó nói đời bây giờ mà còn để củ tỏi Hạ Châu
Tía nó ôi, nghe lời tôi đi hớt tóc, gội đầu
Cho được gọn ghẽ bảnh bao cùng thiên hạ”
Tình
cảm của người Nam bộ đối với phía bên mẹ thường
nặng hơn nên có cách gọi rất thân mật: “ngoại Năm”,
“ngoại Chín”; trong nhiều gia đình các cháu cũng
thường hay gọi dì của mình (chị hoặc em của mẹ)
bằng má kèm theo thứ : má Hai, má Sáu... Cũng với
ý muốn làm tăng tình cảm thân mật và giảm bớt tính
cách trịnh trọng, người Nam bộ thường gọi ông chú,
bác, cô, dì của mình theo thứ vị: ông Năm, bà Bảy,
bác Hai...
“Bác
Sáu giăng câu cho xuồng cập bến ngước mắt nhìn tôi
thay tiếng hỏi câu chào” (Bông ô môi ).
Trường
hợp người lớn tuổi nói với người nhỏ tuổi, nếu thân
mật thì gọi bằng con, ít thân mật thì gọi bằng cháu,
cũng có thể gọi bằng “thằng + thứ” hay “con + thứ”.
Chẳng hạn : “Cháu ở xa xôi về tự hồi nào, cháu ơi
con Tư nó đã lấy chồng từ năm về trước nhưng số
phần bạc phước vô duyên” (Bông ô môi ).
Nhìn
chung, các từ xưng hô trong tiếng Việt Nam bộ rất
phong phú và đa dạng. Những khác biệt nhỏ trong
cách xưng hô làm nên sắc thái riêng của các phương
ngữ. Có thể khẳng định rằng, soạn giả Viễn Châu
là một trong số các tác giả sử dụng rất điêu luyện
và thành công vốn từ địa phương Nam bộ trong các
sáng tác của mình.
***
Nam
bộ là vùng sông nước với nhiều kinh rạch chằng chịt,
là mạch giao thông chủ yếu không những của đời sống
kinh tế, xã hội mà cả đời sống văn hóa, tinh thần
của người dân miền đất này. Chính vì điều kiện tự
nhiên như thế cho nên cuộc sống của người dân bản
xứ luôn gắn với sông nước. Do đó, số từ ngữ chỉ
sự vật, hiện tượng có liên quan đến lĩnh vực này
cũng rất phong phú - nhất là trong phương ngữ Nam
bộ. Cũng do xuất thân từ miền quê sông nước Nam
bộ nên các tác phẩm của soạn giả Viễn Châu cũng
phản ánh một số nét đặc thù của vùng sông nước này,
nhất là trong các bài ca vọng cổ:
“Ghe
chiếu Cà Mau đã cắm sào trên dòng kinh Ngã Bảy sao
cô gái năm xưa chẳng thấy ra chào...”.
“Nhớ
năm ngoái khi ghe vừa tới vàm sông Ngã Bảy” (Tình
anh bán chiếu).
Với
hệ thống kinh rạch như thế, phương tiện vận chuyển
chủ yếu của người dân địa phương vẫn là các loại
ghe, xuồng. Ở đây, anh bán chiếu đã sử dụng phương
tiện đặc trưng của vùng đất Nam bộ để sinh sống
hằng ngày, đó là chiếc ghe. Nhưng đối với họ, phương
tiện di chuyển tiện dụng hơn cả là chiếc xuồng.
Xuồng ở nơi này được xem như chiếc xe làm chân của
người dân thành phố. Có nhiều nơi học sinh đi học
cũng bằng xuồng, đưa rước nhau cũng bằng xuồng :
“Em
bơi xuồng ba lá tiễn đưa tôi đến tận đầu làng”
“
Trên chiếc xuồng có một ông lão quen quen” (Bông
ô môi).
Gắn
liền với các phương tiện vận chuyển nêu trên, người
Nam bộ cũng đã có những từ ngữ chỉ sự vận động của
họ trên vùng sông nước. Chẳng hạn như từ “chèo”:
“Mặc
dù tuổi đã già nua, vẫn còn chèo nổi con đò sang
sông” (Ông lão chèo đò).
Khi
muốn bộc lộ tâm tư tình cảm hay bày tỏ với ai đó
một điều gì, người dân địa phương Nam bộ thường
sử dụng những từ ngữ hết sức mộc mạc, giản dị và
chân thành mang đậm tính cách của người bản xứ.
“Địch
Lang ôi! Khá dừng cương để thiếp đây tỏ bày hơn
thiệt” (Thoại Ba công chúa).
“Mỗi
khi nghe má thằng Nhái cằn nhằn, cửi nhửi” (Tôi
đi hớt tóc).
“Nhìn
cánh thiệp hồng nằm trơ trên gác vắng nghe tâm tư
chết lặng mối thương sầu” (Được tin em lấy chồng).
“Em
bỗng bâng khuâng đôi má hồng chín ửng” (Cô gái bán
sầu riêng).
Một
trong những nét đặc trưng của ngôn ngữ Nam bộ trong
bài ca vọng cổ của soạn giả Viễn Châu là ngữ khí
từ, hư từ có liên quan mật thiết đến lời ăn tiếng
nói hằng ngày của người dân miền sông nước. Cách
nói dân dã và mộc mạc đó đã góp phần làm phong phú
hơn vốn từ vựng tiếng Việt của chúng ta. Tiêu biểu
có các từ: ôi, sao, ơi, mà...
“Ôi
sương trắng phủ màu tang trên nấm mộ”
“Hỡi
ơi chiếc lá vàng bay vật vờ trong gió lạnh” (Lắng
tiếng chuông ngân).
“Chớ
cô bác nghĩ coi từ làng trên xóm dưới ai ai lại
chẳng biết tên thầy Tư làm pháp sư đã bốn năm trời”
(Pháp sư giải nghệ).
“Trời
ơi! Ta làm vua mà không nghe lời can gián thì bảo
sao đám thần dân không hận oán căm thù...” (Trụ
Vương thiêu mình).
Nhìn
chung, ngữ khí từ và hư từ trong tiếng Việt đã được
soạn giả Viễn Châu sử dụng một cách nhuần nhuyễn
và rất phong phú.TĂNG TẤN LỘC

|