| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Tể
tướng và nhà thơ Nguyễn Văn Giai
(Thử phân tích một hiện tượng tích hợp giữafolklore
và văn học viết)
Nguyễn Huệ Chi
Viện Văn Học, Hà Nội
Nếu xét về văn nghiệp, Nguyễn Văn Giai chỉ còn
để lại bốn bài thơ nôm, ít nhiều chưa thật chắc
chắn về xuất xứ. Nhưng đó là bốn bài thơ đặc sắc,
có giọng điệu và phong cách nghệ thuật khá nhất
quán, mà đặt trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVI
và đầu thế kỷ XVII, chỉ chừng ấy thôi đã là một
vốn quý của dòng thơ tiếng Việt với số lượng tác
giả còn hết sức hiếm hoi. Mặt khác, việc tìm hiểu
thơ nôm của Nguyễn Văn Giai không phải là chủ điểm
duy nhất của bài này. Bởi tên tuổi ông đã đi vào
sử sách như một bậc tể phụ đầu triều lừng lẫy cách
đây hơn bốn trăm năm. Lừng lẫy đến mức xung quanh
ông có cả một kho huyền thoại được thêu dệt ngay
lúc ông còn sống và cứ thế lưu truyền đan xen với
sự thật. Vì thế, cả huyền thoại lẫn thơ ca của ông
từ lâu đã đan kết với nhau, tạo nên một hiện tượng
phức hợp, một hiện tượng “văn sử bất phân”, cần
được giải mã. May mắn cho người viết - một hậu sinh
có cái vinh dự là người đồng hương với ông, đã được
đọc tận mắt tấm bia ghi sự nghiệp của ông do đích
thân vua Lê cho dựng lên mấy chục năm sau ngày ông
mất, tấm bia cao lớn hiện còn tọa lạc ở xã Ích Hậu,
huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh nơi sinh quán của ông
[1]. Cũng may mắn cho người viết, đã được tiếp xúc
với các bậc trưởng thượng chi họ Nguyễn Văn, hậu
duệ của ông ở xã Ích Hậu, và nhờ đó mà có dịp đối
chiếu mấy bản gia phả cổ của dòng họ này, bắt nguồn
từ nhiều bộ thực lục đời Lê và được chép lại vào
năm thứ 2 dưới đời Minh Mạng (1821), năm thứ 3 dưới
đời Thành Thái (1891) và năm thứ 9 cũng dưới đời
Thành Thái (1897). Những gì viết dưới đây là sự
phối hợp tất cả những tài liệu thông sử, địa chí,
truyện ký, thơ văn với văn bia, phả ký [2]... đó,
tuy không hy vọng có thể làm sống dậy một hình bóng
đã từng hiện diện với đầy đủ mọi chi tiết sống thực,
nhưng ít nhất cũng cố gắng dõi theo nhiều chiều
kích khác nhau trên con đường “thiêng hóa” con người
này trong lịch sử, nhằm soi tỏ đôi ba nét điển hình
nhất, liên quan đến môi trường địa-văn hóa cũng
như bản sắc riêng của nhân vật - nói cụ thể hơn
là đi tìm một chân dung văn học ẩn hiện thấp thoáng
giữa hai xu hướng phóng chiếu trái ngược của truyền
thuyết: xu hướng Nho giáo muốn vẽ ông như một tín
đồ của Đạo Thánh và xu hướng dân gian muốn tô đậm
ở ông những môtip gần gũi với đời sống.
*
* *
Nguyễn Văn Giai sở dĩ được sĩ phu Lê-Trịnh nhiều
đời tôn xưng là một công thần bậc nhất bởi ông là
người trực tiếp tham dự vào công cuộc đánh Mạc,
khôi phục lại cái ngai vàng cho nhà Lê. Nhưng ông
tham gia dẹp Mạc không phải ở tư cách một “võ biền”
thuần túy mà là một trí thức có văn tài, một vị
Giải nguyên của chính nhà Mạc rồi lại là một vị
Tam nguyên của nhà Lê trung hưng. Ông vừa là tướng
võ vừa là tướng văn, hai lần hộ giá Lê Thế Tông
(1573-1599) lên tận biên giới để giải quyết những
vấn đề ngoại giao hết sức tế nhị với Trung Quốc,
và cũng là người kiên định phù Lê ngay từ buổi đầu
[3], không nay thay mai đổi như phần đông tướng
lĩnh và sĩ phu thời ấy thường bị dao động giữa ba
lực hút Mạc - Lê/Trịnh - Nguyễn, tự gây cho mình
thân phận những “con lắc” trong một thời gian khá
dài. Nhờ đó ông có được tiếng nói đĩnh đạc giữa
Triều đình nhà Lê khi vừa mới khôi phục, dám tâu
thẳng với các chúa Trịnh những điều “khó nói” bằng
chính “cái giọng Nghệ - Tĩnh trọ trẹ” [4] mà không
chút mặc cảm, nhằm kín đáo ngăn cản âm mưu của các
chúa Trịnh lấn lướt ngôi Lê. Khỏi phải nói, dưới
con mắt các thế hệ chính khách lớp sau, tư cách
của ông trở nên sừng sững, vượt lên hẳn đám triều
thần Lê mạt thường chỉ biết nhẫn nhục nín hơi lặng
tiếng, hoặc hóng gió bắt bóng theo đóm ăn tàn. Cũng
vì thế không phải là khó hiểu khi một bộ phận truyền
thuyết nhà nho cố tình trùm phủ cái bóng kỳ vĩ theo
kích thước một “Thánh nhân đạo Khổng” lên cuộc đời
thực của ông. Nhưng ông lại cũng là một người xuất
thân bình dân và giữ được trong mình nét cốt cách
bình dân ngay cả sau khi đã trở thành một bậc công
thần hiển hách. Chính đó là nguyên do để dân gian
truyền tụng và cũng khoác vào cho ông vô số mảng
truyền thuyết dân gian có phần đối trọng với truyền
thuyết nhà nho. Có thể nói ông là một mẫu người
tương đối tiêu biểu để chúng ta khảo sát quy luật
truyền thuyết hóa tiểu sử nhân vật ở phương Đông
và Việt Nam, nó có khác với sự truyền thuyết hóa
ở phương Tây chủ yếu được phát huy theo con đường
tô đậm huyền thoại về các vị anh hùng gắn liền với
Thánh tích Thiên chúa giáo, “đồng nhất với sinh
hoạt Nhà Thờ, trụ vững trong các buổi thuyết giáo,
thông qua lời cầu nguyện, nghi lễ và những Thánh
lễ” (Encarta, mục “Tradition”, 2003).
Cuộc đời của Nguyễn Văn Giai là cả một pho sử
sống của một con người biết cật lực phấn đấu để
chiến thắng số phận. Sinh ra vào đêm 22 tháng Chạp
năm Giáp dần, tức 14 tháng Giêng năm 1555, ông là
người của một vùng quê quanh năm nghèo đói mà tên
gọi bấy giờ là Phù Lưu trường, thuộc huyện Thiên
Lộc, trấn Nghệ An, nay là xã Ích Hậu, huyện Can
Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Phù Lưu trường sau đổi là xã
Mỹ Tường, là một trong ba xã nhỏ nằm bao quanh một
cồn cát trên đó hình như xưa kia chỉ mọc toàn một
loại cây mà người ta dùng để làm chổi xể nên có
tên là Cồn Chủi / chổi đọc theo giọng Nghệ. Sau
này phần đất của xã Mỹ Tường có cắt bớt đi, chia
về cho một vài xã lân cận, còn phần chính thì hợp
cùng hai xã nằm quanh Cồn Chủi thành một xã lớn
và lấy luôn tên Ba Xã làm tên. Ba Xã nằm cách biển
khoảng 7 cây số, có một nhánh sông chảy qua, ăn
thông với con sông lớn ở bến đò Kênh Cạn, chạy suốt
ra cửa biển Nam Giới tức Cửa Sót, là điểm mút giao
thông giữa đường bộ và đường biển trên con đường
đi đánh dẹp “Nam man” của các vua chúa thời Lý,
Trần, Lê. Nhưng nơi đây trong nhiều thế kỷ cũng
là mảnh đất để cho quân Chiêm Thành thỉnh thoảng
tràn sang cướp phá, và còn là bãi chiến trường đẫm
máu giữa quân Việt Đàng Ngoài và quân Việt Đàng
Trong từng chà đi xát lại không biết bao nhiêu lần
thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Vì nhánh sông chảy
qua Ba Xã ăn thông ra biển nên mỗi khi triều lên,
nước mặn cũng theo sông tràn lên, làm ngập mặn hết
các cánh đồng trũng viền lấy mé Đông Cồn Chủi. Trong
tình cảnh như vậy, câu chuyện sinh kế của người
dân Ba Xã luôn luôn là chuyện bức xúc không phải
cho một thế hệ mà triền miên từ đời này qua đời
khác. Người Ba Xã làm ruộng quanh năm không bao
giờ đủ sống, thành thử đã phải tỏa đi khắp nơi làm
đủ các nghề: gánh cá thuê, đi ở mướn, chạy hàng
xách, đi chặt cây bổi trên triền núi Hồng Lĩnh về
bán gọi là “đi rú”, hoặc lên tận những cánh rừng
giáp với Lào ở mạn Hương Khê chặt nứa đóng bè thả
về xuôi gọi là “ngược ngàn”... Và rồi không hiểu
từ bao giờ đã phát sinh ra một cái nghề cha truyền
con nối là nghề... hành khất. Trừ những ngày mùa,
ngày giỗ chạp, người dân Ba Xã thường dắt díu nhau
đi tha phương cầu thực ở khắp mọi nơi, nhưng nhiều
nhất là vùng Đông Thành tức Yên Thành, xưa kia là
vựa lúa của Nghệ An: “Đông Thành là mẹ là cha /
Đói cơm rách áo thì ra Đông Thành”. Nghề hành khất
thuở ban đầu cố nhiên là việc làm bất đắc dĩ của
hạng người túng đói. Nhưng rồi kéo dài qua vô số
năm tháng, lần hồi nó đã trở nên một thứ tập tục,
thậm chí một thứ tín ngưỡng ăn sâu vào tâm linh
của cả một vùng. Người ta tin rằng ông tổ của làng
thuở xưa ngẫu nhiên được táng vào một khu đất mà
con cháu về sau phải nối đời lấy bị gậy làm nghiệp.
Bởi thế, có người giàu có hẳn hoi cũng mỗi năm một
đôi lần đóng vai khất thực :
Vui bạn nên anh đi ăn mày,
Chứ nhà anh cũng có đủ hai con trâu cày đó em ơi.
Ăn mày không còn là một việc gì nhục nhã mà đã
như một thói quen, một thứ triết lý sống dân gian
để cho mỗi người có dịp đặt mình xuống địa vị thấp
hèn, nếm trải cho đủ mọi dư vị đắng cay của nhân
thế. Chính Nguyễn Văn Giai cũng thừa hưởng được
cái triết lý giàu chất hài hước--nhân bản đó của
quê hương bản quán. Sau này, khi đã ở vào vị trí
một bậc tể phụ, ông vẫn không đánh mất quan niệm
sống cân bằng “có vinh cũng cần có nhục” đã in sâu
nơi tâm khảm, nó được biểu hiện trong một bài thơ
tự trào của ông, nhằm đùa cợt với chính địa vị của
mình :
Ba vua, bốn chúa, bảy thằng con,
Trên chửa lung lay, dưới chửa mòn.
Chí chưa thành, danh cũng hổ,
Hòm sẵn đó, chết thì chôn.
Giang hồ / lang miếu, trời đôi ngả,
Bị gậy / cân đai, đất một hòn.
Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa,
Sợ ông Bành Tổ tống đồng môn [5].
Cả bài thơ là một chuỗi cười ngạo nghễ của người
tuy già mà vẫn tự tin rằng mình còn rất khỏe (Trên
chửa lung lay: hàm răng đang đủ sức nhai để cơ thể
chưa đến nỗi rệu rã; dưới chửa mòn: và cái khoản
ấy cũng đang giàu sinh lực lắm), quan trọng hơn
nữa là già mà vẫn rất tỉnh -- dám gọi xách mé các
đời vua chúa thuở bấy giờ bằng những con số trống
không để tính đếm như tính đếm đám con của mình.
Nhưng cái ý vị triết lý thâm thúy nổi đậm nhất là
ở hai câu 5 và 6: Dẫu là kẻ tứ chiếng giang hồ quanh
năm mang bị gậy, hay là người khoác cân đai nơi
lang miếu của Triều đình, tưởng là hai nẻo trời
đối cực đấy, thì cuối cùng, khi đậy nắp quan tài
lại, cũng chỉ là một hòn đất như nhau. Hai câu thơ
cho thấy cái nhìn cởi mở, bình đẳng của Nguyễn Văn
Giai trước mọi loại người, mọi nghề nghiệp sang
hèn cao thấp ở đời. Với thủ pháp tiểu đối hai cặp
từ kép trong mỗi câu (giang hồ/lang miếu; bị gậy/cân
đai), hợp hai câu lại thành hai vế đối hoàn chỉnh,
với cách ngắt nhịp 2/2/3 chậm rãi, hai câu thơ được
Nguyễn Văn Giai dồn toàn bộ trọng lực vào đấy, như
một cách nói nhẩn nha, không cố ý to tiếng, thế
mà mỗi tiếng đều gieo vào lòng người đọc một âm
vang chắc nịch, khiến ta thấm dần cái chân lý mà
nhà thơ đưa ra, không cãi vào đâu được, để rồi chấm
dứt bằng một thanh trầm rơi hẳn xuống, làm ta sững
sờ vì cái kết cục quá đúng: đất một hòn.
Cũng cảm hứng này còn trở lại với ông trong bài
Đèn kéo quân thâm trầm và chua chát hơn nữa:
Một lũ ăn mày một lũ quan,
Quanh đi quẩn lại cũng một đoàn.
Phải sinh ra ở một vùng đất đầy ăn mày như Ba
Xã rồi trở thành một vị quan lớn, Nguyễn Văn Giai
mới có thể thấm thía trò đùa trớ trêu của số mệnh
trong việc chuyển đổi thân phận dễ như bỡn giữa
quan và ăn mày. Tuy nhiên, điều sâu kín hơn mà ông
muốn gửi gắm là trong một cơ chế xã hội lỏng lẻo
mà sự vận hành luôn luôn có trục trặc - do chiến
tranh, loạn lạc, uy tín của người cầm cân nẩy mực
sụt giảm nghiêm trọng và nhiều nguyên cớ khác -
thì thân phận giữa quan và ăn mày nhiều khi lại
không khác gì nhau, không phải bên này là điều kiện
tồn tại của bên kia mà kỳ thực, sự tồn tại của cả
hai đều trở nên vô nghĩa :
Đến khi dầu cạn đèn không cháy,
Chẳng thấy ăn mày chẳng thấy quan [6].
Bài thơ chỉ có bốn câu, chữ nghĩa khá dung dị,
song hai từ ăn mày và quan được lặp lại một cách
có dụng ý mô phỏng phép thủ vĩ ngâm tự nó đã trở
thành một sức mạnh nghệ thuật nội tại, làm toát
lên cái ý tứ sâu xa về sự quẩn quanh, dẫm chân tại
chỗ, xoay trở đường nào cũng không lối thoát, trong
cuộc nhân sinh chỉ thấy toàn chết chóc, tranh giành
giữa phe này phái nọ mà thôi. Ở câu đầu, hai cặp
từ một lũ được nhắc lại hai lần, biểu thị cái ý
khinh miệt, đặt “quan” vào cùng một địa vị với “ăn
mày”. Và sự khinh miệt càng tăng lên tột mức ở hai
câu cuối, khi tác giả thay chỗ cho hai cặp từ một
lũ bằng hai cặp từ chẳng thấy cũng nhắc đi nhắc
lại, như một thứ lộng ngôn hoàn toàn phủ định: Chẳng
thấy ăn mày chẳng thấy quan! Tâm sự nung nấu của
Nguyễn Văn Giai sau ngày bình xong nhà Mạc, chứng
kiến tình cảnh điêu đứng của dân chúng và sự tha
hóa quá nhanh của tập đoàn Lê-Trịnh, và việc ông
mấy lần cáo lão xin về mà không được, chứa đựng
cả trong bốn câu thơ tưởng chừng chỉ là thơ “vịnh
vật” đơn giản này.
Nhưng trong suốt cả một thời trai trẻ cho đến
khi đạt được sự nghiệp hiển hách, Nguyễn Văn Giai
lại không hề là người yếm thế bi quan. Trái lại,
ở ông, cá tính quật cường bộc lộ ngay từ thuở nhỏ.
Tiên tổ ông khi còn thuộc dòng trực hệ ông Nguyễn
Công Quyền, Tri phủ Diễn Châu vào khoảng đời Trần,
đã từng nhiều đời có người đỗ đạt lớn [7]. Nhưng
đến đời thân phụ, ông Nguyễn Văn Củng, thì chỉ còn
là một anh khóa sinh nghèo. Học hành dở dang, ông
phải tìm đến Cồn Chủi vỡ một mảnh đất hoang để dựng
nhà trú ngụ. Và Nguyễn Văn Giai đã sinh ra trên
chính mảnh đất cồn khô cát trắng này. Tuy nghèo,
người bố vẫn gắng chắt bóp cho con theo học. May
sao Nguyễn Văn Giai là đứa trẻ đặc biệt thông tuệ,
5 tuổi đã biết chữ, 9 tuổi biết làm văn, 15 tuổi
viết bài phú Con trâu trong nghiên mực (Nghiễn trì
ngưu phú) nổi tiếng là thần đồng. Lại thêm một may
mắn trời cho: ông là người có vóc dáng cao lớn,
sức khỏe hơn người, hàng ngày vẫn giúp bố mẹ làm
ruộng, và cày mướn cuốc thuê để kiếm hai bữa cơm,
tối đến mới vùi đầu vào sách vở. Thỉnh thoảng ông
còn đi gánh hàng ở các chợ xa hàng chục cây số lấy
tiền mua sắm dầu đèn giấy bút. Theo sách Tang thương
ngẫu lục, “một hôm đi gánh thuê về, trời nóng bức,
ông lội xuống tắm ở cái ao trước cửa nhà thầy học
cùng làng. Trong lúc đang bơi lội, quần áo trên
bờ bị đứa vô lại nào lấy mất, ông phải ngâm mình
dưới nước mãi không dám lên. Bên kia ao là nhà một
ông Giám sinh, có cô con gái ra ao định giặt, nhưng
thấy ông đương tắm đành phải quay vào. Một lúc nữa
trở ra lại thấy như vậy. Rồi một lúc nữa, cô ra
loanh quanh ở bờ ao, bỏ lại trên bờ mấy chục thước
vải. Ông biết ý, rất cảm kích, trở lên lấy vải ấy
đóng khố rồi đi về nhà. Về sau khi đã thi đỗ, ông
đến nhà ông Giám sinh, xin hỏi cô gái làm vợ. Ông
Giám sinh nói: “Con bé vô duyên, hôm qua tôi đã
trót nhận lời gả cho một cậu học trò của tôi, cũng
là bạn đồng khoa của anh đấy. Xin anh đừng lấy làm
lạ sao tôi lại từ chối”. Đang lúc trò chuyện thì
ông đồng khoa kia đến, hai bên tranh biện mãi không
giải quyết xong. Ông nói: “Tôi vốn đã có vợ từ lâu,
không phải dám tham sắc đẹp để mua cười với bạn.
Chỉ vì thuở còn hàn vi từng được người khuê các
để mắt xanh đến, nên tôi đã dốc lòng yêu thương
từ đấy. Trời đất quỷ thần hẳn đều soi xét, lòng
này có dám mạo muội đâu”. Nhân đấy kể rõ câu chuyện
ngày xưa. Ông Giám sinh bèn vào nhà trong hỏi con
gái thì con cũng nói như vậy, rốt cuộc đổi ý, vui
lòng đem cô gái gả cho ông Giai. Đó là bà phu nhân
thứ ba, ông yêu quý như bà cả vậy”. Câu chuyện tình
duyên ngẫu nhiên mà thật cảm động, về phía dân gian,
như muốn gửi gắm cái ý: nhân vật mà mình tôn xưng
ở đây là con người biết chủ động trong tình yêu
đôi lứa, biết yêu và cũng có tâm hồn tinh tế để
nhận ra đúng người phụ nữ chung tình. Còn về phía
nhà nho, hẳn không phải chỉ muốn đề cao cặp mắt
xanh của cô tiểu thư “con nhà” đối với người hàn
sĩ mà còn muốn nhấn nhiều hơn đến chữ “nghĩa” của
một cặp phu thê mẫu mực, có thể làm tấm gương soi
cho nhiều đời sau. Đối chiếu với văn bia, Nguyễn
Văn Giai có đến mười bốn bà vợ, hai bà Chính phu
nhân và hai bà Á phu nhân, nhưng nếu đúng là người
cùng xã như Tang thương ngẫu lục nói thì có lẽ đây
là bà Nguyễn Thị Viện, không nằm trong hàng Chính
và Á phu nhân nhưng lại được liệt kê đầu tiên và
được phong là “Quận phu nhân” - bà phu nhân của
ông Quận công. Cách xếp đặt khác thường của văn
bia xác nhận vị trí quan trọng có thật của bà vợ
ba này mà Tang thương ngẫu lục sẽ còn nhắc đến.
Dựa vào một bộ “tập truyện”, gia phả kể rằng ông
có sức ăn rất khỏe, và cũng có tài nhịn ăn không
giống ai. Trong thời kỳ phải bôn ba ra kinh đô Thăng
Long tìm thầy học thêm, ông ăn đẫy một bụng từ nhà
rồi đánh đường trẩy kinh, dọc đường rất ít khi kiếm
được bữa ăn thêm mà vẫn không mất sức. Một hôm từ
kinh đô trở về, qua làng Đồng Cổ ở Thanh Hóa thì
trời vừa tối. Không tìm ra quán trọ, ông ghé vào
ngôi đền bên đường ngủ tạm, chợt thấy trên bệ thờ
có cỗ xôi, chai rượu và một vai lợn luộc bày sẵn,
đang lúc đói liền hạ xuống đánh chén. No say túy
lúy rồi, ông lần vào hậu cung ngủ luôn một giấc.
Khi mọi người đến chia phần thấy cỗ cúng đã biến
mất, vội đi tìm mà không biết thủ phạm ở đâu. Sáng
ra, viên thủ từ mới tìm thấy ông, bèn trói lại giải
về cho người làng tra vấn. Bỗng có một vị trưởng
giả trong làng đến bảo: “Thôi, hãy cởi trói cho
người ta đi”. Hỏi thì vị này cho biết, đêm qua nằm
mộng thấy ông thần của làng hiện về bảo rằng anh
thanh niên đây vốn có túc duyên với mình; bữa cỗ
tế thần đem đãi anh ta thực là ý của thần, xin làng
đừng nặng lời trách mắng. Nói rồi vị trưởng giả
hỏi ông: “Thư sinh mà ăn khỏe như cậu phỏng ăn bao
nhiêu mới đủ ?” Ông đáp: “Ăn bao nhiêu cũng không
xuể”. Người làng nghe vậy vội bảo nhau mỗi người
về nấu một niêu cơm ước chừng một bát gạo, toàn
thứ gạo chiêm chưa giã, đem đến đình làng góp chung
lại mời ông ăn. Ông không chút khách sáo, cầm đũa
xới cơm ăn hết nhẵn rồi mới từ tạ ra đi [8]. Lại
một ngày kia, ông đi qua xã Tam Tảo, huyện Yên Phong
thuộc trấn Kinh Bắc, gặp lúc dân làng ở đây đang
đào một cái ao [9], đã ba ngày mà chưa xong. Ông
cười bảo họ: “Làng ta có bao nhiêu người mà sao
làm việc uể oải vậy?” Người làng quay lại bảo nhau:
một gã thư sinh sức vóc phỏng được đến đâu mà dám
đại ngôn khinh người quá thế. Bèn bảo với ông: “Anh
mà đào được thì bấy nhiêu tiền phí tổn ăn uống dân
làng chúng tôi xin tặng hết cho anh”. Nguyễn Văn
Giai ngang nhiên cầm lấy thuổng bước xuống đào ngay.
Chưa đầy một ngày cái ao lớn đã hoàn thành. Dân
làng đem tất cả phần cơm dồn lại, ông chỉ ăn trong
một nhoáng là sạch. Về sau khi ông đã giữ chức Thượng
thư Bộ Lại, hai làng ở Tam Tảo kiện nhau cái ao,
việc đến tai ông; ông cho gọi chức dịch cả hai làng
lên, nói cho biết chính mình đã đào cái ao ấy, và
khuyên họ nên xếp bỏ việc kiện tụng. Các bậc kỳ
lão nhớ ra chuyện anh thư sinh đã đào ao ngày trước,
hết sức xấu hổ; vụ kiện ao nhờ đó khép lại chóng
vánh. Để chứng tỏ tấm lòng phục thiện, dân hai làng
tình nguyện xin ông đứng tên làm người sở hữu danh
dự cái ao của cả đôi bên [10].
Môtip ăn khỏe vốn là môtip đề cao sức lực của
người dũng sĩ trong sử thi và anh hùng ca thời cổ,
về sau còn để lại tàn dư ở khá nhiều truyền thuyết
và cổ tích của người Việt. Tất nhiên khi chuyển
vào cổ tích, theo chúng tôi môtip này đã có một
bước thay đổi về mặt ý nghĩa. Nó có giữ lại một
phần nội hàm cũ nhằm nói lên sức khỏe hơn người
của nhân vật chính, nhưng đấy chưa phải là phần
quan trọng. Mà quan trọng hơn là nó muốn chỉ ra
gốc gác và bản chất loại hình của một kiểu nhân
vật riêng trong truyện cổ tích - nhân vật xuất thân
là anh “lực điền”. Gia phả và truyện ký đã khai
thác cùng lúc cả hai ý nghĩa này khi liệt nhập truyền
thuyết ăn khỏe vào cho Nguyễn Văn Giai. Ông được
đề cao về mặt sức khỏe để nói lên một phương diện
quan trọng đã làm cho ông thành danh: khả năng dụng
võ. Đồng thời, sức khỏe đó cũng là một cách làm
mờ đi chất nho sĩ và làm đậm thêm chất nông dân
ở ông. Tại đền thờ ông hiện còn bày những con chó
đá tương truyền do ông tự mình gánh về từ Thanh
Hóa bằng dây buộc cày mà ở vùng Nghệ Tĩnh gọi là
“chạc cày” (ở Nghệ Tĩnh không có núi đá vôi có thể
tạc được tượng). Giữa đường chạc cày bị đứt. Ông
lấy rơm bện lại gánh thẳng một mạch về đến làng,
vừa gánh vừa ngâm:
Chạc cày gánh đá đứt đi,
Chạc rơm bện lại có khi hãy bền.
Câu chuyện cấp cho chúng ta cái hình ảnh một vị
quan đầu triều mà vẫn rõ ra là một anh chàng “vai
u thịt bắp”, rất dân dã qua cách hình dung của dân
gian. Kể cả tình tiết xử lý vụ kiện ao của vị Tể
tướng cũng có phần đặc biệt. Một vị Tể tướng mà
quan tâm đến câu chuyện tranh chấp một cái ao của
làng. Lạ hơn nữa, một người làm việc quan mà không
xui nguyên giục bị để kiếm lợi, không đòi tiền lễ,
lại lấy phương châm “một sự nhịn là chín sự lành”
ra giải quyết. Phải chăng ở con người thực của Nguyễn
Văn Giai, trước sau bản chất thuở hàn vi vẫn giữ
được nguyên vẹn? Mặt khác, chuyện vun vén làm sao
để gắn bó, hòa giải trong làng ngoài xã xưa kia
vẫn là mối bận tâm, gây không ít băn khoăn nhức
nhối cho đại đa số quần chúng, nên dân gian đã mượn
biểu tượng một vị “thánh nhân” tiếng tăm một thời
để gửi gắm phương án giải quyết cơ bản và dài lâu
đối với vấn đề đáng gọi là nan giải trong đời sống
hàng ngày của họ?
Thuở ấy đất nước đang thuộc quyền cai trị của
nhà Mạc. Vua Lê do Trịnh Kiểm (1545-1569) phò tá
còn ẩn náu ở miền núi rừng Thanh Hóa. Nguyễn Văn
Giai được gia đình gửi ra kinh đô Thăng Long tìm
thầy giỏi để học tập, nhưng trong lòng chỉ toan
tính chuyện phù Lê. Tuổi trẻ, ngông nghênh, lại
tự tin ở tài sức của mình, anh còn để lại bài thơ
Nói khoác đọc cho bạn bè tâm phúc nghe, trong đó
truyền thống “nói trạng” của xứ Nghệ được phát huy
đến cực điểm :
Ta con ông Trạng cháu ông Nghè,
Nói khoác trên trời dưới đất nghe.
Sức Hạng Vương tày nửa đấm,
Cờ Đế Thích chấp hai xe.
Lội ngay xuống biển co tàu lại,
Nhảy tót lên non cưỡi cọp về.
Mai mốt đem quân vào phủ chúa,
Ra tay diệt Mạc để phù Lê.
Bài thơ này cũng như bài thơ kế tiếp ở dưới được
ghi lại rất sớm trong gia phả. Vận dụng thủ pháp
thậm xưng, khuếch đại, người viết vừa tỏ ý hài hước
vừa bộc lộ chí hướng của mình, giữa thời buổi rối
ren rất khó chọn một hướng đi. Cho nên đây là thơ
“nói chí” nhưng lại không phải loại thơ “nói chí”
thông thường mang ngữ điệu trang nghiêm, mực thước,
trái lại nó đã phơi bày khá rõ tính cách cá nhân,
một dạng cái “tôi” ngông nghênh mà sau này Nguyễn
Công Trứ sẽ phát triển lên một bước cao hơn. Cách
dùng nhiều từ vựng thông tục (nói khoác; tày nửa
đấm; nhảy tót) cho thấy thơ nôm đến Nguyễn Văn Giai
đã rời bỏ dần mạch ngôn ngữ tao nhã của thơ Nguyễn
Bỉnh Khiêm ở thế kỷ XVI (ngoài Nguyễn Bỉnh Khiêm
ra, không còn người nào khác để có thể so sánh).
Về mặt này ông là người mở đường để rồi đây những
người sau kế tiếp và với Hồ Xuân Hương thì đã là
một bước nhảy triệt để trong việc biến “cái thông
tục” thành “cái thẩm mỹ”.
Vốn là anh học trò áo vải, cái rét ghê gớm của
xứ Bắc giữa mùa đông tháng giá đối với Nguyễn Văn
Giai là cả một cực hình. Ông thường nằm co quắp
trong quán trọ vào những ngày buốt giá, đến nỗi
quân lính nhà Mạc đi tuần cũng không buồn dậy. Một
lần gặp một toán quan quân võng lọng đến các quán
xét hỏi, thấy ông vẫn nằm im, lính tuần liền quát
mắng. Ông chống chế: “Kẻ hàn sĩ xa nhà phải nằm
cho đỡ lạnh, đâu dám khinh mạn bề trên”. Viên quan
Chấp kim ngô nghe ông xưng mình là học trò bèn bắt
ông phải làm bài thơ Nằm co, lấy chữ “cuồng” làm
vần. Ông không nghĩ ngợi lâu, ứng khẩu đọc liền:
Ba gian lều cỏ, một mình truồng,
Rét phải nằm co há có cuồng.
Cá nọ xẹp vi miền Bắc hải,
Rồng kia uốn khúc mé Nam dương.
Lòng trung hiếu, bo còn giữ,
Hội công danh, cuốn chửa giương.
Có khuất bao nhiêu thì có duỗi,
Ra xuân đầm ấm sẽ buông tuồng.[11]
Đây cũng là một bài thơ “nói chí” dưới hình thức
khoác lác giống như bài thơ trên, nhưng điểm đặc
sắc về mặt ngôn từ là câu nào cũng mang nghĩa đen
hoặc nghĩa bóng chỉ người nằm co đúng với đề tài
định trước, lại sử dụng vần “cuồng” khá chuẩn, có
cả những từ sỗ sàng “vỗ mặt” kẻ ra đề mà vẫn rất
lịch sự, đồng thời còn kín đáo bày tỏ được khí phách
cứng cỏi và cái ngông của mình. Nếu hiểu theo nghĩa
bóng thì hai chữ “mình truồng” đã dẫn đến những
liên tưởng nghịch ngợm trong cách dùng chữ ở các
câu sau như cuốn/giương; khuất/duỗi..., kể cả những
lời tuyên bố tưởng chừng nghiêm túc mà xem ra cũng
ẩn giấu một nét cười cợt: “Lòng trung hiếu bo còn
giữ” (trong một cơ thể trần truồng thì cái bộ phận
được giữ kín nhất ấy là... “lòng trung hiếu” !).
Theo gia phả, vị quan nhà Mạc nghe xong bài thơ
hết sức ngạc nhiên, ban tiền và áo quần cho ông
rất hậu, khuyên ông nên vào học ở nhà Thái học.
Sau đó ít lâu, có lần ông dạo chơi Hồ Tây, trên
đường gặp xa giá vua Mạc Mậu Hợp (1562-1592) cũng
đi du lãm. Ông không né tránh mà cứ thẳng đường
đi tới. Đám quân dẹp đường thấy vậy quát tháo, ông
cự lại: “Bậc vương giả “du quan” còn người nho giả
thì “du học”, chúng bay sao được cấm càn ?”. Viên
quan theo hầu thấy lạ bèn cứ thực tâu lên. Mạc Mậu
Hợp xuống chỉ đưa ông về nơi đài tạ giữa hồ để nhà
vua tự mình xét hỏi. Nhờ tài ứng đối trôi chảy,
Nguyễn Văn Giai được vua tha bổng. Nhân khi đang
hứng vua Mạc ra cho ông vế đối:
Ao Thanh Trì nước xanh leo lẻo, cá lội ngắc ngư
Chỗ khó của vế đối này là cách chơi chữ lắt léo,
dùng từ đồng âm Hán Việt để lặp lại nghĩa tiếng
Việt: Thanh Trì ứng với ao xanh; cá ứng với ngư.
Nguyễn Văn Giai cũng tìm ra một vế đối có cách chơi
chữ tương tự để đối lại, trong đó Ngân Hà ứng với
sông bạc; vịt ứng với áp đều là từ đồng nghĩa:
Sông Ngân Hà sao bạc lăn tăn, vịt nằm ấm áp
Mạc Mậu Hợp lại ra cho ông một vế đối khác mà
sự lắt léo lần này là ba chữ đầu nói về cái chày
nhưng đều chỉ tên ba giống cá, ứng với chữ “ngư”
ở giữa và chữ “cá” ở cuối cùng :
Chày cháy trôi sông, bác ngư ông ngỡ cá
Ông lại cũng tìm ngay ra một vế đối tương hợp,
có ba chữ đầu nói về thời gian của người đi biển,
nhưng chính là tên ba vì sao, ứng với chữ “tinh”
ở giữa và chữ “sao” ở cuối câu :
Hôm mai vượt biển, tài tinh tướng xem sao [12]
Vua Mạc cực lực tán thưởng, muốn cất nhắc ông
ngay, nhưng Nguyễn Văn Giai khéo léo khước từ. Thực
tế chưa chắc Nguyễn Văn Giai đã có cuộc gặp gỡ với
Mạc Mậu Hợp thật, bởi một nho sinh nghèo vô danh
tiểu tốt được bệ kiến vua đâu phải dễ. Nhưng có
phần chắc nhà nho đưa truyền thuyết này vào cốt
làm nổi bật năng khiếu văn chương đột xuất cũng
như thái độ bất hợp tác với Mạc từ sớm của ông,
mặt nữa cũng để chứng tỏ vua Mạc phải nể sợ trước
một thư sinh nghèo hèn, chưa xứng tư cách “bề trên”
của một đấng thiên tử. Nhìn dưới con mắt tiếp nhận
của hôm nay, chúng ta hẳn có cách nghĩ trái lại
-- đây là truyền thuyết bắt nguồn từ một sự thật
: triều đại Mạc vốn tương đối khoan dung và do không
xuất thân từ một dòng họ “lá ngọc cành vàng” nên
trong cung cách giao tiếp đối đãi cũng ít lễ nghĩa
cố chấp mà khá bình dân (giống như triều đại Trần
thuở ban đầu).
Năm 1571, nhân khoa thi của nhà Mạc mở ở Sơn Nam,
Nguyễn Văn Giai dự thi và đỗ Giải nguyên. Nhưng
vì trong lòng cứ tâm niệm chuyện phù Lê, ông không
dự tiếp thi Hội mà tìm đường trở về quê quán. Mãi
7 năm sau, trong niên hiệu Quang Hưng thứ hai đời
vua Lê Thế Tông (1579), nhà Lê mở khoa thi ở Thanh
Hóa, ông mới lại ra thi, và lại đỗ Giải nguyên.
Hai năm sau nữa, nhà Lê mở khoa thi Hội đầu tiên
ở sách Vạn Lại, ông đi thi tiếp, đỗ Hội nguyên,
rồi vào thi Đình đỗ luôn Đình nguyên Hoàng giáp.
Ngay trong năm ấy ông được bổ Hàn lâm hiệu lý nhưng
rồi có việc bị mất chức về nhà dạy học trong sáu
năm [13].
Thời gian này cuộc chiến giữa Mạc và Lê-Trịnh
đang diễn ra ác liệt. Trịnh Tùng (1570-1623) mấy
phen cầm quân đi đánh Mạc đều thua to. Một hôm Trịnh
Tùng nằm mộng thấy mình vẽ hình mặt trời mãi mà
vẫn không xong, bỗng thấy một thần nhân áo mũ kỳ
vĩ đến trước mặt bảo rằng: nếu muốn vẽ được mặt
trời tất phải triệu Nguyễn công, rồi đọc cho nghe
một bài thơ tứ tuyệt:
Tứ hải oa tranh nhược chiến ly,
Thiên sinh nhất mộc chửng quần lê.
Dã thị Việt Nam trinh cán đại,
Thùy tri Thiên Lộc chỉ mao huy.
(Bốn bể nhao nhao dấy chiến tranh,
Trời sinh cây gỗ cứu dân lành.
Gốc to thân cứng trùm Nam Việt,
Thiên Lộc cầm cờ nắm đại binh) [14]
Chốc sau chợt thấy Nguyễn Văn Giai ở đâu xuất hiện,
cầm lấy bút của Tùng vẽ một nét được ngay hình mặt
trời tròn vành vạnh. Thế là tỉnh dậy, Trịnh Tùng
quả quyết triệu ông đến quân doanh phong chức Lễ
khoa phụng sai tiết chế. Tiếp tục lọc bỏ chỗ khuếch
đại của truyền thuyết nhà nho vẫn cùng một cảm hứng
đề cao tài năng siêu việt của Nguyễn Văn Giai đến
mức được thần linh mách bảo, ta có thể xác định
đây là thời điểm vị Hoàng giáp nổi tiếng về văn
đã may mắn gặp được người tiến cử đúng chỗ sở trường
về võ.
Từ đây, quân Lê-Trịnh chuyển bại thành thắng.
Nguyễn Văn Giai được cùng với Trịnh Tùng nắm giữ
năm đạo quân tiến thẳng ra Bắc, chiếm lại Thăng
Long, bình định thành trì rồi lại rút về. Đến năm
1592, sau khi làm lễ tế cáo thiên địa tổ tông, đại
quân Lê-Trịnh lại tiến ra Bắc lần thứ hai. Trong
trận Đường Nang, ông ngồi cùng voi với Trịnh Tùng.
Quân Mạc chống lại rất dữ, quản tượng bị giết, mọi
người nao núng, ông liền nhảy lên đầu voi thay thế,
thúc quân tiến đánh. Quân Mạc thua to, lục quân
bị đại bại ở Ý Yên, Sơn Nam; thủy quân bị đánh tan
tác ở Bình Lục, Thanh Oai, Hát Giang; các bề tôi
Mạc có tên tuổi như Đỗ Uông, Nhữ Tông, Đồng Hàng,
Ngô Tháo đều ra hàng. Quân nhà Lê thu phục lại Thăng
Long, xa giá vua Lê trở về kinh thành. Xét công
lao phò tá, Nguyễn Văn Giai được phong Đề hình giám
sát ngự sử. Tiếp đấy, ông còn được cử đi dẹp dư
đảng của nhà Mạc, và nhất là chủ trì việc giao hảo
với Trung Quốc, để Trung Quốc thừa nhận nhà Lê trung
hưng. Cuộc thương nghị kéo dài trên một năm, từ
tháng Ba năm 1596 đến tháng Tư năm 1597 mới hoàn
tất [15]. Ngay trong năm ấy Nguyễn Văn Giai được
phong Hữu thị lang Bộ Hộ, tước Bá. Ông còn được
nhà vua giao chuyên việc từ hàn, soạn văn thư đặt
quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng. Năm
1599, trước sức ép của triều đình Trung Quốc, nhà
Lê phải nhường đất Cao Bằng cho Mạc. Mạc Kính Cung
(1593-1625) lên ngôi vua, cấu kết được với một số
võ tướng Lê-Trịnh lại kéo đại quân về bao vây Thăng
Long. Vua Lê Kính Tông (1599-1619) phải bỏ chạy
vào Thanh Hóa. Nguyễn Văn Giai lại cùng Trịnh Tùng
xuất quân đốc chiến, đánh bại quân Mạc, giành lại
Thăng Long. Sau trận này ông được thăng Hữu thị
lang Bộ Lại. Năm 1600, Mạc Kính Cung cất quân đánh
xuống Thăng Long một lần nữa. Đang giữa lúc về nghỉ
ở quê cư tang cha, Nguyễn Văn Giai được lệnh triệu
gấp ra kinh đô tiễu trừ quân Mạc. Ông vâng mệnh
đến ngay nơi màn trướng, đánh lui được giặc và được
phong Đô ngự sử ở Ngự sử đài. Năm 1604, ông được
phong Thượng thư Bộ Hộ và hai năm sau được gia phong
Tham tụng, Thượng thư Bộ Lại, tước Hầu. Đến năm
1612, được đặc phong Quận công. Năm 1617 thăng lên
Thiếu phó và chỉ một năm sau được giao quyền cai
quản cả lục bộ. Ông cùng Trịnh Tráng (1623-1657)
thân chinh đi đánh Mạc Kính Khoan (1623-1638) thắng
trận, trở về được thăng Thiếu úy, liệt vào hàng
Kiệt tiết tuyên lực dực vận tán trị công thần.
Trong những năm từ 1619 đến 1623 trong triều có
nhiều biến cố. Vua Lê bị chúa Trịnh chèn ép và bản
thân nội bộ cha con, anh em họ Trịnh cũng lục đục.
Trịnh Tùng thâu tóm binh quyền, chia cho hai con
mình nắm giữ là Trịnh Tráng (ngôi trưởng) và Trịnh
Xuân (ngôi phó). Nhưng Trịnh Xuân lại liên kết với
dư đảng nhà Mạc, nổi lên đốt phá kinh thành, vua
Lê phải chạy về Hoàng Mai, Thanh Hóa lần nữa. Nguyễn
Văn Giai đã cố gắng giải quyết êm thấm những sự
cố đầy bi hài này, dụ được Trịnh Xuân đến phục tội
trước Trịnh Tùng để Trịnh Tùng tự giải quyết “mầm
họa” do mình gây nên - Tùng cho chặt chân con đến
chết ngay trước mặt, sau đấy Tùng cũng lâm bệnh
mà chết - rồi đệ đơn xin về trí sĩ. Nhưng do uy
tín của ông, chưa được bao lâu ông lại được triệu
ra giữ nguyên chức cũ. Ngày 13 tháng Giêng năm Mậu
thìn, tức 27 tháng Hai năm 1628, ông mất tại chức,
được truy phong chức Tư đồ. Các triều đại sau đều
ra sắc chỉ nâng chức tước của ông lên những trật
cao hơn.
Gia phả dựa vào một bộ “di lục” chép lời bình
luận tổng quát về Nguyễn Văn Giai : một con người
cương trực, khí tiết, luôn luôn giữ đúng “tam quy”
chốn quan trường là thanh thận cần -- thanh liêm,
thận trọng, cần mẫn; giữa Triều đình nói năng không
tránh né mà vẫn được cả vua lẫn chúa vì nể. Cũng
sách Tang thương ngẫu lục còn cho biết, thời kỳ
ông nắm giữ công việc Tể tướng, uy nghiêm khét tiếng,
“các bậc thân quý của vua chúa đều phải nín hơi
không ai dám làm càn. Một vị Quận mã, con rể của
chúa đi đánh trận thua chạy, ông bắt bỏ ngục rồi
xử vào tội chết. Chúa muốn tha nhưng rất khó nói,
cầu đến dụ chỉ của nhà vua, cũng vẫn không lay được
ý định của ông. Bấy giờ ông có nhiều vợ, có đến
năm, sáu bà, địa vị hầu như là bà Chính phu nhân,
duy có bà Ba là người được ông yêu dấu. Bà Quận
chúa vợ Quận mã bèn đem châu ngọc, nhờ bà Phó mẫu
-- người dạy bảo mình hồi nhỏ -- dẫn đến thăm bà
Ba và kể việc Quận mã. Bà Ba từ chối mà rằng: “Tướng
công tôi là người thanh liêm thẳng thắn. Việc lớn
của Triều đình tôi đâu dám dự”. Quận chúa cố nài
thật thảm thiết, bà Ba bèn bảo : “Nếu vậy sáng mai,
Quận chúa hãy cho đem một con lợn nhỏ luộc chín,
một mâm xôi thổi nếp cái, và kèm cả tương dấm dao
thớt nữa, lựa lúc tướng công tôi đi vắng đưa vào”.
Quận chúa mừng rỡ cảm ơn. Sáng hôm sau, sắp sửa
vào triều, ông bảo dọn cơm sáng để ăn. Bà Ba nói:
“Trong triều bây giờ các quan đã đến đầy rồi. Tướng
công hãy vào rồi về sẽ xơi cơm thì hơn”. Ông lên
kiệu đi. Lúc ở trong triều về thì bụng đã đói ngấu,
thấy cái lồng bàn đang đậy, mở ra, sẵn dao và thớt,
thái ngay thịt lợn ăn lẫn với xôi, chỉ một lúc hết
nhẵn. Ăn xong ông chợt hỏi: “À, những thứ ấy ở đâu
mà có thế nhỉ ?” Bà Ba kể duyên do. Ông rất tức
bực, lúc lâu mới nói: “Ta lầm lỗi rồi! Ta lầm lỗi
rồi! Nhưng vì một bữa ăn no mà làm sống một mạng
người, chẳng cũng bởi trời hay sao?” Liền lên xe
vào phủ xin tha cho người có tội. Chúa mừng rỡ nghe
theo ngay”. Nếu truyền thuyết ăn khỏe nói ở phần
trên là của dân gian, khai thác cái mặt hồn nhiên,
“tính trời” trong tư chất của Nguyễn Văn Giai, cùng
những hệ quả tích cực của tư chất ấy khi ông hành
xử trên cương vị một ông quan lớn, thì truyền thuyết
ăn khỏe đến đây lại được nhà nho tiếp tục ở khía
cạnh phê phán: Nguyễn Văn Giai đã chịu hậu quả xấu
của “thói phàm ăn” bởi ông đã không theo đúng phương
châm ăn uống cẩn trọng của đức Thánh Khổng “thịt
không cắt vuông không ăn”. Đủ thấy, dù là một con
người đã đến tầm cỡ bậc thánh như Nguyễn Văn Giai
cũng vẫn không tránh hết mọi lầm lỗi. Tuy vậy, cũng
bởi đã đạt đến bậc thánh nên đây chỉ là chút tỳ
vết do vô tình mà mắc phải, như một cảnh báo của
ông trời (“Thiên yếm chi, thiên yếm chi” -- Luận
ngữ, “Ung dã”). Vì thế, dẫu là vô tình trong việc
ăn một con lợn luộc nhỏ và một mâm xôi, đối với
người cầm cân nẩy mực thuở xưa đã mang ý nghĩa một
hành vi tham nhũng đáng phải tự răn, cũng lại phải
đánh đổi bằng việc xin tha cho một vụ trọng án.
Người chép truyền thuyết muốn nhắn nhủ: sự giữ mình
của các bậc quyền cao chức trọng thời xưa thật đáng
trọng mà cách giữ chữ tín cũng thật đáng trọng.
Nhưng nhìn chung, trong chỗ khả thủ của tính cách
Nguyễn Văn Giai cũng có để lộ một đôi điều bất cập.
Cái bất cập lớn nhất là ông đã tuân thủ chữ “lễ”
của Nho giáo một cách quá cứng nhắc. Một lòng phò
tá vương triều chính thống, ông đi đến đánh giá
không khách quan tất cả mọi triều đại đối lập với
Lê-Trịnh, bỏ ngoài tai những việc làm dù tốt hay
xấu của họ, kể cả cách nhà Mạc đối xử biệt nhãn
với nhân tài, thậm chí với những người chưa có chút
tiếng tăm như Nguyễn Văn Giai thời trẻ. Căn bệnh
“chính thống”, coi tất cả những gì thuộc phía đối
lập với ta đều là xấu, phải xóa bỏ bằng hết, hình
như cũng là cái cố tật của những con người sống
trong mọi cơ chế toàn trị xưa nay, không riêng gì
Nguyễn Văn Giai -- vị công thần trung hưng dưới
chế độ phong kiến Lê-Trịnh. Nhưng Nguyễn Văn Giai
có thực là con người cố chấp như thế hay không?
Cũng theo gia phả, khi đánh dẹp xong nhà Mạc, ông
không nỡ để cho dòng dõi Mạc bị tuyệt diệt nên đã
chọn một người con trai họ Mạc đem về làm con nuôi,
người con ấy hiện nay ở Ích Hậu vẫn còn con cháu
đông đúc. Cách ứng xử có hậu này có vẻ như không
giống với những gì sử sách và truyện ký ghi chép
mà trên chúng tôi đã dẫn. Chúng tôi nghĩ, ở đây
truyền thuyết dân gian đã bị truyền thuyết nhà nho
chế áp, và sự thực là nhà nho chứ không phải dân
gian cố tình đẩy đến cực đoan tư tưởng chính thống
của ông. Tất nhiên, trước sau ông vẫn là một mẫu
hình của Nho gia nên trong cách giải quyết mọi việc
công và tư đều không thoát khỏi có những lúc những
nơi thiếu phần mềm dẻo. Chỉ riêng chuyện đối đãi
với con cái, cũng nhược điểm này đã làm cho Nguyễn
Văn Giai mất uyển chuyển, nặng về lý trí và chức
phận mà thiếu phần tình cảm ruột thịt cha con. Vì
một bà vợ chính thất có lỗi, ông đã dứt khoát gạt
bỏ chức trưởng nam của người con cả do bà sinh ra,
đưa một người con thứ lên thay thế. Nhưng cũng từ
đó, tình thân giữa anh em trong gia đình rạn vỡ,
quan hệ nhường nhịn giữa họ mất đi. Người con trưởng
do ông tự ý xếp đặt không được các em tâm phục,
và bị một người em thứ khác nhóm họp gia nhân chống
lại, đến nỗi đang bận công việc triều chính, được
tin, ông phải tức tốc về quê phân xử, cuối cùng
đã phải tự tay giết đứa con “khởi loạn” để giữ vững
“gia phong”. Đó chính là tấn bi kịch lớn về cuối
đời ông, cộng thêm với tấn bi kịch nhức nhối của
kẻ nhìn thấy mọi dường mối cương thường của cái
triều đình mà mình dựng lên đang sụp đổ dần trước
mắt. Việc ông cho “ca hát ba ngày” sau khi giết
con không nói lên cái hào hứng tự nhiên của người
thanh thỏa với mình mà chỉ là một hành động “tự
trấn áp” về tâm lý, một kiểu “hội lễ” bất thường
để mọi con dân dưới quyền vợi bớt phần lo lắng.
Tang thương ngẫu lục cũng ghi được câu chuyện về
một thoáng ngậm ngùi của con người uy phong nghiêng
trời ấy, nó như là sự chiêm nghiệm của vị Tể tướng
về những gì ông đã làm trong quá khứ mà thâm tâm
ông biết sẽ dẫn đến hậu vận không lấy gì làm sáng
sủa cho mình: “Một hôm ông vào triều đi qua chợ
Cửa Đông thấy con cá mè lớn bề ngang đẫy thước,
ông dừng lại hỏi và khen ngợi. Rồi khi trở về nhà,
thấy rất nhiều người đem biếu cá, toàn là những
khúc cá mè. Ông đùa bảo thử chắp lại xem, thấy chỉ
thiếu đuôi, còn thì đều đủ thân hình con cá. Ông
sai ra hàng cá tìm thì quan Thái tể đã mua về tiến
vua rồi. Ông than rằng: “Có lẽ con cháu ta sau này
sẽ không được thịnh vượng chăng ?” Sau khi ông mất
quả đúng như lời ấy”.
Nguyễn Văn Giai, con người rất hiểu nhân tình
thế thái, và cũng là người cư xử với người đầy lòng
nhân hậu, ấy vậy mà trong việc “tề gia”, chính ông
lại bị thói quen của người chuyên việc chấp chính,
đặt “hệ tư tưởng” của đấng cầm quyền lên trên mọi
sự, dẫn đến những quyết đoán không thấu tình đạt
lý. Ông đã không vượt được cái bóng của mình. Ở
phần kết cục này thì cả truyền thuyết nhà nho và
truyền thuyết dân gian đều hội tụ lại để có chung
hai hàm nghĩa: vừa nâng ông lên một tầm thước quá
kích cỡ con người bình thường, đúng như chức năng
của truyền thuyết là “một truyện kể với tính cách
dị thường, trong đó những sự kiện lịch sử được biến
đổi bởi trí tưởng tượng dân gian hoặc bởi sự sáng
tạo thi ca” (Encarta, mục “Légende”, 2003) nhằm
gây niềm tin thần thánh, nhưng cũng vừa làm cho
hình ảnh ông có phần xa lạ với cái phần “người”
của thế nhân. Rất có thể đấy là tấm gương khúc xạ
của một thời kỳ lịch sử mà mọi hành vi thái quá
đều do lịch sử quy định.
Tháng 1-2005
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Về sinh quán của Nguyễn Văn Giai cũng đã có
những sách báo nhầm lẫn, chẳng hạn cuốn Thanh Lâm
phong thổ chí được Đồ Nam Tử Nguyễn Trọng Thuật
lấy làm chỗ dựa để viết bài “Danh nhân Hải Dương”
trên Tạp chí Nam phong số 162 (1931); tr. 474-476,
thì cho rằng Nguyễn Văn Giai sinh ở làng Đại Lã,
phủ Nam Sách (Hải Dương), còn tổ quán thuộc làng
Phù Lưu, huyện Thiên Lộc (Bắc Ninh). Đây là một
ghi chép thiếu chính xác, vì ở Bắc Ninh không hề
có huyện Thiên Lộc, trái lại, trong địa chí trấn
Nghệ An, huyện Thiên Lộc có từ rất lâu đời. Và đến
nay, tấm bia dựng từ thế kỷ XVII (1697) ở đền thờ
Nguyễn Văn Giai vẫn còn nguyên vẹn.
[2] Các tài liệu mà chúng tôi sử dụng để viết bài
này ngoài bài văn bia Tu tạo Tổ công Thái tể bi
khắc và dựng vào tháng Mười niên hiệu Chính Hòa
thứ 18 (1697) đặt tại đền thờ, và các bộ tộc phả
Tân tập Nghệ An Thiên Lộc huyện Phù Lưu trường Nguyễn
Thị đại tông tổng ký (1821), Tân tập gia phổ Nghệ
An Thiên Lộc huyện Phù Lưu trường Nguyễn Thị đại
tông tổng ký (1891), Tân tập gia ký (1897) như đã
nói trên, còn có: Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ nhà
Lê, Bản kỷ tục biên, Quyển XVI-XVIII; Khâm định
Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, quyển
XXIX-XXXI; Lê triều trung hưng công nghiệp thực
lục của Hồ Sĩ Dương (1622-1681); Lịch triều hiến
chương loại chí của Phan Huy Chú (1782-1840); Lịch
đại đăng khoa lục của Vũ Duy Đoán (1621- ?); Đỉnh
khế Đại Việt lịch triều đăng khoa lục của Nguyễn
Hoản (1713-1792), Vũ Miên (1718-1782), Phan Trọng
Phiên (1735-1809), Uông Sĩ Lãng (? - ?); Liệt huyện
đăng khoa lục bị khảo của Phan Huy Ôn (1755-1786);
Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch (1757-1828); Thiên
Lộc huyện phong thổ chí của Lưu Công Đạo (cuối thế
kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, sách viết năm 1811); Đại
Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn;
Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ (1768-1839)
và Nguyễn Án (1770-1815); Địa chí huyện Can Lộc
của Võ Hồng Huy, Thái Kim Đỉnh và Chương Thâu, Huyện
ủy -- Ủy ban nhân dân Can Lộc và Sở Văn hóa thông
tin Hà Tĩnh xuất bản, 1999.
[3] Theo Thiên Lộc huyện phong thổ chí, ngay từ
thuở còn chơi trò thả diều, gặp lúc Phan Đình Tá
về nghỉ hưu có cờ biển đề “Lưỡng triều Tể tướng”,
Nguyễn Văn Giai liền viết vào thân diều mấy chữ
“Thiên cổ tội nhân” để đối chọi với mấy chữ trên
lá cờ của ông Tá, có ý mỉa mai ông ăn ở hai lòng.
Đây cũng là một truyền thuyết của nhà nho nhằm đề
cao chữ “trung” của Nguyễn Văn Giai. (Phan Đình
Tá (1468- ?) người xã Phù Lưu thượng, nay là xã
Hồng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh, gần quê Nguyễn Văn Giai,
đỗ Hoàng giáp năm 1499, làm quan với nhà Lê đến
chức Thượng thư Bộ Lại, về sau lại là người viết
chiếu lên ngôi cho Mạc Đăng Dung (1527-1529), làm
Thượng thư với nhà Mạc, được phong tước Hầu).
[4] Theo gia phả họ Nguyễn Văn.
[5] Bài thơ này trong Văn đàn bảo giám Quyển I
của Trần Trung Viên (in lần thứ ba, Nxb. Nam Ký,
Hà Nội, 1932), có chép một dị bản nói là thơ Nguyễn
Khuyến (1835-1909), dưới đầu đề Già đời, trong đó
câu thứ hai là “Thấm thoắt xuân thu bảy chục tròn”,
và hai câu lục ngôn thứ ba và thứ bốn biến thành
thất ngôn : “Sự nghiệp chưa thành danh cũng hổ /
Quan tài sẵn có chết thì chôn”. Nhưng hiện tượng
“ba vua bốn chúa” không đúng với trường hợp Nguyễn
Khuyến. Nếu Nguyễn Khuyến làm bài thơ năm ông bảy
mươi tuổi (1905) thì tính từ khi ông ra làm quan
năm 1871 cho đến lúc ấy đã là bảy đời vua mà chúa
thì không có. Còn Nguyễn Văn Giai sinh năm 1555,
ra làm quan từ 1580, nếu cũng tính đến năm ông bảy
mươi tuổi (1523) thì quả đã trải qua ba đời vua:
Lê Thế Tông (1573-1599), Lê Kính Tông (1600-1619),
Lê Thần Tông (1619-1628) và có bốn đời chúa liên
quan đến sự nghiệp của ông là hai chúa Trịnh: Trịnh
Tùng (1570-1623), Trịnh Tráng (1623-1657), và hai
chúa Nguyễn: Nguyễn Hoàng (1558-1613), Nguyễn Phúc
Nguyên (1613-1634). Đặc biệt, chất giọng cao ngạo
của bài thơ như việc gọi vua chúa một cách xách
mé “ba vua bốn chúa” thì phải là một bậc Tể tướng
có nhiều huân nghiệp mới có được. Vì thế, ở đây
chúng tôi chép theo gia phả và sách Tài trẻ nước
Nam của Bình Ân, do Mộng Thương thư trai xuất bản,
Vinh, 1933. Nói chung, về 4 bài thơ nôm của Nguyễn
Văn Giai trích dẫn ở trong bài, do hoàn cảnh thư
tịch của nước ta không còn giữ được bản gốc nên
có thể trí nhớ của người sống ở các thời đại sau
đã bị sai lạc đi, kể cả về văn bản cũng như tên
tác giả. Chúng tôi chưa thể kiểm chứng hết các nguồn
sách vở bằng tiếng Việt đầu thế kỷ XX, cũng chưa
thể xác quyết được “bản quyền” đích thực của những
bài này. Sử dụng gia phả họ Nguyễn Văn, chúng tôi
chỉ muốn cung cấp một nguồn tư liệu ở đầu thế kỷ
XIX sớm hơn một thế kỷ so với các sách vở tiếng
Việt in vào đầu thế kỷ XX, nhằm rọi thêm cho phần
thơ tiếng Việt vốn không lấy gì làm phong phú của
chúng ta trong các thế kỷ quá khứ. Từ nhiều đời
nay, nhân dân vùng Ích Hậu và Can Lộc vẫn nghiễm
nhiên coi các bài thơ này là tác phẩm của Nguyễn
Văn Giai.
[6] Bài này có người cho là của Nguyễn Quý Tân
(1814-1858) đỗ Tiến sĩ năm 1842. Chúng tôi cũng
đã từng nghĩ như vậy trong bài “Thơ trào phúng của
ông Nghè làng Thượng Cốc Nguyễn Quý Tân” viết chung
với Vũ Thanh, in trên báo Hải Dương năm 1995. Nhưng
nay đọc lại Văn đàn bảo giám, Quyển III, Sđd, thì
thấy ghi rõ tác giả là Cụ Thượng Giai chứ không
phải Nghè Tân. Vả chăng, phải là một ông quan từng
sinh ra ở một vùng quê chuyên nghiệp ăn mày như
Ba Xã mới hiểu một cách thấm thía mối quan hệ chuyển
đổi giữa quan và ăn mày như trong bài này.
[7] Gia phả cho biết tổ tiên Nguyễn Văn Giai có
Nguyễn Công Cẩn đỗ Thám hoa lúc 15 tuổi, Nguyễn
Văn Long đỗ Trạng nguyên, Nguyễn Văn Lân là em đỗ
Thám hoa đồng khoa với anh, Nguyễn Văn Lâm cũng
đỗ Thám hoa, Nguyễn Đăng Quỹ đỗ Bảng nhãn, nhưng
tra trong các bộ đăng khoa lục chúng tôi chưa tìm
được những tên tuổi này. Có thể đây là những vị
đại khoa sống vào đời Trần Hồ là thời kỳ mà đăng
khoa lục về sau chép sót rất nhiều.
[8] Gia phả chép thêm: về sau khi được tin ông
mất, dân xã Đồng Cổ cử người ra kinh đô xin thụy
hiệu của ông đem về phối thờ ở đền, và đến nay (thế
kỷ XIX), hàng năm, vào tháng Giêng đền vẫn tổ chức
lễ tế ông trùng với ngày họ tộc tế ông ở Ba Xã.
[9] Trong nguyên văn, người chép gia phả dùng chữ
“hồ”. Điều này có vẻ vô lý, vì hồ thường rất lớn,
sức một người đào trong một ngày khó xong được.
Nhưng ở vùng Nghệ Tĩnh, khái niệm hồ và ao nhiều
lúc không phân biệt rõ như các nơi khác. Vì vậy
chúng tôi tạm dùng chữ ao để bạn đọc hiểu đúng ý
gia phả muốn chép.
[10] Gia phả chép thêm: ngày nay bên ao còn có
một ngôi đền thờ ông, do con cháu người con trai
thứ 11 của ông trông coi.
[11] Xẹp vi: tiếng Nghệ Tĩnh, nghĩa là xếp vây
lại. Theo Kiều Thu Hoạch trong Tổng tập giai thoại
văn học Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, 2004, thì
bài này được in trong Công dư tiệp ký với danh nghĩa
là sáng tác của Vũ Duệ. Chúng tôi đã tra lại Công
dư tiệp ký, ở mục Vũ Duệ không hề có bài thơ này.
Công dư tiệp ký cũng không chép thơ nôm.
[12] Gia phả chú thêm: sở dĩ Nguyễn Văn Giai ứng
khẩu như vậy vì chiều hôm ấy vua Mạc cho giăng đèn
trên hồ để vui chơi, ánh đèn chiếu xuống nước nhấp
nháy như sao. Cũng theo Kiều Thu hoạch, Sđd, thì
đoạn ứng đối trên đây là của Trần Danh Án (1754-1794)
thời Lê mạt, được ghi lại trong sách Đối đáp thông
minh. Chưa rõ sách này in năm nào nhưng suy từ tên
sách thì rõ ràng là một cuốn sách tiếng Việt vào
mấy chục năm đầu thế kỷ XX, và chắc do một soạn
giả được nghe kể từ một nguồn giai thoại khác. Điều
đó càng chứng tỏ khả năng ứng dụng linh hoạt văn
học dân gian trong đời sống mà truyện Nguyễn Văn
Giai hay truyện Trần Danh Án đều là những bằng chứng.
[13] Cả Thiên Lộc huyện phong thổ chí và gia phả
đều chép như trên, nhưng Lịch triều hiến chương
loại chí thì không chép việc ông mất chức, chỉ nói
ông đang làm Án sát sứ Thanh Hóa thì Trịnh Tùng
nằm mộng được thần đọc cho câu thơ có mấy chữ “Thiên
Lộc chỉ huy” nên cho vời ông giúp việc Tham tán
ký lục trong quân, được ông bày mưu tính kế rất
nhiều. Trong việc đánh thắng Mạc, thu phục lại kinh
đô công của ông rất lớn.
[14] Chúng tôi tạm dịch.
[15] Ở chỗ này gia phả có chép hai câu đối đáp
giữa sứ Bắc với Nguyễn Văn Giai: sứ Bắc xướng rằng:
“Quỷ mỵ vọng lượng tứ tiểu quỷ”, nghĩa là quỷ, mỵ,
vọng, lượng là bốn con quỷ nhỏ, ý muốn chê người
Việt như loài quỷ, Nguyễn Văn Giai đối lại: “Cầm
sắt tỳ bà bát đại vương” nghĩa là cầm, sắt, tỳ,
bà là tám bậc vương lớn, ám chỉ nước ta quang minh
lỗi lạc giống bậc đế vương. Xét thấy giai thoại
này đã có chép ở một số tiểu sử đây đó, chúng tôi
không đưa vào để giải thích mà chỉ đặt ở chú thích.
© Thời Đại Mới

|