| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT
(Những bài chọn đăng trong trang này của từ
nhiều phía, không nhất thiết là quan điểm của nhóm
Hải Ngoại Phiếm Đàm. . .)

Phạm Duy - người bạn, người anh,
người thầy của tôi
Nhạc sĩ NGUYỄN VĂN TÝ
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, một trong những cây cổ
thụ trong khu vườn âm nhạc Việt Nam
Tôi vẫn luôn coi Phạm Duy là bạn, vì cùng công tác
một thời - thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp; là
anh, khi biết ông ấy hơn tôi 3 tuổi. Nhưng về mặt
sáng tác, tôi coi ông ấy là một người thầy, vì chính
ông ấy đã mở ra cho không riêng tôi mà cho các nhạc
sĩ đàn em khác - con đường đưa dân ca vào ngôn ngữ
âm nhạc mới. Trong thời kháng chiến chống Pháp,
Phạm Duy là một nhạc sĩ đi vào quần chúng trước
nhất. Tính quần chúng đậm đà trong ca khúc của Phạm
Duy, vì ông ấy là người đầu tiên chuyển tải dân
ca vào nhạc mới một cách nhuần nhuyễn, đằm thắm.
Sẽ có người bảo rằng tôi quá khiêm tốn, Phạm Duy
là Phạm Duy, còn Nguyễn Văn Tý là Nguyễn Văn Tý!
Nhưng tôi nói rất thật lòng. Bởi khi tôi còn là
một người sáng tác trẻ mới bắt đầu viết lách với
một số tác phẩm đầu tay thì ông ấy đã nổi tiếng,
đã có những tác phẩm đi vào lòng người, đã có những
bài hát mà lứa thanh thiếu niên thời ấy ai cũng
thuộc. Ví dụ như bài Nhạc tuổi xanh, Hát về anh
thương binh, Thu kháng chiến... Vì thế suốt đời
tôi coi Phạm Duy là bạn, là anh, là thầy.
Tôi
xin kể một vài kỷ niệm giữa chúng tôi với nhau.
Lúc ấy, chúng tôi đang ở Liên Khu 4. Đầu năm 1949,
sau chuyến công tác vào Bình Trị Thiên về, Phạm
Duy đã viết một loạt bài: “Về miền Trung”, “Bao
giờ anh lấy được đồn Tây”, “Bà mẹ Gio Linh”… Liên
Khu 4 đã tổ chức để Phạm Duy báo cáo tác phẩm. Băng
- rôn quảng cáo đã cho treo khắp nơi thông báo về
buổi báo cáo tác phẩm của Phạm Duy. Nhưng Phạm Duy
đã ngã bệnh, ngày nào cũng có cơn sốt rét. Tôi đưa
Phạm Duy về nhà mẹ tôi ở xã Kim Bảng, huyện Thanh
Chương (tỉnh Nghệ An) để dưỡng bệnh. Biết tôi rất
quý anh Phạm Duy, nên nuôi được một đàn gà, mẹ tôi
cứ thịt dần để nấu cháo cho anh bồi dưỡng lấy lại
sức. Đến sát ngày biểu diễn rồi mà bệnh tình của
anh Phạm Duy chưa thuyên giảm. Nửa đêm, anh kêu
tôi dậy và bảo: “Tý ơi, có lẽ Tý phải hát cho mình
thôi. Mình mệt lắm, không thể hát được đâu…” Đến
hẹn, chúng tôi tạm biệt mẹ lên Khu. Hôm ấy, trong
sân đình làng ở xã Duy Tân, gần Đô Lương (Nghệ An)
trước đông đảo khán giả, có đầy đủ các vị lãnh đạo
Khu ủy, các cơ quan, đoàn thể trong Liên khu đến
dự, tôi phải “báo cáo tác phẩm” thay cho Phạm Duy.
Theo những “bí quyết” của Phạm Duy: buổi chiều ấy
không ăn no, 2 giờ trước khi hát ăn 2 quả trứng
la-coóc lòng đào thì sẽ có cảm giác no nhưng bụng
không đầy, cổ lại trơn tru; trước khi hát một giờ
thì ngậm một thìa muối sẽ không bị ứa nước bọt khi
hát - nhờ vậy tôi thấy giọng rất đẹp và rất vang.
Anh
Phạm Duy với bộ đồ bà ba đen, chiếc khăn rằn quàng
cổ và cặp kính trắng quen thuộc, anh ngồi ngay ở
hàng đầu cứ nhìn thẳng vào tôi. Theo chương trình,
tăng (tempo) đầu tôi hát bài "Về Miền Trung"
và "Bà mẹ Gio Linh", tăng sau hát bài
"Ai xây chiến lũy" (của tôi) và bài "Bao
giờ anh lấy được đồn Tây". Trước khi ra sân
khấu tôi còn nghĩ cách làm cho chính anh Phạm Duy
phải sợ một phen (vì xưa nay có bao giờ anh biết
sợ là gì!). Có thể nói từ khi mở đầu bài “Về miền
Trung” tôi luôn làm theo những gì anh đã dặn. Luôn
luôn chứng tỏ mình là một học trò thông minh sáng
dạ, hát những chỗ rất là Phạm Duy. Anh ngồi dưới
nghe có vẻ hài lòng và rất đắc ý. Đến câu cuối của
lần hai, trước khi kết thúc, tôi giở trò “giật gân”,
cố ý đưa câu hát “yêu dấu” lên crescendo hú há kéo
dài thật cao, sau đó hạ giọng xuống descrescendo
thật thấp rồi mới hát nốt hai chữ “…xa xưa”. Không
ngờ trò đùa của tôi làm anh sợ thật. Cái kính đeo
ở trên mắt không hiểu sao anh cứ phải chỉnh lại
hoài, mắt anh nhìn thẳng vào tôi không chớp. Sau
tiếng vỗ tay kéo dài của khán giả, khi ban tổ chức
tuyên bố giải lao 15 phút, anh Phạm Duy đã nhảy
lên sân khấu, lấy khăn rằn của anh chấm từng giọt
mồ hôi trên mặt trên cổ cho tôi, mồ hôi ở trán anh
cũng đổ ra không ít. …Những bài hát của Phạm Duy
lúc đó là những bài hát mang tính chính trị sâu
sắc và gần gủi quần chúng vì chất dân ca: vừa mang
tính thời sự, tính chiến đấu vừa tràn đầy tình cảm
yêu quê hương, nên dân miền Trung hồi ấy không ai
là không thuộc.
Trong “gia tài” của Phạm Duy, có những tác phẩm
mà qua lăng kính của mình ông đã nói lên những triết
lý sâu sắc. Chẳng hạn như “Nghìn trùng xa cách,
người đã đi rồi. Còn gì đâu nữa mà khóc với cười”…
Công tâm mà nói, trong kho tàng âm nhạc Việt Nam,
Phạm Duy là một nhạc sĩ có nhiều tác phẩm để đời
và mãi mãi còn trong lòng người Việt Nam qua nhiều
thế hệ.
Riêng
bản thân tôi, tôi đã học ở Phạm Duy 2 điều: Thứ
nhất, là việc đưa dân ca vào trong ca khúc chính
trị. Thứ hai, là việc chỉ phát triển tính nghệ thuật
trong ca khúc mà không dính đến chính trị - để tác
phẩm có thể vượt khỏi những cột mốc địa lý và những
giới hạn về thời gian. (Trong giai đoạn kháng chiến
chống Pháp, Phạm Duy là người đầu tiên viết các
tác phẩm chỉ thuần về tính nghệ thuật mà không mang
tính chính trị. Những bài tình ca của Phạm Duy da
diết và lãng mạn, nhưng chỉ làm cho người ta man
mác buồn mà không ủy mị. Ví dụ như “Nghìn trùng
xa cách”, “Bên cầu biên giới”…)
Bài
“Mẹ yêu con” của tôi sở dĩ được nhiều người ưa thích
vì trong nó nói đến 2 tình mẹ: một bà mẹ đã rứt
ruột sinh ta ra, và một bà mẹ tổ quốc - trong dòng
chảy bất tận của thời gian đã sinh ra những đứa
con, lớn lên và làm nên lịch sử. Có một thời, có
người nói “về việc đưa dân ca vào trong ca khúc
thì Nguyễn Văn Tý chỉ là “cái đuôi” của Phạm Duy”.
Bởi thế, đi đến đâu tôi cũng tìm tòi và học thuộc
dân ca của vùng đó. Từ đó tôi mới sáng tác được
những tác phẩm gắn với dân ca từng vùng quê, nói
lên chính tiếng nói, chính hơi thở của dân địa phương.
Cho nên đã có người gọi tôi là “Nhạc sĩ của mọi
miền quê”. Nhưng thật ra, đối với tôi, Phạm Duy
vẫn là nhạc sĩ ưu tú nhất trong việc chuyển tải
dân ca Việt Nam vào trong ca khúc.
Về
tính cách của Phạm Duy, tôi thích và mê ông ấy ở
cái tính nghệ sĩ. Lúc nào ông cũng coi trọng nghệ
thuật. Ai hiểu nghệ thuật thì ông ấy rất yêu, rất
quý. Ai mà không hiểu nghệ thuật thì ông ấy xem
thường. Còn cái mà tôi không ưng lắm ở ông là ông
hay nói quá lời về mình hoặc về người khác. Điều
đó nó làm méo mó cách nhìn của ông, làm ông thiếu
khách quan trong nhận xét. Có người bảo ông tự cao,
tự đại, cứ xem mình là người tài giỏi, cái của mình
là số một không ai qua được. Tất nhiên, như ông
bà ta nói “người có tài thường hay có tật”. Phạm
Duy là một người có tài, không thể phủ nhận điều
đó. Cho nên, tôi biết người ta sẽ tha thứ cho ông
ở cái tật này, và tôi, mặc dù không thích nhưng
tôi cũng sẽ tha thứ cho ông về cái tật ấy.
Những năm trước đây, trong một bài viết của Hoàng
Phủ Ngọc Tường, có một đoạn kể rằng, các bà mẹ Gio
Linh còn sống đã hỏi: “Thằng Duy nó đi đâu mà bao
năm nay biền biệt không thấy nó đâu?!”. Có nghĩa
là, các mẹ vẫn thương Phạm Duy, vẫn coi Phạm Duy
là con như thuở nào. Được các bậc bề trên như là
các mẹ già vẫn thương quý, vẫn âu yếm mình, đó là
một hạnh phúc lớn lao của người nghệ sĩ mà không
phải ai cũng có. Tôi biết, đối với cách mạng, Phạm
Duy có nhiều nỗi đau, mà không phải ai cũng hiểu.
Nhưng tôi nghĩ, chính sự yêu thương của quần chúng
sẽ bù đắp tất cả, sẽ xoa dịu mọi vết thương.
Thật
ra, với những người phải sống tha hương, mặc dù
cuộc sống xứ người có tiện nghi đầy đủ đến đâu thì
trong lòng vẫn nhớ thương, vẫn ray rứt. Với nghệ
sĩ thì niềm ray rứt nhớ thương ấy càng thêm sâu
sắc. Đối với những người đang ở tuổi bóng xế thì
ai cũng mong được trở về cố lý, được có cuộc sống
yên tĩnh, an vui nơi quê nhà. Các cụ phụ lão thì
thường sống với kỷ niệm nhiều hơn với tương lai.
Với một ông Việt kiều ở cái tuổi 84 già nua như
Phạm Duy thì cuộc sống bên Mỹ nó ồn ào như thác
lũ. Có lần về Việt Nam, gặp tôi ông tâm sự: “Tôi
sống ở Mỹ bao nhiêu năm nhưng tâm hồn và trái tim
vẫn ở Việt Nam. Bà ấy mất rồi, tôi chỉ sống với
con. Trong số con tôi, có đưa nào về nước thì tôi
sẽ theo về”. Và ông chỉ có ước muốn được sống những
ngày cuối đời trên quê hương… Tôi nghĩ đó là tâm
trạng chung của những kẻ viễn xứ, chứ không riêng
gì nhạc sĩ Phạm Duy.
Nghĩ
về Phạm Duy, tôi cầu mong ông ấy sớm được về với
Tổ quốc, sống những năm tháng cuối đời trong sự
yên tĩnh và trong sự thương yêu của quần chúng.
Chỉ mong Đảng và Nhà nước đừng thành kiến, xóa bỏ
những định kiến (nếu có) đối với nhạc sĩ Phạm Duy
và không “tính sổ”- bởi nếu phải “tính sổ” thì có
lẽ chỉ nên tính với những Khác… Nhưng, qua hệ thống
truyền thông, tôi biết chủ trương của Đảng và chính
sách của Nhà nước đã rất cởi mở, chỉ hướng đến công
tác Đại đoàn kết toàn dân tộc và hướng đến công
cuộc xây dựng đất nước. Đây là tư tưởng của Bác
Hồ. Nếu không đại đoàn kết làm sao mình thắng Tây,
thắng Mỹ?!
Trong cuộc đời, có những khái niệm mang tính “di
động”. Nhạc cũng như con người. Nó sống với từng
thời kỳ. Trong thời kỳ đầu chống Pháp, tuy có một
số nhạc sĩ tên tuổi, nhưng Phạm Duy chiếm vị trí
hàng đầu vì tác phẩm của ông có tính thực tế, tính
thời sự, lời bài hát thì cũng rất hay và đậm đà
chất dân ca… Mà cái thời ấy đã qua lâu rồi. Ông
bà ta nói “Ăn theo thuở, ở theo thì”. Nhưng, phải
biết ghi nhận công lao của người đi trước thì mới
biết ghi nhận công lao của người đi sau. Nếu ai
đó đem so thế hệ đi sau với thế hệ đi trước thì
sự so sánh đó là điều bất cập, bởi vì không thể
nào so sánh được. Thời xưa khác, thời bây giờ là
khác. Hiện tại, chúng ta đang sống trong thời kỳ
hòa bình và xây dựng. Mọi người đều hướng về mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”. Cho nên, ai cùng có lòng yêu nước,
cùng mục đích xây dựng quê hương thì ta bắt tay.
Phạm Duy là một nhạc sĩ đã từng trải qua nhiều giai
đoạn sống. Cho nên, nếu ta biết cách khai thác ở
ông tình yêu quê hương đất nước thì ông hoàn toàn
còn là một người rất có giá trị trong giai đoạn
hiện nay, ông sẽ có ích cho cuộc đời hiện nay. Còn
những tác phẩm ông đã viết ở giai đoạn trước thì
cũng phải được tận dụng. Những bài ca ngợi quê hương,
hòa bình, tình yêu đôi lứa thì tại sao không phổ
biến? việc gì phải bỏ đi?!
Hòa
bình đã 30 năm, non sông đã liền một dãy, thì lòng
người sau 30 năm xin đừng nên hằn thù, chia cắt.
Hãy tạo điều kiện cho những người có tài năng được
trở về với đất mẹ và sớm có một đời sống ổn định,
yên lành, cùng với quần chúng cách mạng được hít
thở bầu không khí hòa bình và cùng hướng đến tương
lai của dân tộc.
Hiện
tại, lớp nhạc sĩ già nua như chúng tôi còn lại được
mấy người? Và có được mấy người vẫn còn sáng tác,
còn cống hiến cho đời bằng tác phẩm? Ngẫm lại, cái
gì ít - là hiếm, mà đã hiếm thì phải biết quý!
N.V.T
@nguoivienxu

|