| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Nhân
ngày mất của Thi sĩ Trần-Huyền-Trân ( 22-4-1989)
“Người
ơi, mưa đấy hay xênh phách”
Ngõ
Hàng Chuối
GỬI NGƯỜI THÊU THƠ
NHỮNG
CÁNH THƠ VÀNG
THƠ
KHÔNG CÓ TÊN
LƯU
BIỆT
NHỚ
NHAU
Mười
Năm
Tiểu
sử Trần Huyền Trân
Tên
thật Trần Đình Kim, sinh ngày 13-9-1913, mất ngày
22-4-1989. Trần Huyền Trân đăng thơ từ 1939. Hơi
thơ cổ kính, mực thước, cũng có một khí vị phiêu
bạt và bi phẫn gần với Thâm Tâm và Nguyễn Bính guyễn
Bính giai đoạn thị thành đa đoan vó ngựa chung tình
bánh xe). Ba người lập nên nhóm thơ được trong giới
gọi là xóm áo bào gốc liễu do phong cách viết gợi
hơi hướng các tráng sỹ không gặp thời trong truyện
cổ. Trần Huyền Trân không bi phẫn bằng Thâm Tâm
lại cũng không phóng túng như Nguyễn Bính, ông rõ
hơn một khuynh hướng xã hội: tố cáo hiện thực bất
công và khát khao một đổi thay. Không biết do khuynh
ướng ấy mà ông đến với cách mạng khá sớm hay nhờ
đến sớm với cách mạng mà thơ ông rõ khuynh hướng
ấy. Trước cách mạng ông đã là thành viên hội Văn
hóa cứu quốc, hoạt động bí mật, góp phần chuẩn bị
tổng khởi nghĩa. Cách mạng thành công rồi kháng
chiến chống Pháp, ông chuyển sang hoạt động sân
khấu. Bài thơ Hải Phòng 19-11-1946 có thể coi là
bài thơ khép lại sự nghiệp thơ Trần Huyền Trân.
Sau này ông có viết cũng chỉ là động bút nhớ nghề,
giá trị nghệ thuật không bằng trước. Cổ kính, gọn
chắc, đôi chỗ gân guốc, nhưng bao giờ cũng đắm đuối
trong tình cảm, tạo nên một chất say rất nghệ sỹ.
Thể thơ hay dẫn Trần Huyền Trân đạt tới độ say ấy
thường là thất ngôn và lục bát. Mỗi khi dùng chữ
cổ đều rất khêu gợi. Khêu gợi một thời, một thuở,
một dạng tâm trạng:
Tự
cổ sầu chung kiếp xướng ca
Mênh
mang trời đất vẫn không nhà
Người
ơi mưa đấy hay xênh phách
Tay
yếu gieo lòng xuống chiếu hoa
(Sầu chung)
Khêu gợi vì hình ảnh ước lệ mang
hơi phiêu bạt nghệ sỹ giang hồ, vì âm điệu tề chỉnh,
cân đối, vang và vọng. Đây cũng là một thế thuận
để Trần Huyền Trân chuyển sang viết ca từ cho chèo,
nhất là chèo ôm tích xưa. Và đấy cũng là lý do cho
thấy giọng thơ Trần Huyền Trân, cả cảm và nghĩ,
ít thích hợp với lối thơ hiện thực thời sự đương
đại. Tạt sang sân khấu chèo là cách xử lý đúng của
Trần Huyền Trân, nó hợp với tạng ông một thuở chinh
phu/ một thời cán bộ/ ba lô thay yên ngựa sông hồ.
(1)
Lục
bát Trần Huyền Trân rất nhiều tiểu đối. Với tương
quan đối, ông càng tung hoành hơn trong việc dùng
ước lệ, từ cổ, lời xưa, gợi dĩ vãng xa xôi lãng
mạn:
Bóng
trơ chuông đổ vây dồn
Tưởng
người xưa vọng gọi hồn tịch liêu
Mắt
ta ngó suốt chiều chiều
Bụi
đời còn vẩn bao điều xót thương
Tiễn
nhau bữa ấy đoạn trường
Nụ
cười chưa nở bên đường đã rơi
(Chiều
mưa xứ Bắc gửi người xứ Nam)
Trần Huyền Trân nhạy cảm với những
tâm trạng chua xót, căm hận, với những cõi lòng
đầy lý tưởng đẹp đẽ nhưng lại bị thực tại phũ phàng
nghiền nát, khi ấy giọng thơ ông thâm trầm, xót
xa, mỉa mai, bi hận, một giọng thơ đầy kịch tính
bên trong của tâm hồn con người. Điển hình nhất
cho loại này là bài Với Tản Đà:
Rót
đi thôi, rót đi thôi
Rót
cho tôi cả mấy mươi tuổi đầu
Nguồn
đau cứ rót cho nhau
Thế mạnh của Trần Huyền Trân chính
là diễn đạt tâm trạng. Ông nắm được thần thái tâm
hồn và có cách tạo ấn tượng, đọc một lần người ta
nhớ mãi.
Biết
yêu thì khổ có thừa
Hình
dung một thoáng, tương tư chín chiều
Xa
nhau gió ít lạnh nhiều
Lửa
khuya tàn chậm, mưa chiều đổ nhanh
(Tương tư)
Bài thơ Thưa bà, như để trả lời
một bà hâm mộ mà không đồng điệu, viết từ 1938,
cho thấy tâm trạng lẫn quan niệm thơ, quan niệm
đời của tác giả:
Vị
đời oan trái muốn điên.
Trần
Huyền Trân tự vẽ tư thế tâm hồn mình:
Thuyền
hồn chở một khoang không
Bao
lâu dạt sóng trên dòng cô đơn
Kinh
thành mây đỏ như son
Cái
lồng eo hẹp giam con chim trời
Hoạt động sân khấu, Trần Huyền Trân
mang theo chất thơ sang đó. Nhân vật của ông lãng
mạn trong tính cách, bất ngờ trong hành động và
thường giàu cảm xúc nội tÔm. Lác đác trong các thập
niên 60, 70, 80 ông có làm thơ, thì thơ lại giống
ca từ của chèo, tự sự lớp lang và ước lệ cổ kính,
người đọc như chỉ bắt gặp những mảnh hồi quang của
giai đoạn 1946 ngược về trước.

|