| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

"
Rỉa cánh gầy xổ bụi giữa bao la"
Tôi
sinh ra dưới một ngôi sao trái nết nên đời có đôi
phần vất vả. Nhưng chị Liên, bà chị kết nghĩa của
tôi, còn vất vả ít là gấp năm gấp bảy lần. Trái
nết nên khó dậy, riết thành trắc nết lêu lổng, mẹ
tôi gửi tôi nhà "hai bác" năm tôi mười
hai tuổi. Thuở đó, cha tôi đi làm xa, mẹ tôi một
mình than khổ ơi là khổ, nhà không có đàn ông! Phần
tôi, thật là thú vị. Trên "hai bác" có
mấy đứa loai choai cùng tuổi. Rồi mỗi nơi một chốc,
mẹ hỏi ở đâu, tôi đáp con ở trên nhà hai bác, bác
hỏi đi đâu, tôi thưa con về dưới nhà cha mẹ con.
Cứ như thế, cuộc lêu lổng dẫu danh bất chính nhưng
ngôn lại thuận.
Hai năm sau ngày tôi làm con nuôi hai bác tôi
gặp chị lần đầu. Chị mang đứa con trai bé tí về
nhà. Khi ấy tôi mới biết chị cũng là con nuôi và
mù mờ nghe chị vào Nam vài ba năm trước cuộc di
cư năm 54. Nhà bố mẹ nuôi lúc nào cũng tấp nập khách
ra khách vào. Bố nuôi tôi lúc đó là Chủ tịch Hội
Đồng Kiểm Duyệt thời Trần Chánh Thành còn làm Bộ
Trưởng Bộ Văn Hóa Thông Tin trong nền đệ nhất Cộng
Hòa của miền Nam. Khách có hai loại. Loại nòi tình
chữ nghĩa, làm văn làm báo, nhớ không xuể. Có Đái
đức Tuấn, Lê văn Trương. Có Nguyễn mạnh Côn, đang
hoàn thành Đem tâm tình viết Lịch Sử. Có Vũ hoàng
Chương, Đỗ bằng Đoàn, Bùi khánh Đản. Đám trẻ, Thanh
Tâm Tuyền, thỉnh thoảng đến thăm bác Kha, cha anh
gần như trú ngụ thường xuyên trong nhà. Rồi Dương
hùng Cường, Mai Thảo, Doãn quốc Sĩ, Nguyễn sĩ Tế,
Trần thanh Hiệp.Nhà báo, có Phạm việt Tuyền, Lý
Thắng, Văn Giang. Ký giả, nào Lô Răng, Anh Tám Xạc
Ne. Loại chính trị, không ít. Phan huy Quát, "bác"Quỳnh,
Vũ quốc Thông, thậm chí Trần kim Tuyến.
Họ đến thế giới "trên gác" nơi bố tôi
tiếp khách, xì xào to nhỏ, và thường là im bặt khi
bọn trẻ con chúng tôi, thế giới "dưới nhà",
bưng nước, rót trà. Họ giả tảng lơ đãng, rít thuốc
lào, nhìn như giục như đuổi, và chúng tôi chỉ quay
lưng là họ lại tụm đầu vào, lại nghiêm trọng hạ
giọng, khi chép miệng, lúc thở dài. Khách về, tôi
để ý bố tôi xếp lại giấy tờ hồ sơ vào một cái tủ
gỗ, cửa kéo dọc xuống như một bức mành, và khóa
lại, tiếng nghe một cái cách, đến là kích thích.
Ngày nọ qua ngày kia, sự tò mò khổ còn hơn là cơn
ngứa mà không được gãi. Tôi vê kẹo cao-su, nhét
vào lỗ khóa, và đi đánh chìa. Đợi cả nhà đi vắng,
tôi mở tủ, ôm chồng hồ sơ ngoài có chữ Mật, leo
lên trần nhà tìm một nơi có ánh sáng hắt vào. Năm
58, tôi đã đọc trên những tờ pơ-luya mỏng tanh Con
ngựa già của chúa Trịnh, vừa uất ức vừa ngậm ngùi.
Tôi đã rưng rưng nước mắt lẩm nhẩm Tôi vẫn đi, không
thấy phố, không thấy nhà. Chỉ thấy mưa sa trên mầu
cờ đỏ. Tôi đã hít cho căng lồng ngực lập đi nhắc
lại bút giấy tôi ai cướp giật đi, tôi sẽ dùng dao
viết văn lên đá.
Vâng, tôi đã tiếp cận Nhân Văn-Giai Phẩm như thế,
trên trần nhà tranh tối tranh sáng, trong cái nóng
hừng hực của mùa hè Sài Gòn. Vài tháng sau, cụ Hoàng
văn Chí đem xuất bản Trăm Hoa Đua Nở trên đất Bắc.
Lúc ấy, tôi mới biết rằng tôi đã đọc văn Phùng Cung,
thơ Trần Dần và Phùng Quán.Chuyện đánh chìa khóa
đọc hồ sơ Mật rồi cũng lộ. Bố nuôi tôi không đánh
không mắng, chỉ bảo, giọng buồn buồn ".có những
cái tao cho là ở tuổi con, con chưa cần biết"
rồi dặn, cứ giữ cái chìa, muốn thì đàng hoàng mở
tủ, và đừng bao giờ hành xử như quân bất lương trộm
cắp.
Trưa hôm ấy, tôi mang cái chìa khóa ra cầu Bông.
Nhìn dòng nước lờ lờ triền sông Thị Nghè, tôi lẳng
nó xuống, một lần, và mãi mãi.
■
Chị Liên là một nhân vật tiểu thuyết. Từ Cao Bằng
về ở với bố mẹ nuôi tôi lúc đâu cũng mười hai, mười
ba tuổi, chị đột nhiên một mình bỏ vào Nam. Vài
năm sau, chị lấy anh, giòng dõi đích tôn Phan Thanh
Giản, nay là một gia đình đại điền chủ. Thời gặp
chị, phải nói, chị là người đàn bà có nhan sắc.
Về bản lãnh, vứt ra đường đời từ thơ ấu, chị không
cắp sách đến trường, cứ than, chị thất học, cậu
ạ! Nhưng những điều chị học, không có trường dạy.
Cực kỳ thông mẫn, chị cảm nhận một cách lạ lùng
những mảnh đời oan trái. Năm tôi mười lăm, tôi nghe
chị hỏi "Tại sao sinh ra? Tại sao rồi chết
đi. Phi lý!" Đó là câu hỏi rất "hiện sinh"
đầu những năm 60. Rồi chị quậy cuộc hiện sinh không
thương tiếc, không giới hạn, ràng buộc. Chữ Tây
chỉ bonjour bonsoir giắt bụng, chị leo máy bay đi
Thụy Sĩ. Không có Visa, chị vẫn trốn sang Pháp,
đến bằng được kinh kỳ nơi có cà phê Les Deux Margot
ở St-Germain, xem cái bàn Jean P Sartre vẫn ngồi
nó hình dáng ra làm sao? Mà lỡ gặp người ta ở đấy?
Có thể lắm chứ! Cuộc hàn huyên của triết gia Tây
phương đắt giá với cô công chúa dị thường Giao Chỉ.
Không thể phi lý hơn thế được sao?
Dĩ nhiên, chị yêu tiểu thuyết. Chị ái mộ văn nhân.
Trên hai mươi năm qua, chị sống ở Cali, nhưng cứ
gần đây một hai năm chị lại về Sài Gòn, về Hà Nội.
Mỗi lần chị gọi điện thoại, và tôi lại xin chị,
chị về đến 47 Lý Quốc sư, thăm anh Hoàng Cầm hộ
em. Lần nào chị cũng vui vẻ nhận lời. Mỗi lần chị
qua lại Mỹ, chị chịu khó mang theo từng chai rượu
làng Vân anh Cầm gửi cho tôi, lắm khi giữ cả năm
mới có dịp trao tận tay, tươi cười bảo, quà của
ông anh cậu. Cứ mỗi lần như vậy, tôi rưng rưng ngậm
ngùi. Một phần là vì anh Cầm, một phần vì tấm lòng
chị đã cưu mang thêm một tình bạn giữa hai người
đàn ông, một già tuổi đã hôn hoàng, một trẻ thì
cũng đang chập choạng lớp xế trưa. Cưu mang, bất
cứ cái gì đi thì cũng nặng!
Thế nhưng lần cuối, tôi cũng nhắc lại bằng ấy
lời. Chị ngập ngừng, rồi nhỏ nhẹ, lần này chị chẳng
chiều cậu được. Tôi ngạc nhiên, gặng hỏi. Chị nói
quanh, rồi lát sau, bảo chị gửi cho cậu quyển sách.
Đọc rồi cậu sẽ hiểu.
Đó là quyển Ghi 1954 - 1960, của Trần Dần[1].
■
Tôi gặp Trần Dần khoảng tháng 11 năm 81. Đó là
thuở tôi gồng mình chống lại tan vỡ của những huyễn
tưởng. Bắt đầu, từ giải phóng đất nước, đến xây
dựng một xã hội công bằng. Rồi từng bước một nhích
vào thế giới hiện đại, đỡ nghèo, đỡ khổ, và nhất
là băng bó cho lành vết thương nội chiến. Nhưng
phía dưới những con nắng là bọt xà phòng cả. Bọt
xà phòng phản chiếu hình ảnh những trại cải tạo.
Học tập một tuần, một rồi ba tháng, và nay đã sáu
năm. Những đứa em gái tôi tuổi hai mươi lấm lét
uống thuốc ngừa thai sẵn sàng vượt biển. Các em
ơi, sao vậy? Bảy phần chết, ba phần sống, không
sợ à? Cướp biển hãm hiếp, giết chóc. Trời nổi cơn,
sóng cuộn, nước nhận người vào đáy đại dương. Vả
lại, cứ như nhà thơ kia hát, "(nếu em?) có
vết bẩn trong hồn, vết nhơ trên má. Thì tình yêu
Tổ Quốc chữa cho lành" (thơ Chế Lan Viên).
Nhưng ai có cái quyền phán xét bảo vết này bẩn,
vết kia là nhơ, hả Trời! Tình yêu Tổ Quốc không
nhốt ai để chữa cho lành, kẻ đi nhốt nhởn nhơ hô
mình nhân đạo chỉ mong cải tạo đám lầm lối lạc đường,
người ở tù ấm ức khẩu hiệu hòa hợp hòa giải dân
tộc nghe như tiếng gọi hồn oan.
Ghê rợn hơn, chính quyền non trẻ (từ 1945, hay
55, sao cứ vẫn non trẻ?), "vừa học vừa làm,
sai thì sửa.", mà có sai thì, chẳng phải "cấp
trên"mà do "cấp dưới" không (hoặc
chưa) thông nghị quyết (thường rất chung chung).
Đảng dẫm lên chân nhà nước, cơ quan nào cũng có
một vị đảng ủy, từ cấp Bộ trở xuống. Tôi có "làm
việc" với một vị Trưởng ban Ngoại Giao của
Đảng, nghĩa là ngang cơ và lắm khi còn quan trọng
hơn Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch thời bấy giờ. Đó là
Đảng, mà Đảng thì phải vận động quần chúng, nhất
là quần chúng như tôi, nhân sĩ ngờ nghệch sống xa
quê hương. Ôm vai tôi (để gần quần chúng), vị ấy
bảo, "Chú là tiến sĩ kinh tế thật đấy, lại
chuyên môn về tài nguyên, nhưng chú chưa biết cái
này đâu!" Ghé vào tai tôi, ông thì thào "Chú
biết không, dầu lửa của ta ở thềm lục địa ấy mà.
Này nhé, trữ lượng ở Trung Đông ai cũng bảo là lớn
nhất thế giới, phải không?" Tôi gật đầu, ông
xiết tay, mắt tóe lửa, say sưa ".thế mà nó
chỉ như con tem! So với trữ lượng của ta thì là
lấy tem dán lên đít con voi!" Ông phá lên cười,
nước bọt bắn vào mặt tôi, răng vàng xịt khói thuốc
lào Vĩnh Bảo. Một tay vẫn xiết vai tôi, tay kia
ông quơ cái điếu cầy (rất quần chúng), hồn nhiên
phán, thế thì còn sợ cái "đếch" gì! Vâng
thưa anh, mừng thật. Chúng nó (bọn đế quốc, dĩ nhiên)
mù cả, đi sờ voi mà chẳng biết đâu vào đâu. Chỉ
có ta mới biết chỗ nào là đít con voi, dán tem lên
mông, và đợi voi ỉa ra dầu. Dầu thô, màu đo đỏ,
công nông ra phết. Lỡ có mùi, ừ thì "cũng tốt
thôi"!
Đít voi trên bong bóng bọt xà phòng cho phép tiến
mạnh, tiến nhanh, tiến vững chắc lên xã hội chủ
nghĩa mà không qua giai đoạn tư bản, chỉ hai mươi,
ba mươi năm ta sẽ kịp, và tất nhiên là vượt bọn
Mỹ. Người người hồ hởi, nhắc đi nhắc lại, vẽ vời
ra viễn tượng một tương lai rực rỡ. Nhưng tôi không
thể nói như thế khi gặp anh Dần. Tôi không nói gì
cả. Buổi trưa hôm ấy, nắng hanh và trời lên cao
đến không còn đó. Anh dựa lưng vào tường nơi quán
nước cửa nhà Dương Tường, nâng chiếc điếu cầy rít
sòng sọc, miệng chiêu ngụm nước chè, mắt nhắm, đầu
khẽ ngật ra đằng sau. Khò khè ho khan, anh mở mắt
ra rồi lại nhắm lại. Tường vỗ vai tôi, nhón nhén
bảo, cậu này cũng là bạn của Nguyễn Hữu Hiệu đấy.
Lúc ấy anh mới mở mắt nhìn tôi tròng trọc. Cặp mắt
anh sáng, sáng lạ lùng. Và long lanh rừng rực đam
mê, ánh đỏ lè, như mắt cọp. Từ đấy, nghĩ đến anh,
tôi cứ liên tưởng đến một con cọp. Một con cọp ngủ
ngày, thình lình thức dậy, quắc mắt. Kỷ niệm leo
lên trần nhà trên hai mươi năm về trước bỗng ùa
về. "Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc. Đất hôm
nay tầm tã mưa phùn. Bỗng nhói ngang lưng máu nhỏ
xuống bùn. Lưng tôi có tên nào chém trộm? A, cái
lưỡi dao cùn. Không đứt được mà đau!"
Anh lửng lơ, "Có tin gì của Hiệu không?".
"Dạ, Hiệu đã đi Mỹ! Nghe đâu gập cả Henry Miller,
tác giả sách Hiệu đã dịch.". Anh mỉm cười,
cái cười méo mó vui buồn, lại nhắm mắt lại. Con
cọp nhắm mắt nhưng không ngủ, chòm râu bạc thỉnh
thoảng lại nhếch lên như từ phản xạ. Khuôn mặt anh
tạc đá, thứ nham thạch lạnh mặt trên, bốc lửa phía
dưới. Gò má u lên nhô thành một khối hoạn nạn, liệu
dưới sâu còn một hỏa sơn nào âm ỉ chực phun ra chất
bỏng cuộc đời? Anh xua tay, quán nước không phải
là chỗ nói. Người ta thuở đó có thói quen thầm thì
với nhau, ghé vào tai, và thường là cứ ngoái lại,
nhìn ra sau, miệng rì rầm như khấn vái những điều
làm như ma quỉ đang rình mò đợi lỡ lời nói to là
xẻo lưỡi.
Vào độ cuối đông, Hà Nội thu mình khép gió. Những
tàn cây trụi lá co ro trơ xương chống đỡ cơn may
hiu hắt lạnh, mênh mang nhớ, rưng rức đau nỗi niềm
không tên gọi, có đây rồi lại vụt mất, chập chờn
kéo hiện tại nhập vào một tiền kiếp không thể ngày
một tiêu ma dấu vết. Trần Dần chống gậy, lao chao
bước, vứt lại một "thôi nhé", đi không
quay đầu lại. Tấm áo cánh trắng xóa ngõ Phan Huy
Chú, chiếc mũ len sùm sụp, anh một mình lê cho về
đến phố Vũ Lợi, chẳng gần, cũng chẳng xa, để vào
lòng tôi một nỗi man mác.
A, cái lưỡi dao cùn, không đứt được mà đau!
Tôi chạnh nghĩ đến đợt anh bị "quân kỷ".
Ba tháng tù. Chị Khuê đang có mang cháu đầu lòng.
"Tổ chức" không vun vào việc "xây
dựng". Chị công giáo, gia đình lại di cư vào
Nam hết. Anh viết đơn xin giải ngũ. Và đơn xin ra
khỏi Đảng. Trong lao lung, anh ngẫm, tại sao? Tại
sao đám quan lại văn nghệ hò nhau đánh bài "Nhất
định thắng". Có phải ta đầu hàng giai cấp?
Hay là năm trước, ta đã cùng Hoàng Cầm, Đỗ Nhuận,
Tử Phác. đệ trình "Đề nghị cho một chính sách
văn hoá"? yêu cầu tự do sáng tác, trả quyền
lãnh đạo văn nghệ về văn nghệ sĩ. Hay là trước đấy,
ta quá nặng lời phê bình "Cách nhìn sự vật
của nhà thơ Tố Hữu". Ta bảo, một, thơ Tố Hữu
không có cách nhìn mới nào rõ rệt. Hùa với Lê Đạt,
ta cũng nhận xét rằng Tố Hữu nói những chuyện mới
mà không hiện tại, lại đẩy lùi vào quá khứ. Hai,
là thơ lười biếng, chính trị công thức, kiểu "cụ
Hồ sáng soi", hoặc "Chúng bay chỉ một
đường ra. Một là tiêu diệt hai là tù binh",
chỗ nào có hay thì lập lại Nguyễn Du, Tản Đà, ca
dao. Ba, cách nhìn Tố Hữu thật nhỏ bé quá. Nhìn
vấn đề gì, vấn đề ấy thu hẹp lại. Yêu ai, người
ấy nhỏ đi. Nhìn lãnh tụ, hình thức gượng gạo "Chòm
râu mát rượi hòa bình", sau lại biến ra đạo
sĩ nhàn tản "ung dung yên ngựa bên đường nói
reo". Sau cùng, cách nhìn Tố Hữu bao phủ lên
vấn đề một cái buồn yếu đuối, và "chất tiểu
tư sản là cái chính của tập thơ Việt Bắc".
Trời ơi, Tố Hữu là ủy viên Trung Ương phụ trách
Văn Hóa Văn Nghệ! Thế thời.
Thế thời, thế thời phải thế, cái kiếp phải lột
quần đánh trên sân Văn Miếu, có khác gì Ngô thời
Nhậm xưa. Đêm thăm thẳm. Tôi thui thủi mơ mòng.
Ván cờ, tốt chúng qua sông, lơ láo nhập cung, lách
ca lách cách những chân lý mới, như tính tổ chức,
tính giai cấp, quần chúng. rồi lủng củng nào những
chính sách, những quan hệ.tít mù quay như chiếc
đèn cù. Tôi, con pháo tịt ngòi, ngửng đầu tìm lửa,
sờ soạng một ván chiêm bao, tay lại quơ vào lưỡi
dao cạo.
Trần Dần cứa cổ.
Ôi, không đứt được mà đau! A, cái lưỡi dao cùn.
■
Lưỡi dao cùn để lại một vết sẹo. Vết thương trông
tưởng lành, nhưng ba mươi năm máu nhiễu vào trong,
giọt rơi tí tách đánh nhịp tháng năm một trái tim
bị chấn thương đời. Trần Dần thở phào, "Không
có gì chống lại được với cái kim đồng hồ".
Tôi nghe, im lặng. Những buổi đến với anh, thật
khác khi thăm Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng,
Văn Cao. Có "rượu", anh chỉ nhấp. Không
ham vui, ăn ít nói ít, mắt trừng trừng, anh thỉnh
thoảng câu đực câu cái, đôi khi đúng một chữ. Thường,
tôi dựa xe đạp cạnh cái cửa sổ có chấn song, ngồi
đối diện anh, nơi có chút ánh sáng hắt vào, trước
cái khay có để ấm chè, cái điếu cày và một ngọn
đèn hoa kỳ le lói cháy.
Tôi kể, đêm qua tôi chiêm bao. Nhìn đồng hồ, chiếc
kim dạ quang quay ngược chiều đẩy mọi sự về phía
đằng sau. Hoảng hốt, tôi chồm dậy, nhìn lên tường.
Chiếc đồng hồ treo cũng vậy. Nó câm, không cứ tích
ta tích tắc, nhưng kim cũng quay ngược, mỗi lúc
mỗi nhanh. Tôi tung cửa lao ra đường. Hà nội giữa
trưa không một bóng người. Ven theo hồ, tôi cắm
cổ chạy về phía Bưu Điện. Nhìn lên cái đồng hồ lừng
lững ngất ngưởng, tôi nhướng mắt, ô hay, hai cái
kim đồng hồ quay, cũng ngược, và quay mỗi lúc một
nhanh, như chong chóng. Cứ thế này, tôi thầm nhủ,
chắc trở lại thời nhà Tiền Lê trong một khắc. Đúng
thế thật, mặt đất chao nghiêng, tiếng người ơi ới
thứ thổ ngữ tôi không thật hiểu. Thêm dăm phút,
tôi chắc mẩm, chắc là đến thời Hồng Bàng mất. Nhưng
hai chiếc kim bỗng tuột ra, bay lên, mỗi lúc một
cao, tít tắp cuối trời. Mặt đồng hồ trơ ra. Mấy
giờ rồi?Tôi nhìn xuống cườm tay. Hai chiếc kim dạ
quang trên chiếc đồng hồ tay của tôi cũng biến đâu
mất. Ghé nó cạnh tai, tôi lắng nghe. Tích tắc, tích
tắc. Nó vẫn sống. Nhưng chiều quay đẩy thời gian
về đằng sau hay kéo ta lên phía trước? Tôi réo lên
hỏi. Tiếng tôi kêu lạc lõng. Mặt hồ Hoàn Kiếm lăn
tăn bọt. Tôi chắc là Rùa thần sắp lên. Tôi đợi.
Thình lình một bọn người áo vàng ập đến túm lấy
lưng, hò nhau, nó đây, bắt được nó rồi. Tôi vùng
vẫy. Tại sao? Tôi làm gì mà bắt. Tôi sợ. Phía dưới
cơ thể bỗng nóng lên, rồi uớt nhơm nhớp . Tôi hét
cho đến khi tỉnh dậy.
Anh Dần nghe, nhếch mép, được, viết nó ra. Tôi
không đáp. Kim quay ngược, lúc này là đến kỷ Hồng
Bàng rồi. Anh thì thào, thời "vỡ kỷ",
mảnh văng tứ phía. Anh nhắm mắt. Cọp ngủ ngày, chiêm
bao cái chiêm bao của cọp. Tôi khẽ khàng đứng lên.
Anh mở mắt. Thì ra cọp giả ngủ, đang rình. Rình
một tứ thơ chăng? Anh đọc hai câu thơ anh tặng tôi
:
Tôi đã hát những lạc quan không hát
Bây giờ tôi hát lạc quan đen (thơ Trần
Dần).
■
Năm 82, Hoàng Cầm viết trên tập "Về Kinh
Bắc" anh tặng tôi ".là một năm đầy hạnh
phúc và cũng đầy oan nghiệt".
Hạnh phúc? Tôi muốn hát lạc quan xanh. Nhưng hiện
thực màu tro nghiệt ngã. Phản chiến, bị chính quyền
Thiệu cấm về miền Nam, rồi Canada trục xuất. nhưng
tôi chưa hề bi quan, tôi vẫn giữ trong tôi một ngọn
lửa. Phải chấm dứt chiến tranh đã. Rồi về để xây
dựng, bắt đầu lại, tất cả. Nghĩa là từ từng người,
với từng người . Hàn gắn cho nhau những vết thương
chưa đóng miệng, cùng nhau xua những cơn ác mộng
vẫn rình đêm về để đánh úp, và chân thành nói với
nhau bằng lẽ phải, với con tim. Nhưng về, tôi chỉ
thấy sự sợ, sự nghĩ một đằng nói một nẻo, sự có
hai ba nhân cách trong một con người. Và con người
tư riêng hình như bị cắt khỏi con người xã hội,
cái thằng lúc nào cũng phải đối phó, phải tranh
thủ, phải ngụy trang bằng nụ cười và ém dao dưới
áo đề phòng mọi kẻ khác, già cho đến trẻ, từ hàng
xóm đến cán bộ cùng cơ quan. Hồng Đăng, nhạc sĩ
nghèo, xoay thế nào mời tôi được bữa cơm có một
phần tư con gà luộc. Gọi bọn cháu, con Ly và thằng
Phương, chúng đáp ".chúng cháu ăn cả rồi!"
Cuối bữa, dọn bát đĩa đi rửa. Tôi thấy Phương lúi
húi ra bươi đất gốc cây cuối vườn. Làm gì vậy cháu?
Nó lấm lét "...cháu chôn xương gà! Không thì
hàng xóm họ biết.".
Hạnh phúc cũng có, nhưng phải may. Tôi gặp và
kết bạn được với những người đáng yêu và đáng tin.
Đầu tiên là Hồng Đăng, rồi từ Hồng Đăng, tôi gặp
các anh Nhân Văn-Giai Phẩm. Thuở ấy, Tạ Trọng Hiệp
ở Paris tiễn tôi ra phi trường Charles de Gaule
đi chuyến bay Air France về Sài Gòn. Anh dặn dò
giao tiếp phải cẩn thận. Anh kể kinh nghiệm của
anh. Đinh Trọng Hiếu, cũng đã từng về nước, cười
khuyên phải "khép lại mà đi" (marcher
les fesses serrées), dạng háng ra là phiền. Thì
tôi cũng biết vậy. Nhưng làm sao đây? Nếu không
đánh cho tan cái sự sợ, người đâm thành ngợm cả,
thì tiền đồ một xã hội đa phần hóa ngợm sẽ ra sao?
Mới vừa giao tiếp với Nhân Văn-Giai Phẩm, đã có
người đến "nhắn", quan hệ không được tốt.
Tôi đáp, dạ, xin cứ cho tôi một danh sách những
người không nên quan hệ, tôi sẽ tuân thủ. Thách
thức như vậy, quả là tôi là một người không biết
điều. Không biết điều, nhưng tôi biết sợ. Như đứa
bé sợ ma trong bóng đêm giữa nghĩa địa hoang vu,
chống lại cái sự sợ không có cách gì khác là vừa
đái, vừa hát, hát càng to càng đỡ sợ. Cứ thế, tôi
đã hát những lạc quan không hát.
Tôi đã hát, với Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Văn
Cao. Và rồi với các anh. Có "Gấu chợ",
giữa bề bộn khăn, màn, giấy vệ sinh, xà phòng. Ở
một căn nhà phía dưới là tạp hóa trên phố Hải Thượng
Lãn ông, Lê Đạt gấu (với các vị chức trách), nhưng
mẫn cảm và trí tuệ. Anh đùa bảo, cậu cứ về chơi,
mang cho chúng tớ một ít không khí để thở, thế là
"đóng góp" rồi. Tôi đọc những bài thơ
gom lại trong Bóng Chữ xưa làm tôi ngỡ ngàng. Có
"Phượng bặt hơi", nhà khu Trung Tự, thuở
ấy vừa mới có tin con trai "sắp" được
giải Chopin. Đặng Đình Hưng dán trên tường một Bến
Lạ những thơ. Bến lạ và đẹp, lạ như phong cách hào
hoa của anh, và đẹp nghiêng ngả xa vắng những giấc
mơ nửa chừng, cũng của anh, mang mang day dứt. Có
"Hạc nội", lâng lâng một nỗi mây ngàn,
rượu Đình Bảng mang ngâm mơ, ngâm mận. Phần anh,
anh cũng ngâm, ngâm thơ. Giọng ngâm của anh nửa
như hát cung văn, nửa như than van khóc lóc, tức
tửi nghẹn ngào. Còn thơ, là thơ Hoàng Cầm của Về
Kinh Bắc, của Men Đá Vàng, với những Cây tam cúc,
Quả vườn ổi, Lá diêu bông. Có "Én trái mùa",
mang chút hơi xuân ngơ ngác xót lại buổi đầu đông,
se sẽ buồn, se sẽ hát, se sẽ nhớ. Dương Tường dịu
dàng, quí bạn, hấp háy nhìn làm vẻ vô tư qua cặp
kính cận dầy bằng nửa gang tay. Và các chị, Thúy
của Đạt, Khuê của Dần, Yến của Cầm. Lấy nhau, họ
đều có vấn đề với tổ chức vì "quan hệ xã hội
phức tạp" cả. Trường hợp Trinh và Tường, chắc
không. Còn Đặng Đình Hưng, anh ở một mình, chuyện
riêng tư với vợ là bà Thái thị Liên, anh không nhắc.
Có nhắc, anh nhắc Đặng Thái Sơn, ôm vai tôi, dặn
ra ngoài nhớ tìm cháu, chú cháu gặp nhau cho tôi
vui.
Thuở ấy, Cọp ngày đang loay hoay với Lễ Zàng Sao,
với các Tư mã, Tư mã gãy, Tư mã ổi. và nỗi buồn
"vỡ kỷ" cùng những hạt bụi anh xổ vào
bao la. Xổ bụi, đó là cách trối trăn với đồng loại.
Bóng anh hắt hiu khập khiễng cuối ngõ, khiến gió
cũng chẳng nỡ lòng thổi, nắng chẳng nỡ lòng lên.
Nỗi ấy, có tên bơ vơ. Tôi đọc Cổng Tỉnh những ngày
cuối năm 81 :
...Có phố nào xanh
Hoa lay hàng dậu tím?
Có phố mờ chờ tha thiết tự ngày xưa
Để tôi phải bơ vơ
Bơ vơ?
Tôi?
...Tôi cô đơn trời xanh cô đơn trời tím
Cô đơn nắng đào cô đơn mưa tái nhợt đầu ô
...Cô đơn lòng ngõ rỗng trăng chênh
Cô đơn sân ga tầu chạy tốc hành
Không đỗ lại các cuộc đời xé lẻ.
Tôi thấm câu anh hỏi "Tôi có thời cay đắng,
nào kịp cay đắng đâu? Sao đã cho tôi những phố xào
xạc? Sao đã ghi tôi vào mép sổ buồn rầu?" Anh
hỏi, nhưng hỏi ai? Ai đáp? Mà dẫu có đáp, tin được
gì
Khi thế kỷ còn rung chuông lừa bịp
Những canh gà báo trượt rạng đông
Con rắn lưỡi cắn người như cắn ngoé
Khi xe tăng chửa đi cấy đi cày
Như một lũ tội nhân cần cải tạo
Khi con thò lò ngày đêm hai mặt đói meo
Còn quay tít trên kiếp người hạ giá.
(Hãy đi mãi, Văn, 1957)
Bài thơ này anh viết, hai mươi bốn năm sau tôi
mới được đọc. A, thì ra hai mươi bốn năm chẳng thay
đổi được gì à? Phạm thị Hoài ghi đây là chương kết
của Trường ca Đi! Đây Việt Bắc. Năm 90, Trường ca
được xuất bản ở Hà Nội với tên Bài thơ Việt Bắc,
song toàn bộ chương Hãy đi mãi bị cắt bỏ. Trên tập
thơ tác giả đem tặng người "biên tập"
cho mình, anh Dần viết :
Gửi Vân Long,
Người biên tập lại Đi! Đây Việt Bắc!
Thông minh và công phu!
Song tôi vẫn phản đối mọi kiểm duyệt.(Ghi,
trang 451)
■
Hai tuần sau khi nhận được Ghi chị Liên gửi, tôi
đọc kỹ, và rất kỹ những trang, những đoạn chị đánh
dấu, khi thì bằng bút bi đỏ, khi thì bút "phớt"
vàng. Tôi điện thoại cho chị.
- A, cậu đấy à (giọng chị làm ra vui).
- Cám ơn chị, em đã nhận được tập sách chị gửi!.
- Cậu đọc chơi cho vui thôi.
- Không em đọc thật, chứ không đọc chơi. Nhất là
những chỗ chị có đánh dấu.
Chị nói quấy quá :
- Ừ, chị có cái tật gạch xanh, gạch đỏ vào sách.
Lẽ ra phải mua gửi cậu quyển sách mới, đằng này.
Tôi ngắt :
- Thế mới quí! Em vừa đọc được sách, vừa đọc được
cả tâm tình người đã đọc sách trước em, mà lại là
chị.
- Thế cậu thấy thế nào?
- Buồn.
- Chị cũng buồn!
- Nhưng em tin rằng một phần nào, em buồn như chị
buồn. Còn một phần em buồn, chắc khác với nỗi buồn
của chị.
Chị Liên ngạc nhiên, hỏi giống là giống thế nào,
khác thì khác thế nào? Tôi nhẩn nha, gợi cho chị
nói. Dĩ nhiên, chị lập lại, bằng lời, những nét
gạch đỏ, gạch vàng trên những trang Ghi của Trần
Dần. Thì ra, chị ấm ức, những người chị coi là thần
tượng, đã "đầu hàng".
Ngày 8 - 01-1958, Trần Dần ghi "Một ngón tay,
Nhân Văn cũng không có! Non năm nay, họ đã nằm ẹp
cả xuống, vắt tay lên trán, suy nghĩ như các nhà
hiền triết cả rồi. Họ đang tranh nhau đi vào con
đường cầu an. Tôi biết họ chỉ duy nhất một điều,
là mong "Thánh Đế hồi tâm". Nhưng hình
như thánh đế bị bọn quan hoạn lừa phỉnh. Bơm to,
vu cáo, ton hót lừa trên, dối dưới, các thứ thủ
đoạn, tinh vi thì không tinh vi gì đâu. Song không
hiểu sao con mắt Đảng, con mắt to thế mà chưa nhìn
thấy chuyện?" (Ghi, trang 187 - 88).
Đó là thời Hội Nhà Văn bị đánh. Hội thành lập tháng
4 - 57 sau Đại Hội lần II, trong đó Tổng bí thư
Trường Chinh công khai đập Nhân Văn-Giai Phẩm, sau
khi Nhân Văn ra được năm số và Giai Phẩm ba số.
Tô Hoài làm tổng thư ký Hội, xuất bản báo Văn do
Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân và Nguyên Hồng phụ
trách. Khi đó, guồng máy quyền lực đã thành lập
Hội Liên Hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, chỉ đạo
bởi Nguyễn Đình Thi (và đằng sau là Tố Hữu, phụ
trách công tác Văn hóa- Văn nghệ của Trung Ương
đảng). Bối cảnh chính trị là thời hậu Cải cách ruộng
đất. Chân rết "Xứ ủy Bắc bộ", đứng đầu
là Trường Chinh, đang từng bước mất chân đứng với
Lê Duẩn, "Xứ uỷ Trung bộ" (và ảnh hưởng
không ít đến Nam bộ), đang xông vào hất cẳng, lợi
dụng những sai lầm "tả khuynh" của Cải
cách ruộng đất. Hội Nhà Văn (đàng sau là Xứ ủy Bắc
bộ?) bị Hội Liên Hiệp tấn công, gán cho là cánh
tay nối dài của Nhân Văn-Giai Phẩm. Văn, có Lời
mẹ dặn của Phùng Quán, Hãy đi mãi của Trần Dần,
sống được bảy tháng, cho đến đầu năm 1958 khi đăng
trong số 36 Ông năm chuội của Phan Khôi thì bị đình
bản.
Không khí thời gian đó là không khí khủng bố. Một
số nhà văn thấp thỏm sẽ phải ra "biên chế",
tham dự những lớp "đấu tranh tư tưởng"
và cuối cùng Hội Liên Hiệp tổng kết cuộc đấu tranh
thắng lợi với Nhân Văn-Giai Phẩm vào tháng 6 - 58.
Tháng 7, Nguyễn Đình Thi thành Tổng thư ký Hội Nhà
Văn, thông báo kỷ luật các văn nghệ sĩ đã tham gia
Nhân Văn-Giai Phẩm. Trần Dần bị khai trừ khỏi Hội
Nhà Văn, sau phải đi lao động cải tạo tại công trường
Chí Linh cùng Lê Đạt, Tử Phác, Đặng Đình Hưng, vv.
Hai tháng trước đó, con người nói chung, và nhà
văn "phản cách mạng"nói riêng, hoàn toàn
"mất giá" dưới tất cả những thứ áp lực,
từ miếng ăn đến tư tưởng. Thậm chí, tội kết có cả
tội làm gián điệp, tội âm mưu lật đổ Trung ương
bằng phương pháp hòa bình (thì ra diễn biến hòa
bình thời nay cũng chỉ là lập lại một "truyền
thống"!) Đó là trường hợp của Nguyễn Hữu Đang
và Thụy An (Ghi, trang 254). Phùng Cung có những
phản ứng không khoan nhượng, khi học tập "hỗn"
đến bị đuổi khỏi lớp (Ghi, trang 253), chửi "mẹ
nó, nhục lắm. Mình xin về nhà có được không nhỉ?"
Trần Dần khuyên, rằng nên "đầu hàng",
"họ" là "chân lý", không nên
xin ra khỏi biên chế, lúc này việc cũng có thể bị
coi là một sự tiến công của "tư tưởng thù địch".
Tháng 5 - 58, Hội Nhà Văn "để cho" nhà
văn tự kiểm thảo sáng tác. Ai cũng phải tự phê.
Về mình, Trần Dần tự kết tội là ".giặc - bút,
viên đạn xét lại, mũi tên độc địa của chủ nghĩa
cá nhân đồi trụy, chủ nghĩa vô chính phủ và đầu
óc làm phản, v.v." , và rồi anh dí dỏm ".tôi
sáng tác thêm vaì chữ để miêu tả chân tướng mình,
cho nó hết lòng một thể". (Ghi,trang 257).
Trong không khí khủng khoảng tâm thần tập thể,
cá nhân thành một con kiến, không có tư thế chống
đỡ gì khi bị "đưa" lên mũi nhọn, và đàn
áp tinh vi là làm thế nào "chia để trị",
tìm ra những mâu thuẫn, buộc nhau vào cái thế anh
nọ "đổ vấy", "tố điêu" anh kia.
Hoàng Cầm lắm tội, nghiện thuốc phiện, lại bị ra
tòa về việc chung sống với chị Yến, thú với Văn
Cao "mình dát, bị đánh quá, mụ đi như "con
đồng", họ hỏi đâu thì cứ phun ra tuồn tuột,
không nghĩ gì cả nữa" (Ghi, trang 265). Văn
Cao, chắc có Tiến Quân Ca là cái lá chắn, bảo "Tao
chỉ có tội chống Tố Hữu, chứ tao có chống Đảng đâu?".
Trần Dần tổng kết ". tình hình nay là một thứ
hỗn tạp mới
- chủ nghĩa xét lại, khuynh hướng bôi đen đang
bị đánh tan tác,
- bên sự đầu hàng thực sự đó đây có kẻ trá hàng,
- chủ nghĩa giáo điều, khuynh hướng bôi hồng đang
nhăm nhe ngóc dậy. Đó đây có ló mặt chủ nghĩa cơ
hội, thính mũi và vô tài.
Văn học đang có cái nguy cơ hạ giá trị, nguy cơ
ca ngợi một chiều, chạy theo sự cần thiết trước
mắt, nguy cơ bôi bác và nhất là nguy cơ tràn ngập
tác phẩm xoàng, phỉnh nịnh đảng. Còn cái nguy cơ
xét lại đã bị đẩy lùi tới cái mức không thể nào
phản công lại dù dưới hình thức tinh vi nào. Có
chăng, chỉ là lẩn lút nổ bằng mồm dăm quả mìn muỗi
còn vương sót lại trên chiến trường, không tài nào
thu dọn hết! Có vậy thôi!".Vì thế, Trần Dần
nghĩ, thì thôi, cải tạo chân thực, nhưng không chủ
nghĩa cơ hội, lập công giả dối, hay buông tay thả
mặc. Anh vẫn tin "chủ nghĩa nhân đạo không
cho phép đè nén, lăng nhục ai, dù người đó có tội
nặng. Dùng sự sỉ nhục để cải tạo người ta, không
thể là một phương pháp cách mạng : vì nó hết sức
phản khoa học, phản trí thức." (Ghi, trang
268-269).
Hai mươi năm sau khi viết những dòng chữ trên,
anh đúng một nửa, sai một nửa. Văn học (miền Bắc)
hạ giá không phải là nguy cơ mà là một hiện thực,
rất não lòng. Còn xã hội. Con người. Điều anh tin
là một huyễn hão : chủ nghĩa nhân đạo đẻ thiếu tháng
trên những văn kiện và nghị quyết, tã lót máu me,
và tiếng khóc đứa bé đẻ non lịm đi chẳng khác gì
một tiếng mèo văng vẳng trong đêm vô vọng.
■
- Chị ạ, quyền lực dọa dẫm bằng cắt cái miếng ăn,
cấm không được lấy người mình yêu, bắt phê, tự phê,
kiểm thảo tư tưởng, rồi chiêu dụ, lấy người nọ đánh
kẻ kia. Hóa ra, ở đằng sau, có thể nào vẫn hai thế
lực "đàng trong" và "đàng ngoài"
húc nhau, Nhân Văn-Giai Phẩm chỉ là con muỗi tế
thần? Thành thử, khôn cũng chết, dại cũng chết,
chỉ biết mới sống.
Chị Liên ngắt :
- Sống! Sống thế nào, mới quan trọng!
- Một mặt lý tưởng, mặt khác lại có phần ngây thơ
nên khi vạch cái mặt trái của Cải cách ruộng đất,
bêu cái tính cơ hội cuả bọn quan lại bàn giấy, phải
chăng phe Lê Duẩn "đàng trong" ngầm ủng
hộ Nhân Văn-Giai Phẩm để phá phe Trường Chinh "đàng
ngoài"? Nhưng đến khi một thế lực đã chiếm
được tiên cơ, họ phải giữ quyền lực, và họ co lại
hệt như "đàng ngoài", quay đánh vào tính
"vô chính phủ" của những kẻ đã phản kháng.
Lịch sử lập lại tấn tuồng nhàm chán nhiều lần. Hệt
như sau này, Mao dùng Hồng vệ binh nắm được quyền
lực, rồi cũng chính Mao ra tay diệt Hồng vệ binh.
Dưới lớp son khẩu hiệu, quyền lực thời tàn dư phong
kiến chỉ có thể mang thuộc tính của những ông Thành
Hoàng giơ roi cầm vọt, và dùng hàng đàn chó, hàng
đàn cừu, loại sai đi cắn và loại dễ bảo. Cọp ngày,
Gấu chợ, Hạc nội, Phượng bặt hơi là . hàng mỹ thuật
xa xỉ trong một xã hội phải "cào bằng",
ngôn ngữ quá độ phải đậm đà tính cày sâu cuốc bẫm
tiêu biểu nền nông nghiệp mang truyền thống cha
ông. Truyền thống, nghĩa là cứ con trâu đi trước
cái cày theo sau, trên những thửa ruộng bón bằng
phân tự mãn chèn vào là hò hét vinh quang đến độ
bệnh hoạn.
Chị Liên xen vào, giọng cao lên :
- Nhưng cậu nói thế nào thì nói. Ai cũng phải biết
chết. Chị thì chị chết chứ không chịu nhục!
Tôi khựng lại. Quả bà chị tôi đủ cái gan chết chứ
không chịu nhục. Chị bỏ nhà đi giang hồ từ tuổi
ấu thơ, lặn lội, đấu tranh và thành người bằng ý
chí nghị lực, giữa những lựa chọn trắng - đen, sai
- đúng, thật - giả lúc nào cũng rình rập thách đố.
Tôi thở dài, tay sờ lên cổ :
- Vâng. anh Dần đã cứa cổ bằng dao cạo một lần,
khi chị Khuê có mang cháu đầu lòng. Nếu anh ấy chết
được lần ấy, bỏ vợ bỏ con, thế có gọi là "biết"
chết không? Chết như vậy, cứu vớt được ai và thay
đổi được gì?
Chị Liên im lặng. Ở đầu dây, tựa hồ một tiếng nấc.
A, cái lưỡi dao cùn, không đứt được mà đau.
- Cứ giả dụ cái lưỡi dao ấy không cùn. Nó rạch
toang cần cổ, máu nhiễu xuống có vòi, anh dẫy lên,
hét, kiểu Nguyễn văn Trỗi, chính chúng bay là giặc,
chẳng hạn! Miền Nam sẽ tung hô anh, kẻ chết vì tự
do và chính nghĩa, đặt anh lên hàng thánh tử vì
đạo! Còn Miền Bắc, chắc giới văn nghệ sĩ lặng đi,
và sợ, trở nên dễ "cải tạo" đến độ không
hô vẫn theo, không dạy vẫn ngoan, đánh đĩ "thoải
mái"! Đấy, chết thì như thế! Còn sống thế nào?Trời
sinh làm giặc bút, thì viết. Muốn mỗi con chữ là
một tiếng gào thất thanh, không thể viết gì ngoài
cái thống khổ, sự ruồng bỏ, phản bội. O ép vật chất
may còn qua được, nhưng tinh thần thì, ôi thôi!
Đầu những năm 60, Hoàng Cầm viết được Về Kinh Bắc.
Trần Dần hoàn thành Cổng Tỉnh, rồi Đêm núm sen.
Những Bóng Chữ của Lê Đạt và Bến Lạ của Đặng Đình
Hưng không biết có phải cũng từ những ngày ấy không?
Chị Liên vẫn im lặng. Tiếng điện thoại viễn liên
vo ve như muỗi ngày. Tôi tiếp:
- Vậy giả dụ tất cả những lưỡi dao không cùn, nó
cắt, xoẹt một cái, đứt cổ và chúng ta có thêm dăm
vị á thánh, anh hùng, chết vì cái nọ cái kia. Nhưng
đổi lại chúng ta mất đi những tác phẩm đã cứu vớt
phần nào được ba mươi năm văn nghệ bị trói khuỷu,
tay ê buốt mãi đâm mang cái hình dạng tê liệt thương
tật của cả một tập thể "những nhà văn"
chỉ giỏi ê a "chống Mỹ cứu nước", hát
bài hát hy sinh, anh dũng. để tiếp tay gây ra một
cuộc hủy diệt, số tử vong lên đến số triệu đếm đủ
ngón một bàn tay. Không, trăm phần không. Không
ai có cái quyền bắt người khác làm anh hùng! Và
cái chết, dẫu chết thế nào, vì cái gì cao đẹp đến
đâu chăng nữa, cũng không thể đánh đổi lấy sự sống.
Nhất lại là sống để tiếp tục nhả tơ nuôi đời.
Như anh Dần, 1961, nhả tiểu thuyết Đêm Núm Sen.
Năm 1963, Zờ Zoạc (thơ). Năm 1964, Mùa Sạch (thơ).
1965 là thời gian sung sức, hai tác phẩm Một Ngày
Cẩm Phả (tiểu thuyết) và Những ngã tư và những cột
đèn (tiểu thuyết). Năm 1967, Con Trắng (thơ hồi
ký). Năm của Tết Mậu Thân 1968, 177 Cảnh (hùng ca
lụa). Không biết sao anh đợi 6 năm sau, đến 1974
mới ra Động đất tâm thần (nhật ký thơ). Rồi 1978,
Thơ không lời - Mây không lời (thơ, họa). Liền sau
đó là 1979 với Bộ tam Thiên Thanh - 77 - Ngày Ngày,
1980 với Bộ tam 36 - Thở dài - Tư Mã dâng sao. Ba
năm sau, anh bệnh. Nhưng đến 1987, anh viết Thơ
Mini. Anh viết, cứ viết. Biết bao giờ in? Há chi!
Không cần, viết là nghiệp. Cứ thế, anh viết gần
ba mươi năm. Một mình. Không độc giả! Rồi năm 88,
Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm. được phục hồi hội tịch
Hội Nhà Văn. Tác Phẩm Mới xuất bản Bài thơ Việt
Bắc (bỏ chương Hãy Đi Mãi, đã nói trên). Sau là
Cổng Tỉnh năm 94, được trao giải thưởng năm 95.
Anh mất năm 97. Đến 98, tập Mùa Sạch được nhà xuất
bảnVăn Học cho ra mắt. Trả lời Nguyễn Quang Lập,
hỏi qua thời Nhân Văn, anh tự thấy anh được cái
gì nhiều nhất? Trần Dần đáp, được cái hoạn nạn.
Do được cái hoạn nạn nên được không dưới ba chục
tác phẩm trong ba mươi năm.
Đó là thời anh đi Huế gặp anh em làm báo Sông Hương.
Hoàng Phủ Ngọc Tường hỏi, sau khi anh nhận "hội
tịch" :
- Thưa anh, con người sống ai cũng cần có nhân
cách, nhà văn lại càng phải có nhân cách. Theo anh,
nhân cách nhà văn quan trọng nhất ở chỗ nào?
Trần Dần đáp :
- Nhân cách nhà văn chính là văn cách của anh ta.
(Ghi, trang 439)
Sau đó, Trần Dần vào Sài Gòn. Và đó là dịp tôi
gặp anh lần cuối.
■
Gặp những người tôi gắn bó, lần nào tôi cũng tự
nhủ, ai biết đâu những bất trắc và tình cờ, với
thời gian thì không chừng lần nào cũng có thể là
lần cuối. Đó là cách tôi sửa soạn tâm thế sẵn sàng
nhếch mép cười trước mọi được - thua, mất - còn,
đời người ai cũng có. Lần gặp các anh sau dịp Tết
Dương Lịch năm 82 cũng vậy.
Chúng tôi "hội sao" ở nhà Dương Tường
một buổi xế chiều. Gió mùa Đông bắc vi vút qua những
cành bàng trơ lá dọc con lộ Lý Thường Kiệt, đẩy
cái se se băng giá ngấm qua những chiếc áo len mỏng
mảnh chụp xuống con người khiến dáng dấp co ro tội
nghiệp đến xót lòng. Các "tư mã" lục tục,
người trước, kẻ sau, gặp thì cười, nhưng là cái
cười của những cuộc chia tay ai cũng tránh nói thành
lời. Quà cho tôi là những bài thơ các anh chép tặng.
Thơ Đặng Đình Hưng thơm mùi ổi, bốn câu. Thơ Lê
Đạt, dập dờn bóng chữ, bốn câu. Thơ Hoàng Cầm, thê
thiết quan họ, bốn câu. Thơ Dương Tường, gập gềnh
lyrique, tám câu. Riêng Trần Dần, bốn trang thơ,
viết chữ như kiến bò ngang bò dọc, rồi vẽ vẽ, viết
viết, đọc trên, mũi tên chỉ xuống, sang trang mũi
tên lại bay lộn về. Ghim vào tim với những nỗi đau
"vỡ kỷ", những hạt bụi "xổ"
vào bao la, với nhân duyên và những sợi tơ hồng
đứt đoạn trong niềm đau "mạt kỷ" thuở
lễ Zàng sao.
Ôi tài hoa, bao nhiêu đây quanh tôi là tài hoa.
Và tài hoa, khốn khổ thay cũng là hoạn nạn, bao
nhiêu là hoạn nạn. Tôi thầm hỏi, này sông này núi,
ai trấn ai yểm gì mà cái đất nước này cứ phải chôn
sâu vùi chặt những đứa con ưu tú nhất? Cớ sao những
gì là tinh hoa trí tuệ cứ muôn đời phải chống trả
với cái vung tay thô bạo của thứ quyền lực nhất
thời?
Năm 82, Hoàng Cầm lại bị bắt. Tội danh là bán rượu
chui! Oan nghiệt ló mặt nhìn bằng cặp mắt những
con chuột nhắt chui ra lúc đêm đổ xuống thế gian.
Bán rượu chui đâu phải chỉ một Hoàng Cầm? Lẽ nào
là vì anh giao du với tôi, Việt kiều, tức là người
nước ngoài (ngoài nước?). Thời gian đó tôi ở Paris.
Tin anh bị bắt tôi đọc trong tờ Le Monde giữa một
tiệm ăn Việt Nam khu Quartier Latin. Nước mắt tôi
ứa ra, không cầm lại được. Tôi bắt Métro trạm St
Michel, nhìn xế qua là bồn nước có những con sư
tử há miệng phun có vòi. Có lẽ dáng điệu tôi lúc
ấy thảm thương lắm. Đến độ một người da đen nghèo
khổ vỗ vai, một kẻ sans abri có lẽ, đưa cho tôi
điếu thuốc anh đang hút dở. A, con người với nhau.
Thật may, cũng có chút tình! Tôi lẳng lặng rít một
hơi, rồi trả lại. Sau Hoàng Cầm, còn ai nữa? Trần
Dần, Đặng Đình Hưng, Lê Đạt. Tôi lại còn giao du
cả với Nguyễn Tuân, Văn Cao, Bùi Xuân Phái . toàn
thuộc diện Nhân Văn xưa có vấn đề. Tối hôm đó, tôi
ghép thơ các Tư Mã tặng, để báo đền chút tình tri
ngộ. Tiện đây tôi xin chép lại :
Một chùm sao nhấp nháy những âu lo
Về tụ lại lễ Zàng Sao giữa hạ
Nơi đã đặt tên và chỗ định số dăm chàng Tư
mã
Nhễ nhại trăng khuya nhiễu xuống ngân hà
Thuở Bích Câu vọng câu tao ngộ
Chuyển tần số lòng những ánh sao sa
Chở đá đến một vùng chưa tiếng nói
Đốt lửa lòng lên đuổi mù sa
Ai khép gió giữa hai mùa vội vã
Trời quê hương xao xác một canh gà
Tiếng chó sủa
Tiếng huýt sáo một người đi chơi đêm về đánh
thức
Mắt lũ ánh buồn kẻ ở xa
Bờ ao mẹ nắng trở mình, sáo tắm
Rỉa cánh gầy xổ bụi giữa bao la
Xin đợi nhé mùa chim mây vỡ tổ
Đầu ăng ten sẽ lại tin nhà
Khâu lý lịch chữ, Lễ Zàng Sao, Tư Mã, nhấp nháy
âu lo là clignetitude, chữ Trần Dần bịa. Tiếng huýt
sáo, mắt lũ ánh buồn là Dương Tường. Mùa vội vã
và bờ ao mẹ, Đặng Đình Hưng, từ "bao giờ về
trong khoanh một cái ao - ngồi giặt áo cả ngày".
Nắng trở mình, khép gió, chữ Hoàng Cầm. Rỉa cánh,
xổ bụi, lại Trần Dần. Mùa chim mây vỡ tổ, và ăng
ten, là chữ Lê Đạt. Những chữ này lý lịch như thế
chẳng hiểu chúng có được ba đời bần cố nông hay
không?
■
Về Hà Nội hè năm 88, tôi sững sờ, không biết là
buồn hay vui khi nạn nhân Nhân Văn-Giai Phẩm đều
"được", và đều "nhận", phục
hồi hộ tịch. Văn Cao trước đấy được Huân chương
hạng tư, hân hoan càvát vét-tông đi chụp ảnh, với
Hải - Không quân, vì là tác giả của những bài hát
biểu trưng những binh chủng này. Đó là cái rớt sau
khi Tổng bí thư Nguyễn văn Linh "cởi trói"
văn nghệ sĩ năm 87 và Trung Ương thông qua nghị
quyết do Trần Độ, Trưởng banVăn hoá Văn Nghệ, soạn
thảo. Nhưng chỉ năm sau Đổi Mới đã khựng lại. Trần
Độ mất chức. Linh thụt lùi và Đỗ Mười xông lên.
Tôi trách Văn Cao. Tôi bảo, tiếng tăm anh chỉ mất
đi chứ thêm được gì với cái Huân chương đó. Anh
giả say, mắng tôi là quân khiêu khích -agent provocateur
- rồi giơ tay dọa đánh. Thái bá Vân, chuyên gia
và là nhà phê bình Mỹ Thuật có ở đó, đứng dậy chìa
mặt cho Văn Cao, kêu, anh muốn đánh thì cứ đánh
tôi. Thao, con trưởng anh, cũng nhổm lên, bảo tôi
chú đừng chấp bố cháu. Không đóng được kịch đánh
(trước một khán giả có thể là kẻ đi theo "bảo
vệ"(!) tôi), anh đành đuổi vậy. Thật ngộ nghĩnh,
chị Băng vợ anh can thiệp. Xấu gì ở Văn Cao cũng
đổ cho "bà"Băng là sai. Hôm ấy, hành xử
rất tư cách, chị quát anh. Phần tôi, tôi xin với
bạn bè có mặt là quên đi, để giữ "huyền thoại"
Văn Cao. Bởi huyền thoại cũng cần : có tí gì để
hãnh diện, để vênh vang, cũng là một cách giữ cho
mình tồn tại giữa một cơn hỗn mang đạo lý.
Gặp nạn nhân vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, tôi bớt gay
gắt, nhưng cũng chẳng giấu gì cách mình suy nghĩ.
Không khác với trường hợp Văn Cao, tôi nghĩ nhận
hội tịch là phá đi một cái huyền thoại, không phải
về những con người, nhưng là huyền thoại về phong
trào Nhân Văn-Giai Phẩm, ngọn lửa dẫu ai có giang
tay dập sao vẫn cứ âm ỉ ba mươi năm nay trong lòng
người. Vâng, tôi nói thế, dẫu các anh có thể không
vui. Phần Trần Dần, anh buồn, im lặng. Con cọp ngày
khật khừ, nhướng lên, ánh mắt không rừng rực như
cọp nhớ rừng. Với thời gian, anh thành cọp nhà,
cọp phố Vũ Lợi, cọp chống gậy đi dọc Yết Kiêu, đến
Trần Hưng Đạo rẽ trái, và lững thững bước về phía
Bờ Hồ. Vài ngày sau anh bay ra Huế.
Chúng tôi gặp lại nhau ở Sài Gòn giữa một buổi
trưa nắng gắt. Anh đợi, ngồi rià một cái quán bên
đường. Vẫn cái tư thế cọp ngồi chống mắt nhìn đời,
chập chùng xe qua xe lại nhả khói khét mùi xăng
nhớt. Cọp nheo mắt chóa nắng lừng lững chống gậy
đứng lên. Lần ấy là lần đầu anh vào miền Nam. A,
cái lưỡi dao cùn. Nó chẳng phải chỉ cứa cổ người
. Nó chém ngang lưng Tổ Quốc. Không đứt được thật,
miền Nam vẫn đó. Nhưng mà đau, nỗi đau còn đó, lưng
rướm máu, nay vết sẹo mới tấy da non, xin chớ ai
động mạnh. Chúng tôi lại hẹn hò.
Tối hôm sau, liên hoan trên gác ba nhà Nguyễn Quang
Sáng. Nguyễn Duy mới đi Liên Xô và Đông Ấu về, đang
đánh tiết canh vịt dưới bếp. Đã hẹn, nhưng sao mãi
chưa thấy Trịnh Công Sơn. Khoảng bảy giờ, có tiếng
chân, tiếng người. Sơn đi trước, Lữ Quỳnh đang xốc
Bùi Giáng theo sau. A, hay thật là hay. Con đười
ươi Tề Thiên tối nay gặp cọp ngày. Năm 24 tuổi và
đầu một đời thơ, Giáng hạ bút Vòng theo máu hai
vòng tay khép chặt. Ồ thưa em ta thấy mộng không
thường. Năm xấp xỉ 20, Dần "chôn tiền chiến",
và trong Dạ Đài, bản tuyên ngôn Tượng Trưng, anh
gầm :
Không thể rung cảm chúng ta nữa cái văn chương
cổ tích chỉ có một chiều chỉ nhắc gợi một cõi đất
một tâm tình.Sau cái thế giới hiện trên hàng chữ,
phải ẩn giấu muôn nghìn thế giới, cả thế giới đương
thành và đương hủy.Bọn lãng mạn, sau khi chùi xong
nước mắt lại lảm nhảm nói chuyện những nàng tiên.
...Chúng ta phải nhớ rằng chúng ta đương kể những
câu chuyện cổ tích cho người đứng tuổi nghe. Phải
gây nên cả hai không khí hoang đường và hiện thực.Chúng
ta cũng không thể tách lập được hẳn thực hư, và
chia đôi địa trấn bằng một bờ sao rõ rệt.Làm sao
mà giải quyết được sự mâu thuẫn phi thường đó?
Chúng ta chỉ có một con đường đi để thoát khỏi
mê đồ. Chúng ta chỉ có thể dung hợp được thực và
hư bằng hình tượng.Thế nên chúng tôi - thi sĩ tượng
trưng - chúng tôi sẽ nói lên và chỉ nói lên bằng
hình tượng, thứ ngôn ngữ tân kỳ, ngôn ngữ của những
thế giới yêu ma, của những thế giới thần nhân mà
cũng là của cái thế giới âu sầu đây nữa.
Thế ra anh cũng mộng không thường! Anh bổ những
nhát cuốc đào mồ "tiền chiến" : .cái thi
ca cổ rích, cái thi ca tĩnh của tiền nhân ngâm vịnh,
của bọn lãng mạn chẳng làm chúng ta quên, vì chẳng
có thể đẩy đưa chúng ta theo những nhịp điệu bồng
bềnh của bản thanh âm hoàn vũ. Thế nên chúng tôi
- thi sĩ tượng trưng - chúng tôi sẽ đón về đây tất
cả những thế giới quay cuồng, chúng tôi sẽ bắt một
vầng trăng phải lặn, một ánh sao phải mờ đi, một
chế độ phải tàn vong và một bài thơ phải vô cùng
linh động. Và với anh, nghĩa là một bài thơ.không
được dùng lý trí, không được dùng cảm tình, nghĩa
là không được chỉ dùng có một quan năng tách bạch
của chúng ta - dù quan năng nào đi nữa. Hãy đem
tất cả linh hồn, hãy mở tất cả cửa ngách của tâm
tư mà lý hội. Trận gió sẽ lên : tức khắc và đột
nhiên, vì thơ đã không cần lý luận.
Chẳng biết đười ươi Tề Thiên đã đọc Dạ Đài hay
chưa? Chỉ thấy đười ươi huyếch miệng cười khan và
sáp lại, mắt hấp háy. Cọp bất động, nhưng nhìn đười
ươi chằm chằm. Anh em xếp cho đười ươi ngồi trước
mặt cọp. Sơn tươi tỉnh ".anh Giáng, hứa không
được phá nghen!" Móm mém, Giáng cười, tiếng
cười trong vắt hồn nhiên. Chưa đụng vào đũa, Giáng
bi bô chỉ trỏ vào Dần, và nói, tay vung lên, miệng
say sưa. Chẳng ai hiểu gì! Vì anh nói một thứ tiếng
lai tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Pháp, nghĩa là thứ
tiếng riêng của Bùi Giáng, lộn nhộn đủ loại ngữ
ngôn. Lạ thật, Dần gật gù. Thình lình, Giáng đứng
lên ghế, tiếp tục nói, như diễn thuyết. Sơn ra bên
cạnh, kéo Giáng ngồi xuống, nhắc ".phá quá
cha nội! Hứa gì quên rồi ư.". Giáng cười khì
khì, giả ngồi yên. Sơn vừa về chỗ, Giáng lại đứng
dậy. Con đười ươi Tề Thiên nghiêng ngả, kêu chí
choét, lại nói. Lúc ấy Dần giơ tay. Giáng ngừng
ngay, mắt trố lên nhìn. Con cọp giọng trìu mến thốt
".người ta bảo Bùi Giáng giả điên!" Giáng
lại kêu chí choét, như giục, còn gì nữa? Dần im
lặng. Giáng vùng đứng lên ghế, rồi giả xiêu giả
vẹo. Lữ Quỳnh phải chạy lại đỡ. Con đười ươi Tề
Thiên cứ thế, diễn màn độc thoại, nhưng vô ngôn,
có lẽ dành riêng cho cọp. Lữ Quỳnh và tôi, mỗi người
một bên, dìu Giáng xuống thang, ra đường gọi xe
xích lô. Đẩy Giáng lên, chúng tôi trả tiền xe. Vừa
quay lại thì Giáng đã nhảy tót xuống xích lô, tay
chìa ra, miệng kì kèo "... "tau"
không đi xe, mi chia "tau" một nửa tiền
xe hỉ!". Rồi Giáng lẩn trong bóng đêm trên
đường xưa là Công Lý, nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa,
vạt áo bà ba trắng vụt biến vụt hiện như một linh
hồn lạc lõng. Lữ Quỳnh kể, người nghe lo cho Giáng.
Sơn cười ".già ấy tỉnh, khôn thấy mồ tổ, đừng
lo!".
Hai bữa sau, tôi lại lên đường. Nhưng sao chưa
đi mà đã nhớ! Lại tự nhủ, lần cuối, nhưng miệng
cứ hẹn sẽ gặp lại, còn gặp lại, dẫu trời mang mang,
đất mang mang, vì đại dương bây giờ, lời Nguyễn
Tuân, chỉ còn là cái ao ếch một đêm mưa.
Từ trụ sở báo Văn Nghệ số 43 Đồng Khởi, Nguyễn
Duy, Hồng Đăng và tôi ghé lên căn gác nơi Trần Dần
nghỉ trưa nhà Hồng Văn, một nhà báo hưu non, đang
ở tạm. Trần Dần nằm, mắt nhắm nghiền, tay vẫn nắm
chiếc gậy hôm nọ tôi xin anh. Khi đó, anh nói ".Bửu
Chỉ mới cho" và tôi đành "thế thì anh
giữ làm kỷ niệm!". Nhìn anh, tôi thì thào với
Đăng, ".thôi để ông ấy ngủ!", dẫu tôi
biết anh chỉ nhắm mắt. Anh thừa biết tôi đến chào
anh. Nhưng cả anh lẫn tôi, chúng ta nào có ai biết
đấy là lần cuối.
Tám năm sau, tôi ghé Bolsa gặp Trịnh Cung. Câu
đầu Cung nói, là "Anh Dần mới mất, mình vừa
nhận được tin!" Về nhà Hoàng Khởi Phong, tôi
dìm nỗi đau xé lòng trên phiến máy điện toán, viết
về con cọp ngày vừa chia tay cả phố thị lẫn rừng
xanh. Bản viết đó, rõ ràng tôi gõ "save",
nhưng nó lại trôi tuột vào hư không vì máy hỏng.
Hoàng Khởi Phong loay hoay chữa nhưng vô phương.
Dẫu có "Save", ai làm thế nào cứu vãn
được cái mất mát chính, là anh. Vâng, mất mát đó
vô cùng lớn cho tất cả những kẻ lòng còn gắn bó
với chữ nghĩa và quê hương.
■
Một chuỗi biến cố kể từ cuộc đàn áp ở Thiên An
Môn đến sự sụp đổ bức tường Bá Linh khiến tôi lại
chẳng được visa để "qui cố hương" thăm
hỏi các anh sau năm 90. Thế là Đặng Đình Hưng đi.
Rồi Bùi Xuân Phái, Văn Cao. Và Trần Dần năm 97.
Nghe tin Lê Đạt "được" qua Paris, tôi
vội bay đến hàn huyên. Chúng tôi có vài ngày với
nhau nơi nhà một người bạn nhà văn Đỗ K. đã mượn
cho ở. Sáng nào chúng tôi cũng ra uống cà phê trên
St-Germain. Nhìn ra phía trước là Métro Odéon, quay
về phía sau, sao chúng tôi vẫn lại chỉ thấy Bờ Hồ
trong cơn mưa bụi. Lê Đạt bảo ".Dần mất thế
là hơn nửa năm rồi! Nhanh thật, cứ như mới hôm qua.".
Vâng, mới hôm qua. Những cái mặt đồng hồ trơ trẽn
không kim trong giấc mơ ở Hà Nội ngày nào lại hiển
hiện trước mắt tôi. Ở Paris, kim đồng hồ là một
hiện thực. Vòng quay của kim một chiều, và chiều
đó là chiều quay đánh dấu những tiến bộ trong một
số địa hạt nhất định. Như khoa học. Kỹ thuật. Như
công, thương nghiệp. Dưới một mức, là quyền con
người. Nhưng dẫu sao, nó cũng nhích lên, trong một
thế giới thông tin mở, không chập chạp, ù lì, chai
cứng đến độ mất hết sức sống. Lê Đạt nhắc kỷ niệm
xưa, giọng tiếc nuối ".Dần nó có tư cách "chưởng
môn"! Còn mình thì không, cứ bông lơn ba lăng
nhăng.". Tôi lại hình dung ra con cọp ngày,
mắt rừng rực, quyết liệt tuyên ngôn, rằng cái kho
chữ là tài sản quí nhất của một dân tộc. Anh nhếch
mép, râu rung rinh đùa hỏi tôi, cái môn kinh tế
học của cậu nó có dạy thế không? Không hả, anh cười,
thế thì "hỏng". Những phút ấy thật hiếm.
Đùa xong, anh lại trầm ngâm.
Tôi hỏi Lê Đạt, đã đến lúc anh viết về Nhân Văn-Giai
Phẩm như những chứng nhân và nạn nhân chưa? Đạt
bảo, Hoàng Cầm nói và thu cát xét, dễ có đến cả
chục cuộn băng. Còn mình, anh cười, mình chưa ghi
chép gì cả. Tôi bàn, viết về Nhân Văn-Giai Phẩm
là viết về một giai đoạn và một tinh thần văn học.
Anh gật gù, thế cậu thấy cái gì gọi là tinh thần
Nhân Văn? Câu anh hỏi, tôi chưa đáp, khất đến hôm
nay. Xin thưa gọn : tính nhân bản cộng với tinh
thần sáng tạo. Và như phương tiện vận chuyển xã
hội đến lý tưởng mà chung quyết là hạnh phúc con
người, văn chương hành động dấn thân, can đảm phê
phán hiện thực. Tệ quan liêu, chủ nghĩa tô hồng
cơ hội, và bản chất phi nhân giữa thập kỷ 50 là
đối tượng. Nghĩ kỹ lại, đến nay là thiên niên kỷ
thứ 21, tình hình xã hội cũng chưa khác là bao,
thậm chí so với thời đã qua thì nhiều vấn đề cấp
bách hơn, trong đó sự mất niềm tin vào tương lai
đến độ tuyệt vọng là căn bệnh ung thư bộ não đã
vào giai đoạn cuối cùng.
Tương quan giữa quyền lực và văn hóa trong xã hội
có một số thuộc tính khó chối cãi được. Năm 87,
ông Nguyễn văn Linh "cởi trói" cho văn
nghệ sĩ, thừa nhận hiện thực "bị trói",
và trói bằng những vòng kim cô xiết lại nới ra tùy
theo nhu cầu chính trị. Đùng một cái, từ 87 đến
91, liên tiếp một số tác phẩm sáng giá ra đời. Tướng
về hưu, Thiên sứ, Những Thiên Đường mù, Nỗi buồn
chiến tranh, Đi về nơi hoang dã, Những mảnh đời
đen trắng, Bến không chồng. Và những khuôn mặt mới
như Dương thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm thị
Hoài, Bảo Ninh, Nhật Tuấn. làm nổi lên một không
khí sáng tác, mạnh dạn hơn, chất lượng có, và gầy
nên được cái hy vọng lấp dần khoảng trống của thứ
văn học khẩu hiệu, xoàng xĩnh, có tính dịch vụ tuyên
huấn, uỷ lạo, động viên thi công thúc chiến. Rồi
cũng đùng một cái, Linh co lại, Đỗ Mười lên. Đùng
một cái, sáng tác lại khuôn phép ngậm miệng. Và
ở giai đoạn bỏ bao cấp xã hội chủ nghĩa quá độ tiến
lên (tiểu) tư bản thủ công đỏ và đen, văn hóa trong
nước tràn lan trăm chuyện xe cắn chó, chưởng rẻ
tiền, tình Hồng Kông, Đài Loan, Thái Lan. Đất nước
chúng ta có phải chăng đang phá sản ở mọi mặt? Kinh
tế tụt hậu, nợ cứ nợ, thế hệ sau (?) trả. Con người
hạ giá, xuất khẩu làm tôi mọi khắp nơi, ô-sin vinh
quang với nhiệm vụ quốc tế. Còn văn hóa, ta chỉ
còn độc cái món thi hoa hậu, hoa hậu từ làng tới
huyện, từ huyện tới tỉnh, từ tỉnh tới vùng, từ vùng
tới thành phố, rồi từ thành phố đến toàn quốc. Giáo
dục, ôi thôi, cả nước "lãng" học nhưng
tiến sĩ, phó tiến sĩ nhan nhản đầy đường. Tiếng
báo động chục năm vang như tiếng sấm, sấm động nam
bang theo cách nói một sứ giả đại quốc đến thăm
viếng ta trong huyền thoại Trạng Quỳnh. Nhưng các
vị lãnh đạo nay đang hy sinh cho tiền đồ hay hy
sinh tiền đồ? Họ kiên quyết ngồi yên, không động
đậy, bằng chân như vại, rủng rỉnh ngựa xe. Mặc dầu
có 25 triệu (tức là 60% lực lượng lao động) người
thất nghiệp, theo thống kê của Ngân Hàng Thế giới
năm 2002. Thế thì trăm ngàn ô-sin, triệu gái mãi
dâm, là tất yếu, là."qui luật", thứ qui
luật mới.
Chưa bao giờ, tinh thần nhân văn cần như lúc này!
Gió ơi, đừng nghe lời khuyên chớ đừng rung cây!
Gió hãy lên! Cho cây đổi mùa thay lá. Vì sông mấy
khúc nhưng rồi nước cũng chảy, mây mấy tầng nhưng
rồi chim cũng bay.
■
Nhà văn Phạm thị Hoài, người biên tập và hiệu đính
GHI, nói rõ "Với chúng ta, đó là những văn
liệu và tư liệu vô giá về một giai đoạn văn chương
và lịch sử cho đến nay vẫn xếp sổ, nếu quả còn có
sổ." Ghi trở nên một hình phạt, Trần Dần viết,
nhưng "kết quả của hình phạt với một người
lại có thể là quà tặng không ngờ tới bao nhiêu người
khác". Điều này rất đúng. Nhưng nó đòi hỏi
người khác, tức là chúng ta, một cách đọc để hiểu.
Chị tôi, chị Liên, đã đọc. Chị cũng hiểu, là Trần
Dần đã từng đầu hàng, Hoàng Cầm thế này, Lê Đạt
thế kia. ai cũng có lúc nhụt chí , yếu xìu, hèn
đi, qui thuận và thậm chí đôi khi van lơn chạy "tội".
Chị buồn vì đèn tắt, nến tàn và dăm cây nhang cháy
đến gốc không còn cái mùi ngất ngây gây mê trên
bàn thờ nơi thần tượng vừa sụp đổ. Vâng, nếu là
thần tượng, thì có thế thật. Nhưng nạn nhân vụ Nhân
Văn-Giai Phẩm là những con người. Và nhất là những
nhà văn. Họ có thành thần tượng, là do chúng ta
nặn lên cho chính chúng ta. Nhu cầu tế lễ không
phải là lạ, từ ngày con người tìm ra lửa, biết tầm
quan trọng của quá khứ, và đẻ ra huyền thoại như
một trong những phương cách nhằm xác định bản thể
mình.
Họ là những nhà văn. Lập lại lời Trần Dần, nhân
cách của họ là văn cách. Điều sau, đòi hỏi họ có
tác phẩm. Chính cái sự rất người là yếu, hèn...
đẻ từ hoạn nạn mới cho phép họ viết về cái rất người
của những con người. Giả như họ chỉ anh hùng (rơm),
kiên cường, móc mắt mình như Thụy An (rồi chết),
thì bất quá họ để lại cũng chỉ một hai câu, đại
loại kiểu "bay là giặc!", "không
thành gì thì thành nhân", hoặc "thà làm
quỉ xứ tự do (miền Nam xưa, USA bây giờ?) còn hơn
làm vương đất độc tài toàn trị (miền Bắc xưa, Nga
mafia bây giờ?)". Trời ơi! Đất nước ta đã có
quá nhiều anh hùng. Họ là những kẻ đã nằm xuống
rồi, và cho sống dậy chắc gì họ chẳng không hối
tiếc?
Cách đây bốn năm, tôi lại về Hà Nội. Tôi đến thắp
hương cho Trần Dần, cho Văn Cao. Như những năm xưa,
tôi đến thắp hương cho Nguyễn Tuân, cho Bùi Xuân
Phái. Tôi có cảm giác họ vẫn đâu đây, như những
người muôn năm cũ, lẩn quẩn trong tâm tư những kẻ
nòi tình gắn bó vào chữ, vào nghĩa, và vào cả cái
định mệnh khốn khổ của những người làm nghệ thuật
nhưng không có tự do. Đâu đó, tôi nghe tiếng Nguyễn
Tuân rủ rỉ, nước mắt tràn trề trên những sợi râu
bạc, kêu khẽ . Sợ! Tôi tồn tại được là vì tôi biết
sợ!
Tôi cũng thế, nghĩa là tôi từng sợ, từng hèn, từng
yếu,. có lắm lúc buông trôi, nhưng cũng có đôi khi
nổi loạn! Và tôi hỏi chị Liên, còn chị? Tôi kể,
tôi mơ thấy ông Dần ngồi trên vạch phấn, một bên
là thiên đường, một bên là địa ngục. Cạnh ông, một
rổ đá, cục nào cục nấy to bằng nắm tay. Ai đi qua,
ông cũng chìa cho một cục, miệng bảo "Không
từng sợ, không từng hèn. thì cứ ném đá cho tôi chết
thêm một lần!"
Làm gì có kẻ chết được hai lần!
Nói đến cái chết. Và chôn. Trong dịp chuyện trò
với anh em biên tập Sông Hương, Trần Dần kêu "...Thế
hệ trẻ à?Tôi cứ đợi mãi. Nó bị trong vòng vây của
văn chương cung đình, tôi sốt ruột đợi lớp trẻ lớn
lên để chôn bọn tôi, như chúng tôi đã chôn tiền
chiến."
Những ai đã chôn Trần Dần? Chưa chôn? Vì anh chưa
chết, thế hệ trẻ ơi!
Vài tháng sau khi tôi đọc GHI, một hôm tiếng điện
thoại viễn liên reng lên. Cầm máy nghe, lại chị
Liên. Chắc chị mới từ Hà Nội bay về Cali. Chị kể
chuyện, con cà con kê, rồi bảo, có một món quà bất
ngờ cho cậu. Tôi hỏi. Giọng dịu dàng, chị nhỏ nhẹ
:
- Chị mang quà anh Hoàng Cầm gửi. Vẫn như mọi bận,
một lít rượu làng Vân. Để hôm nào chị qua chỗ cậu
chị mang sang!
Cám ơn chị, đến thăm anh Cầm là chị đã hiểu. Chị
cứ kêu chị thất học, nhưng chỉ học chữ dễ khiến
lắm người quên mất nghĩa. Và cái học trường đời,
chữ cần một, nghĩa cần đến mười, mới thành người
được. Chai làng Vân chị mang qua cho em lần trước
vẫn còn một nửa. Tối nay, em sẽ uống, một ly cho
chị. Một ly cho những huyền thoại chúng ta cùng
nhau gìn giữ, không phải để phong thánh ai rồi nhang
đèn điếu đóm, mà là từ đó ta lại khởi đi một cuộc
lên đường sáng tạo. Còn lại, em uống để nhớ món
quà Nhân Văn trao cho những thế hệ sau.
Rượu làng Vân, rượu tình rượu nghĩa. Cũng những
chén rượu đó tôi nhắp môi vào, hai mươi năm trước,
nghe anh Cầm nghẹn lời, hạ giọng ".Chỉ mình
ta.Ta say ta đạp lùi tinh tú. Ngủ yên rồi đôi cá
đòng đong". Trên nền đất nện, một cái bàn mộc,
dăm chiếc ghế chân lay, xộc xệch bao nỗi đời nên
may mà có rượu chui, thơ chui. Như thơ các anh,
những nhà thơ không được có độc giả, sao dám mãi
cứ thi gan nhả chữ vào vực thẳm để tiếng vọng xô
từ vách đá là tiếng thở dài lẫn trong tiếng nguyền
rủa. Thế đấy, nhưng Trần Dần vẫn cười khẩy, thách
thức "tôi có thể mặc thây ngàn tiếng chửi tục
tằn, trừ tiếng chửi 'sống không sáng tạo'".Như
rượu làng Vân, cũng phải chui. Quốc lủi, khác rượu
quốc doanh ở chỗ nó thật, không dối trá, không lên
gân hô khẩu hiệu. Nó thoang thoảng hương nồng chất
nếp than, để lại đầu lưỡi buốt bỏng vị cay của hoạn
nạn. Uống vào, bỗng dưng sẽ thấy con chữ ở dạng
nào cũng đèo trên mình chữ tâm của người viết, chữ
tình trong kiếp nhân sinh. Và nhất là trách nhiệm,
với mọi người, kể cả những người muôn năm cũ.
Nam
Dao ( NHANVAN)

|