| 
GIẤC MƠ CẨM THẠCH
Nguyễn Tường Bách
Phần 1
Dưới chân Hy Mã
: NHỮNG BƯỚC ĐẦU TIÊN
Đúng ngày Tết dương lịch 1.1.1989 tôi hăm hở lên
đường đi Ấn Độ. Dù lúc đó đã sống hai mươi năm ở
nước ngoài, tôi vẫn thấy xa lạ với xứ sở huyền bí
này. Ngày xưa dù chưa sống xa nhà, tôi đã có ý niệm
về Pháp, về Mỹ, về Canadạ Hồi đó tôi đã thích nền
văn hóa phương tây, đã yêu văn chương tiếng Pháp,
đã biết lối sống Mỹ. Còn Ấn Độ là gì đối với tôi
?
Đó là quê hương của Gandhi, một vùng bán đảo rộng
lớn với Hy-mã lạp sơn, với Hằng hà đầy cát. Tôi
biết Ấn Độ chỉ giản đơn như thế, nhưng điều đậm
nét trong tôi là, đây là một xứ sở huyền hoặc, hầu
như được bọc trong một tấm màn thần thoại. Những
tài danh của Ấn Độ mà tôi biết thường là những nhà
văn nhà thơ như Tagore hay Krishnamurti, các vị
đó xem ra cũng rất huyền bí. Còn các nhà đạo học,
dù đó là Phật Thích-ca hay các đạo sĩ, tất cả đối
với tôi có tính hoang đường nhiều hơn thực tại.
Và dù các vị đó có thật đi nữa thì họ quá cao xa
đối với tôi. Lên đường đi Ấn Độ, tôi chỉ là một
người Việt Nam làm công cho một công ty sản xuất
máy phát điện ở Đức, làm nhiệm vụ mà ngày nay người
ta gọi là tiếp thị, có cái vai trò sales manager
đi bán một món hàng hết sức trần thế.
Tôi nhớ lại một anh bạn tuổi lớn hơn mình nhiều,
anh có tiếng là thầy bói ngoại cảm. Một ngày nọ
xa xưa, anh nhìn tôi cười nửa đùa nửa thật: "
chú em kiếp trước làm thầy tu bên Ấn Độ " .
Tôi nghe xong lòng không lấy gì thú vị, làm vua
chúa thì may ra. Không, làm sao tôi mà là thầy tu
được, tôi còn ham rượu thịt, còn ham vui chơi. Tôi
càng không phải là người Ấn Độ, nếu không sống tại
Việt Nam, tôi chỉ thích sống ở châu Âu văn minh
và cổ kính.
Máy bay từ châu Aâu đến Delhi thường hạ cánh lúc
nửa đêm, giờ địa phương. Ngày đó là ngày Pan Am
còn là một hãng hàng không uy tín của Mỹ, cạnh tranh
với Lufthansa của Đức tranh nhau chở khách đi Ấn
Độ. Thời đó tôi chưa hiểu sao có nhiều khách đi
Ấn Độ, khách làm ăn có, khách du lịch có. Ngày đó
tôi đâu biết, đó là một thị trường khổng lồ cho
dân làm ăn và một lịch sử vô song cho người du lịch.
Ở sân bay Delhi ở Ấn Độ một thứ mùi nửa lạ nửa quen
làm tôi chú ý. Mùi này hai mươi năm qua tôi chưa
từng hít thở lại. " Eau de javel " ! Thì
ra cái thứ mùi để chùi rửa vệ sinh trong những ngày
xa xưa trong thời thơ ấu của tôi nay vẫn được sử
dụng tại sân bay quốc tế này. Mùi này tôi đã quên
rất lâu, xứ Đức không có, Việt Nam ngày nay cũng
không, không ngờ nơi đây vẫn thông dụng. Ngày nay
mỗi lần đến Ấn Độ tôi đều chuẩn bị để hít thở mùi
này, thứ mùi gây cho tôi cảm giác vừa khó chịu vừa
dễ chịu. Khó chịu là chỉ những nơi dơ bẩn ta mới
biết đến nó và dễ chịu là sự yên tâm dù sao cũng
có ai lo cho sự vệ sinh ở đây.
Tôi ngồi gọn trong ghế bành nghe người ta nói tiếng
Anh. Đồng nghiệp người Đức của tôi nói tiếng Anh
rất dễ nghe, có lẽ thứ tiếng Anh của tôi cũng có
cái giọng như thế. Đó là một thứ tiếng Anh giọng
Đức, thứ tiếng Anh hay bị chê cười trên thế giới.
Người ta gọi đó là tiếng Anh của Kissinger vì nhà
chính trị này sinh tại Đức, sống lâu ở Mỹ nhưng
vẫn nói thứ giọng quê mùa này. Còn tiếng Anh của
Ấn Độ là một thứ tiếng Anh lạ lùng, tôi nghe không
hiểu gì cả. Tôi nhớ mình thích tiếng Anh của người
Hồng Kông vì tiếng Anh của họ dễ hiểu, thanh quản
và phát âm của họ xem ra giống của tôi. Tôi vốn
sợ thứ tiếng Anh của người Úc và của người Mỹ vì
khó hiểu nhưng có đến Ấn Độ mới thấy có thứ khó
hiểu hơn. Điệu bộ cử chỉ của người Ấn cũng khác,
họ hay dùng bàn tay để " minh họa " cho
lời nói. Bàn tay của họ cứ lật qua lật lại theo
nội dung câu chuyện. Tôi phải làm việc hàng tuần
trong cái xứ đầy mùi lạ, tiếng lạ, phòng ốc chật
chội này ư ?
Văn phòng đại diện của chúng tôi tại Delhi thuộc
loại tầm cỡ nhưng phòng ốc hết sức hạn chế. Tại
sao người ta thuê tuyển nhiều người như thế, bàn
nọ kê sát bàn kia, nhân viên hàng tá làm gì cho
hết ngày giờ ? Sau này tôi mới biết họ có nhiều
người là để giúp việc cho chúng tôi, có những tea
boy chỉ chuyên bưng trà rót nước, những công việc
mà tại phương tây chúng tôi phải tự làm. Dễ chịu
thaỵ Chỉ sau một ngày, tôi đã nhờ một cô gái đi
copy văn bản. Bất ngờ thay, cô ta lắc đầu. Tôi đang
tự hỏi tại sao cô này từ chối lời yêu cầu nhã nhặn
của mình thì đã thấy cô đã nhặm lẹ cầm giấy tờ chạy
đi làm việc. Thì ra cái lắc đầu của người Ấn Độ
chính là cử động gật đầu của tạ Còn khi họ từ chối
thật thì đầu họ cũng lắc cũng lắc cách khác. Đối
với tôi lúc nào họ cũng lắc đầu cả. Khó hiểu thay,
những người Ấn Độ !
Từ văn phòng chúng tôi nhìn ra là công trường Nehru
đầy người. Đó là chỗ bán cam bán chuối, bến đợi
xe bus, xe hàng rang hạnh nhân đậu phọng, chỗ sửa
xe taxi, bến đậu xe " túc-túc ", nơi của
khỉ làm trồ... Cuộc sống ở đây xem ra vừa vội vã
vừa chậm chạp. Trên công trường Nehru đó hàng trăm
người ngồi chơi sưởi nắng xem ra không có gì làm,
hôm nay là một ngày mùa đông. Xung quanh họ là những
người ăn mặc hết sức nghiêm túc theo kiểu người
Anh đang vội vã rảo bước, họ tìm kiếm điều gì trong
xứ sở nghèo nàn này ? Về sau tôi biết thêm Ấn Độ
là một xứ sở của những hình ảnh đối chọi.
Đường sá đầy xe cộ với mùi xăng khét lẹt làm tôi
nhớ Việt Nam. Taxi của họ là những chiếc xe nội
hóa cũ kỹ với cái tên vang dội "Ambassador"
mà bốn bánh xe thường mòn nhẵn làm chúng tôi e ngại,
mỗi chuyến đi là một trò chơi ít nhiều rủi ro nhất
là khi gặp trời mưa. Thế nhưng đã quen cách đi liều
của mình và thấy đồng nghiệp nhiều năm kinh nghiệm
Ấn Độ của tôi cũng chưa có ai mang vết tích gì trên
người nên tôi yên tâm tự nhủ đời người có số.
Chỉ vài ngày sau khi đến Ấn Độ người ta đã biết
đây là một xứ sở mang nặng đầu óc tôn giáo. Trong
taxi tài xế thắp nhang liên tục, họ khẩn cầu một
vị thần nào bảo hộ cho họ, cho họ nhiều khách và
ít tai nạn. Ngoài đường các đàn bò đi đứng nằm ngồi
xem ra rất tự nhiên thoải mái, tài xế lái xe thường
rất hấp tấp nhưng khi gặp chúng đều kiên trì chờ
đợi, không có một tiếng còi. Ra khỏi Delhi vài cây
số là đã xanh một màu cây cối, ở đây cơ man nào
là khỉ. Theo người Ấn, chúng là hậu thân đáng thương
của đời làm người, là cha mẹ anh em ngày trước,
chúng được đối đãi bình đẳng và sống chung với người.
Ngày nọ tôi đến làm việc tại một cơ quan chuyên
trách " kiểâm tra chất lượng " của bộ
phận turbinẹ Đó là một tòa nhà nhỏ nằm trong một
khu vườn lầy lội sau cơn mưa. Vừa bước xuống xe,
một con heo rừng đâm đầu chạy đến. Tôi vội thót
lên xe, đóng cửa đánh rầm. Sau đó hỏi ra nó chỉ
là một heo nhà tầm thường nhưng chạy nhảy nhiều
quá nên có cái bụng thon của một con heo rừng lực
sĩ.
Tại Ấn Độ, thời gian lưu trú nhiều tuần cho phép
tôi học nghe tiếng họ nói, học nhìn cách họ làm
để giải quyết công việc của mình và khám phá nhiều
điều lớn lao hơn. Xuất phát từ một cấu trúc xã hội
có tính đẳng cấp, người Ấn Độ rất khó thân cận.
Lạ thay, đối với thú vật thì họ gần gũi mà đối với
người thì họ xa cách. Hình như mỗi người Ấn Độ khi
gặp người khác, việc đầu tiên là họ định nghĩa ai
hơn ai, về đẳng cấp huyết thống ai ưu việt hơn ai.
Đi Ấn Độ hàng chục lần, tôi kết luận rằng đó là
một xứ sở của sự phân biệt giai cấp. Người giàu
có thì hợm hĩnh khinh người, người nghèo khổ thì
yên phận chịu đựng. Những người mà tôi gặp và làm
việc đều là kỹ sư hay thương nhân, họ thuộc thành
phần có học và có tiền, trong nội bộ xã hội, họ
coi khinh người khác, đối với chúng tôi ở nước ngoài
đến thì họ e dè và phức tạp.
Đối với người nước ngoài, người Ấn Độ vừa có mặc
cảm tự ty vừa tự tôn. Họ biết rất rõ bán đảo bao
la của mình là một cái nôi văn hóa và học thuật
của loài người. Cuộc đời của nhiều vĩ nhân nước
họ là những bó đuốc soi đường cho hậu thế. Nền văn
minh, triết lý và tôn giáo của họ là nền tảng của
nhiều nền văn hóa lớn trên thế giới, kể cả của Âu
Mỹ và Trung Quốc. Thế nhưng nước họ ngày nay thuộc
loại lạc hậu nhất, đời sống dân chúng khốn khổ nhất.
Họ có cái đau khổ của một nhà quí tộc khánh kiệt.
Cho nên khi một người nước ngoài đứng trước mặt
họ, họ lúng túng không thể định nghĩa ai hơn ai
kém. Và khi gặp chúng tôi, kẻ đi bán một thiết bị
hiện đại, họ càng lúng túng. Vì trình độ kỹ thuật
còn non, họ phải đi mua; nhưng vì là khách hàng
họ thấy mình được o bế. Thế thì ai hơn ai thua,
xem ra họ rất thắc mắc.
THÁNG NGÀY ẤP Ủ
Khách sạn cho thương nhân chúng tôi thường là loại
năm sao đắt tiền, chúng thường nằm rất xa "
nhà dân " . Trước cửa khách sạn thường có một
người Ấn Độ rất to khỏe, mặc đồng phục như sĩ quan
cao cấp, mỗi khi chúng tôi ra vào, ông lại che mắt
chào, giầy sắt đánh cộp. Tôi lấy làm xấu hổ với
thứ lễ nghi đẳng cấp dành cho tướng tá đó, cũng
chưa thấy châu Á có nơi nào từ Nepal đến Indonesia
lại có lối chào khách kiểu đó. Sang trọng như thế
nhưng cách đó chưa đầy vài trăm mét, gặp lúc khách
sạn đang mở rộng công trình là hàng trăm chiếc lều
với hàng ngàn nhân công ăn ngủ tại chỗ để phục vụ
dự án. Họ sống một cuộc đời khốn khổ, từ cửa sổ
phòng tôi thấy rõ mồn một. Tại Delhi, nơi được xem
là Paris của Ấn Độ, vô số con người sống lầm than
trong lều bạt, không có chút vệ sinh hay tiện nghi
tối thiểu.
Người ta hay cho rằng làm thương nhân như chúng
tôi là sung sướng, được đi đây đi đó. Thế nhưng
có đi rồi mới biết, thường khi đi công tác nước
ngoài thương nhân chỉ biết sân bay, khách sạn, cơ
quan của khách hàng, ngoài ra không biết hơn. Các
cuộc thương lượng thường căng thẳng, những tranh
cãi vô bổ về một chi tiết không đáng nói thường
chỉ làm hao tổn sức lực, mài mòn tâm hồn, chúng
dễ làm thui chột những cảm nhận tâm linh lẽ ra phải
có khi ta đến nhưng nơi xa lạ, gặp những con người
mới mẻ. Tại Ấn Độ, chúng tôi lại càng ít quan hệ
với dân chúng. Tại một nơi mà khách sạn như một
ốc đảo nằm giữa cảnh đời khốn khổ, thương nhân lại
càng ngại ra ngoài. Buổi tối họ chỉ biết uống rượu
với nhau cho hết giờ và nội dung câu chuyện cũng
lại quanh quẩn về những gì bàn bạc ban ngày. Thế
nên con đường đẹp nhất của Delhi là con người dẫn
từ khách sạn ra lại sân bay để về nước, con đường
mà chúng tôi hay đi lúc nửa đêm vì máy bay về lại
châu Âu thường khởi hành lúc gần hai giờ sáng.
Với thời gian, những cuộc làm việc tại Ấn Độ càng
lúc càng dài ngày, có lúc chúng tôi phải ở lại vài
tuần. Ngày nọ có vài đồng nghiệp tổ chức đi thăm
Simla trên Hy-mã lạp sơn, rủ tôi theo. Tôi mừng
như bắt được vàng. Ôi, đời tôi mà được đi núi Hy-mã
sao ?
Hy-mã lạp sơn đối với tôi hầu như huyền thoại,
tất cả những gì liên quan tới đó đều là chuyện thần
thoại. Đó là một nơi hẻo lánh xa xôi đầy tuyết trắng
không người lui tới, nơi đó phải là trú xứ của thánh
thần. Tôi không biết mình ở Delhi, gần như cực bắc
Ấn Độ, rất gần núi Hy-mã. Dĩ nhiên Hy-mã ở đây chưa
vội phải là đỉnh Everest cao hơn tám ngàn mét, và
chuyến đi sáng đi tối về từ Delhi cho thấy đây chỉ
có một triền núi con con của núi Hy-mã và đi bằng
đường xe hơi thì nhất định cũng không thể lên cao.
Mà như thế có lẽ cũng đủ rồi vì tôi lẫn các đồng
nghiệp của mình đâu phải là dân leo núi, chúng tôi
chỉ là du khách đi thăm Hy-mã lạp sơn một cách thoải
mái và lười biếng. Tôi đoán mò như thế, không biết
rằng mình sẽ đến Simla, thủ phủ của bang Himachal
Pradesh, thủ đô mùa hè của những người Anh đi chiếm
thuộc địa ngày xưa.
Vẫn là chiếc "Ambassador" nội địa bốn
bánh mòn nhẵn đến chở chúng tôi đi Hy-mã lạp sơn
! Tôi ái ngại thấy mấy người Đức to khỏe vô ngồi
trong xe, chiếc xe này mà chở chúng tôi lên cao
hơn sáu ngàn năm trăm bộ, tức gần hai ngàn mét sao.
Xe chạy băng băng lên hướng bắc, cảnh vật làm tôi
nhớ Việt Nam. Ấn Độ đâu phải chỉ là Delhi ô nhiễm,
đất nước này xinh đẹp biết bao. Về sau tôi đến nhiều
lần vùng Bắc Ấn, đây là một vùng đất thiêng. Hiện
nay vị Đạt-lai lạt-ma thứ 14 đang sống nơi đây.
Trong những năm năm mươi của thế kỷ này, đây cũng
là chỗ ẩn cư của hai nhà học giả phương Tây trứ
danh Govinda, Evans-Wentz. Trước đó mười hai thế
kỷ, vùng rừng núi miền Bắc Ấn này đã ghi dấu chân
của nhiều lữ hành trong đó có Huyền Trang, nhà dịch
kinh xuất chúng đời Đường của Trung Quốc. Mãi nhiều
năm về sau tôi mới biết rõ miền Bắc Ấn này là chỗ
hoạt động của một vĩ nhân của loài người tên gọi
là Thích-ca mâu-ni và mình sẽ lên đường tìm lại
bước chân của người ấy. Nhưng đó là chuyện về sau
của sách này.
Trên đường đi qua miền Bắc Ấn ở đâu ta cũng thấy
một màu xanh thuần tịnh và êm dịu. Các vạt mía mọc
tràn lan nhắc tôi nghĩ đến các tỉnh miền trung Việt
Nam, các hồ đầy sen trắng làm tôi nhớ đường sông
đi vào chùa Hương ở miền bắc. Những chiếc xe bò
lọc cọc gõ đường làm tôi tưởng thời gian như ngừng
trôi kể từ mấy thế kỷ qua.
Chiếc xe vững vàng leo núi làm tôi dần dần bớt
thành kiến với nền công nghiệp ô-tô Ấn Độ. Nhìn
xuống hang sâu vực thẳm, kẻ có kinh nghiệm đi đèo
Hải Vân từ bé như tôi cũng thấy ớn lạnh. Không ai
dám nói gì với ông tài xế, ông hãy cứ thắp nhang
đi trong chiếc taxi của mình, mùi nhang này không
còn làm tôi thấy khó chịu nữa. Các vị thần Ấn Độ
giáo cứu độ Ông chắc hẳn cũng không hẹp hòi từ chối
mấy người phương tây và một người Việt Nam ngoại
đạo.
Lên đến nơi chúng tôi mới hay Simla không hề là
một chỗ đèo heo hút gió mà là một thành phố giàu
sang nằm trên một dãi đất bằng dài đến 12 km, cao
hơn 2200m, trên sườn tây bắc của một chân núi Hy-mã.
Thì ra đây là một nơi nghỉ mát mà những người Anh
khôn ngoan ngày xưa đã xây cất để tránh cái nóng
khủng khiếp của Ấn Độ trong mùa hè. Năm 1822 đã
có một viên đại tá tên là Kennedy tìm đến đây và
xây một ngôi nhà nghỉ mát và sau đó Simla trở thành
chỗ lui tới cho giới quí tộc người Anh và Ấn. Chỗ
này chắc hẳn cũng như Đà Lạt của Saigon xa xưa,
dành cho giới thượng lưu thời đó. Khí hậu ở đây
quả nhiên hết sức dễ chịu, chỉ mới mấy tiếng mà
tôi đã quên Delhi bị vây bọc trong bụi bặm và khốn
khổ. Đi bộ trên những con đường ngược dốc ngược
lên cao, chúng tôi tìm đến những vị trí đặc biệt,
vị trí có thể ngắm nhìn những đỉnh núi trên bảy
ngàn mét.
Đây chính là vùng mà Huyền Trang rời cao nguyên
Kashmir xuống đồng bằng Ấn Độ, sau khi băng qua
sa mạc Gobi và đường phía bắc núi Thiên sơn, nhắm
hướng " Tây Vực " mà đi. Và mười hai thế
kỷ trước, Huyền Trang cũng từ đây mà xuống đồng
bằng, nếm mùi cái nóng Ấn Độ mà ông gọi là "
trời nóng như thiêu " trong Đại Đường Tây Vực
ký. Ngày xưa Huyền Trang hẳn đã ngắm nhìn những
đỉnh tuyết trắng của dãy Hy-mã mà quê hương Lạc
Dương của ông không hề có.
Tại Simla, ngắm nhìn những đỉnh núi tuyết, lần
đầu tiên tôi bị một một chấn động tâm linh. Núi
trắng xóa hiện ra rực rỡ dưới ánh mặt trời. Làm
sao tả được những đỉnh núi ? Núi gây cho tôi một
ấn tượng uy nghi, xa cách nhưng nhân hậu. Đỉnh núi
thuần tịnh màu tuyết trắng - cũng như ánh mặt trời
rực rỡ - chiếu rọi không phân biệt cho những ai
hướng về nó. Núi vương giả nhưng không chút kiêu
mạn, núi chào đón nhưng không vồn vã, núi đứng đợi
con người đến với mình. Thế nhưng những ngọn núi
cũng có sự khác biệt. Nói như Govinda, mỗi ngọn
núi có một " nhân cách " và mỗi ngọn núi
thiêng đều có thần. Trong " Con đường mây trắng
" Govinda viết: " Muốn nhận rõ kích thước
một ngọn núi ta phải đứng ra xa nó; để thâu nhận
dạng nó vào lòng ta phải đi quanh nó; để hiểu vui
buồn của nó ta phải biết quan sát nó trong mọi thời
khắc của ngày của năm: lúc mặt trời mọc và lặn,
giữa trưa và trong sự tĩnh lặng nửa đêm, trong những
ngày mưa tối và dưới bầu trời xanh, trong tuyết
mùa đông và giữa những cơn bão. Ai biết ngọn núi
theo cách này, người đó sẽ đến gần với tính cách
của nó, nó có tự tính sống động và đa dạng như của
con người " . Và theo Evans-Wentz, người đã
sống rất lâu dưới chân Hy-mã lạp sơn thì dãy núi
dài trên 24.000 km này có gần chục ngọn núi thiêng
và sự việc châu Á là gốc của mọi ánh sáng minh triết
" không hề là một sự ngẫu nhiên ".
Vùng này là cực bắc Ấn Độ, giáp giới Trung Quốc.
Những người cùng đi với tôi dơ tay giới thiệu ngọn
này ngọn kia cao bao nhiêu mét, chúng còn nằm trong
địa phận Ấn Độ hay đã ở phía Trung Quốc. Tôi bỏ
ngoài tai câu chuyện biên giới. Không quan trọng
gì nó nằm ở đâu, những ngọn núi này đâu phải để
con người cai quản. Chúng trường tồn với thời gian,
còn biên giới quốc gia có thể vài mươi năm đã thay
đổi. Thậm chí các dân tộc có thể biến mất trên hành
tinh này nhưng núi non vẫn còn. Hơn thế nữa gốc
của núi non là siêu thế gian, những gì chúng xuất
hiện cho ta thấy chỉ là một phần rất nhỏ của chúng.
Đừng đem chuyện thế gian mà đo lường chuyện siêu
thế.
Lần này tôi chưa được thấy Everest nhưng chục năm
về sau tôi sẽ thấy. Thế nhưng Everest chưa phải
là thiêng liêng nhất vì chiều cao chưa nói lên điều
hệ trọng. Cách chỗ tôi đứng ngày đó chưa đầy hai
trăm cây số đường chim bay về hướng Đông Bắc có
một đỉnh tên gọi là Ngân sơn, chỉ cao 6714 m, nhưng
đó là chốn thiêng liêng nhất, là trú xứ của thánh
thần, là hiện thân của núi Tu- di trong thế giới
vật chất này. Đây là ngọn núi mà cả Ấn Độ Giáo lẫn
Phật Giáo xem là quan trọng nhất trong rặng Hy-mã.
Đó là ngai vàng của thần Shiva của tín đồ Ấn Độ
giáo và là man- đa-la vĩ đại của Phật giáo Tây Tạng.
Đỉnh của Ngân sơn chính là trục của vũ trụ siêu
hình. Đỉnh này tôi chưa được đến đảnh lễ. Liệu đời
tôi có ngày đến được nơi đó chăng ?
CON SÔNG THIÊNG
Thương nhân thường có quá ít thời gian, quá ít tâm
trí. Họ dành thời gian để tính toán và tâm trí để
phàn nàn nguyền rủa. Cuộc sống vốn đã đầy phiền
muộn, thương nhân phương Tây đi công tác tại các
nước châu Á lại càng gặp lắm vấn đề. Đối tác của
họ thì phức tạp, thời tiết thì viêm nhiệt, khách
sạn thì chật chội, môi trường thì ô nhiễm. Làm sao
họ yêu được đất nước đó mà để tâm tìm hiểu ?
Một khi môi trường ô nhiễm thì những con sông là
kẻ chịu bất hạnh trước nhất, là chỗ chứa rác khổng
lồ. Tại những thành phố lớn như Hồ Chí Minh hay
Bangkok, kênh lạch là những nơi mà dân chúng còn
bịt mũi tránh xa, nói gì đến thương nhân. Đâu mấy
ai biết những dòng nước hôi thối đó bắt nguồn từ
những ngọn núi xa xôi mà nguồn nước của chúng xanh
hơn ngọc, trong vắt không chút bợn nhơ.
Đến Delhi cũng thế, tôi ngán ngẫm thứ bụi vàng
đeo bám áo quần, mùi xú uế luôn luôn có mặt trong
không khí và mỗi lần qua các cầu bắc ngang kênh
lạch, tôi vẫn nhớ đến kinh Nhiêu Lộc trong thành
phố của mình cũng không khác bao nhiêu. Thành phố
nào hình như cũng xây dựng trên một con sông. Không
hẳn như thế. Tôi đã từng đi qua những miền sa mạc
mênh mông ở Bắc Phi và đã thấy thế nào là vùng đất
khô cằn trên thế giới. Đó là những vùng mà đi hàng
trăm cây số người ta không hề thấy bóng dáng một
con sông, một dòng lạch, chỉ toàn là cát và cát
ngút ngàn. Trước mắt kẻ lữ hành như tôi, chân trời
lại chân trời toàn những cồn cát nối nhau xuất hiện.
Ở vùng đất đó chỉ có loại bụi gai thấp nhỏ là có
thể sống, chỉ có loài lạc đà mới chịu nổi cơn khát.
Đến một vùng nọ, sau đoạn đường dài đầy cát người
ta dẫn tôi cho đi xem " ốc đảo ", chúng
là những điểm hấp dẫn của du khách. Trong ốc đảo,
người ta hãnh diện chỉ cho thấy một vùng xanh tươi
với đậu cải, cam mía, nhất là chà-là. Tôi bỗng nhớ
Việt Nam, đó hẳn là một vùng ốc đảo mênh mông với
hàng chục ngàn con sông lớn bé. Châu Á khác Bắc
Phi ở chỗ nơi đây trời phú cho nhiều sông, mỗi con
sông là suối nguồn của cả một vùng kinh tế và cả
một nền văn hóa. Con sông hẳn phải là bà mẹ nuôi
dưỡng đời sống nên ngày xưa mới đầu người ta tụ
nhau bên bến sông và trải qua bao thế kỷ mà thành
phố xá. Thế nhưng con người sớm vô ơn bạc nghĩa
với sông, xem sông là nơi tha hồ đổ xả để rồi ngày
nay qua sông người ta nặng lời nguyền rủa.
Tôi cũng nguyền rủa mùi xú uế bốc lên từ các kênh
lạch tại Delhị Tôi không biết rằng các kênh lạch
đó là những nhánh của sông Yamuna, bắt nguồn từ
Hy-mã lạp sơn. Trong huyền thoại Ấn Độ, sông Yamuna
là hiện thân của con gái của thần mặt trời Vivasvat.
Nàng con gái Yamuna này lấy người anh sinh đôi của
mình là Yama để trở thành cặp tình nhân đầu tiên
của loài người. Ngày nay không còn mấy ai biết truyện
tình kỳ lạ này nữa, những chiếc cầu bắc qua Yamuna
trở thành các trục giao thông với dòng xe cộ chạy
hối hả. Ngày nọ, trên một chiếc cầu của Yamuna xe
taxi của tôi đi có lẽ đã gây một tai nạn chết người.
Xe đang chạy tự nhiên hư máy đứng lại. Ngồi băng
sau nhìn lui tôi thấy một chiếc xe gắn máy từ xa
băng băng chạy đến, người lái xem ra không thấy
xe hư đang đứng yên trên cầu. Nỗi đau của tôi là
thấy sờ sờ tai nạn sắp xảy ra mà không làm gì được.
Một tiếng " bụp " khô rốc vang lên, người
lái xe bay về phía trước dễ chừng năm bảy mét quằn
quại trên đường. Mọi người chạy ào tới. Không nói
với tài xế một tiếng, tôi mở cửa xách cặp bước ra
xe, đi như chạy. Thần Vivasvat hãy cứu độ người
đó, còn tôi, tôi phải giữ thân mạng cho mình, lỡ
có ai nóng tính hành hung tôi thì sao, dù sao tôi
cũng có chút lỗi. Mong thay anh ta không chết, mong
thay anh ta đến được sông Hằng mà tắm.
Sông Hằng thì ra khá gần Delhi, chỉ cần đi khoảng
60 km là đến. Hằng hà mà người Ấn gọi là Ganga,
ngày đến đó tôi không ngờ đời mình có lúc đến thăm
con sông thần thoại này. Từ ngày hiểu " hằng
hà sa số " là cách nói trong kinh Phật, "
nhiều như cát sông Hằng " , tôi gắn liền sông
Hằng với Phật và xem đó là một huyền thoại. Đối
với tôi, sông Hằng là biểu tượng của Phật giáo Ấn
Độ. Ngày xưa tôi có nghĩ đời mình sẽ thấy tháp Eiffel
của Pháp nhưng không nghĩ mình sẽ đến sông Hằng.
Bởi thế tôi xúc động xiết bao khi tài xế kêu lên
" Ganga " . Sông Hằng đây sao ? Thật không
hỡi anh lái xe?
Sông Hằng, con sông thiêng chảy từ ngón chân của
thần Vishnu, " bị buộc phải rời thượng giới
mà đến với trần gian " là đây. Nhưng hằng hà
sa số cát đâu, tôi không thấy hạt nào cả. Đoạn này
của sông Hằng mà tôi đến thăm lần đầu là thượng
nguồn sông Hằng, đó là nơi nước chảy với lưu lượng
rất mạnh, hai bên bờ không hề có cát. Nước sông
màu xanh lục, trên sông có chỗ nước sôi réo bạc
đầu. Đoạn sông Hằng này là một nơi tấp nập người
qua kẻ lại, du khách khá nhiều. Đây được xem là
một đoạn sông thiêng nhất, hai bên bờ khá nhiều
đền thờ. Và đúng như tôi chờ đợi, tín đồ Ấn Độ giáo
tắm gội rất nhiều dù trời đang lạnh. Thú vị thay
khi thấy trẻ con bị cha mẹ dội nước lên đầu, chúng
run cầm cập. Tôi nhớ thời thơ ấu của mình, chúng
tôi cũng run như thế trong mùa đông khá lạnh của
miền Trung. Tại sông Hằng, trẻ con miễn cưỡng để
dội nước, miệng lầu bầu, còn người lớn xuống sông
bơi lặn, mặt mày thành khẩn, miệng lâm râm. Hai
bên bờ sông người ta xây kè xi măng với hàng chục
dây xích sắt để tín đồ níu lại, khỏi bị nước cuốn
trôi.
Con sông thiêng này xuất phát từ dãy Hy-mã, nó
có tới ba nguồn lớn, chúng chập nhau tại Devaprayag
và từ đó mới mang tên Hằng hà. Một nguồn chính của
Hằng hà xuất phát từ Gangotri, cao 6771 m. Từ đây
đến Devaprayag nhánh này mang tên Bhagirati vì ngày
nọ có một vị thánh nhân tên là Bhagirata khẩn cầu
con sông của thượng giới hãy hiện xuống cho cõi
trần. Vì thế mà có sông Hằng, và vì thế mà sông
thiêng liêng " bực dọc " phải rời thiên
giới.
Hằng hà chảy ra đến tận vịnh Bengale, xuyên qua
vùng thánh địa Bihar, nơi bao nhiêu thánh nhân ra
đời và hoạt động. Huyền Trang Tam Tạng đến sông
thăm sông Hằng khoảng năm 630, viết trong Đại Đường
Tây Vực ký: " Gần nguồn sông rộng khoảng ba
lý, đến cửa sông bề rộng khoảng mười lý. Nước sông
xanh đậm, màu nước luôn luôn thay đổi... Ai tắm
sông này người đó sẽ được rửa sạch mọi tội lỗi,
ai chết ở sông này sẽ được sinh về cõi trời "
. Về sau tôi đến Varanasi, đó là một thành phố phồn
vinh suốt hai ngàn năm qua, nơi có sông Hằng chảy
quạ Nơi đây sông Hằng hết " bực dọc "
, êm đềm hầu như nước không chảy, bề rộng rất lớn,
không biết đúng " mười lý " không. Nhưng
nơi đây tôi thấy cát, cát nhiều vô tận. Ôi, có phải
cát này cũng là cát mà Phật thấy cách đây hai ngàn
năm trăm năm không, để có từ " hằng hà sa số
" . Chắc đúng thế thôi, khoảnh thời gian đó
đối với con người là dài nhưng thấm vào đâu với
núi non đất cát. Hơn thế nữa thời gian hầu như ngừng
lại tại Ấn Độ, bên bờ Varanasi người ta vẫn đốt
xác, vẫn tắm gội, vẫn thả tro theo sông, vẫn ngồi
thiền định khi mặt trời vừa lên. Nơi đây chỉ cách
vườn Lộc Uyển chưa đầy chục cây số, chỗ Phật giảng
pháp lần đầu. Hỡi các hạt cát dưới chân ta, trong
các ngươi hạt nào có hân hạnh in dấu chân đức Thế
Tôn ?
Hy-mã lạp sơn không phải chỉ là nguồn của Yamuna
và Hằng hà, đó là nguồn của các con sông đầy uy
lực của châu Á. Từ vùng Ngân sơn xuất phát thêm
bốn con sông lớn nữa. Đó là Tsangpo hay Brahmaputra
chảy về hướng đông ra vịnh Bengale, nó được người
Tây Tạng mệnh danh là " chảy từ hàm ngựa "
. Nó chảy qua phía nam Lhasa, bọc quanh một đỉnh
núi tuyết cao hơn 7700 mét trước khi rời cao nguyên
để đi về biển. Phía tây Ngân sơn là chỗ xuất phát
của sông Sutlej, nó được xem từ " miệng voi
" . Sutley về sau hợp nhất với sông Indus,
một con sông mạnh mẽ chảy về biển Á-rập phía tây
Ấn Độ. Indus, được xem từ " miệng sư tử "
, cùng với Bramaputra là hai cánh tay khổng lồ ôm
bán đảo Ấn Độ. Phía nam Ngân sơn là chỗ xuất phát
của sông Karnali, mang tên từ " miệng chim
công " , nó chảy dài đến Patna, hợp nhất với
Hằng hà gần đó. Patna ngày xưa tên gọi là Hoa Thị
Thành, nơi Phật thường ghé thăm và nơi sinh của
hàng chục vị Tất địa của thế kỷ thứ tám thứ chín
sau công nguyên. Bốn con sông lớn đó với bốn linh
vật của các vị Thiền Phật là một lẽ mà tại sao Ngân
sơn được xem là một man- đa-la vĩ đại, là hiện thân
của núi Tu- di trong thế giới này.
Phía đông của cao nguyên Tây Tạng là chỗ xuất phát
của nhiều con sông lớn nữa, trong đó có Hoàng Hà,
Trường Giang và Cửu Long. Hoàng Hà và Trường Giang
là hai con sông trọng yếu nhất của Trung Quốc, dòng
chảy của chúng là quê hương của một nền văn hóa
thâm hậu nhất của loài người mà về sau tôi sẽ đi
thăm. Còn Cửu Long là nguồn sống của nhiều nước
miền Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Nếu lấy cao
nguyên Tây Tạng làm tâm điểm, vẽ một vòng tròn bán
kính chưa đến ngàn cây số thì vòng tròn đó bao gồm
tất cả nguồn cội của những con sông nói ở trên.
Chỉ điều đó thôi đã gây cho tôi một lòng kính sợ
đối với cao nguyên Tây Tạng, " nóc nhà của
thế giới " . Đúng, không phải là sự ngẫu nhiên
khi ánh sáng của minh triết loài người xuất phát
từ vùng đất lạ lùng này. Tôi đã đến Cửu Long giang
miền tây nam bộ và từng thấy con nước mãnh liệt
của nó. Nguồn của nó không phải tầm thường, dòng
sông đó là anh em với Hằng hà, Trường Giang, nó
mang khí lạnh của Hy-mã, sức sáng của tuyết trắng,
sự uy nghi của non cao, cái bí ẩn của các man- đa-la
vô hình. Nếu nó có bị Ô nhiễm thì cũng vì con người
bạc nghĩa, thế nhưng dù thế nó vẫn nhân hậu sống
theo người. Nó vẫn không hề mất tính thiêng liêng
của nguồn cội và vì tâm người ô nhiễm nên cảm nhận
chúng nhiễm ộ Về sau, tôi còn đến Hằng hà nhiều
lần trên bước lữ hành tại Ấn Độ cũng như sẽ có dịp
đi dọc Trường Giang qua những vùng linh địa của
Trung Quốc. Rồi lại có ngày tôi đã đến cao nguyên
Tây Tạng, đi dọc sông Tsangpo chảy từ hàm ngựa và
thở hít không khí loãng trên miền đất cao 4000m
trong man- đa-la vĩ đại của địa cầu. Một ngày nào
đó hy vọng tôi sẽ có dịp đến thượng nguồn Cửu Long,
sẽ thấy một màu nước xanh lục như màu nước Hằng
hà và sẽ nhớ về miền tây nam bộ của mình.
GIẤC MƠ CẨM THẠCH
Ấn Độ thật ra là một nước du lịch. Mặc dù đường
sá kém mở mang, điều kiện vệ sinh hạn chế nhưng
nhờ một nền văn minh lâu đời, một nền văn hóa thâm
hậu và những công trình kiến trúc xuất sắc mà Ấn
Độ hàng năm thu hút hàng triệu khách du lịch. Người
đến thăm Ấn Độ, nhất là khách Âu Mỹ phải chấp nhận
cái thực tế, đây là một thế giới hoàn toàn khác,
tự nó là một thế giới. Tôi chưa đến Calcutta nhưng
nhiều người cho hay, tới đó có nhiều khách phải
đâm sợ vì quá nhiều người sống chen chúc và vì sự
cách biệt giàu nghèo quá lớn. Có người cho rằng
muốn biết địa ngục hình dáng thế nào thì cứ đến
Calcutta.
Thế nhưng phần lớn khách du lịch không muốn biết
địa ngục, họ đi tìm những lăng tẩm cổ kính, những
cung điện huy hoàng, những thành quách vĩ đại của
vua chúa trong các thế kỷ trước. Ấn Độ của thời
quá khứ không hề thiếu vua chúa, đó là xứ sở của
các tiểu vương cai trị nhiều khi không quá "
vài vạn nóc nhà " , như cách đếm dân ngày xưa
hay nói. Vua chúa Ấn Độ cũng không hề dè sẻn trong
các công trình xây dựng, họ cần lâu đài cho mùa
hè và mùa đông, cho chính hậu và thứ phi, cho con
trai và con gái. Dân Ấn Độ thì đông và sẵn sàng
chịu đựng, cát đá thì nhiều và dễ khai thác, nhất
là loại cẩm thạch trắng. Nghệ nhân Ấn Độ khéo tay,
thông minh, ham tưởng tượng và sẵn sàng quên mình
cho các vị thần của Ấn độ giáo. Vì những lẽ đó mà
các công trình xây dựng của Ấn Độ Ở đâu cũng có,
ở đâu cũng là những kỳ quan, thu hút rất đông du
khách.
Trong các kỳ quan kiến trúc của Ấn Độ, hẳn Taj
Mahal phải là tiêu biểu và đáng chiêm ngưỡng nhất.
May thay Taj Mahal không xa Delhi bao nhiêu, khách
có thể theo tour du lịch trong vòng một ngày cả
đi lẫn về.
Đây là một kỳ quan diễm tuyệt của nghệ nhân Ấn
Độ của thế kỷ thứ 17. Ngôi đền được xây bằng cẩm
thạch trắng muốt, có một kiến trúc vừa trang nghiêm
vừa nhẹ nhàng, vừa uy nghi vừa nên thợ Nếu nghệ
thuật nói chung là sự vật chất hóa của những ý niệm,
biến ý niệm thành những gì thấy được như kiến trúc,
hội họa; nghe được như âm nhạc; đọc được như văn
chương thơ phú thì nghệ thuật xây dựng Taj Mahal
là sự kết hợp hoàn hảo của dạng hình và sắc màu,
của kiến trúc vĩ mô và lòng cẩn trọng chi lị Theo
lời kể lại thì ngày xưa nghệ nhân Ấn Độ hoàn thành
công trình này trong những điều kiện tâm lý rất
khe khắc và tàn bạo của chế độ phong kiến. Thế nhưng
ngắm nhìn công trình này người ta không thể nghĩ
gì khác hơn đây là sự hiến dâng quên mình trong
nghệ thuật tạo hình.
Taj Mahal là kết quả của một công trình hoàn hảo
của những con người không tên, thế nhưng nó được
xem là quà tặng của một nhà vua tên gọi là Shah
Jehan cho hoàng hậu của mình chẳng may mất sớm.
Shah Jahan là nhà vua thứ năm của triều đại Mogul,
mà người sáng lập là Babur, một tín đồ Hồi giáo.
Sau Babur thì nhà vua xuất sắc nhất của đời Mogul
là Akbar. Akbar là người thống nhất Ấn Độ từ vịnh
Á-rập phía tây đến vịnh Bengale phía đông, trị nước
từ 1556 đến 1605 và là nhà vua rất có công trong
nền văn hóa Ấn Độ. Shah Jehan là cháu của Akbar,
lên ngôi trong thời cực thịnh của đời Mogul. Thế
nhưng Shah Jehan rơi vào hai thứ đam mê, đó là các
công trình kiến trúc và sắc đẹp phụ nữ. Shah Jehan
có khoảng 5000 cung nữ mà người ông yêu quí nhất
là hoàng hậu Mumtaz Mahal. Bà hoàng này chẳng may
mất lúc mới 39 tuổi, sau khi sinh cho ông đứa con
thứ 14. Đời của Shah Jehan không còn gì vui thú
nữa, ông tự nói và suốt 35 năm sau khi Mumtaz Mahal
chết, ông dành hết thời giờ cho các công trình kiến
trúc.
Taj Mahal được xây dựng năm 1659 và 16 năm sau
mới hoàn thành, gồm toàn đá cẩm thạch trắng. Nơi
đây có 20.000 nghệ nhân, kể cả thợ khéo từ Pháp,
Ý, làm việc. Khoảng 1000 thớt voi được điều về đây
để chuyên chở hàng ngàn tấn đá. Đây là một công
trình mà thế giới cho là toàn hảo nhất trong kiến
trúc, trong chi tiết thi công và vật liệu xây dựng.
Hãy đến gần và nhìn ngắm hàng ngàn chi tiết trên
tường vách của điện. Đáng quí thay những đóa hoa
bằng đá tí hon với tất cả sự tinh xảo của bàn tay
con người. Tôi tưởng tượng hàng ngàn nghệ nhân miệt
mài trong cơn rét mùa đông của Bắc Ấn và nắng lửa
của những ngày hè có khi lên đến gần 50 độ C. Những
nghệ nhân khuyết danh đó thật ra đã làm một điều
mà Thiền tông hay nói, họ đã hòa làm một với tác
phẩm chính mình.
Ngày nay Taj Mahal tại Agra là chỗ không thể thiếu
cho mọi ai có dịp đến Ấn Độ, mỗi năm đền tiếp khoảng
2,5 triệu khách du lịch. Số lượng người to lớn đó
vô tình đã làm đền hư hại không ít. Chỉ hơi thở
của khách đã tạo nên một độ ẩm trong đền cao tới
mức có khả năng làm rỉ sét các khung sắt giữ mặt
đá cẩm thạch. Các nhân tố môi trường khác như hóa
chất và khí thải cũng để lại những vết tích nặng
nề. Ngày nay xung quanh Taj Mahal trong bán kính
100km không có nhà máy phát điện hay cơ xưởng cơ
khí và hóa chất nào được xây dựng. Nhờ những biện
pháp đó mà ngày nay đền vẫn còn giữ được vẻ đẹp
vô song, đá cẩm thạch vẫn còn trắng tinh khiết.
Tôi đã đến Taj Mahal hai lần để ngắm tác phẩm kiến
trúc dành cho tình yêu vĩnh cửu này, nhưng tiếc
thay không có lần nào vào ban đêm có trăng. Người
ta cho rằng phải thấy Taj Mahal dưới ánh trăng,
lúc đó ngôi đền cẩm thạch trắng này sẽ toát ra một
ánh sáng kỳ ảo. Trên đường xe bus về lại khách sạn
buổi tối tôi ngồi cạnh một thương nhân người Mỹ.
Khuya nay phải lên đường đi châu Âu, ông tận dụng
ngày rảnh hiếm hoi hôm nay để thăm đền thờ này.
Thấy ông lên đường về nước, tôi bỗng nhận ra mình
không còn ham thích lên máy bay về Đức như những
ngày đầu nữa, nước Ấn Độ đang hé mở cho tôi nhiều
điều kỳ diệu.
Tôi không thiếu những ngày rảnh rỗi tại Delhi vì
phải lưu lại dài ngày nơi đó, công việc đã đi vào
giai đoạn triển khai công trình. Ngày nọ tôi bỗng
nhớ tại sao mình không tìm xem các di tích Phật
giáo tại Ấn Độ và hỏi một bạn đồng nghiệp có kinh
nghiệm lâu năm tại đây xem sao, người đó nhìn tôi
nói: " Phật giáo đâu còn gì tại đây nữa, nếu
rảnh thì đi xem Red Fort đi " . Tôi không tin
và xem lại các tour du lịch quảng cáo trong khách
sạn, quả nhiên không thấy ai nhắc đến Phật giáo
cả.
Phật giáo xuất phát từ Ấn Độ sao nay suy tàn, đó
là điều không thể, tôi vẫn không tin là đúng. Ngày
trước Huyền Trang qua Ấn Độ thỉnh kinh và ngày nay
tôi vẫn nghe các tu sĩ Việt Nam qua Ấn Độ học triết
học Phật giáo mà. Nghĩ thế nhưng tôi không biết
làm gì hơn là đi xem Red Fort.
Red Fort chính là kinh thành do Shah Jahan xây
dựng năm 1638. Đó là một tổng thể một thành quách
đồ sộ có diện tích khoảng nửa cây số vuông dựng
lên bằng đá ong đỏ nằm ngay giữa Delhị Tôi nhớ màu
đỏ tía Tử Cấm Thành của Bắc Kinh. Đời Shah Jahan
tại Ấn Độ chính là triều nhà Minh cũng với những
công trình xây dựng đồ sộ tại Trung Quốc. Red Fort
có qui mô không thua kém gì Tử Cấm Thành nhưng nếu
Tử Cấm Thành là qui mô của triều đình có nhiều cung
điện nằm rời nhau thì Red Fort là hành dinh có tính
chất quân sự nên có kiến trúc như một thành quách
với vô số ngõ ngách thông thương lẫn nhau.
Thế nhưng, phía sau những bức tường thành vĩ đại
đó đã diễn ra những âm mưu và tội lỗi, kể cả trong
một xứ sùng tín như Ấn Độ. Shah Jahan để lại cho
đời sau những kiến trúc tầm cỡ nhưng ông bị chính
con trai của mình là Aurangzeb cầm tù đoạt ngôi.
Trong tám năm cuối đời ông bị con mình giam ở Agra,
cũng trong một thành quách to lớn. May thay ông
còn diễm phúc được ngày ngày ngắm nhìn Taj Mahal
từ cung điện tù ngục của mình Trong truyền thống
vua chúa Ấn Độ ta thấy lịch sử lặp đi lặp lại nhiều
lần chuyện con giết cha giành ngôi.
Chuyện con ám ngại cha đoạt ngôi vàng được nhiều
biết nhất là Tần-bà-sa-la, nhà vua trị vì nước Ma-kiệt-
đà trong thời Phật tại thế. Ông và hoàng hậu về
sau bị con trai là A-xà-thế cầm tù bỏ đói đến chết.
Tần-bà-sa-la là người theo Phật, ông tôn trọng Ngài
đến nỗi khi lên núi Linh Thứu thăm Phật, ông luôn
luôn xuống xe đi bộ. Tôi đã từng đến cung điện mà
ngày xưa nghe nói Tần-bà-sa-la bị giam ở đây, ngày
nay chỉ còn nền đá. Nơi đây tôi thấy vài vòng sắt
còn sót lại, người ta cho rằng đó là còng sắt cùm
chân nhà vua ngày trước. Tôi không tin lắm vì thật
như thế thì đã có kẻ sớm đánh cắp lưu vật mấy ngàn
năm này nằm giữa một sườn núi trơ trọi, không ai
canh giữ. Nhưng hề gì chuyện đó đúng hay sai, ai
cũng đã chết, vấn đề là mỗi người để lại những gì
cho hậu thế. Ngày nay người ta còn nhắc đến Tần-bà-sa-la
khi đi thăm vườn tre Trúc Lâm, quà tặng của ông
cúng dường Phật. Cả A-xà-thế cũng còn được tôn trọng
vì về sau, người con phạm tội ngũ nghịch đó đã tỉnh
ngộ và phụng sự Phật pháp. Ông chính là người xây
dựng thuyết đường cho hội nghị kết tập lần thứ nhất
sau khi Phật diệt độ.
Tội lỗi là điều không thể tránh khỏi của cuộc đời
làm người. Nhà thơ lớn Goethe của Đức đã từng nói:
" Đời tôi chưa gặp ai mà tội lỗi của họ tôi
không thể làm " . Khiêm tốn biết bao và cũng
thẳng thắn biết bao ! Con người sinh ra hình như
có một xu hướng nhất định sẽ làm những điều này
điều nọ, xấu tốt đều có. Nó phải tuân thủ những
xu hướng đó và cơ may của nó là qua những hành động
hay dở của mình mà ngộ ra vài điều cho đời mình.
Vì nếu không thông qua tội lỗi để hiểu ngộ một cách
thâm sâu cái thiện mỹ đích thực xuất phát từ trái
tim mình thì cuộc đời xem ra không có ý nghĩa gì.
Né tránh tội lỗi, tập làm thiên thần, đó là điều
đạo lý nên làm, nhưng cũng dễ là bước đường đi vào
trong bóng tối của ngu muội và ngã ái. Đó là sự
sai lầm chia thế giới làm hai phạm trù tốt xấu,
đúng sai, xem sự vật như một hình ảnh đen trắng
mà không biết rằng cuộc đời vốn đầy màu sắc và thiện
ác là một điều hết sức tương đối và thường có nguồn
gốc rất sâu xa.
Có những hành động cực ác nhưng nó phải xảy ra
để ăn khớp với một mắc xích nào đó của sự vật, để
một biến cố khác xuất hiện. Muốn hiểu những điều
đó phải có một tầm nhìn, thấy được những nguyên
nhân nằm trong quá khứ xa xôi mà ngày nay nó mới
bắt đầu trổ quả. Con người chúng ta chỉ có tầm nhìn
của một kiếp người, thậm chí đầu óc không nhớ quá
mười năm quá khứ, thế nhưng vẫn ngã mạn dám lên
án và đánh giá, tưởng mình là kẻ thấu hiểu mọi vật.
Muốn hiểu đích thực sự vật phải hiểu giềng mối của
nó mà chỉ có thánh nhân thấy tác động của nghiệp
lực qua nhiều đời nhiều kiếp mới đủ khả năng phán
đoán. Phật là một người như thế và cũng chính vì
thế mà Ngài lại là người không lên án ai cả và chỉ
có một nụ cười bí ẩn. Thời A-xà-thế hãm hại cha
mình là lúc Ngài còn tại thế nhưng Ngài đâu ra tay
giải cứu. Học trò Ngài là Xá-lợi-phất và Mục- kiền-liên
bị ám sát thảm khốc nhưng Ngài không can thiệp.
Con trai Ngài là La-hầu-la chết rất sớm nhưng Ngài
vẫn tự nhiên.
Chỉ có những thánh nhân như Phật mới thấy rõ dòng
chảy của nghiệp và vì vậy Ngài không xen vào hành
động của A-xà-thế. Người ta biết A-xà-thế phạm tội
giết cha nhưng ít người biết chuyện ông là hậu thân
của một vị đạo sĩ. Ngày trước, vua cha là Tần-bà-sa-la
nghe tiên tri rằng mình sắp có con trai nên cho
người đi tìm một vị thánh nhân đạo cao đức trọng,
bức tử vị đó để mong thần thức người đó thác sanh
làm con mình. Tùy tùng của vua chọn ra vị đạo sĩ
nọ, nhưng vị này chạy trốn, hóa thành con thỏ. Tần-bà-sa-la
cho bắt con thỏ treo ngược, bỏ đói đến chết. Thỏ
đầu thai làm con trai của Tần-bà-sa-la là A-xà-thế.
Cuối cùng A-xà-thế treo ngược bỏ đói vua cha, đúng
như nghiệp ác đã gây nên. Ta cũng biết thêm bà hoàng
hậu Vi- đề-hi, vợ của Tần-bà-sa-la quá chán ngán
cuộc đời làm người với hành động thảm khốc của con
mình nên cầu xin Phật dạy cách thác sinh vào một
nơi " thanh tịnh " . Nghe lời khẩn cầu
của bà, Phật mới giảng kinh A- di- đà và thuyết
về cõi tịnh độ. Từ đó ta có thể nói Tịnh Độ tông
bắt nguồn từ những hành động ngỗ nghịch của A-xà-thế.
ĐỀN BIRLA
Tôi vẫn không nghĩ là thủ đô Delhi mà lại không
có đền tháp Phật giáo nào. Ngày nọ nghe nói phía
tây thành phố có đền Birla là nơi thờ Phật, tôi
vội lên xe ba bánh đi xem thử. Ở Ấn Độ cũng có xe
" túc-túc " như của Thái Lan, xe đưa tôi
đến một ngôi đền đồ sộ cách quãng trường Connaught
chừng hai cây số, đó là đền Lakshmi-Narayan. Đền
này do một gia tộc phú thương tên Birla xây năm
1938 nên thường mang tên đền Birlạ Birla và Tata
là hai gia tộc rất giàu có và thế lực của Ấn Độ
từ cả trăm năm nay, chuyên buôn bán vải vóc tơ lụa.
Tại chân đền, ấn tượng đầu tiên làm tôi thú vị
là hàng ngàn giày dép của khách thập phương ngổn
ngang nằm dưới chân bậc cấp. Họ phải cởi giày dép
khi vào đền, đó là điều bình thường, nhưng sao không
ai sợ bị mất cắp trong một xứ nghèo như Ấn Độ. Hiển
nhiên là tại đây cũng có đạo chích như mọi nơi trên
thế giới nhưng xem ra những tay làm ăn bất thiện
cũng biết sợ thánh thần. Đền Birla có thêm điều
đặc biệt, đó là giày dép của người nước ngoài được
giữ riêng và khuôn mặt của tôi xem ra không giống
người bản xứ nên ban bảo vệ đưa tôi vào phòng đặc
biệt, nhã nhặn yêu cầu cởi giày và tôi được đi chân
trần trên đá cẩm thạch mát lạnh. Nhìn những bậc
cấp bằng đá phần lớn bị mòn ở giữa, tôi mới hay
đây là một chỗ hàng ngàn hàng vạn người đến chiêm
bái.
Nhưng ở đây đâu có thờ Phật, đó là cảm nhận đầu
tiên của tôi. Ngược lại phần lớn các tượng đều trình
bày một vị nữ thần tươi cười, có sắc đẹp hấp dẫn,
thân hình tròn trịa. Thế nhưng đi quanh trong đền
chính, tôi nhận ra các bức bích họa trên tường cũng
có trình bày lịch sử đức Phật cũng như sự tích tiền
thân của Ngài. Đây rõ là một đền thờ Ấn Độ giáo
vì bức tượng quan trọng nhất là tượng thần Krishna
với bốn khuôn mặt nhìn ra bốn phía. Nhưng tại sao
đền này lại mang tên Lakshmi, lại nhắc đến Phật
Thích-ca, lại có một cái chuông đồng rất lớn đúc
theo kiểu Phật giáo Trung Quốc? Tôi đang lạc giữa
một rừng người đang thì thầm khấn vái, áo quần tươi
đẹp. Cũng may là ngôi đền bốn phía thông gió nên
khách hành hương không bị ngộp mùi hương khói, nhờ
thế ta có thể ở lâu nhìn ngắm. Đây là lần đầu tiên
tôi tiếp xúc với Ấn Độ giáo và đặc trưng của tôn
giáo này là thờ phụng vô số thần thánh mà Lakshmi
là một vị nữ thần.
Lakshmi là vị thần tượng trưng cho sắc đẹp và hạnh
phúc. Bà là vợ của thần sáng tạo Vishnu, mẹ của
thần Kama mà Kama thì chủ tình yêu và nhục cảm.
Theo truyền thuyết, bà sinh ra từ sóng, khi biển
cả bị A-tu-la phá phách, có sắc đẹp kiều diễm, tay
cầm hoa sen. Lakshmi cũng là thần của giàu sang
hạnh phúc nên được người Ấn Độ hay khẩn cầu. Vì
thế tượng của Lakshmi diễn tả một phụ nữ sang trọng
diễm lệ và cận nhân tình. Có lẽ đó chính là lý do
tại sao đền Birla lúc nào cũng đông như ngày hội.
Khách hành hương thăm đền Birla xem ra không mấy
ai để ý đến các bích họa nói về đạo Phật. Đối với
tín đồ Ấn Độ giáo, Phật Thích-ca chỉ là một dạng
tái sinh của thần Vishnụ Nhà thương nhân Birla chủ
trương đưa mọi thần thánh vào đền để ai cũng được
thờ cúng và khách hành hương muốn cầu khẩn đến ai
cũng được.
Những điều vừa nói nghe qua rất tầm thường nhưng
đó là điều ta cần biết khi đến Ấn Độ và khi muốn
tìm hiểu về Ấn Độ giáo. Ấn Độ là một xã hội của
tôn giáo, khắp nơi đều mang những dấu ấn khác nhau
của tôn giáo. Thủ Tướng đầu tiên của Ấn Độ là Jawaharlal
Nehru đã từng nói: " Ấn Độ là nhà thương điên,
là viện tâm thần của các tôn giáo " , ông không
nói đùa hẳn và dĩ nhiên cũng không hề khinh miệt.
Đó là nơi mà các truyền thống tôn giáo tồn tại song
hành với nhau, trong đó Ấn Độ giáo chiếm vị trí
then chốt. Ấn Độ giáo khác hẳn các tôn giáo lớn
trên thế giới ở chỗ nó không có một giáo chủ, một
vị sáng lập mà đây là một hệ thống triết lý đồ sộ
thành hình qua nhiều ngàn năm. Trong nền tôn giáo
này ta có thể tìm thấy các vị thánh nhân minh triết
nhất của nhân loại cũng như những niềm tin non nớt
nhất của con người. Thế nhưng điều then chốt chung
của Ấn Độ giáo là họ tin nơi một thể tính siêu việt
nằm trên mọi hình tướng, thể tính đó là nguồn gốc
của mọi hiện tượng, là thể đích thực của mọi dạng
thánh thần. Vì những lẽ đó mà mọi thánh thần không
hề làm tín đồ Ấn Độ giáo lạc lối, không ai cạnh
tranh chướng ngại với ai, tất cả đều là thể hiện
của thể tính đó, tất cả đều qui về một mối.
Nhiều nhà Phật học phương Tây coi đạo Phật là một
phát biểu mới của Ấn Độ giáo, xếp đức Phật là "
nhà phê phán "hay " người cải cách "
của tôn giáo này. Để truyền bá giáo pháp của mình,
đức Phật là người lấy lại nhiều khái niệm của Ấn
Độ giáo như nghiệp lực, sự tái sinh, vô minh, nhưng
đồng thời Ngài trình bày những nội dung mới về vô
ngã, về tính Không, về trung đạo. Do đó mà cách
xếp loại coi Phật giáo là một " nhánh "
của Ấn Độ giáo có thể đúng về mặt phân tích nhưng
theo tôi, điều quan trọng là hiểu được ý nghĩa của
sự xuất hiện các thánh nhân trên trái đất, hiểu
thông điệp của các vị đó cho con người.
Đối với tín đồ Ấn Độ giáo, Phật Thích-ca là một
dạng của thần Vishnu, mọi thánh nhân trong mọi thời
đại có lẽ đối với họ cũng thế thôi. Đối với Ấn Độ
giáo, Brahman là thực thể cuối cùng vũ trụ, là cái
mà Phật giáo gọi là Pháp thân, Lão giáo gọi là Đạo.
Phật hay các thánh nhân xưa nay là hiện thân của
thể tính sáng láng, diệu dụng và cũng rất từ bi
đó, các vị là những ứng hóa thân xuất hiện làm đạo
sư cho trời và người. Các vị thầy đó sinh ra thời
nào thì phải mang y phục, phải nói ngôn ngữ, phải
theo phong tục của người đương thời, họ phải làm
sao cho người đời hiểu mình mới có thể giáo hóa.
Các vị đó có thể là vua chúa như Phật Thích-ca,
là người chịu cực hình như Chúa Jesus, là nhà du
ca như Milarepạ Ngày nay các vị đó cũng có thể đang
xuất hiện dưới dạng của nhà khoa học, người nghệ
sĩ, kẻ điên khùng... , họ không nhất thiết phải
cạo đầu, phải mặc áo quần tu sĩ và không cần người
đời biết đến. Chỉ " Phật mới nhận ra Phật,
bồ-tát mới nhận ra bồ-tát ". Sai lầm thay khi
ta dựa vào con người - dù đó là những vị giáo chủ
- mà tranh chấp hơn thua, bỏ quên nội dung giáo
lý. Đức Phật đã dạy từ hơn hai mươi lăm thế kỷ trước
trong " bốn y cứ ", là " y pháp bất
y nhân ", hãy lấy nội dung giáo lý làm chuẩn.
Và giáo lý Ấn Độ giáo, cũng như Phật giáo, cũng
như mọi nền minh triết của châu Á đều tin rằng,
thế giới này là dạng xuất hiện của một thực thể
khác mà tự tính của nó là nhất như, siêu việt trên
tất cả mọi dạng hiện tượng và tư duy.
Được đi chân trần trên đá cẩm thạch mát lạnh, tôi
thấy mình đã quên công việc thương nhân đầy phiền
toái, lòng tôi đầy cảm hứng tâm linh. Trên đường
ra đền, nữ thần Lakshmi nhìn tôi tươi cười, hình
như bà chúc tôi giàu sang hạnh phúc. Đi xuống bậc
cấp đầy giày dép, tôi bị khói xăng của xe "
túc túc " kéo về thực tại. Thế nhưng tôi chưa
lên xe vội vì cạnh đền Birla có một ngôi đền nhỏ,
nó đột nhiên kích thích sự chú ý của tôi. Tôi muốn
vào xem.
Thì ra đó là một ngôi đền Phật giáo không ai lui
tới và xem ra tôi là khách duy nhất vào thăm đền
hôm đó. Tôi nghĩ không sai, Phật giáo chưa hoàn
toàn diệt vong trên đất Ấn. Tôi dè dặt đi vào giữa
hai hàng cây nhỏ như cây trà của tạ Trong đền, giữa
một tòa nhà nhỏ hình vuông bốn bề mở cửa, một bức
tượng Thích-ca bằng đồng đen ngồi yên lặng mỉm cười
trong ánh nến mờ, ngoài kia là tiếng huyên náo của
tín đồ đang cầu giàu sang và nhan sắc. Tôi thấy
lòng tĩnh lặng, xung quanh tôi là những bức bích
họa về cuộc đời đức Phật mà nội dung tôi đã biết
quạ Chỉ cách đền Birla mấy bước mà tôi như đi qua
một thế giới khác, nơi đây tôi tự động nhớ rằng
không có gì bấp bênh và chóng phai nhạt hơn tiền
bạc và sắc đẹp. Tôi ngắm tượng Phật, Ngài mỉm cười
bí ẩn, hình như Ngài nhìn vào bên trong để thấy
bên ngoài và vì thế nhìn cuộc đời một cách hóm hỉnh.
Vị trụ trì chùa tiếp tôi, vui mừng biết tôi là người
Việt Nam, ông đã gặp các tu sĩ người Việt đi từ
miền Nam gần 30 năm trước. Biết tôi là thương nhân
xem ra ông ngạc nhiên sao không thấy tôi khẩn cầu
vị nữ thần của phú quí bên kia đền mà lại đến đây
thắp một nén hương trước tượng đồng đen. Có lẽ vì
thế mà ông quí tôi, tặng nhiều sách vở và giới thiệu
với các vị tu sĩ trẻ tuổi người Nepal đang học tập
trong đền. Hồi đó tôi không hề ngờ là gần mười năm
sau mình sẽ đi Nepal thăm quê hương đức Thích-ca.
XEM
TIẾP:Phần
2


Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|