về cái tôi trữ t́nh
trong thơ từ của Lư Bạch và Tô Đông Pha

Nguyễn Thu Phương

 

 

«Văn như kỳ nhân» (văn giống như người viết ra văn) là mệnh đề có tính định luật đầu tiên, khẳng định sự có mặt của con người trong văn học cổ điển Trung Quốc đă được Lưu Hiệp nhà lư luận phê b́nh văn học lớn nhất thời Lục Triều đưa ra cách đây gần 1500 năm. Từ lư luận sơ khai đến thực tiễn sáng tác thơ ca cổ điển Trung Quốc đă chứng tỏ sức sống bền bỉ và mănh liệt của một con người với những tiềm năng tối đa «được thể hiện qua các mặt mệnh, t́nh, tài, thân, phú quư...» [1] luôn gắn chặt với cuộc đời tác giả, để khắc hoạ thế giới nội tâm, cái tôi trữ t́nh và phong cách nghệ thuật riêng của họ. Với cách quan niệm như trên, chúng ta có thể t́m hiểu một vài khía cạnh về chân dung con người trong thơ ca cổ điển Trung Quốc thông qua cái Tôi trữ t́nh được thể hiện trong thơ từ của thi tiên Lư Bạch và cư sĩ Đông Pha.

 

Sở dĩ chúng tôi chọn Lư Bạch (701-762) và Tô Đông Pha (1037-1101) làm đối tượng nghiên cứu, v́ dù cả hai đều đại diện cho hai thời kỳ đỉnh cao của thơ ca Trung Quốc một Đường thi, một Tống từ – song họ lại cùng gặp nhau tại một điểm là đă xác lập được phong cách nghệ thuật vững vàng trên cơ sở sáng tạo tương đối hoàn thiện h́nh tượng cái Tôi - cá nhân, cá tính đến mức không ai có thể lặp lại.[2]

 

Sinh thời Lư Bạch thường ví ḿnh là «một vị tiên bị đi đày» (trích tiên), nhưng thơ ông lại «cuồng phóng» như không hề biết đến mọi ṿng cương toả, c̣n khi Tô Đông Pha tự nhận «ta là kẻ sơ cuồng» th́ người đời vẫn thấy trong sáng tác của ông bóng dáng «Tô tiên lăo» ung dung phóng túng đi về giữa đời thực và trăng sao. Có thể nói, ở tác phẩm của hai người đều có mặt của cái Tôi hào mại, phóng túng nhưng lại thể hiện ở những cấp độ khác nhau.

 

Đối với Lư Bạch, đó là một cái Tôi cụ thể, có tên tuổi như ông từng xưng danh trong «Đồng quan sơn tuư hậu tuyệt cú». Sự có mặt của con người Lư Bạch hữu h́nh đă khiến cho tác phẩm của ông vượt thoát ra ngoài khuynh hướng siêu h́nh hoá cái Tôi đang thịnh hành trên thi đàn đương đại. Không chỉ khẳng định sự hiện hữu của bản thân, thơ Lư Bạch c̣n kỳ vĩ hoá cái Tôi trong tư thế ngang hàng với trời đất:

Thác bản
Phong Lạc Đ́nh Kư
thư pháp Tô Đông Pha



Lư Bạch
(tranh của Lương Khải
đời Nam Tống)

Xanh mờ thăm thẳm chẳng thấy đáy,

ánh trời, ánh trăng ngấn bạc vàng.

Mặc áo giáng hề cưỡi ngựa gió,

Thần trong mây bời bời bay xuống đó.

Hổ đánh đàn hề, loan cưỡi xe,

Người tiên đồng hề đông gớm ghê.

  (Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt)

 

Rơ ràng với tầm vóc và sự phóng túng bay bổng như vậy, cái Tôi Lư Bạch đă tự chủ, tự tin hơn nhiều dáng vẻ cô độc nhỏ nhoi của Trần Tử Ngang khi mất hút giữa giao điểm không gian - thời gian để «ngẫm trời đất thật vô cùng, Riêng ḷng đau mà lệ chảy» (Đăng U châu đài ca).

 

Lư Bạch bước vào đời bằng cái Tôi kỳ vĩ, nên mọi nỗi niềm, mọi lư tưởng của cái Tôi ấy dù rất riêng tư, nhưng dường như cũng đủ sức khuấy động thời đại:

 

Qua sông thề với nước,

Chí muốn yên cơi bờ.

Tuốt kiếm chặt ngang cột,

Hát buồn dạ ngẩn ngơ!

  (Nam bôn thư hoài

 

Lư Bạch yêu trời đất, trăng sao, sông núi, yêu đến mức có thể đem cả Hoàng Hà vạn dặm vào cơi ḷng ḿnh:

 

Sông Hoàng Hà lưng trời tuôn nước

Xuống biển rồi có ngược lên đâu.

  (Tương tiến tửu) Trần Trọng Kim dịch

 

để ḍng sông hoá thân thành khát vọng tự do, và hoài băo bứt phá mọi rào cản:

 

Sông Hoàng Hà chảy vỡ núi Côn Lôn

Thét gào muôn dặm húc Long môn.

  (Công vô độ hà)

 

Thích xê dịch, thích làm bạn với núi rộng, sông dài, trời cao, mây trắng song cái Tôi Lư Bạch, trước hết vẫn sinh ra từ đời thực. Cho nên, tỉnh mộng là gặp đời, cái Tôi ấy chỉ sau phút «Bỗng bàng hoàng làm phách động, Hoảng vùng dậy than dài» (Mộng Thiên Mụ ngâm lưu biệt) đă cất cao giọng khinh miệt bọn quyền quư «Dễ đâu cúi găy lưng phụng quyền quư» và day dưt khôn nguôi trước cái chết vô tội của dân đen:

 

Xương trắng chất thành núi

Người dân có tội ǵ?

 

Trong sự đối mặt với đời Lư Bạch nhận ra rằng sự tự do tuyệt đối chỉ có được trong thế giới mộng thần tiên, nên Lư Bạch sầu, đó là cái sầu của con người phóng khoáng, cuồng trong men say, cuộn trong nước chảy:

 

Muốn đến trời xanh xem vầng nguyệt

Giơ dao chém nước, nước càng chảy mạnh

Nâng chén tiêu sầu, sầu chẳng vơi.

  (Tuyên Châu Tạ Diễu lâu tiễn biệt hiệu thư thúc Vân)

 

Muốn thoát ra khỏi nỗi sầu nhân thế, Lư Bạch t́m đến rượu, để say rồi mộng:

 

Ba trăm sáu chục ngày trời

Ngày ngày say khướt như đời con nê.

  (Tặng nội) Tản Đà dịch

 

v́ khi mộng ông sẽ t́m lại được sự tự do theo ư muốn của chính ḿnh: 

 

Vui cho đẫy khi ta đắc ư

Dưới vầng trăng đừng để chén không.

 (Tương tiến tửu)

 

Và cứ thế Lư Bạch ngược xuôi trong thế giới thần tiên:

 

Cuối năm nếu muốn sang chơi

Cưỡi con rồng trắng giữa trời thẳm xanh.

  (Tiễn sơn nhân họ Dương về núi Tung) Nguyễn Hữu Hồng dịch

 

ông sống nhiều cùng trăng sao hơn là gắn bó với trần thế:

 

Trăng ra khỏi núi thiên sơn

Bể mây bát ngát trăng vờn chơi vơi

Gió tung bay vạn dặm dài,

Thổi vào tận chốn ở ngoài Ngọc môn

  (Quan sơn nguyệt)

 

Có thể nói dưới ng̣i bút Lư Bạch, cái Tôi được miêu tả đầy cá tính, ngang tàng, phóng túng, không ngượng ngùng, không sợ hăi, dù yêu hay ghét, đều đi đến tận cùng. Chính v́ thế, nó được coi là «cái Tôi cuồng phóng», và Lư Dương Băng người cháu họ sống cùng thời Lư Bạch đă phải kinh ngạc mà thốt lên rằng: «Đơn độc ngh́n năm duy chỉ ông» (Thiên tải độc bộ, duy công nhất nhân. [Thảo đường thi tập]).

 

Nhưng Lư Dương Băng không ngờ được rằng ba trăm năm sau, trên thi đàn Bắc Tống lại xuất hiện một «Tô tiên lăo» phảng phất vị trích tiên ngày nào trong khát vọng tự do tiên thế:

 

Ta muốn bay lên theo gió

Múa nhảy đùa vui cùng bóng nguyệt.

  (Thuỷ điệu ca đầu - Minh nguyệt kỷ thời hữu)

Thu Phương dịch

 

trong tinh yêu đằm thắm với thiên nhiên:

 

Gió xuân biết lăo sắp lên đèo

Thổi bạt đầu hiên giọt nước gieo

Đỉnh núi làn mây h́nh mũ chụp

Đầu cành vầng nguyệt mảnh trăng treo.

  (Tân thành đạo trung - bài 1) Nguyễn Văn Tư dịch

 


Tượng Tô Đông Pha ở Hàng Châu
(ảnh do Thu Phưong chụp)

trong những «canh sầu» (Thuỷ điệu ca đầu - Minh nguyệt kỷ thời hữu), trong những giấc mộng ngao du tiên cảnh, để «Múa nhảy đùa vui cùng bóng nguyệt» (Thuỷ điệu ca đầu - Minh nguyệt kỷ thời hữu), và «say ḿnh trong cỏ thoảng hương» (Giang hồng nguyệt); trong dáng vẻ ngất ngưởng men say trên mặt đất mênh mang «Nâng chén hỏi trời xanh» (Thuỷ điệu ca đầu - Minh nguyệt kỷ thời hữu), để giăi bày chí anh hùng cùng «Nhân vật phong lưu thiên cổ» (Niệm nô kiều - Xích Bích hoài cổ); trong tư thế ngạo mạn giữa đất trời để khẳng định sự tồn tại vững bền của ḿnh với ḍng chảy thời gian:

 

Măi cùng trời xanh kia khó già nua

Cuối cùng th́ việc ǵ phải ngưỡng mộ nhân gian

Nhân gian ngày dài tựa năm.

  (Bồ tát man - Phong hồi tiền ngự vân khai phiến)

Phạm Bá dịch


Tượng Tô Đông Pha
(cận ảnh)
tại Hàng Châu

Cái Tôi ấy có quyền kiêu hănh, bởi cũng như Lư Bạch, nó là cái Tôi tài hoa sung măn, chứa đựng một thế giới nội tâm phong phú. Trong thế giới đó, nó «cuồng phóng» chẳng kém ǵ Lư Bạch khi bày tỏ hết ḿnh đủ mọi thứ t́nh, từ t́nh yêu chính đáng: t́nh yêu thiên nhiên, yêu nước, yêu cha mẹ, vợ con, anh em, bạn bè, t́nh hoài cổ, t́nh cố hương, t́nh ly biệt,... đến thứ t́nh vụng trộm như trăng gió thoảng qua nơi tửu điếm. V́ hào phóng và chan chứa, v́ bay bổng và trữ t́nh nên cái Tôi của Tô Đông Pha gợi lại h́nh ảnh Lư Bạch một thời đă qua, và h́nh ảnh ấy quả thực vô cùng quyến rũ. Nhưng ở những góc độ sâu hơn, cái Tôi ấy lại chinh phục hoàn toàn người đọc bởi một vẻ đẹp mang đậm dấu ấn riêng biệt của con người Tô Đông Pha.

 

Qua quá tŕnh khảo sát thơ từ Tô Đông Pha, chúng tôi nhận thấy không chỉ có sự xuất hiện của một cái Tôi mang đặc điểm hào phóng mà đó c̣n là một nhân cách mang nhiều sắc diện. Nhân cách ấy, trước hết có một tư duy biện chứng và có phần hiện đại:

 

Ngang trông thành dải, nghiêng nh́n thành đỉnh

Cao thấp gần xa thảy khác nhau

Chẳng rơ Lư sơn đâu mặt thật

Bởi thân đứng ở chính ḷng núi.

  (Đề Tây Lâm bích) Thu Phương dịch

 

Nh́n nhận sự vật ở các góc độ khác nhau, nên khi trực tiếp bày tỏ cái Tôi công dân trong cương vị một viên quan :

 

Nhà ta ở tận đầu sông

Nghề quan đưa đến biển Đông sóng dồn.

  (Du Kim sơn tự) Thu Phương dịch

 

bao giờ Tô Đông Pha cũng có thái độ hết sức khách quan, ông lo cho dân bằng cái lo rất thực:

 

Trời mà mưa châu

Kẻ lạnh làm áo được đâu!

Trời mà mưa ngọc,

Kẻ đói làm sao có thóc.

   (Hỷ vũ đ́nh kư) Phong Lê dịch.

 

Nhưng để có được miếng cơm manh áo cho dân, Tô Đông Pha thừa hiểu phải «Mong vua như Nghiêu Thuấn» (Tẩm viên xuân - Phó Mật Châu), song ông cũng tự xác định được rằng: «Làm thế khó biết bao» (Tẩm viên xuân - Phó Mật Châu), v́ hiện thực nhăn tiền đầy bất công:

 

Mười dặm một trạm chạy trong bụi,

Năm dặm một cḥi lính giục vội.

Ngă hang, sa hố, chết chồng nhau,

Để cho vải quư được mang tới.

Như cắt qua khơi, khe vượt núi,

Lá mượt cành tươi tuồng mới hái,

Người đẹp trong cung một tiếng cười,

Ngh́n năm máu bụi c̣n tung măi.

  (Lệ chi thán) Hoàng Tạo dịch

 

và v́ cả cuộc đời con người hết ḷng v́ dân v́ nước như ông kết cục lại cũng chỉ là một chuỗi dài năm tháng thăng giáng, đày ải liên miên.

 

Nh́n đời thấu triệt, hiểu quy luật cuộc sống nên Tô Đông Pha luôn t́m cho ḿnh một cách ứng xử b́nh thản, dù đó là vấn đề xuất xử hành tàng vốn được coi là điểm nóng trong đời sống kẻ sỹ dưới thời phong kiến:


Tô Đông Pha

Dùng bỏ theo thời

Hành tàng tại ta

ống tay áo làm quan sao ngăn nổi ta xử sự theo

                                                                     kiểu nhàn nhân.

  (Tẩm viên xuân - Phó Mật Châu) Phạm Bá dịch

 

hay là khi rơi vào cảnh ngộ bi đát nhất:

 

Về đi thôi

Ta về nơi đâu?

Quê nhà ngàn dặm Mân Nga

Quá nửa đời người

Ngày sau không muôn khổ

Ngồi thấy Hoàng Châu năm nhuận năm.

.....

Cứ vậy mà đi sao?

Cuộc đời bao việc

Qua lại tựa thoi đưa

Đợi khi nhàn xem gió thu lay lắt

Nước trôi xanh sóng vỗ băi bờ

Trước nhà liễu rủ nhớ ta chăng?

  (Măn đ́nh phương - Quy xứ lai hề) Phạm Bá dịch

  Đây là bài từ có hoàn cảnh sáng tác đặc biệt, nó được viết khi Tô Đông Pha từ biệt Hoàng Châu, mảnh đất đày ải đầu tiên ông đến sau khi thoát khỏi tội chết trong vụ Ô đài thi án nổi tiếng lịch sử, để tới Nhữ Châu - miền đày ải tiếp theo. Tác phẩm mở đầu bằng khúc ca của bao nỗi khổ do cơn thịnh nộ của biển quan trường đổ ập xuống đầu ông: xa quê, biếm đày lại biếm đày... nhưng không có bóng dáng kẻ tội đồ trong tột cùng đau khổ, chỉ có dáng toạ lạc ung dung của lăo Tô, đối diện với Hoàng Châu như cùng bạn tri âm ôn lại quăng đời đă qua và bày tỏ những suy ngẫm của riêng ḿnh về một tương lai «ngày mai không muôn khổ», bởi hôm nay «Bao việc tựa thoi đưa»; về một niềm lưu luyến không nỡ «cứ vậy mà đi sao?»; về một nỗi mong «đợi khi nhàn gió thu lay lắt»; và cả về một cơi ḷng đang xôn xao sóng vỗ «Nước trôi sóng vỗ băi bờ, Trước nhà liễu rủ nhớ ta chăng»...

 

Sâu sắc, cụ thể, khách quan mà không g̣ ép trong cách trực tiếp bộc lộ ḿnh, cái Tôi nghệ thuật Tô Đông Pha c̣n sự vật hoá nhân cách chủ thể tác giả. Tô Đông Pha mang tư tưởng, tính cách, phẩm chất tiết tháo, sự tạo ngộ... ngưng kết lại trong h́nh tượng những vật thể vốn rất đẹp như: mai, sen, hải đường, quất, liễu, tùng, thạch lựu, cúc, nhạn, chim hồng, tuyết, trà, âm nhạc (tranh, địch, tỳ bà), hội hoạ... để hát ca ngâm vịnh, khiến cho tất cả những sự vật trên đều có chung một đặc tính: cao khiết, cô tịch, kiêu sa... từ đó giăi bày rơ hơn những nếm trải của bản thân ông trong quá tŕnh tự an phận với cảnh cô tịch, tự t́m cho ḿnh niềm vui siêu thoát trong cuộc sống biếm đày. Cho nên, khi Tô Đông Pha coi mọi lao khổ hữu h́nh chỉ là tṛ thách đố vui trong những cuộc chơi nhỏ nhoi mà tạo hoá giành cho ông:

 

Đường đời vô tận

Lao sinh hữu hạn

Tựa như cuộc vui nhỏ nhoi.

  (Tẩm viên xuân - Phó Mật Châu) Phạm Bá dịch

 

th́ chúng ta nên hiểu rằng, đây không phải là lời nói suông v́ thực chất đó là kết quả của một quá tŕnh tự đào luyện và giải thoát ḿnh trong gian khó.

 

Không chỉ vật hoá cái Tôi, Tô Đông Pha c̣n bộc lộ nó trong h́nh hài thân phận khác. Và để lư giải rơ hơn về điều này, ông lưu ư người đời rằng: “«nhu tín ngô sài thiên phóng» (Khước kiều tiên), cái gọi là «ngô sài» ở đây, tức là Tôi và đối tượng hoá của Tôi, chúng đều tràn trề thiên phóng.” [3] Có khi chúng xuất hiện với bộ mặt «đạt sỹ», (Thập phách tử), có lúc là «cuồng sỹ», nhiều lần như vị du tiên: «ta muốn cưỡi gió bay lên» (Thuỷ điệu ca đầu - Minh nguyệt kỷ thời hữu), lại có khi trong h́nh hài kẻ say tuư luư: «chỉ có rượu quên đi điều phiền muộn» (Thuỷ điệu ca đầu)... và những khuôn mặt ấy luôn biểu đạt hành vi t́nh cảm của chúng bằng những sắc thái hạo nhiên, siêu thoát, và thấu đạt: hoặc «một ḿnh đi lại suy ngẫm» trong bối cảnh «lan can chênh chếch bóng trăng chiếu thềm» (Ngu mỹ nhân); hoặc lấy rượu hỏi trời, nâng chén mời trăng; hoặc ung dung «bên thành cổ ngoài thôn, chống gậy dưới bóng chiều tà» (Giá cô thiên), hoặc lất ngất t́nh say giữa núi xuân: «vi vút gió xuân say chợt tỉnh, hơi lạnh đầu non, ngả bóng cũng tương nghênh» (Định phong ba)...

 

Có thể nói, cái Tôi được sinh ra từ ng̣i bút «ta cuồng trong thú lạ» của Tô Đông Pha, rất tự nhiên cũng mang theo đời «sơ cuồng di thú». Nó xuất hiện, bằng sự tự thể hiện, tự bộc lộ thân phận tác giả một cách trực tiếp, hoặc tồn tại trong sự vật, trong dáng dấp người khác... dù ở h́nh hài nào cái Tôi ấy cũng thể hiện rơ, đến đây chúng ta đă có thể kết luận được rằng đó là sự sâu sắc, thấu triệt, khoáng đạt mà b́nh dị, hài hước mà lạc quan, tinh tế... vốn thuộc về phong thái, thuộc về cái ǵ đó sâu sắc nhất, rộng mở nhất và riêng biệt nhất trong con người Tô Đông Pha. Chính v́ mang đậm dấu ấn của tác giả, nên cái Tôi này nếu có muốn th́ người khác cũng không học theo được, mà chỉ có thể thốt lên rằng đó chính là hoá thân của Tô tiên lăo «một ḿnh đến rồi đi, bóng chim hồng mờ ảo» (Bốc toán tử).

 

Trở lên, chúng tôi đă nêu ra một số nét, về cái Tôi trữ t́nh trong thơ từ của Lư Bạch và Tô Đông Pha qua cách nh́n so sánh. Tuy chưa thật hoàn toàn đầy đủ song cũng có thể khái quát như sau: Gặp nhau ở cá tính hào phóng, nhưng cái Tôi Lư Bạch thiên về sự cuồng phóng trong thế giới tiên cảnh, c̣n cái Tôi Tô Đông Pha lại chủ yếu thể hiện chiều sâu triết lư, tầm cao thời đại sự khoáng đạt và sâu lắng giữa đời thường. Vậy đâu là căn nguyên của sự tiểu đồng đại dị này? Theo chúng tôi phải lư giải sự giống và khác này trên cơ sở lịch sử và cá tính sáng tạo của mỗi tác giả.

 

Như chúng ta đều biết, tuy sống ở hai thời kỳ lịch sử khác nhau, nhưng về cá tính cả Lư Bạch và Tô Đông Pha đều có chung đặc điểm hào phóng, về tài năng văn chương cả hai đều được liệt vào hạng «tài hoa nhất mực phóng bút thành thơ», về đời sống văn hoá tư tưởng, ngoài việc tiếp thu ảnh hưởng Nho, Phật, Đạo, họ c̣n là sản phẩm của thời kỳ lư tưởng thẩm mỹ thị dân đang đ̣i hỏi mănh liệt sự tự do cá nhân trong khuôn khổ phong kiến, do đó thơ từ của họ gặp nhau ở sự hào phóng bày tỏ cái Tôi tự tin, tự chủ, bay bổng trong khát vọng tự do, và sung măn trong thế giới t́nh cảm phong phú. Nhưng Lư Bạch sống vào thời Thịnh Đường, con người cá nhân trong thơ ông không thể không mang dấu ấn thời đại. Một thời đại được xem là cực thịnh, dưới sự trị v́ của ông vua Đường Minh Hoàng vốn khá cởi mở với thơ ca đặc biệt là với riêng Lư Bạch. Trong bối cảnh như vậy, thơ ca đương đại đủ sức vươn tới đỉnh cao, ở sự hoàn thiện của khuynh hướng tư duy hướng ngoại được đặt nền móng từ Kinh thi, Sở từ, Hán phú... với tư cách hạt nhân tiêu biểu của nền thơ ca này, Lư Bạch đă dùng tài năng đầy cá tính của ḿnh để xây dựng một cái Tôi cụ thể, hữu h́nh sánh vai cùng vũ trụ bao la, bằng dáng vóc kỳ vĩ, bằng nhân cách độc đáo, không tiền khoáng hậu... Ngoài những lư do vừa nêu, vẫn c̣n một điểm cần phải chú ư là: cả cuộc đời, Lư Bạch không làm quan (rất có thể v́ cửa quan không chấp nhận nổi vị hiệp khách giang hồ quá ngạo cốt này) nên ông chưa bao giờ nếm trải thực sự sóng gió chốn quan trường, cũng như phải chịu bất cứ sự áp chế chính thức nào của bộ máy quan liêu nặng nề đó. Do vậy, tư tưởng vốn quá phóng túng và thiên về cảm tính của ông càng có điều kiện thoát ra khỏi mọi giàng buộc luân lư, kỷ cương, để cuồng say trong mục đích khẳng định cái Tôi tài hoa (Nhân sinh ngă tài tất hữu dụng), cùng khát vọng tự do tiên thế hơn là việc trăn trở hay phủ định quyết liệt với hiện thực. Trong khi đó, Tô Đông Pha gắn chặt vào thế giới quan trường, cả đời ông sung sướng, đau đớn và bi phẫn cũng v́ thế giới đó. Cho nên, như ta thấy, trong thơ ông cái Tôi «hào phóng» thường bị níu kéo nhiều hơn bởi cái Tôi «công dân» của một viên quan cố hữu. Nhưng dù đang làm một cái Tôi «hào phóng», cái Tôi «công dân» ch́m nổi giữa biển quan trường, hay hoá thân vào h́nh hài thân phận khác, th́ bao giờ cái Tôi Tô Đông Pha cũng thể hiện một cách nổi bật tầm cao và chiều sâu của một nhân cách lớn. Một nhân cách đă sinh ra trong sự cộng hưởng của tài năng cá nhân thiên bẩm, có ư thức tự chủ nhập thế, có tư duy tương đối khách quan, có tấm ḷng luôn luôn rộng mở... với một thời đại trẻ trung và thực dụng dưới sự tŕ v́ của giai tầng địa chủ mới lên, được sự hậu thuẫn của tầng lớp thị dân vốn rất coi trọng lợi ích cá thể; một thời đại tuy không hùng mạnh ở thiết chế phong kiến, nhưng lại làm nên sự thăng hoa của các luồng tư tuởng triết học, tôn giáo (Nho học hay c̣n gọi là Lư học, Đạo giáo, Phật giáo), khoa học, nghệ thuật... từ quá tŕnh nâng cao tầm nhận thức của con người trong khuynh hướng đi sâu vào bên trong bản chất cuộc sống (đang bước vào giai đoạn sâu sắc hoá và phức tạp hoá mọi quan hệ xă hội). Và v́ là sự hoá thân của một nhân cách như vậy, nên cái Tôi Tô Đông Pha có chiều sâu triết lư, tầm cao thời đại và sự gắn bó mật thiết với đời thựng là điều hiển nhiên.

 

Qua sự tŕnh bày và lư giải trên đây về những dị đồng trong cách xây dựng cái Tôi nghệ thuật của Lư Bạch và Tô Đông Pha, chúng ta có thể đi đến kết luận cuối cùng rằng: Tuy cùng chung đặc tính hào phóng nhưng nếu Lư Bạch khai thác triệt để cái Tôi ở khía cạnh cá nhân cuồng phóng, th́ với Tô Đông Pha cái Tôi ấy lại đặc biệt gắn bó với đời thường trong sự thấu hiểu và đầy suy tư. Chính sự khác biệt này, đă tạo nên vẻ đẹp - một trữ t́nh bay bổng (cái Tôi Lư Bạch), một sâu lắng, triết lư (cái Tôi Tô Đông Pha), và dù ở góc độ nào th́ cả hai khi hợp lại đă cho ta một cái nh́n tương đối chung nhất về những đặc điểm cơ bản trong thế giới tư tưởng và t́nh cảm của con người trong văn học cổ điển Trung Quốc.

NGUYỄN THU PHƯƠNG

Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc

(Bài viết đă công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc tháng 1 năm 2002)

 


[1]  Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đ́nh Sử, Huyền Giang, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Th́n, Đoàn Thị Thu Vân, Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997, tr.5.

[2]  Nhận xét chung của Viên Mai (nhà lư luận phê b́nh văn học đời Thanh) và một số học giả hiện đại khác khi bàn về cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của Lư Bạch và Tô Đông Pha.

[3]  Triệu Nhân Khuê, Bàn về khoáng đạt phong cách chủ yếu trong từ của Tô Đông Pha, Tân Cương Sư phạm Đại học báo, 1989, số 2, tr. 85.