| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Dân
tộc tính
Nguyễn Đăng Thục
Chúng ta đang đòi hỏi một ý-thức để thống-nhất
quan-niệm và hành-động. Cái hệ-thống ý thức ấy không
phải tìm trong sách vở xa lạ, mà ở tại chính trong
bản thân thực nghiệm của dân-tộc, một dân tộc đã
dám ngẩng đầu lên phương Bắc để tuyên-bố: "Nam-Việt
Chi Quốc, Văn-hiến chi bang" (Bình Ngô Đại-cáo).
Bởi vì hệ-thống ý-thức mà chúng ta đang đòi hỏi
không phải là bất cứ một ý-thức-hệ ngoại-lai nào,
mà chính là cái ý-thức-hệ của dân-tộc này, đã sống
và đã nhiều phen tranh-đấu để sống là một dân tộc.
Bởi vậy mà tôi phải bắt đầu bằng vấn đề Dân tộc
tính, trước khi nói về dân-tộc-tính Việt-Nam.
Trước khi vào đề,tôi xin cung kính mà tâm-niệm
vong linh các bậc anh-hùng liệt-nữ, đã ngót một
thế kỷ nay kể từ Phan Đình Phùng đã hăng hái hy-sinh
hạnh-phúc hay tính mạng cho dân -tộc. Song sự kính
phục có ở trong lòng mà tôi cũng không đừng nhận
chân một sự thực này là tất cả những vận-động giải
phóng dân-tộc, cách mệnh quốc-gia ở Việt-Nam từ
trước tới nay, đã tỏ ra thiếu một lý thuyết vững
vàng để hướng dẫn hành-động và chống cự với các
chủ-nghĩa ngoại-lai mà các ngài cảm thấy không thích-
hợp cho dân-tộc. Một chủ-nghĩa gây được lòng tin
và đáng được tin cậy , thì cần phải dựa vào một
lý-thuyết xác-thực vững vàng. Bằng không thì chủ-nghĩa
có thể rơi vào không tưởng vì quá chủ quan. Đã không
tưởng thì dễ thất bại. Sự thất-bại liên tiếp của
phong trào dân-tộc Việt-Nam thực đã chứng tỏ điều
ấy vậy. Và cũng nhờ có một lý thuyết có hệ-thống
chặt -chẽ mà phong-trào cộng-sản đã bành trướng
trong khoảng 30 năm từ Âu sang Á.
Đây, chúng ta muốn kiến-thiết một ý-thức hệ dân-tộc,
trước hết chúng ta hãy hỏi xem dân-tộc là gì về
phương diện khoa học, nghĩa là xã-hội-học.
Đối với xã-hội-học, dân-tộc-tính có thực hay không?
Phải chăng vì ta quá yêu nước ta, quá yêu tiếng
ta mà chúng ta đã tạo ra chữ dân-tộc tính? Có người
hoài nghi sự thực-tại Dân-tộc-tính, cho là một danh-từ
trừu tượng viển-vông của một bọn trí-thức ngồi rồi
đã nặn ra trong lúc "trà dư tửu hậu."
Bởi vậy mà trước khi trình bày ý-thức-hệ của dân-tộc
Việt-Nam về phương diện sinh-hoạt kinh-tế, chính
-trị và văn-hóa, chúng tôi cần xác định ở quan-điểm
xã-hội-học cái thực tại dân-tộc. Đấy là đầu đề câu
truyện bữa nay: Các yếu tố tạo ra dân tộc tính.
Dân tộc là gì?
Trước hết nó là một sự cộng đồng chung đụng của
một số người. Giữa tất cả các người trong một dân
tộc, nếu không có một cái gì chung đụng cộng đồng
với nhau thì dân tộc ấy bất thành dân-tộc.
Nhưng sự cộng đồng chung đụng ấy, phải là môt sự
cộng đồng bền vững. Một buổi họp chợ đông người
hội họp không phải là một cộng-đồng bền vững nay
họp mai tan, như thế không có thể là một dân tộc
dược.
Người ta còn cho rằng một dân tộc là một cộng đồng
về giòng dõi về huyết thống hay về gia-tộc. Nhưng
các quốc-gia dân tộc hiện nay trên thế-giới đều
pha màu chủng loại khác nhau, huyết tính khác nhau
nghĩa là lai giống đi nhiều. Vậy cộng-đồng chủng
tộc không cần thiết lắm cho sự thành lập của một
dân tộc . Dân-tộc là một cộng đồng của một số người
do lịch-sử đã cấu kết nên. Dân-tộc là một sản phẩm
của lịch sử. Những đế-quốc ngày xưa như đế-quốc
của Tần-thủy hoàng, đế quốc Thành-cát Tư hãn, đế-quốc
Nã-phá-luân, đế quốc La-Mã, tuy có sự cộng đồng
mà không có thể thành một dân tộc. Bởi vì sự cộng-đồng
ấy là một cộng-đồng ô hợp bất thường do những cuộc
chinh phục chiến-thắng nhất thời, chỉ chờ sự thất
bại của một chiến sĩ là sẽ tan rã.
Vậy một quốc-gia Dân-tộc không phải là một biến
ảo bất thường mà là một cộng đồng bền vững của một
số người đã cùng nhau sinh tử cộng tồn.
Nhưng một cộng đồng bền vững chưa đủ tạo ra quốc
gia dân-tộc ví như nước Trung Quốc, nước Ấn Độ,
nước Nga của Nga hoàng. Cái gì phân biệt một cộng-đồng
dân-tộc với một cộng-đồng chính thể?
Lãnh thổ và giống nòi
Khi ngươì ta nói đến một dân-tộc, một quốc-gia,
ở Việt ngữ thông thường hai tiếng Quốc-gia hay Dân-tộc
đi dôi với giang-sơn hay xã-tắc. Giang sơn là núi
sông, tượng trưng cho khu vực đất đai, hoàn cảnh
địa-lý khí-hậu. Xã-tắc vốn nghĩa xưa là đất với
lúa, mà dân nông-nghiệp đã thần thánh hóa để thờ
phụng. Phải chăng giang-sơn hay xã-tắc đã là cái
hoàn cảnh địa-lý khí-hậu, có biên-giới nhất-định
nó đã ảnh-hưởng vào cá tính dân-tộc.
- Thời kỳ mà nhân-loại hãy còn là những bầy dân
du-mục, những bộ lạc sống lang thang nay đây mai
đó, thì ở giai-đoạn ấy con người đã nhận định được
một cái linh hồn chung là cái ý-thức chung của đoàn
thể. Cái linh-hồn chung ấy đối với họ lúc bấy giờ
có một tính cách thiêng-liêng bao trùm tất cả những
ý thức cá-nhân còn chìm trong toàn-thể và hoàn-cảnh.
Nhưng vì chưa sống nhất định ở một chỗ nào, cho
nên các đoàn thể du mục phải phóng đại ra một đối
tượng là con Rồng, là Mặt Trời, là con Gà Trống...
để tượng trưng cho cái hồn chung ấy và để phân biệt
đoàn thể mình với các đoàn thể khác. Ngay từ thời
kỳ này, các bộ lạc du-mục đã ý-thức được cá-tính
của mình và đã cố-gắng bảo-vệ lấy. Thời kỳ này hẳn
là huyết tính hay chủng-tộc-tính, gia-tộc-tính có
đóng vai một yếu-tố để cấu tạo ra cá-tính, đoàn-thể.
Lạc Long Quân với Âu Cơ, một trăm trứng nở ra một
trăm con trai, năm mươi theo cha lên núi, năm mươi
theo mẹ xuống biển, hay Sơn-Tinh với Thủy-tinh tranh
đấu đều là những thần thoại lưu truyền về sự phân-biệt
cá tính theo huyết tính, theo giống nòi. Và nếu
giống nòi hay huyết tính ngày nay trên thế giới,
không còn là một yếu tố quan-trọng trong sự cấu-tạo
ra dân-tộc nữa, nhưng ở Việt Nam hai tiếng đồng-bào
còn mang nặng tình yêu nước thương nòi, tỏ rằng
đối với dân Việt ta, huyết tính vẫn còn là một yếu
tố đáng kể trong dân-tộc-tính.
Rồi nhân loại bắt đầu định cư vào một khu vực đất
đai nhất định. Ở đấy có những điều kiện thuận tiện
để sinh tồn như đất đai phù sa trồng cấy, sông ngòi
để giao thông, núi non, biển cả hay sa mạc là những
thành trì tự-nhiên để bảo vệ sự an cư lạc nghiệp
và từ đấy bắt đầu có văn minh, vì có định cư mới
có thể tích lũy và tiến bộ. Từ đấy thì quốc-gia
dân-tộc mới bắt đầu lấy biên- giới đất đai để hoạch
định lãnh thổ. Và lãnh thổ hay quốc-gia đã dược
thần-thánh hóa để biểu thị cụ thể cho cái ý thức
đoàn thể, cái ý thức dân-tộc- tính. Đấy là giang-sơn
xã-tắc.
Và bắt đầu từ khi ngưòi ta lấy khu vực đất đai
định cư, để làm vũ đài tranh-đấu thì loài người
cũng bắt đầu phân chia ra từng đoàn-thể biệt-lập.
Sự sinh-hoạt biệt lập trong một khu vực địa-lý đã
ảnh-hưởng rất sâu vào tinh-thần của các đoàn-thể,
khuôn đúc cho cá tính quốc-gia, cho dân-tộc-tính
mỗi ngày một rõ rệt, từ tính cách vật-tổ mơ màng,
dân-tộc-tính tiến tới tính cách văn-hóa, chính-trị,
kinh- tế.
Bởi vì hoàn-cảnh địa-lý đã đặt cho các phần tử
của một đoàn thể định-cư những vấn-đề thực-tế chung
phải giải quyết. Muốn lợi-dụng đất phì nhiêu ở các
trung nguyên chẳng hạn để trồng cấy thì ít nhất
cũng phải đem tất cả tài năng để khai khẩn, biến
chỗ đất hoang vu thành đồng ruộng. Rồi chúng ta
còn phải đào kinh, dẫn thủy để cho nước thủy triều
ra vào tùy theo ý muốn. Tất cả những vấn đề thực
tế ấy đòi hỏi ở chúng ta phải thi thố tài ba, nào
tổ-chức, nào phát- minh, nào phân-công và hợp-tác
với nhau chặt-chẽ góp sức với nhau một cách lâu
bền, có sự điều khiển chung công việc cho nhất trí.
Luôn luôn sống trên một giải đất có sự xúc-tiếp
với nhau trong công việc sinh-nhai, cũng như trong
khi nhàn rỗi, chia vui sẻ buồn với nhau, do đấy
mà tinh-thần sinh-tử cộng-tồn ngày càng nẩy nở,
liên-kết các phần tử thành một khối trăm người như
một, muôn người như một.
Do đấy mà người ta có thể hy-sinh được tính-mạng
để bảo-vệ lấy giang sơn, nghe theo tiếng gọi của
sông núi. Vậy lãnh thổ thực là một yếu-tố trọng-đại
để cấu tạo ra một dân-tộc, để hun đúc nên một dân-tộc-tính.
Nhà sử học Michelet viết: "Không có một nền
tảng địa-lý thì dân-tộc vẫn là động cơ của lịch-sử
hầu như đi trên không trung, lơ lửng như trong bức
tranh tầu không đất đứng. Và chúng ta nên nhận thức
rằng đất đai không chỉ là sân khấu cho hoạt động
của đoàn-thể vì những thức-ăn, vì khí-hậu thủy-thổ
mà thôi, nó còn ảnh hưởng người ta bằng trăm đường
ngàn lối. Tổ nào chim ấy."
Gần đây nhà sử học Camille Julian cững viết: "Sự
khai thác một khu rừng rậm, việc làm khô ráo một
cánh đồng lầy, cũng quan-trọng cho sự định đoạt
của một xã-hội, quan-trọng ngang với một cuộc cách-mạng
chánh-trị hay là một tác-phẩm văn-chương."
Trên đây mới nói tới hai yếu-tố cấu-tạo ra dân
tộc tính là yếu-tố huyết-tính hay là chủng tộc và
yếu tố lãnh thổ hay địa-lý. Nhưng cả hai yếu-tố
ấy cũng chưa đủ tạo nên dân-tộc-tính, tuy đều là
yếu -tố cần thiết.
Thực vậy, chủng-tộc không đủ làm cho dân-tộc Việt-Nam
nay còn là Việt-Nam vì rằng trong số hàng trăm giống
Việt ở phía nam sông Dương Tử cùng thờ chung một
vật Tổ là con Rồng, thì hầu hết đã bị đồng hóa với
dân Tầu, đều đã bị Tầu hoá hoàn toàn, riêng chỉ
có giống Lạc-Việt này là còn tồn tại cho tới ngày
nay.
Còn yếu tố địa-lý, cộng đồng lãnh-thổ, tuy là điều
kiện căn-bản để tạo nên tinh-thần quốc-gia , hay
một dân-tộc-tính, và riêng đối với dân-tộc Việt
Nam yếu-tố địa-lý, cộng-đồng lãnh thổ, khởi kỳ-thủy
ở lưu vực sông Nhị Hà, Thái Bình ngoài Bắc Việt
thực đã đóng góp một vai trò quyết-định cho sự bảo
tồn nền độc-lập của dân-tộc Việt-Nam đối với các
cuộc xâm-lược của quân Nguyên, quân Tống, quân Minh,
quân Thanh.
Nhưng lãnh thổ cũng không đủ để quyết-định dân-tộc
tính. Yếu-tố lãnh thổ chỉ mới là điều kiện cho dân-tộc
hoạt-động, xây-dựng, biểu-hiện dân-tộc-tính ở các
cách thức tổ chức sự cộng-đồng sinh-hoạt về thực-tế
và tinh-thần. Lãnh thổ không phải là một vật thần
bí. Nó chỉ tượng trưng cho một cái gì cao-siêu hơn,
ấy là tinh thần đoàn kết và thống nhất.
Tổ chức kinh tế chánh trị
Thực vậy, lãnh-thổ cộng-đồng mới chỉ là điều kiện
cho một hệ thống kinh- tế chung thống nhất. Sự liên-hệ
về sinh-hoạt kinh tế phần lớn do điều kiện giao
thông thuận tiện. Giao-thông bắt đầu là đường thủy,
là sông ngòi, cho nên ở xã-hội định-cư nông-nghiệp
phần nhiều người ta họp chợ bên sông, cũng như người
ta lập làng, lập ấp ở hai bên bờ sông. Có lãnh-thổ
rồi mới có phân công trong sự sản xuất và tích lũy.
Có tích lũy rồi mới có tiến bộ, câu phương ngôn:
"Có an cư rồi mới lạc nghiệp" rất xác
đáng. Nhưng quốc-gia dân-tộc không phải là một mớ
người ô hợp. Và lãnh-thổ hay chủng-tộc không phải
là một định mệnh thần bí thiêng liêng. Chúng ta
nên nhớ bao giờ loài người cũng đóng vai chủ-động
trên mặt đất, cũng tự làm lấy lịch-sử của mình.
Sở dĩ loài người khác với bầy cầm thú, là vì ở chỗ
ta tuy cũng phải thích-ứng điều-hoà với hoàn cảnh
địa-lý, khí hậu để sinh-hoạt, nhưng người ta dã
tiến-bộ từ bầy cầm thú đến bộ-lạc, đến quốc-tộc
dân-tộc. Sự tiến-bộ ấy là nhờ sự biết sáng tác ra
công-cụ, kỹ-thuật, biết tổ-chức đời sống chung,
biết phân công hợp tác. Trong sự tổ-chức đời sống,
về tinh thần cũng như thực tế, loài người tỏ ra
khác với cầm thú ở chỗ biết ý thức, đã tự mình làm
chủ được hoàn cảnh, tự mình làm lấy lịch-sử và tiến
bộ không ngừng. Đấy là văn-hoá tính của nhân loại.
Các dân tộc muốn phát triển, muốn sống còn trên
mặt địa-cầu này thì hẳn rằng đời sống kinh-tế không
có thể để cho lộn xộn ô hợp, kẻ nọ tranh cướp kẻ
kia, vô trật-tự, vô kỷ-luật, công tư lẫn lộn.
Một thời xa xăm trong những bộ lạc công-cộng nguyên-thủy
thì đoàn thể chỉ mới là một gia-tộc vật-tổ hay là
một thị tộc nhà Lang trong đó những tác dụng chính
của đoàn thể như chánh trị, văn hóa, kinh-tế còn
lẫn lộn với nhau chưa phân-hóa, và chủ quyền bấy
giờ còn có tính cách mơ màng, thần-bí.
Nhưng rồi chẳng bao lâu những đoàn thể đó càng
ngày càng bành-trướng, chủ-quyền cũng phân hóa dần
dần, đời sống kinh tế cũng được tổ chức, và quyền
lợi công với quyền-lợi tư đã có những luật lệ nghiêm
chỉnh định-đoạt. Cái lịch trình tiến-hóa ấy đã được
quan niệm phân-minh từ hơn hai ngàn năm nay ở quyển
sách Hệ từ, mà rất phù hợp với ý kiến của các nhà
xã hội học hiện đại.
"Có trời đất rồi muôn vật mới nẩy nở.
Có muôn vật rồi mới có phân biệt nam nữ.
Rồi mới có vợ chồng. Rồi mới có cha con, gia đình.
Rồi mới có lệ vua tôi Rồi mới có giai cấp trên dưới.
Từ đấy người ta mới đặt ra lễ nghĩa kỷ luật."
Vậy kỳ-thủy trong sinh hoạt kinh-tế chung đụng
đã nẩy ra có sự phân công để tăng gia sản-xuất.
Tuy sự phân công ấy đà bắt đầu có từ thời-kỳ du-mục
nhưng mới chỉ phân công theo Nam giới và Nữ giới,
rất sơ sài. Chỉ khi nào bắt đầu định-cư vào một
lãnh thổ, một khu vực đất đai nhất định thì sự phân-công
và tổ chức mới trở nên phức-tạp. Nhưng sự phân-công
vốn để trả lời cho nhu cầu đoàn-thể, chứ không có
ngụ ý phân chia giai cấp, quí tiện, để rồi tranh
đấu một mất một còn.
Nếu thực sự có sự tranh-đấu giữa người với người
để tiêu diệt lẫn nhau theo đúng nghĩa: "Người
là lang sói với người" thì nhân loại còn làm
sao mà trưởng thành quốc-tộc, dân-tộc? Thì đâu còn
là dân-tộc-tính?
Trái lại dân tộc đã luôn luôn biểu dương cái ý
thức và sứ-mệnh lịch-sử của nó. Bên trên sinh hoạt
kinh tế cộng đồng càng ngày lễ-nghĩa càng phát-triển,
càng ngày tổ-chức chính-trị càng trở nên phức tạp
và cần thiết. Khi nói đến cái ý-thức của một quốc-gia
dân-tộc thì người ta nghĩ ngay đến cách thức tổ
chức đời sống chung, tức là chế độ chính-trị và
xã-hội kinh-tế của nó. Vậy điều kiện thiết yếu của
một dân-tộc là điều kiện tổ-chức đời sống chung.
Điều-kiện này đòi có sự tổ-chức chủ-quyền để điều
hành nhất-trí quyền lợi kinh tế. Tổ chức chủ-quyền
chính-trị và kinh tế là chế độ và triều đại.
Chế-độ và triều đại đã dóng một địa vị trọng-yếu
trong việc củng-cố cho cái ý-thức quốc-gia dân-tộc.
Nhà xã-hội-học Frazer, trong cuốn tìm hiểu về nhừng
nguyên-do thần-bí của quân-chủ có viết:
"Sự trung thành với nhà vua là một liên-hệ
chính-trị cơ bản ở nước Pháp dưới chế-độ xưa, cũng
như tất cả các dân-tộc Âu-tây. Dân-tộc đồng nhất
với chế-độ quân-chủ, bởi một hiện-tượng tương-tự
như hiện-tượng đã chuyển-dịch cho các đế-vương đầu
tiên ở Ai Cập tất cả thế lực do các tín ngưỡng cổ
xưa đã biểu lộ tất cả thế-lực thần-bí của vật-tổ."
Frazer (Les origines magiques de la royauté).
Hẳn rằng chế-độ sinh-hoạt kinh-tế, chánh-trị đều
là những yếu-kiện, những động-cơ thúc-đẩy nhân-loại
trong lịch-trình tiến-hóa. Nhưng phải chăng đấy
là nguyên-lý tạo ra dân-tộc ? Nước Gaulle lẫn lộn
nhiều thị-tộc đã thống nhất thành một quốc gia sau
cuộc chinh-phục và đô-hộ của Đế-quốc La-Mã. Song
phải chăng cuộc chinh-phục và thống-nhất ấy chỉ
tựa vào võ-lực và sức mạnh thống trị? Ngoài sức
mạnh thống trị, phải chăng cuộc đô hộ của La Mã
không mang lại cho đất Gaulle một nền văn-hóa La
Hy làm nguyên-lý thống nhất của dân-tộc Pháp.
Cũng như đất Giao Chỉ đã bị nhà Hán đô-hộ hàng
mười thế kỷ. Các bộ-lạc thị-tộc sống trên đất Giao
Chỉ bấy giờ dưới quyền thống trị của nhà Hán đều
đã đoàn-kết lại thành một khối thống nhất. Nếu sức
mạnh thống-trị và chế-độ có thể thống-nhất được
thì sao Giao Chỉ không thấy sát-nhập vào bản đồ
Trung Quốc, như Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam chẳng
hạn và dân Giao Chỉ sao không đồng hóa vào với dân
Tầu như Mãn, Mông, Hồi, Tạng mà lại thống nhất thành
một khối là dân tộc Việt-Nam ở trên một quốc-thổ
biệt lập với Trung Quốc là Đại Cồ Việt?
Vậy chế-độ chánh trị với sức mạnh võ-lực không
đủ để tiêu-diệt được cá-tính độc-lập của dân-tộc
Việt Nam. Bởi vậy mà sau những cuộc khởi nghĩa kế-tiếp
tuy thất bại luôn, nhưng nuôi được cái tinh-thần
bất-diệt của một đoàn-thể, muốn sống riêng biệt,
độc-lập, tự-do để tự mình tổ-chức lấy đời sống chung
của mình. Rồi mãi tới Đinh Bộ Lĩnh, người đã thống
nhất được thập nhị sứ-quân, nước Việt Nam mới trưởng
thành là một quốc-gia độc lập. Nhưng cũng chính
vì cái tinh-thần văn-hóa Trung Hoa nó đã dạy cho
dân VIệt biết cách tổ chức nền thống-nhất của mình.
Xem thế đủ biết chế-độ chính-trị biểu-thị cho ý
chí sống chung của đoàn-thể hơn là một nguyên lý
cấu tạo ra dân tộc.
Nhưng cái tinh-thần quốc-gia dân-tộc ấy, trải qua
các giai đoạn lịch sử về trước, nếu có biểu-thị
ra dưới hình-thức trung-quân và trung-thành với
triều-đại thì chỉ vì các nhà vua ấy, các triều-đại
ấy đã tượng trưng ở thời đại ấy cho cái ý chí của
đoàn-thể như là hiện-thân của những nguyện-vọng
chung, như thế-lực của tâm hồn chung hợp thành cái
nguyên-lý chính-thức của chủ-quyền quốc-giaa dân-tộc.
"Duy thiên âm trất hạ dân": Chỉ có trời
ngầm xuống ở nhân-dân.
Hội-nghị Diên-Hồng dưới triều Trần đã chứng-minh
nhà vua không dám vũ đoán tự-quyết về vận-mệnh đoàn-thể.
Nhà vua lưỡng lự muốn hàng địch, mà nhân-dân thì
quyết đánh, kết cục ý-chí của nhân dân đã vạch đường
cho triều-đại phải tuân theo.
Như vậy thì nhà Nước với chế-độ chính-trị kinh-tế
không tạo nên được tinh-thần dân-tộc. Quyền lợi
kinh-tế có thể là một động-cơ để đoàn-kết, để bảo
vệ lấy quyền sống thực tế. Nhưng nó cũng lại là
động-cơ để chia rẽ, bởi vì lòng ích-kỷ bản nhiên
của con người "Giầu ghen khó ghét."
Cộng đồng quyền-lợi thực không phải nguyên lý tạo
nên các phong-trào giải phóng dân-tộc liên tiếp
diễn ra trên thế giới kể từ sau cuộc thế-giới đại-chiến
14-18 đến nay. Năm 1923, đã xẩy ra một việc chưa
từng thấy ở lịch-sử chính-trị và ngoại giao quốc-tế.
Hội-nghị quốc-tế Lausane chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã
ký với chính phủ Hy Lạp một hiệp ước trao đổi từng
khối lớn nhân-dân của nhau. Dân Hy Lạp ở Thổ trở
về đất Hy và Thổ ở Hy trở về đất Thổ. Sau đấy thì
từng vạn người dân Cơ Đốc vốn sinh sống ở đất Thổ
từ trước năm 1914 đã trở về Hy Lạp hết. Nền kinh
tế ở Thổ do đấy mà bị đảo lộn, vì tất cả nền nội-thương
ở Thổ và một phần lớn ngoại thương nữa, trước năm
14-18 vốn ở trong tay khối dân Hy Lạp ấy cả. Các
nhà lãnh đạo Chính-phủ Quốc-gia Thổ lúc ấy tuy biết
trước sự tai hại về quyền lợi kinh tế sẽ xẩy ra
như thế, nhưng vì tinh thần dân-tộc đòi hỏi, bắt-buộc
họ phải quyết-định sự trao đổi ấy bất cứ bằng một
giá nào, để kiến thiết lại một quốc gia độc-lập
hoàn-toàn. Do đấy chúng ta thấy sự cộng-đồng quyền-lợi
kinh-tế phải ở sau sự cộng-đồng ý-thức quốc-gia
dân-tộc.
Và sự cộng-đồng quyền-lợi kinh tế không đủ khiến
cho dân Ấn Độ từng khối lớn nhân dân nổi lên phong
trào bất hợp tác. Trong hàng ngũ có đủ các tầng
lớp người bất phân giai cấp, nào là trí-thức, nào
là vô-sản, lao-động, nông-dân, thương gia, công
chức, học-sinh, nam phụ lão ấu, một lòng đoàn-kết
đứng trên quyền-lợi vật-chất để hưởng-ứng tiếng
gọi thiêng liêng của Tổ-quốc.
Lại như ở Việt Nam trải qua ngót một thế kỷ nay,
sự cộng-đồng quyền-lợi không thể giải thích cho
bao nhiêu hiện tượng hy-sinh tính mạng cho Tổ Quốc,
bị tù tội, bị lao-lung của khắp các từng lớp xã-hội
Việt Nam kẻ giầu cũng như người nghèo, kẻ học-thức
cũng như người thất học.
Vậy thì ngoài sự cộng-đồng quyền-lợi kinh-tế còn
có những yếu-tố tâm lý, động-cơ tinh-thần phức-tạp
tập hợp lại để cấu tạo ra cái thực tại xã-hội là
dân-tộc, cái ý-thức quốc-gia đứng ở trên ý-thức
giai-cấp. Những nhà chủ-trương giai-cấp đấu tranh
vì quyền-lợi kinh-tế cộng-đồng cũng phải thừa nhận
cái thực tại Dân-Tộc-Tính, như Horrabin chẳng hạn,
tác-giả cuốn "Địa lý kinh-tế sử đại quan"
xuất bản 1929 ở Luân-đôn: "Chúng tôi thừa nhận
thực tại của Dân-tộc tính. Và nếu không có bằng
chứng gì khác nữa, thì những biểu thị của dân Ái
Nhĩ Lan và dân Ấn Độ cũng xác nhận cho cái thực
tại ấy vậy." (La Revol. Prol. Ed tr. 67)
Và đứng trước cái sự kiện lịch-sử hiếm có ngày
nay đang diễn ra ở trước mặt là từng khối người
bất phân tín-ngưỡng hay giai-cấp, gần một triệu
lũ lượt bỏ mồ mả tổ tiên để mạo hiểm vào đây. Để
tìm cái chi? Quyền lợi chăng? Quyền lợi còn phải
có công trình khai-thác. Vả chăng có ngu chi mà
bỏ quyền-lợi sẵn có để đi tìm một quyền lợi viển
vông ở phương xa đất lạ? Không, cái việc di dân
khổng lồ còn đang tiếp diễn chỉ vì một lý-do, một
động cơ giản-dị là: Dân-tộc-tính truyền thống của
dân Việt, vượt lên trên tất cả quyền-lợi nhỏ nhen.
Ngôn ngữ và tâm lý chung
Ngoài nhừng yếu-tố kể trên như huyết-thống, lãnh-thổ,
chế-độ kinh-tế và chánh-trị, đều là những yếu tố
thiết yếu để tạo-thành cái thực tại xã-hội là Dân
tộc, còn một loại yếu-tố đặc-biệt thiết-yếu nữa
là yếu-tố tâm-lý chung và ngôn ngữ. Muốn cùng nhau
chung sống trong một đoàn thể thì ít nhất cũng phải
cảm-thông được với nhau; ngoài tình đồng-bào còn
phải giao-dịch trao đổi với nhau về tư tưởng và
tình tự. Nào phải chỉ có sự trao đổi tinh thần giữa
người sống mà thôi. Còn phải truyền tử nhược tôn,
thế hệ này truyền lại gia-bảo tinh-thần cho thế
hệ sau nữa. Đây là sứ mệnh của văn-tự ngôn-ngữ.
Ngôn-ngữ quả thật là một lợi khí để cho người nọ
người kia hiểu nhau. Có hiểu nhau rồi mới hợp-tác,
mới có sự đồng-tình nhất trí trong hành động của
đoàn thể. Các nhà xã-hội-học thuộc về lập trường
Duy-tâm hay Duy-vật, thảy đều công-nhận ngôn ngữ
là một điều-kiện tối thiết-yếu cho sự sinh-hoạt
và tiến hoá của xã-hội nhân-loại. Đối với dân tộc,
tiếng nói mẹ đẻ lại càng thiết-yếu để thống nhất
ý-chí, thông-nhất nhân-tâm. Nhưng tiếng nói mẹ đẻ
có phải là yếu tố quyết-định cho sự tồn-tại của
dân-tộc hay không ? Đây là vấn-đề đã gây lên hai
bên bờ sông Rhin một cuộc khẩu chiến kịch-liệt giữa
lý thuyết Quốc-gia Đức với lý thuyết Quốc-gia Pháp.
Nhà tư-tưởng Đức là Fichte, lên tiếng lấy ngôn ngữ
làm tiêu-chuẩn của dân-tộc-tính. Ông căn-cứ vào
những triết-gia như Bacon, Vico và Leibnitz đều
chủ-trương cái yếu-tố giản-tiện của lịch sử một
dân-tộc là tiếng nói. Trong những bài diễn-thuyết
cho dân-tộc Đức, ông định-nghĩa một dân-tộc-tính
như sau:
"Những kẻ nói cùng một thứ tiếng là một đoàn
thể mà tạo-hóa đã liên-kết với nhau bằng những sợi
giây phức tạp và vô hình."
Cùng một chủ-trương ấy, Rohr trong Hàn lâm viện
Đức, về tiếng nói mẹ đẻ có trả lời câu hỏi "Một
dân tộc là gì?": -- "Chúng tôi gọi một
dân-tộc cái bản ngã chung mà tính cách riêng biệt
thì căn cứ vào tiếng nói, vào chính cái phương-tiện
tinh-thần nó đã tạo ra cái quan-niệm của chúng ta
về thế-giới và về nhân-loại, sự tranh đấu của dân-tộc
Đức là sự tranh-đấu cho ngôn-ngữ. Những biên-giới
dân-tộc ngày nay trước hết đi theo với biên giới
ngôn-ngữ. Kẻ nào cho con cái mình trưởng-thành ở
một tiếng nói ngoại-quốc thì ấy là đã làm quà con
cháu mình cho một dân-tộc khác. Vận-mệnh của ngôn-ngữ
chính là vận-mệnh của dân-tộc."
Theo nhà lãnh-tụ quá-khích quốc-gia thì tiếng mẹ
đẻ, thứ tiếng mà chúng ta suy-nghĩ, thứ tiếng mà
chúng ta dùng để phản-ứng lại một cách tự nhiên
với những việc xẩy ra hàng ngày ra bên ngoài, tiếng
nói ràng buộc chúng ta vào một nền văn-hóa và tục-lệ
truyền thống, tiếng nói nó khuôn đúc tâm-hồn chúng
ta hẳn là một tiêu chuẩn quyết-định dân-tộc-tính.
Sự thực thì luôn luôn và bất cứ ở nơi nào, hễ công
dân có trường hợp tỏ bầy ý muốn một cách tự-do thì
nó sẽ phát biểu về vấn đề dân-tộc-tính bằng tiếng
mẹ đẻ. Chính tiếng mẹ đẻ hơn là tiếng sinh ngữ khác
đã tạo ra ý-thức dân-tộc, cái ý-thức nó quyết định
ý-chí của người ta muốn làm công-dân của một dân-tộc
nhất-định nào. Phải chăng cũng vì một ý-tưởng động-cơ
ấy mà cách đây 30 năm học-giả Việt-Nam ngoài Bắc
trong bầu không khi thất vọng về chính-trị đã phải
đề-cao truyện Kiều để cố bảo-vệ lấy quốc-hồn, quốc-túy:
"Truyện Kiều còn tiếng ta còn
"Tiếng ta còn nước ta còn."
Đấy là đề cao triệt để ngôn-ngữ vậy. Nhà xã-hội
học tuyên-bố về ngôn-ngữ rằng: "Không thể có
ở đâu một tiếng nói thống nhất, ngoài nơi nào đã
có một dân tộc, hay là ngoài nơi nào đã thấy có
một dân-tộc có ý thức về sự thống nhất quốc-gia
dân-tộc."
Nhưng ở thế-giới hiện nay có những dân nói cùng
một thứ tiếng mà hợp thành hai dân-tộc như Anh Mỹ
chẳng hạn, lại cũng có thể như nước Thụy-Sĩ gồm
bốn thứ tiếng nói khác nhau. Và tiếng nói là sản-phẩm
của lịch sử xã-hội như Meillet đã nhận xét: "Mỗi
một tiếng nói là một sản-vật của một lịch trình
tiến hóa trong ấy có những ảnh hưởng phức tạp. Tiếng
nói, hơn là một chế độ, tập tục xã-hội khác, đòi
phải giải-thích bằng lịch sử."
Vậy thì tiếng nói thay đổi tùy theo thời đại và
địa-phương. Nó không phải là nguyên-lý đẻ ra sinh
hoạt dân-tộc. Nó phải dựa vào sinh-hoạt để chứng
minh và nó phát-xuất tự cuộc sinh-hoạt của dân-tộc.
Bởi vì ngôn-ngữ không có miên-tục tính, thay đổi
với thời gian và không-gian như thế, cho nên ở bên
này sông Rhin, nhà triết-gia Renan đại-diện cho
tinh thần dân-tộc Pháp đã lấy thuyết tâm-linh về
dân-tộc-tính để trả lời thuyết ngôn-ngữ về dân-tộc-tính
của thuyết gia Đức như sau:
"Một dân tộc là một linh hồn,
một nguyên lý tâm linh."
Cái linh-hồn ấy thuộc về quá-khứ và hiện-tại. Quá
khứ là của chung dân-tộc gồm cả một gia-tài kỷ-niệm
vinh-quang hay tủi-nhục. Hiện tại là một nguyện
vọng chung, một mối đồng tâm cùng nhau sinh tử cộng
tồn, một ý-chí chung để tiếp tục làm vẻ vang rạng
tỏ cái hương hỏa bất phân tổ-tiên để lại. Một dân-tộc
cũng như một cá thể là kết quả của một dĩ-vãng xa-xăm
của bao nhiêu sức cố-gắng, bao nhiêu nỗi hy-sinh,
bao nhiêu lòng tận trung báo quốc. Thờ phụng tổ
tiên là một trong những hành vi chính-đại để ghi
nhớ công ơn người đã tạo tác cho ta. Một quá khứ
vẻ vang, những danh nhân lịch sử, một vinh-quang
chân-chính, đấy là tất cả vốn liếng xã-hội làm nền
móng cho cái ý-tưởng quốc-gia dân-tộc.
Lấy linh-hồn chung của dân-tộc như Renan đã tuyên
bố, kể thì cũng quá trừu tượng thật, nhưng dân tộc
mà sở dĩ tồn tại, và biết bao con dân đất nước trên
thế giới đã nỗ lực hy-sinh tất cả để bảo-vệ Tổ-Quốc
tự-do độc-lập là vì người ta tin vào Tổ-quốc như
một cái gì thiêng-liêng, bất diệt, vô cùng linh
động vượt quá giới hạn của không gian và thời gian.
Cho dân tộc có một linh-hồn mà bảo là chủ-quan
không xác thực thì tức là muốn phủ nhận địa-vị chủ-động
của loài người trên mặt đất.
Non cao ai đắp mà cao
Sông sâu ai bới ai đào mà sâu?
Vô ý-thức hay ý-thức, nhân-loại cũng tự làm lấy
lịch-sử của mình, cho nên dù thuyết tâm-linh của
Renan có quá trừu-tượng đi nữa, chúng ta cũng không
có thể phủ-nhận được yếu-tố tâm-linh về Dân-tộc-tính.
Giữa hai thuyết Dân-tộc-tính trên đây , một của
Đức, một của Pháp, một đằng căn cứ vào điều kiện
khách quan là ngôn-ngữ, một đằng căn cứ điều kiện
chủ quan là tâm-linh, thì có thuyết thứ ba là thuyết
truyền-thống của dân-tộc Việt mà người anh-hùng
nhà Lý đã thu vào bốn câu thơ bất hủ:
Nam quốc sơn-hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư .
Núi Sông Nam có Vua Nam-Việt
Trên sổ trời riêng biệt phân minh
Sao người xâm phạm, nghịch binh ?
Chớ coi người sẽ tan tành hư không.
Đây Lý Thường Kiệt đã lấy Sơn-Hà Xã-Tắc làm yếu-tố
quyết-định cho dân-tộc -tính. Sơn Hà Xã Tắc đây
không phải là Núi Sông vật hình mà là Sông Núi có
hồn, theo tin tưởng truyền-thống của dân Việt. Và
Xã-Tắc không phải chỉ là tổ-chức hình-thức lễ-nghi
mà là cả một biểu tượng về đất đai lúa thóc tức
là thần thánh hóa tổ-chức cộng đồng sinh-hoạt kinh-tế
của dân nông-nghiệp. Như vậy Sơn-Hà Xã-Tắc thực
biểu-thị cái ý-niệm Dân-tộc-tính do sự tổng hợp
yếu-tố tâm linh với yếu-tố vật-thể, điều-kiện chủ-quan
với điều-kiện khách-quan đã tạo nên.
Họ Lý tin vào Sơn-Hà do mệnh Trời ngầm định, nhưng
không quên "Có trời mà cũng có ta."
Không quên cái ý-chí quật-cường, cái vai trò chủ-động
của nhân-dân Việt, cho nên Ông tin chắc đánh tan
những quân xâm-lược. Bắc cự Tống, Nam phạt Chiêm-Thành,
tây chinh Mường mán.
Nhờ có một tin tưởng thần-bí vào Sơn-Hà Xã-Tắc,
vào Dân-tộc-tính linh-động, vào chủ-quyền Quốc-gia
như vậy, nên tướng sĩ nhà Lý đã mở một thời kỳ võ
công oanh-liệt của nước nhà. Và hơn thế nữa, binh
pháp Việt-Nam lại còn được người Tầu qua học hỏi,
bắt chước. P. Pasquier trong sách "L'Annam
d'autrefois" phải khen rằng: "Nước Nam
biết dùng lính làm ruộng trước nước La-Mã thủa xưa."
Vậy Dân-tộc-tính đâu phải một vật không linh-động?
Dân-tộc ý-thức sứ-mạng lịch sử của nó, ý-thức vai
tuồng chủ-động của nó biểu-hiện ra thời gian và
không gian bên ngoài, nào vật tổ, nào lãnh thổ,
nào văn hóa, nào quốc học, nào kinh-tế chính-trị.
Cái ý-thức ấy tồn-tại như André Siegfried trong
Hàn Lâm Viên Pháp đã nhận định:
"Trong tâm lý các dân-tộc có một căn bản bất
biến nó luôn luôn biểu hiện ra. Về nhiều điểm chúng
ta còn giống với tổ-tiên Gaulois của chúng ta, và
những đặc tính mà sử-gia Tacite thời La-Mã đã ghi
nhận được ở các dân Man-di hay các dân Do-Thái đương
thời thì cũng còn nhận thấy được ở dân Đức, dân
Do-Thái ngày nay. Tuy nhiên phải có những sự thích
ứng." (L'Âme des peuples) Cái ý-thức ấy manh-nha
nẩy nở tự bên trong sâu thẳm tâm-hồn các phần-tử
nhân-dân để phóng đại ra bên ngoài ở các biểu hiện.
Rồi lại từ các biểu hiện cụ thể ấy phản-chiếu vào
trong tâm-hồn để lại phóng đại ra những chiến-công
oanh liệt của tướng sĩ, những chí-khí dũng-mãnh
của sĩ-phu, những hành-động phi thường, khảng khái
của tất cả anh-hùng dân-tộc.
"Thà làm quỉ nước Nam còn hơn làm vương đất
Bắc."
Trần Bình Trọng
Như vậy dân-tộc nào phải vô hồn?
Hồn của nó nằm trong Dân-tộc-tính, mọi sợi giây
truyền-thống bất tuyệt, nối quá khứ với hiện-tại,
kể từ vật tổ Rồng Tiên đến Hồn Sông Núi, đến Sơn
Hà Xã Tắc, cho đến hồn nước ngày nay ở miệng nhà
cách-mệnh Quốc Gia Phan Bội Châu: "Chứa chan
Máu-Quốc, Nước vẩn vơ hồn."
Hồn nước, cái ý-thức truyền-thống khi tiềm-tàng
khi biểu-lộ, từ cá-nhân thông với núi sông vũ-trụ,
một dòng bất đoạn bất phân nối quá-khứ với hiện-tại
và tương lai, đây là Dân-tộc-tính, và Dân-tộc-tính
ấy có thật.

|