
Nguyễn
Huy Thiệp
Trò
chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà
văn (3)
1. Cái khó của nghề văn thời nay
Trong khoảng hơn một thập kỷ đổi
mới, xã hội Việt Nam đã tiến những bước nhảy vọt
về nhiều mặt, Việt Nam đã hoà nhập được với nhiều
nước ở trong khu vực và trên thế giới. Quá trình
toàn cầu hoá đang diễn ra trên nhiều lĩnh vực như
chính trị, kinh tế và tri thức bất chấp những tư
tưởng cục bộ và "sô-vanh" bất hợp tác.
Về văn học, những cố gắng trong và ngoài nước đã
làm cho nhiều nhà văn "thức thời" ở ta
nhận ra được con đường gian khó nhưng cũng nhiều
triển vọng ở trong nghề nghiệp của mình. Khi xã
hội phát triển, nhu cầu hưởng thụ và làm ra những
sản phẩm văn học nghệ thuật có phần nào tưởng như
dễ dàng nhưng lại khó vô cùng. Tôi rất ngạc nhiên
và không thích thái độ kỳ thị và xem thường việc
xây dựng nên những công nghệ ở trong lĩnh vực giải
trí, trình diễn như ca nhạc, tạp kỹ v.v.. Việc đào
tạo, đánh bóng nhằm tạo ra những ngôi sao ca múa
nhạc tạp kỹ hoặc thể dục thể thao lv.v.. là rất
cần thiết. Ngay trong lĩnh vực văn học, đáng lẽ
cần phải khuyếch trương, xây dựng thành một công
nghệ đào tạo nhà văn mới thì vài năm trở lại đây
lại có ý kiến bỏ đi trường viết văn Nguyễn Du. Bỏ
thì dễ nhưng xây thì khó. Nhìn vào danh sách hơn
1000 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam người ta đều
thấy đa số đều chỉ là những người già nua không
có khả năng, sáng tạo và hầu hết đều… "vô học",
tự phát mà thành danh. Trong số này có tới hơn 80%
là nhà thơ tức là những người chỉ dựa vào "cảm
hứng" để tuỳ tiện viết ra những lời lẽ du dương
phù phiếm vô nghĩa, nhìn chung là lăng nhăng, trừ
có dăm ba thi sĩ tài năng thực sự (số này đếm trên
đầu ngón tay) là còn ghi được dấu ấn ở trong trí
nhớ người đời còn toàn bộ có thể nói là vứt đi cả.
Giai thoại có một nhà thơ nói về tình cảnh thơ ở
trong bài thơ sau đây (tôi đã đưa chuyện này vào
trong tiểu thuyết của tôi vì nó quá hay) khá tiêu
biểu cho thực tế đó: "Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ/
Hôm qua nó bảo: Dí thơ vào l…/ Vợ tôi nửa dại nửa
khôn/ Hôm nay lại bảo: Dí l… vào thơ!", tôi
cũng không phủ nhận cảm tình của nhân dân đối với
thơ nhưng quả thực trên thực tế cái danh nhà thơ
là một thứ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh
vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó: nhà thơ đồng
nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ
vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa.
Tôi biết sẽ có nhiều người phản
ứng lại điều tôi nói "trắng phớ" ra như
thế nhưng ở đây nó là thực tế. Tôi chỉ nói ra một
thực tế "tàn nhẫn" mà mọi người vẫn tránh
né hoặc "không nỡ" nói ra mà thôi. Đã
đến lúc người ta phải nhìn vào thực tế để thúc đẩy
văn học cũng như thúc đẩy xã hội phát triển.
Trên kia tôi đã nói đến việc xây
dựng một công nghệ đào tạo nhà văn, tôi ủng hộ ý
kiến nên xây dựng một vài khoa viết văn ở các trường
đại học ở ta. Viết văn phải trở thành một nghề nghiệp,
một nghề nghiệp chuyên nghiệp chứ không thể nghiệp
dư, tuỳ hứng được. Những nhà văn được đào tạo trong
nền công nghệ đó phải có những tiêu chuẩn và trình
độ chuyên môn nhất định. Nó không phải là toàn bộ
chân dung văn học trong xã hội đó. Khi hoà nhập
với thế giới bên ngoài luôn luôn có những sự trao
đổi hợp tác giữa các nhà văn các nước. Lớp nhà văn
cũ không còn phù hợp: họ không biết ngoại ngữ, không
biết vi tính, họ chỉ có quá khứ, họ không thể trò
chuyện và đối thoại "tay đôi" được với
bên ngoài về những vấn đề của thời hiện tại. Trong
sinh hoạt văn học, ở khía cạnh nào đó, việc viết
ra được những "bài văn" cũng chỉ là một
việc ngày nay người ta thực hiện một cách dễ dàng:
đa số sinh viên đại học đều có thể làm được không
khó khăn lắm. Khuôn mẫu " nhà văn cổ điển"
chưa chắc đã là duy nhất đúng, phù hợp và nên noi
theo đối với những thành niên tham gia vào công
việc văn học trên tinh thần "xã hội hoá".
Tôi đã thấy trong những chương trình " trò
chơi âm nhạc" trên ti-vi, người xem cũng hát,
cũng biểu diễn có khi chẳng kém gì những diễn viên
chuyên nghiệp. Khi văn học "xã hội hoá"
cũng sẽ xảy ra một cái gì tương tự như thế, nhất
là khi Internet phát triển. Văn học - cũng như nhà
văn sẽ ngày càng dân chủ hơn, thường hơn và vì vậy
ngay cả những vấn đề về lý luận văn học cũng không
phải cứ mũ cao áo dài và giữ nguyên cung cách chuyên
chế, áp chế kiểu "các cụ" mãi được.
Trong xã hội phát triển, văn học
rất thường nhưng để vượt lên, trở thành một cái
gì đó ngoại hạng là rất khó. Hình mẫu thiên tài
văn học ngày nay khác trước rất nhiều. Trong sách
giáo khoa văn học người ta thấy rõ văn học đã bị
đông cứng lại, cũ kỹ và "phản động": nó
cứ ê a mãi những "song viết" và "song
kiết", học sinh chỉ nghiên cứu và học tập "những
thây ma cũ" hoàn toàn không được "tiếp
máu" bởi những sinh lực văn học cường tráng
và lành mạnh.
Nếu như khoảng 20 năm đến 30 năm
nữa danh sách Hội viên Hội Nhà văn ở ta có tới hơn
80% nhà văn (chứ không phải nhà thơ) khoảng ở độ
tuổi 25 đến 50 tuổi thì đấy mới là việc hợp quy
luật. Ở ta vẫn có câu: "ốm tha, già phải".
Văn học, đối tượng của nó là những người trẻ tuổi.
Nó không phải là sân chơi của "đám giặc già
lăng nhăng thơ phú". Trước Tết Nguyên đán tôi
có ngồi dự một bữa tiệc tất niên ở nhà kỹ sư Đào
Phan Long với nhiều tên tuổi văn nghệ sĩ khá lừng
danh trên đất kinh kỳ. Nhà thơ Trần Ninh Hồ đọc
một bài thơ phóng dật trong đó có câu: "Ông
lão lục tuần đi trong sương gió/ Sương gió không
biết ông lão lục tuần". Hay thì hay thật nhưng
tôi cũng hơi sờ sợ những ông lão lục tuần … gân
quá!
2. Trên con đường văn học
Thực ra, trên con đường văn học
thì có rất nhiều lối đi khác nhau, "mọi con
đường đều dẫn đến thành Roma", có người đến
trước, người đến sau, người đứt gánh giữa đường,
người đến đích hăm hở, người đến đích thân tàn ma
dại, có người đến đích vinh quang, có người đến
đích với cả bầu đoàn thê tử v.v… Tạo hoá tuyệt vời
và rộng lượng sẵn lòng mở ra cơ hội cho tất cả mọi
người không trừ ai cả. Nhưng cảnh giới văn học ở
mỗi hạng cũng khác nhau và sự phong phú có vẻ vừa
dân chủ vừa mất dân chủ ấy đã làm nên sự hấp dẫn
chết người của văn học. Tôi không hề coi những ý
kiến của tôi là chân lý, tôi chỉ nêu ra những suy
nghĩ "nhầm lẫn" để mọi người trong giới
văn học xem xét mà thôi. Văn học tác động đến xã
hội bằng con đường ngầm, "phi chính phủ"
và rất trực tiếp. Khi một nhà văn "phát sóng",
những độc giả có cùng tần số "bắt sóng"
ấy, tiềm năng trong họ được đánh thức và giời mới
biết họ sẽ làm gì. Khi những phương tiện thông tin
đại chúng phát triển, các môn nghệ thuật giải trí
phong phú, chức năng giáo dục được trải rộng, nó
không còn chỉ đặt lên mỗi đôi vai còm cõi của văn
học ngày xưa nữa. Nếu chúng ta chú ý nhìn một chút
thì sẽ nhận ra con trẻ ta ngốn những truyện tranh
manga còn nhiều hơn sách văn học tỉ tỉ lần. Chúng
không đọc " Những cánh buồm đỏ thắm" của
Grimm, "Dế mèn phiêu lưu ký" của Tô Hoài
nữa mà dành thời gian đó cho "Đôrêmon"
hoặc các siêu nhân. Trong Hội nghị Lý luận văn học
ở Tam Đảo năm 2003, chẳng thấy có một tham luận
nào dành cho văn học thực sự. Không còn ai cứu trẻ
con nữa. Tất cả những người "hành nghề văn
học" ở ta đều muốn "dĩ hoà vi quý",
đều muốn có nhưng cuộc chơi đèm đẹp, chơi có thưởng,
không ai muốn " hy sinh" nữa. Trong chuyến
về nước năm ngoái, nhà văn Phạm Thị Hoài nhận xét
: "Ở trong nước, những người viết văn hiện
nay sống sướng quá, nhà nước, xã hội yêu chiều,
cưng chiều họ quá. Ở nước ngoài khó khăn khổ sở
hơn nhiều, rất nhiều". Tôi nhận ra sự ngậm
ngùi trong nhận xét của Phạm Thị Hoài. Nhận xét
đó không hẳn đã đúng nhưng cũng là một ý kiến đáng
để cho những nhà văn có lương tâm ở ta xét lại.
Trên báo chí, thỉnh thoảng vẫn thấy các nhà báo
"rồ lên" vì có tin nhà văn này, nhà văn
kia "ẵm" các giải thưởng, nhận tiền tài
trợ. Chuyện này hay dở thế nào chưa bàn. Nó cũng
chỉ là một mặt " bề nổi" của văn học,
theo tôi cũng là tốt. Nhưng - một khi dư luận văn
học thực sự chỉ rồ lên vì cái "bề nổi"
ấy thì cũng chưa hẳn đã "có lương tâm".
Trong truyền thống, văn học đồng nghĩa với sự thanh
đạm. Sinh hoạt văn học (nói rộng ra là cả sinh hoạt
tinh thần) ở ta - ít nhất là ở Thủ đô - theo tôi
hiện nay là thảm hại, chẳng có gì đáng để người
ta quan tâm, say sưa. Tất nhiên trên thực tế, ở
đâu có một cuốn sách hay, một bài viết hay những
người quan tâm đến văn học đều cố tình đọc qua không
bỏ sót. Rõ ràng văn học vẫn có cách tồn tại riêng
của nó và vẫn âm thầm "đi những bước sấm đông
rền" (Goethe) trên con đường hẹp, con đường
định mệnh gian khó dành riêng cho nó. Văn học giá
trị bao giờ cũng đề cao nhân tính. Một xã hội không
có những tác phẩm văn học hay, không có những tác
phẩm văn học giá trị nghĩa là nhân tính mất đi.
Trách nhiệm đó không phải chỉ ở một người nào mà
nó ở toàn xã hội.
Khi nói về nhân tính xưa nay các
nhà lý luận văn học thường cũng chỉ mới đề cập một
chiều đến lòng tốt, đến cách cư xử quân tử v.v...
Người ta không nhìn thấy "bộ mặt thứ hai"
của nhân tính mặc dầu "các cụ" ngày xưa
cũng đều đã cảnh tỉnh cả rồi: "Bởi chưng hay
ghét cũng là hay thương" (Nguyễn Đình Chiểu),
"Nơi thì lừa đảo nơi thì xót thương" (Nguyễn
Du) v.v… Cái gì cũng có hai mặt (thậm chí vài ba
mặt) kể cả "nhân tính". Độc giả có kinh
nghiệm văn học rất dễ nhận ra những khuôn mặt ngụy
quân tử trong các tác phẩm của các nhà văn. Dối
trá, đạo đức giả - người ta chỉ đọc có vài ba trang
là nhận ra liền. Không phải tự dưng mà các nhà văn
cổ điển luôn luôn nói về sự trung thực ở nhà văn
và trong lao động văn học. Thế nào là trung thực?
Trung thực với mình, với người, với xã hội, với
chữ nghĩa. Văn điêu, văn ma, phò nịnh, "nên
thơ" v.v… là thứ rất dễ ngộ nhận. Có nhiều
tác phẩm, người ta vẫn phải đọc, vẫn phải chấp nhận
mặc dầu ai nấy đều cũng có "cảm giác"
là nó thối tha, song - như tôi đã nói, thời đương
đại bao giờ cũng có "không khí" suy đồi,
cần phải có một thời gian rất dài thì những cái
xác suy đồi mục nát ấy mới mất hết đi cái mùi ô
uế của nó.
Biết làm sao bây giờ?
3. Lời kết thay cho hoa thủy tiên
Ngày Tết, đi mua giò hoa thủy tiên
tôi mới ngã ngửa ra rằng tất cả giống hoa thủy tiên
ở ta đều được nhập từ Trung Quốc. Không phải thủy
tiên mà rất nhiều loài hoa khác nữa, thậm chí cả
đào! Đi vào các hiệu sách, vẫn thấy văn học hiện
đại Trung Quốc chiếm thượng phong ở trên giá sách.
Về nhà mở ti-vi, phim truyền hình Trung Quốc vẫn
thu hút người xem đông nhất. Văn hoá Việt Nam chịu
ảnh hưởng của Trung Quốc tất nhiên rồi, xưa nay
vẫn thế. Tôi ngắm nhìn giò hoa thủy tiên và nghĩ
ngợi nhiều. Để hoa thủy tiên nở đúng vào lúc giao
thừa là cả một nghệ thuật vun trồng, gọt tỉa công
phu. "Chơi hoa nào đã mấy người biết hoa"
vốn là thói đời phàm tục. Một tác phẩm hợp thời,
ra đời đúng lúc cũng là một nghệ thuật, có người
còn coi nó là số mệnh tác phẩm. Song le, những "tác
phẩm đi trước thời đại" bao giờ cũng sẽ chẳng
hợp thời. Ngồi buồn giở báo ra xem, thấy có mấy
bác Hai Lúa ở Nam Bộ (Trần Quốc Hải, Lê Văn Danh)
chế tạo ra máy bay trực thăng để phun thuốc trừ
sâu cho mía mà cười ra nước mắt. Tôi thích câu kết
của nhà báo Nguyễn Hồng Lam: "Tinh thần sáng
tạo rất đáng khâm phục. Đáng tiếc, mơ ước ấy đã
vượt quá sự cho phép của giới luật. Đột nhiên giật
mình tự hỏi: trăm năm trước, anh em nhà Wiright
đã gặp may vì không gặp các thứ luật định văn minh
bó buộc. Nếu không, đến bây giờ chắc gì có ngành
hàng không với những chiếc máy bay tung cánh bốn
phương trời?" (báo An ninh thế giới ra ngày
19/02/2004). Trong văn học, không còn nữa những
cuộc thí nghiệm giống như chuyện làm ra máy bay
trực thăng. Để biết văn học đổi mới, chỉ cần dịch
sách Trung Hoa xem là đủ. Nó cũng giống như giò
hoa thủy tiên kia, nhập vào với giá rẻ như bèo chẳng
phức tạp gì, thả sức chơi "te tua" trong
thời gian Tết.
Này hoa thủy tiên, tôi ước chi đây
là giống hoa của người Việt Nam trồng ra trên đất
Việt Nam. Vệ Tuệ, Miên Miên, Cửu Đan… ước gì đấy
sẽ là những tên tuổi của các nhà văn Việt Nam?
Xã hội Việt Nam đang ngày càng phát
triển phong phú và đa dạng. Luôn luôn có những cơ
hội dành cho tuổi trẻ. Trong lĩnh vực văn học cũng
vậy. Vấn đề là phải có tình yêu với nó. Không có
tình yêu thì chẳng làm gì được cả.
- Và với "một mẩu bánh mỳ con
con" [1] nữa chứ?
- Tất nhiên rồi!
Tết Giáp Thân 2004
Tạp chí Ngày
Nay, Hà Nội, số 6, 15.3.2004
--------------------------------------------------------------------------------
[1]Thơ Phan Thị Vàng Anh thời trẻ:
"Hôm nay trời nắng chang chang
Mèo con đi học chẳng mang được gì
Chỉ mang một cái bút chì
Và mang một mẩu bánh mỳ con con."
Trò
chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà
văn (1)
Trò
chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà
văn (2)
Trò
chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà
văn (3)
Có
thật đa số các nhà văn Việt Nam đều vô học, các
nhà thơ đều lưu manh – hay là “hội chứng chửi có
thưởng” thời nay?
Một
số tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp
Tướng
Về Hưu, 1988
CHúT
THOáNG XUâN HươNG (Nguyễn
Huy Thiệp)
Chảy
đi sông ơi-Nguyễn Huy Thiệp
CHăN
TRâU CắT Cỏ-Nguyễn Huy Thiệp

Về trang chủ
XEM
TIẾP
|