|
Tư
tưởng Nguyễn Khuyến trong Thơ Nguyễn Khuyến
1. Nguyễn Khuyến (1835-1909) là một trong những
cây đại thụ của văn học dân tộc. Tuy bóng mát của
cây đại thụ ấy không rợp bóng thời gian suốt bao
thế kỷ như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, nhưng gốc rễ
của nó đã ăn sâu vào đất Việt, góp phần tạo nên
tâm hồn dân Việt.
Nguyễn Khuyến là nhà thơ cuối thế kỷ thứ XIX nhưng
ông vẫn còn viết cho đến tận những năm đầu thế kỷ
XX trên chặng đường chuyển tiếp hai thời kỳ văn
học từ trung đại bước sang cận đại. Ông là một trong
những đại diện lớn nhất và cuối cùng của văn học
Việt Nam trung đại, người chứng kiến những bước
thăng trầm bi thương vào loại bậc nhất của lịch
sử dân tộc, tận mắt chứng kiến sự thất bại của triều
đình nhà Nguyễn và các phong trào yêu nước trước
một kẻ thù hoàn toàn xa lạ và ông cũng là người
nhận thấy một cách đau xót nhất sự sụp đổ của một
hệ tư tưởng đã lỗi thời, cũng như sự bất lực đến
hài hước của một loại hình tri thức đại diện cho
hệ tư tưởng ấy trước thực tế lịch sử.
Tưởng rằng cùng với sự kết thúc của thể chế xã
hội lạc hậu ấy, nền văn học Việt Nam trung đại sẽ
rơi vào ngõ cụt của sự bế tắc với một phương thức
phản ánh đã lỗi thời. Nhưng thật kỳ lạ là từ trong
sự suy thoái tưởng chừng đã đến đỉnh điểm lại xuất
hiện một tài năng thơ ca vào loại xuất chúng như
Nguyễn Khuyến. Ông giống như một dấu chấm cảm thán
khẳng định tính cổ điển có sức làm lay động lòng
người của văn học trung đại vào giai đoạn cuối cùng
của thời kỳ văn học dài hàng chục thế kỷ này của
dân tộc.
Nguyễn Khuyến là vị đại diện khá tiêu biểu cho
lớp người do xã hội phong kiến đào tạo. Ông quyết
chí đi thi và đỗ đầu cả ba kỳ thi, được vua Tự Đức
ban cờ hiệu và hai chữ Tam Nguyên, tài năng lừng
lẫy một thời. Nhưng số người đỗ đạt cao mà tên tuổi
lưu truyền cho đến hậu thế như Nguyễn Khuyến không
phải là nhiều bởi Nguyễn Khuyến đã thể hiện tài
năng của mình ở cả hai phương diện: tài học và tài
thơ văn, cả hai đều xuất sắc. Cái trước là cái của
một thời, còn cái sau là cái của muôn đời. Ông không
phải là anh hùng dân tộc như Nguyễn Trãi, nỗi niềm
của ông có điểm gần với Nguyễn Du: đều phải làm
những việc miễn cưỡng, đều có những nỗi dằn vặt
có lẽ không tiện nói ra và đều mong hậu thế hiểu
cho lòng mình, cho nỗi khó xử của mình. Đó là những
nhân cách lớn của lịch sử. Họ là những người mang
ơn sâu lặng của chế độ xã hội đã đào tạo và tôn
vinh mình và đến khi đạt đến đỉnh cao của vinh quang
cũng là lúc họ chợt nhận ra mặt trái đen tối của
xã hội mà mình nguyện đem hết sức mình ra phụng
sự, tôn thờ. Đó là một xã hội đang suy thoái, đày
đọa con người (thời Nguyễn Du); cũng vẫn xã hội
đó nhưng đến lúc đã hết thời, hết vai trò lịch sử
và đi ngược lại lòng dân, đi ngược lại quyền lợi
dân tộc (thời Nguyễn Khuyến). Không phải người tri
thức nào trong cơn phong ba của lịch sử cũng nhận
ra được bộ mặt thật của giai cấp mình, thừa nhận
sự bất lực của nó trước lịch sử. Nguyễn Khuyến lớn
chính vì ông là một trong rất ít trí thức thời kỳ
ấy sớm nhận ra sự bất lực của giai cấp mình, của
vốn học vấn được đào tạo theo kiểu "kinh bang
tế thế" của mình trước thực tế lịch sử, đem
ra trào phúng, châm biếm thần tượng cao nhất của
cả một thể chế xã hội đã tồn tại hàng ngàn năm -
ông Tiến sĩ, nay đã trở thành thứ đồ chơi bằng giấy
để “dử thằng cu”.
“Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe
Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi"
(Vịnh Tiến sĩ giấy)
Thật là một hình ảnh thảm hại! Giá trị phê phán
càng trở nên sâu sắc hơn khi bản thân sự phê phán
lại chính là sự tự phê phán tự trào. Bởi trong số
những “ông nghè tháng Tám ” hết thời ấy có cả bản
thân ông Tam nguyên làng Yên Đổ. Có lẽ Nguyễn Khuyến
là người tri thức đầu tiên trong thời đại ông có
được cái nhìn như vậy. Con người ta tự hài hước
mình, tư “bôi nhọ” mình, tự hạ bệ và tự “ăn thịt
mình” khó lắm, nhất là lúc mình đang ở đỉnh cao
của vinh quang, sự tự mãn, chủ quan, hoa mắt vì
danh vọng là chuyện thường tình. Biết rằng mình
cũng có “khuyết điểm”, cũng có hạn chế đã là khó,
biết dũng cảm nhận “khuyết điểm” và sửa chữa hạn
chế còn khó hơn. Còn việc dám đem cái lỗi thời của
mình ra để “nhạo báng”, châm biếm thì không phải
ai, không phải giai cấp nào cũng dám làm:
“Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng”
(Tự trào)
Ông cay đắng nhận thấy cả xã hội từ trên xuống
dưới là một sân khấu hề mà những diễn viên chính
không ý thức được sự lố bịch gây cười của mình
“Vua chèo còn chẳng ra gì
quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề "
(Lời vợ người hát chèo)
Nhưng điều còn cay đắng hơn là Nguyễn Khuyến nhận
ra bản thân mình cũng là một "quan nhọ".
Tính bi hài của hình tượng văn học như vậy càng
trở nên sâu sắc gấp bội. Ông chính là vị Tiến sĩ
giấy, quan chèo, phỗng đá, ông cũng chính là bậc
"ăn dưng", lão già già điếc, v.v. Có lẽ
Nguyễn Khuyến là nhà thơ có những bài thơ tự trào
vào loại sâu sắc nhất trong văn học Việt Nam, người
giã từ thế kỷ XIX bằng những bài thơ cười ra nước
mắt “Năm canh máu chảy đêm hè vắng”. Sắc điệu thẩm
mỹ này có phần mờ nhạt hơn trong thơ trào phúng
của Tú Xương- nhà thơ lớn cùng thời với ông.
Màu sắc trữ tình rất đậm đà trong thơ trào phúng
Nguyễn Khuyến đã tạo nên những âm hưởng trào phúng
đa dạng. Buồn là âm hưởng rõ nét xuyên suốt đời
thơ Nguyễn Khuyến. Thơ ông thời kỳ về ở ẩn hiếm
bài có tâm trạng vui. Ngay cả ba bài thơ thu nổi
tiếng của ông cung chứa đựng một nỗi buồn mang mác
thắm đượm trong từng chi tiết, từng hình ảnh. Nỗi
buồn ấy thể hiện nhân cách của một ngòi bút trước
tình cảnh đất nước, trước những thăng trầm của cuộc
đời, nó cũng làm nên vẻ đẹp thơ Nguyễn Khuyến.
Thơ văn trào phúng Việt Nam phải đến Nguyễn Khuyến
và Tú Xương mới trở thành một dòng thật sự. Phải
nói rằng sự thông minh hóm hỉnh và cái “tạng” của
Nguyễn Khuyến rất phù hợp với thơ trào phúng. Ở
rất nhiều bài thơ của ông già Yên Đổ chúng ta đều
thấy thấp thoáng một nét cười hóm hỉnh đằng sau
những câu chữ. Trong những bài thơ trào phúng của
mình ông thường tóm tắt được ở đối tượng những điểm
yếu gây cười hết sức sắc sảo, lột tả được bản chất
của hiện tượng cần trào phúng. Nhưng thơ Nguyễn
Khuyến, kể cả thơ trào phúng đều mang tính tư tưởng
rõ rệt. Một số bài thơ còn thể hiện một cách nhìn
khách quan mới mẻ so với các nhà thơ đương thời.
Khác với nhiều nho sĩ có quan điểm cực đoan lúc
bấy giờ, Nguyễn Khuyến không chỉ nhìn thấy mặt xấu
xa của giặc Pháp bên cạnh việc tố cáo cái gọi là
“khai hoá văn minh” của kẻ thù đã đày đọa thân phận
bao người dân vô tội vào nơi “rừng xanh núi đỏ hơn
ngàn dặm”, tố cáo hành động ăn cướp “khoét rỗng
ruột gan trời đất cả” (Hoài cổ) của non sông đất
nước mình, ông còn nhìn thấy cái “khéo”, cái giỏi
của xứ người qua hội “đấu xảo”
“Thi khéo bày ra kể có vần
Khéo mà lại mới, khéo vô ngân ”
Ở đây một lần nữa chúng ta lại được chứng kiến
cái nhìn tỉnh táo, khách quan của Nguyễn Khuyến
khi ông đem “quan” ra trưng bày như một giống vật
lạ của xứ thuộc địa trong sự đối lập hài hước với
những thứ tinh xảo “khéo mà lại mới” của xứ người:
“Xứ tôi xoàng xĩnh không gì khéo,
Tượng gỗ cân đai tạm góp phần”
Nguyễn Khuyến, mặc dù chưa được tiếp cận với những
tư tưởng mới của thời đại, với tân thư như thế hệ
tri thức sau ông, nhưng bằng những tình cảm nhạy
bén của một tài năng thơ xuất chúng ông đã phần
nào nhìn thấy những mặt mâu thuẫn, hạn chế của giai
cấp và xã hội đã sản sinh ra ông. Những điều ấy
phải vài năm sau mới được các nhà tân thư, các chí
sỹ cách mạng làm sáng tỏ. Rõ ràng là những vần thơ
của Nguyễn Khuyến mang tính tư tưởng, cho dù ngay
chính bản thân nhà thơ cũng chưa ý thức đầy đủ điều
đó. Đó là những báo hiệu cho sự cáo chung của một
hệ tư tưởng đã lỗi thời, sự thừa nhận tư tưởng trung
quân đã mất vai trò lịch sử, điều mà các nhà nho
trước ông, ngay cả những người từ quan về ở ẩn,
lẫn những sĩ phu, văn thần trong phong trào Cần
vương cũng chưa làm được. Điều đó lý giải cách tiếp
cận mới mẻ trong phong thơ Nguyễn Khuyến; nó vừa
như một sự tiếp tục truyền thống lại như một sự
bứt lên tách khỏi truyền thống.
2. Dằn vặt đau đớn vì mình không làm được người
anh hùng nơi hòn tên mũi đạn như bao nghĩa sĩ Cần
vương khác, Nguyễn khuyến hết sức cảm phục hành
động xả thân vì nghĩa lớn của các bạn bè đồng liên
và thẹn cho mình còn “dủng dẳng” (thoan tuần) không
theo được họ (Đêm xuân thương con thiêu thân). Về
mặt này Nguyễn Khuyến là một con người cô độc, ông
luôn sợ mọi người không hiểu và coi thường mình.
Nỗi niềm đau đớn cho mình là kẻ bỏ cuộc, chạy làng
luôn dằn vặt ông cho đến tận những ngày cô đơn cuối
đời.
“Cờ dang dở cuộc không còn nước
Bạc chưa thâu canh đã chạy làng”
Nguyễn Khuyến trở về vườn Bùi, nơi anh khóa Thắng
(tên của nhà thơ lúc nhỏ khi đi thi Hội không đỗ
đổi thành Khuyến) đã hăm hở bước chân vào con đường
hoan lộ, quyết giật cho được ngôi vị cao nhất chốn
trường ốc. Đó là sự trở về không hề đơn giản chứa
đựng trong đó biết bao nhiêu dằn vặt nghĩ suy. Bởi
một con người khác trong ông vẫn còn hăm hở với
đời lắm, chừng vẫn còn nuối tiếc muốn “đan tay vào
hội lạc”, không muốn vứt bỏ một cách dễ dàng những
gì mình phải khó nhọc bao năm trời mới giành giật
được từ cuộc đời. Nhưng may mắn thay cho lịch sử
văn học dân tộc, “con người thứ hai” lớn hơn, con
người đầy nhân cách và trách nhiệm với non sông
đất nước, con người tỉnh táo trước thực tế lịch
sử trong Nguyễn Khuyến đã chiến thắng. Sự trở về
vườn Bùi của Tam nguyên Yên Đổ là sự thể hiện sáng
rõ của một nhân cách, là sự bất hợp tác với kẻ thù
dân tộc. Và cao hơn là sự từ bỏ phần nào nhưng không
kém day dứt với tư tưởng trung quân đã lỗi thời,
với một hệ tư tưởng đã không còn hấp dẫn. Trở về
làng quê là tìm về với sự thanh thản của cõi lòng,
để quên đi những dằn vặt đớn đau.
Văn học luôn song hành cùng lịch sử nhưng văn học
cũng có những quy luật riêng của mình. Không phải
cứ giai đoạn nào xã hội thịnh vượng thì văn học
phát triển hơn các giai đoạn lịch sử khác. Chính
là vào những thời điểm khốn cùng nhất, khi dân tộc
tưởng chừng như bị hủy diệt trước quân thù, hoặc
khi Tổ quốc rên xiết trước nạn nội chiến, hay khi
kẻ thống trị ra mặt phản động, dìm dân tộc và người
tri thức trong những bước đường cùng thì lại là
lúc xuất hiện những tác phẩm văn học và những tác
giả vào loại kiệt xuất nhất. Cuộc đời của một nhà
văn cũng vậy, lúc mà anh ta đạt đến đỉnh cao của
danh vọng, giàu sang phú quý thì chưa chắc đã phải
là lúc bút lực của anh ta thu phục được nhiều người
đọc nhất, có khi lại là lúc văn phong nhạt nhẽo
hơn cả. Nhưng chính vào lúc anh ta phải từ bỏ tất
cả, lúc mà tưởng chừng cuộc đời nhấn chìm anh trong
đau khổ thì lại là lúc những tác phẩm nghệ thuật
bất hủ được thai nghén. Các nhà nghiên cứu văn học
đều đánh giá rất cao hành động trở về Yên Đổ của
Nguyễn Khuyến, coi đó là một bước ngoặt quan trọng
nhất của đời ông. Chính bắt đầu từ đó những tác
phẩm xuất sắc nhất của nhà thơ ra đời và còn đọng
lại mãi trong lòng bao thế hệ. Chính vị Tam nguyên
về vườn ấy, chính con người từ đỉnh cao danh vọng
vốn áo mũ xênh xang ấy nay đã trở về hòa mình cùng
người dân nghèo “chân lấm tay bùn”, chân đi đất
mình bận bộ quần áo thôn quê:
“Vườn Bùi chốn cũ,
Bốn mươi năm lụ khụ lại về đây
Trông ngoài sân đua nở mấy chồi cây
Thú khâu hác lâm tuyền âu cũng thế ”
(Trở lại vườn cũ)
Nguyễn Khuyến đã bỏ lại sau mình những tầm thường,
trích cú, những vay mượn ồn ào, những vần thơ quý
phái tẻ nhạt, đưa văn học về với cội nguồn dân tộc,
với làng quê, với người nông dân nghèo khó vất vả.
Nhưng nếu không có những ngày vinh quang sôi kinh
nấu sử ở chốn kinh đô, không tắm mình trong không
khí văn chương bác học, quý phái chốn quan trường,
không tiếp thu tự do những giá trị nhân bản truyền
thống thì cũng khó mà có được những vần thơ vừa
sang trọng, uyên bác, vừa gần gũi, dân giã nơi vườn
Bùi. Không có những ngày ấy thì Nguyễn Khuyến có
lẽ giỏi lắm cũng chỉ là một anh đồ quèn có vài ba
bài thơ hài hước mà giá trị không vượt quá khỏi
luỹ tre làng. Có nhiều người đối lập hai thời kỳ
làm quan và ở ẩn, coi nhẹ thời kỳ trước trong cuộc
đời Nguyễn Khuyến; nhưng mặc dù giữa hai thời kỳ
đó có sự khác nhau về chất song giữa chúng lại có
mối quan hệ biện chứng liên kết nhau. Giai đoạn
lều chõng đi thi rồi làm quan chính là thời gian
nhà thơ làng Yên Đổ góp mặt với đời, học hành hết
sức mình, bôn ba đây đó, tiếp xúc và chứng kiến
bao sự đời, tham gia vào các biến cố lịch sử, xã
hội, mở rộng tri thức và tầm mắt. Chính vì vậy khi
về ở ẩn mình nơi thôn xóm, tầm nhìn và trí tuệ của
ông không hề bị bó hẹp trong giới hạn của lũy tre
làng, nó vẫn bắt nhịp cùng với thời đại và góp phần
tạo nên sự phát triển liên tục cho văn học dân tộc.
Sự trở về Yên Đổ là một bước ngoặt quyết định quan
trọng trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Khuyến.
Và thơ văn ông chính là sự kết hợp một cách nhuần
nhuyễn giữa những cái tinh hoa của văn học bác học
dân gian được chắt lọc từ ngàn đời của dân tộc.
Ở mỗi một thời kỳ của lịch sử văn học, nhất là ở
những giai đoạn phát triển rực rỡ thường xuất hiện
những tài năng có năng lực kết hợp ở mức độ cao
hơn tinh hoa của văn học dân gian và văn học bác
học. Văn học dân gian chính là cội nguồn nuôi dưỡng
văn học dân tộc, giúp văn học dân tộc thoát khỏi
những bế tắc và ràng buộc. Nhưng cũng chính văn
học bác học với những tri thức thông minh, bác cổ
đã góp phần vô cùng quan trọng gìn giữ, phát huy,
sáng tạo giúp cho văn học dân gian phát triển.
Sự kết hợp quan trọng nhất trong văn học Việt Nam
bắt đầu từ Nguyễn Trãi, ông đã tạo ra một bước ngoặt
và sự khởi đầu hết sức quan trọng cho văn học dân
tộc, trong đó thể hiện rõ sự kết hơp thuần nhuyễn
giữa trí tuệ bác học và dân gian, đem lại cho văn
học tinh thần của thời đại và hơi thở của dân tộc
điều mà trước đó còn mờ nhạt.
Nguyễn Du cùng với Truyện Kiều đã làm một bước
tổng hợp lớn tiếp theo có giá trị khẳng định sự
lớn mạnh của văn học dân tộc, một lần nữa đưa văn
học dân tộc lên đỉnh cao mới. Sự kết hợp lần này
là hết sức lớn cả về chất lượng và quy mô đã góp
phần tạo nên một giai đoạn văn học rực rỡ.
Bước tổng hợp ở Nguyễn Khuyến có phần khiên tốn
hơn nhưng không phải là không có những thành tựu
mới mẻ tạo nên một dáng vẻ riêng biệt. Ông không
có những “thiên cổ hùng văn”, những tác phẩm dài
tầm cỡ, ông đặc biệt thành công ở những thể loại
nhỏ - ở đó tinh hoa của nền thơ ca gần một ngàn
năm của dân tộc được chắt lọc, chưng cất của từng
câu chữ tạo nên những tác phẩm như có ma lực hấp
dẫn và gần gũi ngay cả với những người nông dân
bình thường. Sự gần gũi và dân giã đó, những bậc
thi hào trước ông cũng khó có thể có được.
Sự trở về của Nguyễn Khuyến cũng chính là sự trở
về với nhân dân, sự hòa mình với môi trường sống,
môi trường văn học vốn gần gũi với ông từ thủa lọt
lòng. Và cũng chính ở đó những phẩm chất vốn tiềm
tàng trong con người thơ của ông được phát huy và
phát hiện trở lại. Thơ ông là sự kết hợp thuần nhuyễn
của nhiều phẩm chất thơ ca: dân gian và bác học,
trữ tình và trào phúng, v.v. là sự hội tụ nhiều
phẩm chất của thơ ca dân tộc và của các bậc thi
hào trước ông. Điều đó đã khiến cho giọng điệu trong
thơ Nguyễn Khuyến trở nên đa dạng, là sự kết hợp,
đan xen, hòa trộn của nhiều màu sắc thẩm mỹ. Nguyễn
Khuyến cũng là người viết được rất nhiều thể loại
thơ trữ tình, trào phúng, các thể thơ thất ngôn,
ngũ ngôn, tứ tuyệt, lục bát, song thất lục bát.
Ông còn là một nhà soạn câu đối vô địch, là người
viết báo nói có biệt tài và đầy sáng tạo, một dịch
giả suất sắc, thơ Nôm, thơ Hán của ông đều rất hay.
Ở đây có thể nói đến một sự trở về mang tính triệt
để hơn so với truyền thống. Khác với Nguyễn Trãi
khi về Côn Sơn, Nguyễn Bỉnh Khiêm khi về Bạch Vân
Am, Nguyễn Du khi bôn ba trong thiên hạ, Nguyễn
Khuyến trở về vườn Bùi và sống thật sự đời sống
của người dân. Ông không có tâm trạng day dứt ở-đi,
đi-ở, ở ẩn chỉ là tạm lánh của Nguyễn Trãi, hay
như thế ở ẩn để làm thầy thiên hạ của Trạng Trình.
Ông dứt áo về quê là về hẳn, bởi làm quan ở thời
buổi ông đồng nghĩa với làm tay sai cho giặc, nhà
thơ chỉ còn một chút băn khoăn là chưa trả hết được
ân nghĩa cho nhà vua và triều đình đã tôn vinh ông
nhưng ông cũng chẳng còn vua hiền để thờ phụng,
mọi điều học được từ sách vở thánh hiền đều đã trở
nên vô dụng. Vì vậy ông Tam nguyên trở về với dân
chúng Yên Đổ mà chịu rất ít sức ép của tư tưởng
chính thống. Ông thật sự trở về với vườn cà, luống
cúc đúng với nghĩa đen của nó. Đó là một sự trở
về triệt để cả trong tư tưởng lẫn trong nghệ thuật.
Nguyễn Khuyến sống đời sống của người nông dân
quê ông và ông viết về cuộc đời họ, cảnh đời của
họ. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch sử gần
nghìn năm của văn học dân tộc đời sống nghèo khó
của người nông dân với những quang cảnh sinh hoạt
bình thường ở thôn quê trở thành đối tượng phản
ánh của thơ ca. Rất lạ đó lại là nền thơ ca của
một đất nước nông nghiệp và người nông dân là lực
lượng chiếm đại đa số trong xã hội.
Nguyễn Khuyến chính là nhà thơ viết về nông thôn
số một của văn học dân tộc. Điều kỳ lạ là nông thôn
Việt Nam đã tồn tại hàng nghìn năm và đã xuất hiện
trong thơ ca của nhiều hế hệ nhà thơ nhưng một lần
nữa lại vừa như được phát hiện lại qua thơ văn Yên
Đổ ở những góc độ không ngờ. Thử hỏi các nhà thơ
lớn trước Nguyễn Khuyến đã viết được những gì về
làng quê và người nông dân? Quả thật phải đến Nguyễn
Khuyến văn học mới thật sự bước xuống đồng ruộng.
Đến với người dân nơi thôn dã và từ cuộc sống lam
lũ mà cũng không kém phần thơ mộng của làng cảnh
Việt Nam, thơ ca mới được kết tinh trở nên chân
thực, chi tiết, sinh động đến mức như vậy. Nông
thôn và đời sống người nông dân trong thơ có trước
Nguyễn Khuyến đi vào văn học không phải như một
đối tượng để nhà thơ phản ánh mà như chỉ như một
duyên cớ để các tác giả tỏ bày đạo lý. Nhà thơ đưa
vào thơ hình ảnh của một con trâu, một mái nhà tranh,
một nông phu... không phải với mục đích phản ánh
cuộc sống đích thực của những con người và cảnh
trí đó. Thuờng thì đó là những hình tượng trưng,
ước lệ thiếu sức sống. Không nói đến những bài thơ
xướng họa trong “Hồng Đức quốc âm thi tập”, trong
đó người nông dân hiện nên không giống như họ trong
thực tế, quang cảnh đồng quê ở đây cũng trừu tượng
và ước lệ; hoạ hoằn lắm trong thơ cổ ta mới bắt
gặp những cảnh trí đồng quê thật và sống như trong
thơ Thái Thuận (1441-?), một “Nhà cỏ tuôn làn khói”,
một tiếng “vắt trâu” trong sương sớm, một đàn “cò
trắng giật mình bay” v.v. Nhưng quả thật những hình
ảnh đó còn thi vị hóa và xa lạ lắm với cuộc sống
lam lũ của người nông dân sau lũy tre làng.
Chỉ đến Nguyễn Khuyến mới làm được những điều mà
thơ ca truyền thống chưa làm được. (Và ngay cả trong
thơ hiện đại có lẽ cũng chưa có được một “nhà thơ
nông thôn” nào tầm cỡ như Nguyễn Khuyến). Một nông
thôn thật sự đã hiện ra trong thơ Yên Đổ. Đó là
một nông thôn đã từng gắn bó máu thịt với nhà thơ
ngay từ thủa lọt lòng.
Tuy xuất thân từ một dòng họ có truyền thống khoa
bảng nhưng gia đình Nguyễn Khuyến rất nghèo, cha
mất sớm, ông phải đi ở nhờ, đi dạy học để nuôi mẹ
nên từ nhỏ đã gắn bó với quê hương đồng chiêm trũng
nghèo khó, gần gũi và am hiểu đời sống và công việc
đồng áng của người nông dân. Vì vậy thật dễ hiểu
vì sao khi từ quan, từ bỏ đất kinh kỳ về lại vườn
Bùi, ông lại đễ hòa nhập như thế, sống như một lão
nông nơi thôn giã
"Cổng reo trẻ đón ông về
Gậy chống già chào, bác đấy à”
(Hoàn gia tác)
Ngày ông lên lão cũng là ngày tụ họp bà con làng
xóm, từ những người nghèo khổ nhất:
“Anh em làng xóm xin mời cả
Xôi bánh, trâu heo cũng gọi là,
Chú Đáo bên làng lên với tớ
Ông Từ ngõ chợ lại cùng ta”
(Lên lão)
Tình cảm xóm làng thật hết sức chân tình! Có thể
nói trong số các thi hào dân tộc, Nguyễn Khuyến
là người sống gần gũi và hoà nhập nhất với người
nông dân chân lấm tay bùn, lực lượng xã hội lớn
nhất ở Việt Nam. Rõ ràng Nguyễn Khuyến không chỉ
dành những tình cảm hết sức sâu nặng và nồng thắm
cho vợ con, bạn bè thân thiết qua những bài thơ
viết cho con, câu đối khóc vợ, khóc con, bài thơ
viếng bạn. Cũng vẫn những tình cảm thắm thiết như
vậy, ông đã dành cho những người dân nghèo khó quê
mình. Một điều hết sức đáng quý là những tình cảm
ấy luôn mang dấu ấn cá nhân của người viết, điều
mà trong văn học truyền thống trước đó đôi khi khó
tìm thấy. Trước Nguyễn Khuyến thật khó có một ông
quan đại thần nào lại bỏ công làm những câu đối
thật hay thật độc đáo để tặng những vợ người hoạn
lợn khóc chồng, vợ hàng thịt khóc chồng con, cô
dâu khóc mẹ, vợ thợ rèn khóc chồng, anh hàng gà
khóc mẹ. Cũng thật khó có thể tưởng nổi một ông
quan tổng đốc, một ông Tam nguyên đỗ đầu cả 3 kỳ
thi, nghĩa là văn chương đã đến đỉnh cao, nhưng
ông lại có những tri thức như một lão nông thực
thụ và những vần thơ “quê mùa”, quê mùa ngay cả
trong thơ chữ Hán
“Cày sâu đất mới tơi
Bừa kỹ, cỏ không sót
Bón vào đất thêm màu
Cào rồi, sạch như chuốt
Đêm ngày không nghỉ ngơi
Tâm hao lực cũng sút
Còn sợ trời mưa dầm
Còn ghê sông nước lụt
Trơ dòng ngại gió lay
Đứng bóng e nắng đốt
Quanh năm nay thuận thời
Mới mong mùa lúa tốt
Nào ngờ lúa vừa tốt
Lại mắc ngay nạn chuột ”
(Diễn giả tự thuật - bản dịch)
Rõ ràng vị quan đại thần ấy hiểu đến chân tơ kẽ
tóc của nghề nông:
“Thửa ruộng rạch ròi chân xấu tốt”
(Cáo quan về ở nhà)
Nông thôn Việt Nam trong thơ Yên Đổ hiện lên với
đầy đủ những âm thanh và màu sắc đặc trưng từ ngàn
đời, độc đáo mà gần gũi, thân quen mà đẹp đẽ đến
diệu kỳ. Một tiếng trẻ bi bô học bài, tiếng ếch
kêu vang rền như tiếng trống của trẻ nhỏ, tiếng
chim ríu rít trên cành tre, một đêm trăng trữ tình,
một con “trâu già cọ gốc phì hơi nắng”. Đó còn là
âm thanh và màu sắc của những ngày hội, ngày xuân,
đêm hè.
“Ình ịch đêm qua trống các làng
Ai ai mà chẳng rước xuân sang”
“Trước lũy nhấp nhô cò cụ Tổng
Cách ao lẹt đẹt pháo thày Nhang”
(Khai bút)
“Năm gian nhà cỏ thấp le te
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe”
(Thu ẩm)
Đó cũng là nông thôn với cảnh đời lam lũ, cái lo
toan tất bật của công việc đồng áng, vị chua mặn
của giọt mồ hôi vất vả, cảnh lụt lội nước ngập trắng
đồng
“Bóng thuyền thấp thoáng dờn trên vách
Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà”
(Vịnh lụt)
Trong một khung cảnh như vậy, hình ảnh người dân
quê nhiều lúc hiện lên hết sức chân thực và sinh
động. Đó đều là những hình ảnh bình thường nên thơ
và trở thành điển hình trong thơ Nguyễn Khuyến.
Tất cả lần đầu tiên đã đi vào văn học dân tộc không
phải một cách “dần dần”, “từ từ”, “từng bước” mà
ào ạt thấm đẫm trong thơ của ông già Yên Đổ. Nhà
thơ cũng lo cái lo của người dân, sống cuộc sống
bần hàn chạy ăn từng bữa, đo đếm cân đong từng xu
như họ.
"Năm nay cày cấy vẫn chân thua
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa
Phần thuế quan thu, phần trả nợ
Nửa công đứa ở nửa thuê bò
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
Chợ búa trầu cau chẳng dám mua”
(Nhà nông than thở)
Cách hàng mấy chục năm, trước khi Ngô Tất Tố viết
“Tắt đèn”, Nguyễn Công Hoan viết “Bước đường cùng”,
ta đã được biết đến một nông thôn Việt Nam đói nghèo
với cảnh mất mùa năm này qua năm khác, cảnh công
xá bèo bọt, cảnh thuế má quan lệ thúc đòi, cảnh
nợ nần với người cùng khổ “lãi mẹ, lãi con sinh
đẻ mãi”, cảnh “sâu hạn liên miên úng lụt tràn ”,
v.v. trong thơ Nguyễn Khuyến.
Sự gần gũi với cuộc sống bình thường, sự xa vời
với phương thức phản ánh cũ nặng về ước lệ tượng
trưng, sự chối bỏ những chủ đề trung quân, ca ngợi
“địa linh nhân kiệt” chung chung, việc tiếp cận
với những đề tài cuộc sống của người dân với nỗi
lo toan hàng ngày của họ... đã khiến cho thơ văn
Nguyễn Khuyến có phần tách rời khỏi truyền thống
và hết sức gần gũi với thơ ca hiện đại. Có thể nói
rằng đó là những gạch nối đầu tiên giữa văn học
trung đại và văn học hiện đại. Có lẽ bản thân Nguyễn
Khuyến cũng chưa ý thức nổi điều đó, nhưng chính
những bài thơ xuất chúng của ông lại chứa đựng sự
tiếp nối này.
Trong những bài thơ hay của Nguyễn Khuyến có thể
thấy rõ sự thành công của việc kết hợp nhuần nhuyễn
tinh hoa của những thủ pháp nghệ thuật cổ điển với
một lối tư duy mới mẻ, của sự thai ngén một phương
thức phản ánh mới tiếp cận với cái hiện thực, cụ
thể, chi tiết của cuộc sống. Sự thành công của ba
bài thơ thu là một ví dụ điển hình
“Mấy chùm trước giậu, hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào”
(Thu vịnh)
“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”
(Thu điếu)
“Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt
Làn ao lóng lánh ánh trăng loe”
(Thu ẩm)
Trong những bài thơ này vừa như có thấp thoáng
đâu đó lại vừa như không có những nét tượng trưng,
ước lệ của thơ cổ, bởi những hình ảnh trong bài
thơ dường như được chắt lọc từ hiện thực sống động
của cuộc sống và mang đậm tâm trạng của tác giả,
động mà lại tĩnh, tĩnh mà lại như khắc vào lòng
người. Ba bài thơ thu của Yên Đổ đã đi vào thơ ca
cổ điển Việt Nam và trở thành ba hạt minh ngọc vừa
quen lại vừa lạ. Thơ Nguyễn Khuyến đã tạc nên những
hình ảnh mới cũng hết sức cổ điển, một hình ảnh
“mấy chùm trước giậu, hoa năm ngoái” một “ngõ trúc
quanh co”, một tiếng khóc ngẹn giàu tình cảm “Bác
Dương thôi đã thôi rồi”, một “ao thu lạnh lẽo nước
trong veo” v.v. đã trở thành của riêng ông mà mỗi
khi nhắc đến ai cũng biết đó là “điển” lấy từ thơ
Yên Đổ.
Chỉ có thể giải thích sự xuất hiện đột xuất của
một tài năng tầm cỡ như thế bằng những biến đổi
căn bản trong tư duy nghệ thuật, trong tư tưởng
thẩm mỹ của nhà thơ. Chính hành động trở về vườn
Bùi đã giúp Nguyễn Khuyến không còn bị lệ thuộc
hoàn toàn vào tư tưởng trung quân đã lỗi thời, bớt
đi những ảnh hưởng của không khí văn chuơng còn
xa rời với cuộc sống của người dân, ở chốn cung
đình hạn chế tối thiểu những tần chương trích cú,
những ước lệ, tượng trưng sáo rỗng. Mặt khác Nguyễn
Khuyến đã kế thừa được những tinh hoa của văn chương
truyền thống, kết hợp với những sáng tạo giàu cách
tân của mình, đem lại cho văn học dân tộc những
tác phẩm hết sức có giá trị. Cũng chính sự gần gũi
với cuộc sống lam lũ của người dân đã giúp ông đưa
được vào trong tác phẩm của mình những hình ảnh
hiện thực sống động, cụ thể, đa dạng mà không kém
phần thú vị, lãng mạn.
Chính sự hòa mình vào cuộc sống hồn nhiên nơi thôn
dã đã giúp cho nhà thơ giải tỏa được tâm trạng luôn
day dứt đau khổ và mặc cảm của mình. Nguyễn Khuyến
đã tìm thấy trong thiên nhiên, trong cuộc sống lam
lũ của người nông dân quê ông sự thanh thản của
tâm hồn, niềm lạc quan yêu đời và những tình cảm
xóm làng trong sáng. Và đằng sau những bài thơ có
vẻ như hiền lành của ông luôn chứa giấu một nỗi
niềm nóng bỏng về vận mệnh của đất nước về cuộc
sống của dân lành.

|