| Nguyễn
Khuyến
Nghe
đọc Về Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến
Tư tưởng Nguyễn Khuyến trong
Thơ Nguyễn Khuyến
CUỘC
ÐỜI, THỜI ÐẠI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC
Thơ
Nguyễn Khuyến
Nguyễn
Khuyến
Nguyễn
Khuyến lúc nhỏ tên là Thắng, sinh năm Ất Mùi (1835)
ở quê mẹ, làng Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định;
nhưng ông lớn lên và sống chủ yếu ở quê cha, làng
Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Thủa nhỏ chăm
học. Năm 17 tuổi, ông đi thi cùng một khóa với cha,
nhưng bị hỏng. Sau đó cha mất, nhà nghèo, Nguyễn
Khuyến phải đi dạy học để kiếm sống và nuôi mẹ.
Ông nghè Vũ Văn Lí, học trò cũ của ông bác Nguyễn
Khuyến thương tình cảnh của Nguyễn Khuyến, đem về
nuôi cho ăn học tiếp.
Năm 1864, Nguyễn Khuyến thi hương đậu giải nguyên
(đậu đầu); năm sau thi hội bị hỏng, ông vào kinh
theo học trường Quốc Tử Giám. Năm 1871, ông thi
lại lần nữa và đỗ liền cả Hội nguyên và Đình nguyên.
Nguyễn Khuyến đậu đầu cả ba kỳ nên người ta thường
gọi ông là ông Tam nguyên hay Tam nguyên Yên Đỗ.
Ông Tam nguyên Yên Đỗ đã từng làm ở nội các Huế,
rồi làm Đốc học Thanh Hóa, Án sát Nghệ An, rồi Biện
lí bộ Hộ,... Thời gian Nguyễn Khuyến ra làm quan,
Pháp đánh chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ và đang đánh ra
miền Bắc.
Cuối năm 1883, Nguyễn Khuyến được cử làm quyền
Tổng đốc Sơn Tây thay cho Tổng đốc Nguyễn Đình Nhuận
đã bỏ Sơn Tây lên Hưng Hóa chống thực dân Pháp,
nhưng Nguyễn Khuyến từ chốị Sau đó Hoàng Cao Khải
Kinh lược sứ Bắc Kì mời ông đến nhà dạy học, rồi
Lê Hoan - Tuần phủ Hưng Yên tổ chức thu vịnh Kiều
cũng mời ông làm giám khảọ Hoàng Cao Khải, Lê Hoan
là những kẻ cộng tác với thực dân Pháp. Từ chối
lời mời của họ ông biết sẽ sinh chuyện lôi thôi
nên đành miễn cưỡng nhận lờị
Nguyễn Khuyến làm quan tất cả hơn 10 năm, rồi từ
quan về nhà. Phần lớn cuộc đời của Nguyễn Khuyến
là ở thôn quệ Ông mất năm 1909, thọ 75 tuổị
SỰ NGHIỆP THƠ CA:
Sáng tác của Nguyễn Khuyến hầu hết được làm sau
lúc từ quan, hiện còn khoảng hơn 400 bài, gồm thơ,
văn, câu đối bằng chữ Hán và chữ Nôm. Có bài ông
viết bằng chữ Hán rồi tự dịch ra chữ Nôm, cả hai
đều rất điêu luyện. Sáng tác của ông chủ yếu xoay
quanh ba nội dung:
- Bộc bạch tâm sự của mình;
- Viết về con người, cảnh vật và cuộc sống ở quê
hương - một vùng đồng chiêm nghèo ở Bắc Bộ;
- Chế giễu, đả kích những kẻ tham lam, ích kỉ, tùy
thời, cơ hội lúc bấy giờ.
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ được đào tạo theo
khuôn mẫu của đạo đức của Nho giáọ Đối với ông,
con người sinh ra ở đời sau khi học hành, đỗ đạt
thì phải ra làm quan để "thờ vua giúp nước",
thực hiện nghĩa vụ "trí quân trạch dân"
(vừa giúp vua, vừa làm cho dân được nhờ) mà đạo
lý nhà nho đã quy định.
Trong một thời buổi bình thường chắc Nguyễn Khuyến
sẽ trở thành một ông quan thanh liêm, mẫu mực. Nhưng
thời Nguyễn Khuyến sống, Pháp đang đánh chiếm Việt
Nam, triều đình vì bạc nhược nên đã lần lượt đầu
hàng giặc. Trong một bối cảnh như thế nếu Nguyễn
Khuyến cứ làm quan thì không khác nào tiếp tay cho
giặc, đó là điều mà các nhà nho chân chính rất sợ.
Nguyễn Khuyến lúng túng trong thái độ ứng xử. Cuối
cùng ông quyết định từ quan.
Trong thơ ông có rất nhiều bài thể hiện cái tâm
trạng ấỵ Lúc đầu ông do dự "mình bỏ nước về
nhưng bạn bè đâu phải không có người ở lạị Và về
như thế chắc gì con cháu đã khen".
Về sau ông mới dứt khoát cho rằng lui về là phải,
và ông tiếc là một số bạn bè đã không hành động
như ông. Có điều thời cuộc thì mỗi ngày một xấụ
Thực dân Pháp ngày một lấn tới, bọn cơ hội, tùy
thời lúc đầu còn rụt rè, về sau thì công khai ra
cộng tác với giặc. Nguyễn Khuyến cảm thấy buồn vô
hạn. Ông viết về tiếng con cuốc kêu và đó cũng là
tiếng lòng của ông đối với non sông đất nước:
Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi,
Hay là nhớ nước vẫn nằm mợ
Và cho đến lúc nghĩ là mình sắp từ giã cuộc đời,
trong bài Di chúc, ông vẫn nói:
Ơn vua chưa chút báo đền
Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹo trời!
Phần lớn cuộc đời của Nguyễn Khuyến là ở nông thôn.
Quê ông là một miền đồng chiêm nghèo trũng nước.
Nguyễn Khuyến sống ở quê và quan hệ thân tình với
mọi ngườị Ông làm thơ tặng bạn bè, tặng anh vợ,
tặng ông hàng thịt,... làm câu đối viếng người làng,
viếng người thợ rèn, mừng đám cưới, mừng nhà mới,...
Nguyễn Khuyến viết nhiều về con người, về thiên
nhiên, cảnh vật ở nông thôn. Trước Nguyễn Khuyến,
trong văn chương Việt Nam thỉnh thoảng có những
tác phẩm viết về nông thôn, nhưng hình ảnh nông
thôn trong văn học nói chung còn mờ nhạt. Có thể
nói, với Nguyễn Khuyến lần đầu tiên nông thôn Việt
Nam mới thực sự đi vào văn học.
Nguyễn Khuyến xứng đáng được gọi là nhà thơ của
nông thôn. Dưới ngòi bút của ông, cuộc sống ở nông
thôn dường như lúc nào cũng khó khăn, túng thiếu:
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa, trầu cau chẳng dám muạ
(Chốn quê)
Nỗi ám ảnh thường xuyên của người nông thôn là
lo mất mùa, lụt lội:
Năm nay cày cấy vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùạ
(Chốn quê)
Hay:
Quai Mễ Thanh Liêm đã vờ rồi,
Vùng ta thôi cũng lụt mà thôị
(Nước lụt Hà Nam)
Ngày tết đến, nếu là năm được mùa thì còn có chút
vui:
Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng,
Ngoài cửa bi bô rủ chung thịt.
(Cảnh tết)
nhưng chẳng may gặp năm mất mùa thì tết nhất lại
càng thê thảm:
Dở trời mua bụi còn hơi rét,
Nếm rượu tường đền được mấy ông?
Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.
(Chợ Đồng)
Trong thơ Nguyễn Khuyến, thiên nhiên được miêu
tả cũng là một thiên nhiên nông thôn rất rõ. Cảnh
mùa thu trong thơ của ông không phải là mùa thu
ở miền nào, thời nào, mà là mùa thu ở quê ông, vùng
đông chiêm Bắc Bộc lúc bấy giờ. Ta có thể nhận thấy
điều ấy qua cái màu "xanh ngắt" của bầu
trời, đến cái nước "trong veo" của ao
cá; hay từ cái "Lưng giậu phát phơ màu khói
nhạt, Làn ao lóng lánh bóng trăng loe". Và
cũng phải đến Nguyễn Khuyến, trong thơ Việt Nam
mới có những bữa trưa đặc biệt nông thôn như:
Chuông trưa vẳng tiếng người không biết,
Trâu thả sườn non ngủ gốc câỵ
(Nhớ cảnh chùa Đọi)
Viết về nông thôn với những tình cảm đằm thắm như
thế, không phải trước mà sau Nguyễn Khuyến cũng
hiếm có người nào viết được như ông.
Một mảng sáng tác khác cũng rất có giá trị của
Nguyễn Khuyến là mảng thơ trào phúng, đả kích. Nguyễn
Khuyến thấy khá rõ cái xấu của xã hội đương thờị
Là một nhà nho đã từng làm quan, ông chú ý trước
hết đến cái xấu của đám nho sĩ, của bọn quan lạị
Đi thi, làm quan trong thời buổi nước mất nhà tan
thì có gì là thực chất, thì làm được việc gì? Ông
gọi là "tiến sĩ giấy", là "phỗng
đá", là anh hề chèọ Ông vạch trần bọn quan
lại chỉ lo cho túi mình đầy ắp và bất chấp tất cả
mọi sự khen che của dư luận. Ông đả kích thói rởm
đời lố lăng, thứ con đẻ của cã hội thực dân. Ngòi
bút đả kích của Nguyễn Khuyến trở nên chua xót,
cay đắng khi ông thấy chính nhân dân bị bọn thực
dân lừa gạt đã tham gia một cách vô ý thức vào những
trò chơi làm hạ phẩm giá của mình. Ông tả cảnh ngày
"Hội Tây" lúc bấy giờ và kết luận:
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêụ
Thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến ngoài bộ phận
hướng vào cái xấu của cã hội để đả kích, ông còn
dành một số bài để tự chế giễu cái bất lực, cái
bạc nhược của bản thân mình. Trong những bài thơ
này, cái cười của ông thường trở nên chua chát,
tội nghiệp.
Thơ Nguyễn Khuyến không những có nội dung thâm
thúy mà nghệ thuật cũng rất đặc đắc. Ông là người
đã đưa chất trào phúng vào thờ chữ Hán, và dùng
cả "điển cố" lấy từ ca daọ
Trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, ngôn ngữ dân tộc
được nhà thơ sử dụng là thứ ngôn bgữ hằng ngày giải
dị, nhưng rất sinh động, tinh tế, Nhà thơ khai thác
được giá trị tạo hình của nhiều từ lấp láỵ Bút pháp
của Nguyễn Khuyến trong thơ về cơ bản là hiện thực
trữ tình, thỉnh thoảmg có điểm xuyết những yếu tố
trào phúng. Cái cười trong thơ Nguyễn Khuyến không
vang lên thành tiếng, mà thường là cái cười kín
đáo, thâm trầm. Ông đã sử dụng hầu hết các thể loại
thơ ca cổ mà thể loại nào cũng rất thành công.

|