| 

Nhân
ngày mất của Nhà văn Trần Thanh Mại ( 2-2-1965 )
Trần
Thanh Mại trong những bước đi đầu tiên của Viện
Văn học
Ngọn
Gió Rừng ( Trần Thanh Mại)
Trần
Thanh Mại và phương pháp phê bình tiểu sử
Văn là người (Buffon)
LTS: Trần Thanh Mại (1911-1965) nhà nghiên cứu
văn học, nhà văn, quê ở làng Tân Nội, tổng Mậu Tài,
huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, nay là ngoại ô
thành phố Huế. Sinh trưởng trong một gia đình quan
lại, nhưng ông theo nghề làm báo, viết bài từ những
năm 30. Sau Cách mạng, trong kháng chiến dạy trường
cấp II Lam Sơn Thanh Hóa, phụ trách Tạp chí Giáo
dục nhân dân, sau đó về Viện Văn học phụ trách tổ
Văn học Việt Nam cổ cận cho đến khi mất.
Tác phẩm chính: Ngọn gió rừng (truyện ngắn, 1932),
Trông dòng sông Vị (phê bình văn thơ Tú Xương, 1935),
Tuy Lý Vương (truyện ký lịch sử, 1938), Đời văn
(tiểu luận, 1942), Hàn Mặc Tử (phê bình văn học,
1942), Ngô Vương Quyền (tiểu thuyết lịch sử, 1944),
Tú Xương, con người và nhà thơ (tiểu luận, 1961)...
Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam,
sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc
về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông
Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách
lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học
mới: phê bình tiểu sử học. Có điều, ở Trông dòng
sông Vị, nhiều lúc tiểu sử Tú Xương dường như lại
là mục đích, chứ không phải là một phương tiện để
soi sáng tác phẩm. Bởi thế, Vũ Ngọc Phan sau này,
trong Nhà văn hiện đại (1942), đã đánh đồng Trông
dòng sông Vị với Tuy Lý Vương, một thiên kí sự lịch
sử, và gọi chung đó là truyện kí. Không thể trách
Vũ Ngọc Phan, người còn đang neo mình ở một phương
pháp phê bình khác, là không đoán được anh hùng
giữa trần ai. Tuy nhiên, nếu ở Trông dòng sông Vị,
phê bình tiểu sử mới chỉ định hướng, thì ở Hàn Mặc
Tử, thân thế và thi văn (1941) nó đã định hình và
cắm một mốc trên hành trình tư tưởng phê bình văn
học Việt Nam hiện đại. Phê bình Hàn Mặc Tử, Trần
Thanh Mại đã nêu lên mối quan hệ giữa thân thế và
thi văn, tức lấy con người để cắt nghĩa tác phẩm.
Phê bình tiểu sử học hình thành ở châu Âu vào nửa
đầu thế kỉ XIX cùng với tên tuổi của Sainte - Beuve
(1804-1869). Nó ra đời như là một sự chống lại mĩ
học của Aristote, coi cái đẹp là sự mô phỏng: mô
phỏng tự nhiên, mô phỏng hiện thực và mô phỏng những
trước tác mẫu mực. Thi pháp học (theo nghĩa là một
lí thuyết văn chương) của Aristote, bởi thế, là
thi pháp học quy phạm. Sự không quan tâm đến chủ
thể sáng tạo của nó đã, vô hình trung, biến nghệ
thuật thành thủ công. Thời Đại Mới với sự phát triển
cao của ý thức cá nhân, đặc biệt là cá nhân lãng
mạn, đã hết sức quan tâm đến chủ thể sáng tạo. Một
con người cá nhân cụ thể nào đó là kẻ sáng tạo đích
thực ra văn chương. Tác phẩm, xét cho cùng, là một
thứ con đẻ của nhà văn, nên theo quy luật “giỏ nhà
ai quai nhà ấy”, thì nó phải in dấu những đặc điểm
của người làm ra nó, như khí chất, tính tình, thiên
hướng, tư tưởng, giáo dục... Sainte - Beuve đã tìm
hiểu tác phẩm qua việc nghiên cứu tác giả, đúng
hơn chân dung tâm lí tác giả. Ông đã có những tổng
kết ngắn gọn về từng tác giả (mà về sau đã trở thành
một thứ khuôn mẫu rất năng sản) như Montaigne tâm
hồn trong sáng, Lamartine đa sầu đa cảm...
Cũng lấy con người cắt nghĩa tác phẩm, nhưng khác
với Sainte - Beuve coi tâm lí con người là bất biến,
Trần Thanh Mại không chỉ chú ý đến tâm lí, mà còn
quan tâm đến cả xã hội. Tuy nhiên, trong ba yếu
tố thiên, địa, nhân, mà ông nói đến ở đầu sách (làm
tôi nhớ đến một bộ ba khác của H. Taine: thời điểm,
địa điểm và chủng tộc) ông chỉ chú trọng vào nhân,
tức con người, con người xã hội. “Với những phương
pháp mới, xưa nay chưa từng có trong lịch sử văn
học Việt Nam, tôi (Trần Thanh Mại) đã phân tích
ra từng cử chỉ, từng tính tình của nhà thi sĩ, từng
giai thoại trong đời người. Những cái ấy, mà bề
ngoài tưởng như vô bổ ích, và chỉ để kéo cho dài
dòng, tựu trung đều ăn nhịp với nhau như những vòng
của một sợi dây chuyền để mà ảnh hưởng đến cái đích
của người viết sách muốn đi tới: cắt nghĩa thi phẩm
của nhà thơ”.
Để cầm bút viết về Hàn Mặc Tử, Trần Thanh Mại đã
đọc thơ Hàn, đọc thư từ Hàn gửi cho em trai là Trần
Thanh Địch và cháu trai là Trần Tái Phùng, những
người bạn thân của Hàn. Ngoài ra, ông còn nhiều
lần trực tiếp hỏi chuyện bà Nguyễn Thị Duy mẹ nhà
thơ và nhiều người quen biết khác. Nhà nghiên cứu
cũng cất công tìm đến những nơi mà Hàn Mặc Tử đã
sống như Đồng Hới, Huế, Quy Nhơn - nhà thương Quy
Hòa, Phan Thiết... Nhờ thế, Trần Thanh Mại đã có
hẳn một khối tư liệu tương đối phong phú về con
người Hàn Mặc Tử và chỉ ra được chính xác những
yếu tố chủ yếu chi phối cuộc đời và thơ văn của
thi sĩ. Đó là bộ ba bệnh tật, đàn bà và tôn giáo.
Thực ra, tôi nghĩ, con người là một thể thống nhất,
sáng tạo phẩm cũng là một thể thống nhất, nên dù
có phân chia thành ba yếu tố rạch ròi để nghiên
cứu thì, xét cho cùng, chúng cũng chỉ là ba đỉnh
của cùng một tam giác định mệnh chi phối cuộc đời
nhà thơ. Bởi thế, nói đến yếu tố này không thể không
bao hàm ít nhiều hai yếu tố kia. Nhưng biết làm
sao được, con người, nhất là các nhà khoa học, vốn
là một động vật thích phân loại. Chia ra để mà tìm
hiểu, tìm hiểu rồi để hợp một.
Bệnh tật với những người sáng tạo, đặc biệt là
sáng tạo nghệ thuật, dường như là kẻ song sinh.
Các vĩ nhân đa số đều mắc một căn bệnh trầm kha
nào đó. Có lẽ, chủ yếu là bệnh tâm thần. Dostoievsky
bị mắc bệnh động kinh. Ông làm việc giữa hai cơn
choáng ngất. Và, những cái chết ngắn, chết trong
khi sống đó đã khiến ông nhìn được đáy lõi cuộc
đời, bản chất cuộc sống là đau khổ và con đường
để cứu chuộc thế giới là cái đẹp. Nietzsches cũng
bị hành hạ bởi bệnh thần kinh. Và với ông làm việc
là một phương thức chữa bệnh, để khôi phục lại sức
khỏe tâm thần... Bệnh trọng thường làm rạn nứt bề
mặt hữu thức cho vô thức trào phun. Mà, hình như,
mọi sáng tạo đều bị thúc đẩy bởi những xung lực
của vô thức. Bệnh trọng, nếu không phải là bà đỡ
của vô thức như vậy, thì chí ít cũng là điều kiện
để người sáng tạo có một góc nhìn riêng, một cửa
sổ riêng quan sát cuộc đời.
Bệnh phong, rõ ràng, đã đưa Hàn Mặc Tử và thơ ông
rẽ theo một hướng khác. Vốn là một người làm báo,
thích hoạt động, ưa giao tiếp, nhìn đời một cách
lãng mạn, nay Hàn Mặc Tử phải sống trốn tránh (vì
sợ Sở Vệ sinh hốt đi) trong cô độc và trong cảm
giác nhục nhã của kẻ bị Thượng Đế trừng phạt. Nhà
thơ đã thu toàn bộ thế giới thực tại vào bản thân
mình để có thể từ đó mở ra một thế giới khác, rộng
lớn đến vô biên. Thế giới của mộng mị, tiềm thức
và xuất thần.
Trần Thanh Mại đã trình bày kĩ về nguyên nhân mắc
bệnh của Hàn Mặc Tử, quá trình chữa chạy và trạng
thái bệnh lí của nhà thơ. Nhưng điều đáng lưu ý
hơn là ông đã chỉ ra những mối quan hệ nhân quả
giữa bệnh tật và thơ ca. Theo ông, mỗi kì trăng
sáng có thể có những tác động huyền bí nào đó đến
bệnh cùi. Vi trùng hoạt động mạnh hơn, nên bệnh
nhân đau đớn hơn. Trăng, vì thế, đã trở thành một
ám ảnh lớn trong thơ Hàn. Biểu tượng trăng (và kế
đó như một hệ quả là các biểu tượng hồn và máu)
là những nhịp mạnh của thơ Hàn được Trần Thanh Mại,
người đầu tiên đề cập đến. Ngoài ra, nhà phê bình
cũng còn nhặt được ở trong thơ Hàn Mặc Tử nhiều
từ ngữ mang dấu hiệu của người mắc bệnh phong như
tê dại, sượng sần, chết điếng... hoặc:
Người trăng ăn vận toàn trăng cả
Gò má riêng thôi lại đỏ hườm
(Say trăng)
Tình đã húp, sao ý vẫn còn sưng
Sao giấy lại tháo mồ hôi ra thế?
(Bức thư xanh)
Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên
(Hồn là ai)
Với những người đàn bà đã đi qua cuộc đời Hàn Mặc
Tử, Trần Thanh Mại cũng rất chú ý: Tài tử với giai
nhân nợ sẵn! Họ là nguyên nhân trực tiếp của những
bài thơ tình của Tử, gây những đột biến trong thế
giới tâm tư ông. Hoàng Cúc, mối tình đầu, là “đồng
tác giả” của những bài thơ về hoa cúc, Tình quê,
Âm thầm. Đặc biệt sau này là Đây thôn Vĩ Dạ. Những
bài thơ tình “muôn năm sầu thảm” như Lang thang,
Say chết đêm nay, Phan Thiết! Phan Thiết!, Thân
tàn ma dại... thuộc về mối tình của thi sĩ với Mộng
Cầm. Đây là một “mối tình lớn” của Hàn không phải
chỉ bởi một cảm quan lãng mạn nào đó: “Tình chỉ
đẹp khi còn dang dở”..., mà nó xảy ra vào lúc nhân
cách và thi tài của nhà thơ đã trưởng thành. Nó
là tiếng nói của Đau thương. Một người đàn bà khác
cũng in đậm dấu lên thơ Hàn Mặc Tử là Mai Đình nữ
sĩ. Nàng yêu Hàn Mặc Tử qua thơ (tập Gái quê), rồi
đến với chàng trong đời thực, mặc dù lúc ấy thi
sĩ đã mắc bệnh. Nữ sĩ Mai Đình đã “cho” Hàn Mặc
Tử các bài Lưu luyến, Đánh lừa, Thao thức... Rồi
Hàn Mặc Tử còn nhiều mối tình thực ít mộng nhiều
khác như với Lê Thị Ngọc Sương (chị Bích Khê): Ta
đề chữ Ngọc trên tàu chuối, sương ở cung Thiềm rỏ
chẳng thôi, như với Thương Thương vốn là một cô
bé 12 tuổi, cháu Trần Thanh Địch, nguồn cảm hứng
cuối cùng của Cẩm Châu duyên...
Yêu, có lẽ, là một thuộc tính của thi nhân. Tim
tôi lửa cháy như thiêu, Nên tôi không thể không
yêu người nào (Puskin). Nguyễn Bính yêu nhiều, viết
nhiều; yêu để mà viết, viết để mà yêu. Hàn Mặc Tử,
tôi nghĩ, yêu ngoài cứu cánh của sáng tạo còn là
cứu cánh của đời sống. Bởi vậy, tư liệu về những
người đàn bà trong đời Hàn Mặc Tử của Trần Thanh
Mại chẳng những giúp cho ta biết được lí do sáng
tác của thi nhân mà còn phần nào giúp làm hiểu rõ
thi phẩm. Chúng ta hãy đọc Trần Thanh Mại: “Chàng
không quên được hình ảnh người yêu (Mộng Cầm - ĐLT),
và sự đau khổ về cuộc tình duyên lỡ dở ấy lại là
một nguồn cảm hứng để cho thi sĩ kéo ra nhiều điệu
nhạc trầm hùng. ấy là những tiếng kêu não nuột nhất,
những giọng gào thét đoạn trường nhất mà một người
bị tình phụ đã thốt lên:
Trời hỡi! Nhờ ai cho khỏi đói?
Gió trăng có sẵn, làm sao ăn?
Làm sao giết được người trong mộng,
Để trả thù duyên kiếp phụ phàng?
(Lang thang)
Nhưng tiếng kêu than ảo não hơn hết là khi thi
sĩ đến nơi đã vì đó mà dấy lên cuộc ái ân, nơi đã
chứng kiến mối tình đầu của chàng: Phan Thiết! Phan
Thiết! Cái tên khêu gợi làm sao! Nó dội lên như
một lời trăng trối thống thiết:
Rồi ngây dại nhờ thất tinh chỉ hướng,
Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng.
Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang,
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết...
Ơi! Trời ơi! Là Phan Thiết! Phan Thiết!
Mà tang thương còn lại mảnh sao rơi!
Ta đến nơi - Nàng ấy vắng lâu rồi!
Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỉ.
Trăng vàng ngọc, trăng ân tình, chưa phỉ,
Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng.
Ta vãi tung thơ lên tận sông Hằng,
Thơ phép tắc bỗng kêu rên thống thiết,
Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết!
Mi là nơi ta chôn hậu nghìn thu!
Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư!
(Phan Thiết! Phan Thiết!)
Nguồn ảnh hưởng cuối cùng đến thơ Hàn Mặc Tử là
tôn giáo. Trần Thanh Mại, trong công trình nghiên
cứu của mình, tuy không để tôn giáo là một tiểu
mục riêng (bởi điều đó với Hàn đã quá hiển nhiên
chăng?), nhưng ông phân tích tác động của Kitô giáo
đến Hàn Mặc Tử ở nhiều nơi, nhiều chỗ. Trí là người
rất ngoan đạo, nên thơ Tử không thể không có tôn
giáo: Thánh nữ đồng trinh Maria, một phần thơ trong
Thượng thanh khí...
Nhân bình luận bài Xuân đầu tiên, Trần Thanh Mại
viết: “Những tư tưởng cao siêu thanh khiết đã tạo
ra những lời thơ cao siêu thanh khiết ấy phần nhiều
là ảnh hưởng ở nguồn tư tưởng vô cùng nơi đạo Thiên
Chúa. Hàn Mặc Tử bảo Bích Khê rằng: “Sáng tạo là
điều kiện cần nhất, tối yếu của thơ, mà muốn tìm
nguồn cảm xúc mới lạ, không chi bằng đọc sách về
tôn giáo cho nhiều. Như thế văn thơ mới trở nên
trọng vọng, cao quý, có một ý nghĩa thần bí”. Chính
trong cơn hoạn nạn, Hàn Mặc Tử “mỗi lần chết đi
sống lại, chàng đều cảm thấy bà Thánh nữ đồng trinh
Maria đến cứu chàng cả: cho nên hơn hết cả muôn
vị thần thánh, Thánh mẫu Maria là đấng cho chàng
ca tụng: việc ấy chàng đã làm trong một bài thơ
tuyệt diệu, mà tôi muốn làm sao cho thấu đến tòa
Khâm mạng toàn cõi Đông Dương, đến cả Tòa thánh
đức Giáo hoàng La Mã. Những lời thơ của Hàn Mặc
Tử về loại đạo hạnh như bài này có thể đặt chàng
ngay hàng với nhà đại thi hào Pháp Paul Claudel”.
Trần Thanh Mại, tóm lại, không chỉ dùng các yếu
tố tiểu sử như một nguồn gốc tác phẩm, mà còn để
cắt nghĩa những đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm.
Có như vậy công trình của nhà phê bình mới là một
chỉnh thể. Theo ông, bệnh tật, đàn bà và tôn giáo
là nguồn cảm thụ lực ở Hàn Mặc Tử. Khác với các
thi sĩ phương Đông xưa đã đành, Hàn Mặc Tử còn khác
cả với các thi sĩ phương Tây nay ở chỗ ông là “một
nhà thơ duy nhất sống bằng sự chiến đấu giữa tình
cảm của chàng và cảnh tượng của tạo vật”. Và, “ở
chàng ta thấy cảm thụ lực khi nào cũng phát triển
đến tột bực. Bao nhiêu tình tứ trong người chàng
đều căng thẳng ra, khi nào cũng sẵn sàng để thâu
nhận những ảnh hưởng ở bên ngoài. Khi chàng nghe
một điệu đàn, tinh thần chàng mở rộng toác hết các
cửa, chàng đứng ra đón âm thanh như một người lỡ
đường bị mưa ướt cất nón giăng tay mà so gan với
cơn giông tố. Chàng để cho tiếng nhạc thấm dần trong
cơ thể, qua mỗi lần xương thịt... Thế rồi người
chàng thổn thức, toàn thân run rẩy đê mê, ngây ngất
từng cơn. Người ta có cái cảm giác quái gở là thi
sĩ đeo vào tiếng tơ rồi cùng cái nhấn của nhạc sĩ,
mà quay cuồng lăn lộn...”
Sức cảm thụ đặc biệt này của Hàn Mặc Tử khiến thi
sĩ “là nhà thơ đầu tiên nghe ngóng được những lời
âm thầm của tạo vật, nghe được cả hơi thở của lá
cành, cả va chạm của hai luồng ánh sáng”, tức là
“ông đã phóng thoát ra được cái bản năng loài người,
cởi lột được bao nhiêu cốt cách của loài người để
ăn nhập vào vũ trụ, biến thành một hiện tượng của
vũ trụ”.
Chính điều này đã mang lại cho thơ Hàn Mặc Tử một
thứ âm nhạc đặc biệt, một thứ ngôn ngữ đặc biệt.
Theo Trần Thanh Mại thì thơ Hàn “Nhạc trong cả lối
dàn chữ trên mặt giấy cũng y như những dấu hiệu
trên bản đàn”. Hàn Mặc Tử là nhà thi sĩ Việt Nam
có cái nghệ thuật âm nhạc tài tình nhất. Suốt trong
sự nghiệp thi ca, kể cũng đã vĩ đại đối với đời
ngắn ngủi của chàng, không có bài nào, đến cả không
có câu nào mà không dóng theo âm điệu”. Tóm lại,
Trần Thanh Mại kết luận: “Hàn Mặc Tử là một nhà
thơ biệt lập ra hẳn một cõi, cõi nguy nga đồ sộ,
ngát hơi hương và vang tiếng nhạc, từ trên ấy, người
cho chiếu xuống cái nước con thanh tú là làng thơ
Việt Nam những luồng ánh sáng đầy phép lạ, có cái
tài lực biến hóa được những vật đã chạm đến”.
Phê bình tiểu sử học nói chung và của Trần Thanh
Mại nói riêng thường vấp phải những khó khăn nan
giải. Trước hết là phải tìm được tư liệu chính xác.
Về người đương thời đã khó, người trước thời càng
khó hơn, phần vì chúng ta không có thói quen lưu
giữ kí ức, nhất là kí ức văn tự, phần khác huyền
thoại hóa sự thực và sự thực hóa huyền thoại, sự
quen thói này là không của riêng ai, đấy là chưa
kể con mắt nhà nghiên cứu thường dễ chỉ nhìn thấy
những gì mình cần thấy.
Nghiên cứu tiểu sử Hàn Mặc Tử, Trần Thanh Mại đưa
ra những tư liệu như Tử bị đẻ non vì bà Duy uống
rượu lậu, do nhà Đoan bắt để nhờ trong nhà, bị say,
hoặc khi Tử bị phong thì phải sống trong tình trạng
rất cô độc, hoặc Mai Đình nữ sĩ từng giúp gia đình
Tử tiền... Các tình tiết này rất có ý nghĩa với
Trần Thanh Mại để cắt nghĩa và sao Tử sớm có thiên
tài, vì sao thơ Tử cô đơn và Mai Đình yêu Tử rất
mực... Nhưng một người có thẩm quyền hơn về tư liệu
Hàn Mặc Tử là Nguyễn Bá Tín, em ruột nhà thơ, trong
cuốn Hàn Mặc Tử anh tôi (1991) lại bác bỏ. Song
người ta cũng có quyền nghi ngờ tác giả cuốn hồi
kí nói trên hoặc là ông nhớ nhầm, hoặc là ông muốn
bảo vệ gia phong của mình. Thế là người đọc bị rơi
vào mê cung mà không tài nào tìm được sợ chỉ dẫn
đường.
Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, có tư liệu xác
thực rồi, nhưng cách lí giải các tư liệu ấy lại
mỗi người một khác. Như vầng trăng ám ảnh trong
thơ Hàn Mặc Tử chẳng hạn. Trần Thanh Mại đi tìm
một mối liên hệ nhân quả giữa trăng và bệnh cùi.
Còn ông Nguyễn Bá Tín thì cho rằng thi sĩ bị ám
bởi vầng trăng kì lạ ở động cát Sa Kì nơi ông đã
thấy Đức Mẹ hiển hiện để trợ giúp ông, nơi ông đã
được nhận Ân sủng của Người. Từ đó, Hàn Mặc Tử thay
đổi hẳn, chuyển cuộc sống bên ngoài thành cuộc sống
nội tâm, “Anh không còn giống Anh nữa”. Từ đó vầng
trăng trở nên ám ảnh bởi một ánh sáng tâm linh huyền
diệu. “Tiếc thay, ông Mại đã để mất cái Vòng xích
của sợi dây chuyền vặt vãnh, như ông đã nói, nên
ông không thể hiểu biết cội rễ con trăng đã ảnh
hưởng đến văn thơ Hàn Mặt Tử như thế nào.”
Hoặc khi viết về các mối tình của Hàn Mặc Tử, Trần
Thanh Mại cho biết bài này viết về Hoàng Cúc, bài
kia viết về Mộng Cầm, còn bài kia nữa thì viết về
Mai Đình, hoặc Thương Thương... Những chỉ dẫn tiểu
sử học như vậy nhiều lắm chỉ soi sáng bài thơ ở
cấp độ vật liệu (tức nội dung theo cách hiểu truyền
thống). Trong khi đó, một bài thơ muốn đứng lại
được với thời gian, tức từ bài thơ của một người
thành bài thơ của muôn người, thì phải vượt thoát
khỏi vật liệu để chuyển sang cấp độ nghệ thuật.
Phương pháp tiểu sử học thường dừng lại ở ngưỡng
cửa ngôi đền thờ thần Apollon.
Một ví dụ khác nữa, khi nghiên cứu cạnh khía tôn
giáo trong thơ Hàn Mặc Tử, Trần Thanh Mại thường
chỉ đơn giản coi Trí là tín đồ Kitô giáo và tính
đếm đến một vài bài thơ có đề tài tôn giáo (như
Thánh Mẫu Đồng Trinh), thậm chí một vài từ tôn giáo
như Đâu xuất, Ngạ quỷ..., mà không tìm đến ảnh hưởng
của Kitô giáo đến tư duy nghệ thuật (= Tính trữ
tình + tư duy tôn giáo trên cơ sở con người cá nhân
hiện đại), đến cấu trúc cảm hứng của toàn bộ sáng
tạo của Hàn (“Một là giai đoạn cổ điển với Lệ Thanh
thi tập. Đây là sự hài hòa của Hàn Mặc Tử với chính
mình và với xung quanh, tương ứng với thời thơ ấu
của con người hay “thuở thiên đường của nhân loại.
Hai là giai đoạn lãng mạn, tượng trưng và siêu thực
với Gái quê, Đau thương và Xuân như ý... Hài hòa
bị phá vỡ. Con người bất ổn với chính mình và hoàn
cảnh: đau khổ, mơ ước, điên dại, tương ứng với thời
kì trưởng thành, vấp váp, bệnh tật của con người
và của các nhân loại đã “mất thiên đường”. Ba là
giai đoạn tân cổ điển với một phần của Thượng thanh
khí và toàn bộ Cẩm châu duyên. Sự hài hòa được tái
lập. Đau thương được rũ bỏ. Con người được trở lại
“thiên đường của mình” (xem Mắt Thơ, tr. 213 - 233).
Cuối cùng, phương pháp tiểu sử học dựa trên luật
nhân quả một cách quá đơn giản. Một quả không chỉ
do một nhân, mà bao giờ cũng do một chùm nguyên
nhân, biết đâu là nhân chính nhân phụ, đấy là chưa
kể có những ngẫu nhiên xen vào. Hơn nữa, xét cho
cùng, thì luật nhân quả chỉ có thể phần nào đúng
với con người ở bình diện hữu thức, tức con người
xã hội, còn với con người vô thức thì nó không có
cho chỗ dùng. Tác phẩm văn học không phải chỉ có
phần chủ ý của tác giả, phần mà phương pháp tiểu
sử học dễ dàng khám phá theo suy luận nhân quả,
mà còn có phần ngoài chủ ý của nhà văn, chính anh
ta cũng không biết rằng nó có. Mà ác thay, phần
này lại là phần chìm của tảng băng trôi! Và để đo
đạc được nó, cần có bộ công cụ khác, phương pháp
tiếp cận khác, đặc biệt là phân tâm học.
Sự thiếu khuyết của phương pháp này là tiền đề
nảy sinh một phương pháp khác. Phân tâm học không
chỉ làm sâu sắc thêm cho đường hướng tiếp cận tác
phẩm văn học từ phía tác giả, mà còn bắc cầu sang
nghiên cứu tác phẩm từ chính tác phẩm.
Huế, 2-2003
Đỗ
Lai Thúy

|