| 

Trần
Thanh Mại trong những bước đi đầu tiên của Viện
Văn học
Nhà văn và
nhà phê bình Trần Thanh Mại (3-2-1908 – 3-2-1965)
rời bỏ chúng ta đến nay đã tròn 40 năm, nhưng những
cuốn sách ông viết lúc sinh thời như Tuy Lý vương,
Hàn Mạc Tử, Trông giòng sông Vị, Tú Xương con người
và nhà thơ... đã từng gây được tiếng vang và với
bạn đọc hôm nay vẫn còn nhiều phần giá trị. Những
phát hiện của ông về Hồ Xuân Hương, Miên Thẩm đã
gây xôn xao từ giữa những năm 60 mà sự tiếp nối
của giới nghiên cứu hiện nay cũng chưa thể nói là
đã vượt qua. Bài viết dưới đây của Giáo sư Nguyễn
Huệ Chi, một người cộng sự gần gũi của ông trong
những năm ở Viện Văn học, cũng đã hoàn thành cách
đây đến 25 năm nhưng nay đọc lại, vẫn là bài viết
tương đối bao quát hơn cả trong việc nhìn nhận các
phương diện con người và học thuật của Trần Thanh
Mại. Tác giả đã bổ sung, sửa chữa lại thật hoàn
chỉnh và có nhã ý trao cho Văn nghệ in vào số giáp
Tết năm Giáp Thân này, nhằm kỷ niệm 40 năm năm mất
của người thủ trưởng quý mến một thời của mình.
Viết về Trần Thanh Mại, đối với tôi, trước tiên
là để trang trải một món nợ... lòng. Ông là người
trong 5 năm xế bóng của cuộc đời mình, đã tận tình
dẫn dắt tôi bước chân vào làng nghiên cứu. Ông lại
cũng là người đã để lại những dòng di chúc cho tôi,
những dòng tâm huyết trong buổi chiều một ngày trước
ngày mất, ông phải chống tay, ngồi dậy trên giường
bệnh, vừa thở đứt quãng vừa nói cho Trần Tuấn Lộ
- con trai ông - ghi lại. Ấy vậy mà, đã có 14 năm
rồi kể từ mùa xuân năm 1965 xa xôi ấy, tôi vẫn chưa
làm được gì để thực hiện những lời ông dặn. Cũng
đã 14 năm rồi, trong lòng tôi cứ đinh ninh phải
viết một cái gì đấy, mà rồi vẫn không viết được
lấy một dòng về ông.
Phải nói rằng trước khi gặp Trần Thanh Mại một
thời gian lâu, vào lứa tuổi 13, 14 của tôi, tôi
đã được đọc, đọc cho vui, bạ cái gì mà mình bắt
gặp - một ít bài nghiên cứu, phê bình do ông viết,
hoặc do người khác viết để tranh luận lại. Những
bài báo này phần lớn đều viết trước Cách mạng tháng
Tám. Chúng chưa để lại trong tôi một ấn tượng gì
sâu sắc ngoài cái cảm tưởng thoáng qua rằng, con
người này hình như có một lối viết khá bạo. Bạo,
có nghĩa là thích xông xáo, tìm kiếm, song đôi khi
cũng lại hơi có chút cực đoan. Vì thế, nếu như những
tìm kiếm này nọ của ông làm người ta mê thích, thì
những tìm kiếm kia khác của ông lại làm người ta
ngạc nhiên, thậm chí bất bình. Chỉ có thế thôi!
Mãi đầu năm 1953, bấy giờ tôi đã là một học sinh
cấp III trung học, một cuốn Trông giòng sông Vị
mới tình cờ lọt được đến tay. Cần nhắc lại là trong
hoàn cảnh kháng chiến chống Pháp lúc đó của vùng
tự do khu IV cũ, những cuốn sách như thế không phải
là dễ tìm, và mỗi lần có một cuốn lọt vào lớp học
là anh em lại chuyền nhau đọc kỳ đến người cuối
cùng. Hai cuốn sách đến với chúng tôi cùng một lúc:
Trông giòng sông Vị [1] của Trần Thanh Mại và Chiếc
cáng xanh [2] của Lưu Trọng Lư. Hai cuốn sách thuộc
hai thể loại khác xa nhau mà lại giống nhau ở khả
năng hấp dẫn. Còn nhớ đêm ấy, trong ánh đèn tù mù
đặt trên một cái chõng tre ngoài sân nơi nhà trọ,
xung quanh là cả một vườn cau nở hoa thơm ngát,
mấy anh em học sinh "pô pốt" chúng tôi
đã đọc mê mải đến tận khuya. Và càng đọc thì cả
một thế giới đã lùi vào dĩ vãng như lại hiện về
trước mắt chúng tôi, với những chiếc cáng tre trên
những trạm đường đất gồ ghề, những con người Việt
cổ xưa thuần hậu, với cả những kỳ thi Hương ồn ào
sĩ tử, những thầy đồ, thầy khóa buồn rầu thất thế
bên cạnh những anh chàng đỗ đạt hãnh tiến, thấp
thoáng xa hơn là cái bóng của những tàn quạt võng
lọng của triều đình Huế nhưng lại dùng để che mát
cho bọn ông Tây bà Đầm... Tính từ tháng Tám 1945
cho đến năm đó đã là gần 8 năm. Mới chưa đầy 8 năm
mà trên mảnh đất khu IV tự do, cuộc sống mới đã
làm cho tất cả mọi tập tục phiền toái xa xưa, từ
cờ bạc, rượu chè, cưới xin, ma chay, tế lễ, cho
đến cả những mối quan hệ đạo lý cũ kỹ giữa người
và người... tưởng như đều biến sạch. Sau này tôi
mới biết đấy thực ra chỉ là cách nghĩ đơn giản của
lứa tuổi còn quá trẻ. Nhưng quả tình chúng tôi đã
nghĩ như thế về cái thời “măng tơ” ấy, thời mà bão
tố Cải cách ruộng đất còn vần vụ ở đâu rất xa, chưa
lan đến xứ Nghệ. Lớn lên cùng với cách mạng và hồn
nhiên sống trong cách mạng, chúng tôi không thể
nào hình dung nổi mình đã thoát ra từ khuôn mẫu
nào của quá khứ, thậm chí cũng không chút bận tâm
rằng quá khứ đó là tươi sáng hay nặng nề. Cứ y như
là con người sinh ra trên trái đất này là đã có
quyền hưởng niềm vui sống rồi. Và vì vậy tự nhiên
được đánh thức bất ngờ, chúng tôi đã thật sự xúc
động trước những cuốn sách của các tác giả cũ trong
đó có Trần Thanh Mại, Lưu Trọng Lư. Riêng Trần Thanh
Mại, tuy còn nhiều chỗ yếu trong sách, nhưng cũng
đã dựng lên được một Tú Xương góc cạnh làm sao,
con người biết sử dụng tiếng mẹ đẻ đến mức thần
tình, bằng những tiếng thông tục đó mà tự phơi bày
tất cả mọi uẩn khúc cũng như vẻ đẹp của tâm hồn.
Tôi bắt đầu thấy thích những giờ cổ văn hơn, những
giờ bình giảng Nhị độ mai, Kim Vân Kiều... mà trước
đây, người giảng cũng như người nghe đều cảm thấy
khô khan xa lạ. Tôi cũng bắt đầu thấy quý Trần Thanh
Mại, thấy rằng con người này đáng được đánh giá
cao hơn là những định kiến non nớt của mình, thông
qua một vài bài báo cũ.
Thế rồi bẵng đi 8 năm, vào tháng 12 năm 1960, sau
một năm rời Trường đại học Tổng hợp và di chuyển
loanh quanh một số nơi, tôi được nhận về Viện Văn
học, vào Tổ văn học Cổ cận đại và lần đầu tiếp xúc
với Trần Thanh Mại. Những kỷ niệm cũ đột nhiên sống
dậy. Trước mắt tôi là một người tầm thước, trắng
trẻo, khuôn mặt hết sức hồng hào. Tôi bỗng đâm ra
nghi ngờ: có phải đúng Trần Thanh Mại đây sao? Trần
Thanh Mại viết báo từ ngày xửa ngày xưa, nay sao
mà vẫn rắn rỏi, trẻ trung, như một nhà thể thao
vậy? Trần Thanh Mại cũng nhìn tôi bằng cái nhìn
dò xét: ông cười nửa miệng, nhấc cái mũ cát két
trên đầu đặt xuống bàn, và nói bằng một giọng Huế
pha lẫn giọng Bắc, từng lời từ tốn: "Anh về
công tác ở đây là tốt. Nhưng hẳn anh cũng đã biết,
làm việc ở tổ nghiên cứu này so với các tổ khác,
cần những điều kiện có chút khó khăn hơn. Vì vậy,
cũng phải tìm hiểu cho kỹ, để biết rõ công việc,
và biết sức của mình". Ông chỉ nói vậy rồi
im lặng. Và tôi hiểu đây là một im lặng chứa đầy
thử thách. Tôi cũng không tiện nói gì thêm, đành
gật đầu tiếp thu lời khuyên bảo. Rồi ngay từ sáng
hôm sau, tôi bắt đầu được ông dẫn tới mượn tài liệu
ở Tổ Hán Nôm. Ông xác định chóng vánh cho tôi: “Hãy
bắt đầu tìm hiểu thơ chữ Hán Cao Bá Quát. Đây là
một đề tài có thể nói chưa ai phát hiện được gì
mấy. Nhưng qua những gợi ý quý giá của Sơ thảo [3]
thì chắc hẳn triển vọng rất nhiều”. Trước sự quyết
định gọn ghẽ đó, tôi không có một chút lưỡng lự
nào. Không có thì giờ để mà băn khoăn lưỡng lự.
Vấn đề đối với tôi lúc này là: phải làm sao vượt
qua thử thách đầu tiên mà không thất bại. Sau ba
bốn tuần lễ, tôi thu thập được ngót 150 bài thơ
tiêu biểu của họ Cao. Trong số đó có những bài tuyệt
hay mà tôi chưa hề thấy một ai công bố, kể cả trong
chương Cao Bá Quát mà ông thân tôi đã viết ở bộ
Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam và Trần Thanh Mại
có ý lấy nó để khuyến khích tôi; như các bài Tiễn
bạn Nguyễn Trúc Khê đi làm Tri phủ Thường Tín cùng
gửi đến bạn cũ Lê Hy Vĩnh; Nằm mộng thấy con trai;
Bài ca chiếc roi mây; Thơ vịnh cái gông; Bài ca
trăng thu trên sông Trà; Bài ca chiếc thuyền chiến
nước Anh; Cảm xúc mới sau một ngày lập xuân; những
bài thơ làm trên đường lưu đày tới Giang Lưu Ba
v.v... Nhìn những xấp tài liệu tôi để lộn xộn trên
bàn, nét mặt Trần Thanh Mại có phần rạng rỡ hơn
trước, tuy vậy, ngày ngày ông vẫn im lặng quan sát
chứ chẳng nói gì. Một buổi chiều, sau khi nghe tôi
trình bày công việc, ông đề nghị cho ông xem kỹ
những trang ghi chép. Và ông đã ngồi lại ở bàn tôi
liền một mạch cho đến xẩm tối, không biết đến cả
kẻng báo hết giờ. Tôi đi ăn cơm xong trở lại cơ
quan thì ông cũng vừa đọc xong. Ông ngẩng lên, hai
mắt long lanh lạ thường, bảo tôi: “Bây giờ thì tôi
đã tin Cao Bá Quát đúng là một tài thơ vĩ đại. Anh
cho tôi mượn tập này một vài buổi”. Dĩ nhiên là
tôi rất vui lòng trao nó cho ông. Vài hôm sau nữa,
Trần Thanh Mại bỗng đem đến cho chúng tôi một bài
thơ. Thì ra đó là bản dịch của ông, dịch thành thơ
bài thơ dài Tiễn bạn Nguyễn Trúc Khê đi làm Tri
phủ Thường Tín cùng gửi đến bạn cũ Lê Hy Vĩnh. Chúng
tôi chuyền tay nhau đọc. Mỗi người đọc một lần.
Rồi tôi lại đọc to lên cho cả tổ cùng nghe. Chúng
tôi đồng thanh xác nhận đó là một bản dịch đạt.
Riêng tôi, thú thật, không ngờ Trần Thanh Mại lại
dịch hay được đến như vậy, trong khi chính ông cũng
nói rõ rằng ông chỉ giỏi chữ Pháp mà biết rất ít
chữ Hán. Tôi chắc ông đã cảm xúc sâu sắc lắm, đã
sống đến mê mẩn cái giây phút sáng tạo cực kỳ sảng
khoái của Cao Bá Quát, y như trước đấy mấy hôm,
mắt ông đã sáng lên lấp lánh sau khi đọc xong mớ
tài liệu của tôi. Dầu đã xa cách đến 19 năm, và
dầu đã có thêm một vài bản dịch khác về bài thơ
này, vần điệu có suôn sẻ hơn nhiều, cho đến nay
tôi vẫn đinh ninh đây là bài thơ dịch thành công
nhất. Bởi vì người dịch không còn đơn thuần làm
cái việc "đẽo gọt" rất khổ công của một
quá trình gọi là chuyển ngữ, mà đã đem hết tâm hồn
ra để cảm thụ, để cố gắng vươn tới tầm cao của một
tâm hồn [4] . Khỏi phải nói sau đó một vài tháng,
bài nghiên cứu về Cao Bá Quát của tôi hoàn thành,
Trần Thanh Mại là người thông qua rất chóng [5]
. Đối với tôi, từ sau bài viết đó, ông đã có cái
cười hoàn toàn cởi mở, y như đối với các anh chị
em khác trong Tổ, cái cười lấp lóa hàm răng trắng
bóng, để lộ một chiếc răng khểnh rất dễ thương.
Ông quả đã chấp nhận tôi vào cái gia đình Cổ cận
đại của ông.
*
Càng gần gũi Trần Thanh Mại, tôi càng thấy ông
có một sức làm việc dẻo dai lạ lùng! Là một trong
những cán bộ đầu đàn trong những năm đầu của Viện
Văn học, những cán bộ thuộc lớp Đặng Thai Mai, Cao
Xuân Huy, Hoài Thanh, Nam Trân, Vũ Ngọc Phan, Hoàng
Phê, Vũ Đức Phúc, Cao Huy Đỉnh, Nam Mộc, Hồ Tôn
Trinh... mà như nhiều anh chị em đến nay còn nói,
đã tạo nên cái không khí "sầm uất" hồi
đầu của Viện, ông phải đảm nhiệm cùng một lúc rất
nhiều công việc: vừa làm Tổ trưởng Tổ Cổ cận đại,
vừa là Ủy viên biên tập tập san Nghiên cứu văn học
(từ giữa 1963 đổi thành tờ Tạp chí văn học), vừa
lo đào tạo 4 anh chị em trẻ trong tổ, lại vừa giảng
một phần trong lớp chuyên đề do Viện mở. Rồi còn
lo góp phần biên soạn Sơ thảo lịch sử văn học Việt
Nam nửa cuối thế kỷ XIX [6] , chủ biên Giai thoại
văn học [7] , viết lại cuốn Tú Xương con người và
nhà thơ [8] ... Phải nói công việc ngập cổ ngập
đầu. Mà điều nhận xét chung của tôi là hình như
đối với lớp cán bộ đàn anh nói trên kia, người nào
cũng phải gánh trên lưng một gánh như vậy cả. Nhưng
hầu như không có lấy một lời than thở. Từ trên xuống
dưới cả Viện là một “cỗ máy”, và ai nấy lao vào
việc với niềm hứng khởi lạ thường! Về phần Trần
Thanh Mại, tôi không hiểu điều kiện gì đã giúp ông
hoàn thành trọn vẹn mọi trọng trách được giao, nhưng
sự thật là ông đã hoàn thành nó một cách không kém
ung dung, chủ động, đến nỗi mỗi lần đến Viện, lại
thấy ông ném lên bàn một cái gì đó, một bài báo
mới, một chương bản thảo viết trọn, một bài thơ
dịch, và bảo: "Các cậu đọc thử!", rồi
không nói thêm câu nào nữa, ông bỏ mũ cát két xuống
và ngồi lặng lẽ hàng giờ, như không bận tâm tới
một việc gì. Trong khi đó thì chúng tôi chia nhau
đọc, trao đổi với nhau, và nhìn nụ cười khoan thai,
chờ đợi của Tổ trưởng của mình.
Nói cho đúng ra, chỉ là mang cái vẻ ngoài ung dung
thế thôi, chứ kỳ thực con người Trần Thanh Mại không
có lấy một lúc nào thư thái. Ông bao giờ cũng vội.
Ông vội vì trước hết ông muốn chạy đua với tật bệnh.
Mang trong mình một căn bệnh hiểm nghèo là bệnh
cao huyết áp trầm trọng - mà nét mặt hồng hào lại
chính là biểu hiện của sự trầm trọng đó - Trần Thanh
Mại luôn luôn linh cảm rằng mình đang nhích bước
trên những năm tháng cuối của cuộc đời. Và để chống
lại cảm giác không sao dứt đi được ấy, ông ra sức
làm việc gấp hai: ông viết gần như thâu đêm không
biết mỏi. Không những khối lượng công việc nhiều
mà về tầm vóc, những vấn đề được ông đề cập tới
thường khi vẫn có một ý nghĩa tìm tòi phát hiện,
có cái mới so với người đi trước. Ông là người đã
lật lại câu chuyện Hồ Xuân Hương, đã công bố Lưu
hương ký, đã giải quyết vấn đề Hồ Xuân Hương một
cách hệ thống, bằng một loạt bài báo nghiêm chỉnh
[9] , nhằm từng bước rọi sáng thêm cho nhân vật
gần như giai thoại này. Và nếu tính từ năm ông mất
đến nay thì lịch sử nghiên cứu văn học chúng ta
đã có thêm 14 năm. 14 năm, bao nhiêu bài báo về
Hồ Xuân Hương mới đã được in ra, nhưng thiết tưởng,
dễ đã mấy ai vượt qua cái mốc Trần Thanh Mại? Nội
một việc ông gợi ý phân loại khối lượng thơ nôm
gọi là của Hồ Xuân Hương hiện còn, theo tôi, cũng
đã chứng tỏ con mắt suy xét tinh tường của một nhà
khoa học. Mà nào có phải chỉ có vấn đề Hồ Xuân Hương!
Còn vấn đề thơ nôm Nguyễn Trãi, thơ yêu nước Nguyễn
Thông, thơ văn Miên Thẩm. Vân vân và vân vân. Hình
như bất kỳ vấn đề gì ông cũng gắng tìm bằng được
cái chỗ chưa ai thấy, hoặc cái chỗ có thể dựa vào
đấy để đặt lại ở một tầm sâu mới. Ông vận dụng tâm
sinh lý học hiện đại để thử nêu nghi vấn: không
hiểu đối với một người thuộc giới nữ thì có thích
tìm cảm hứng thơ ở biểu tượng bộ phận sinh dục của
chính giới mình hay không. Ông cũng đi sâu vào tâm
trạng Miên Thẩm để giải thích tất cả những bài thơ
nói về nỗi khổ của người bán tre, người mò vàng,
người kéo thuyền, người làm giấy... không phải chỉ
là do ông hoàng này đã nhìn thấy hiện thực tàn nhẫn
của thời đại mình mà còn do một bức xúc ghê gớm
bên trong, gắn với sự phân hóa của tầng lớp quý
tộc triều Nguyễn lúc ấy, một sự phản tỉnh của một
phân số những con người ưu tú trước xu thế của thời
đại. Tôi lại nhớ đến những cuốn sách cũ của Trần
Thanh Mại mà trước kia chưa kịp đọc, về sau đã vào
Thư viện Quốc gia để đọc bổ sung, thời kỳ đang là
sinh viên. Cuốn nào cũng có một sức lôi cuốn ở cái
cách đề xuất vấn đề sắc sảo của ông. Chẳng hạn cuốn
Tuy Lý vương [10] là cả một tập tư liệu rất quý,
phối hợp uyển chuyển giữa thực sử và dã sử, qua
đấy dựng nên bộ mặt hung hiểm của cả một thời đại
với liên tiếp những màn kịch chết chóc đẫm máu mà
Trần Thanh Mại đã cố gắng nhìn bằng con mắt khách
quan, gần với sự thật nhất, đã xem xét thể tất trên
mọi góc độ, đối với “kẻ chạy đi” cũng như “người
chạy lại”, đối với “kẻ độc tài” giết người không
ghê tay cũng như nhà thi sĩ vốn “hèn nhát và yếu
đuối”. Hay cuốn Hàn Mạc Tử [11] , tuy có những từ
hơi đao to búa lớn, nhưng quả là một dự cảm đúng
đắn - và cũng là dự báo sớm hơn ai hết - đối với
chân giá trị của một thiên tài. Con người luôn luôn
biết khám phá trong Trần Thanh Mại, ở hai giai đoạn
trước và sau Cách mạng tháng Tám, rõ ràng vẫn chỉ
là một mà thôi.
Tất nhiên là trong sự xông xáo tìm tòi không mỏi,
đôi khi nhà học giả có bạo quá đi! Có cực đoan một
chút! Và đây là nhược điểm vô hình trung cũng đã
xuyên suốt con người Trần Thanh Mại, từ hiện tại
cho đến quá khứ. Cực đoan một chút nên một vài lần
có bị phản ứng, hoặc dễ rơi vào một vài sai sót
tình cờ. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn cứ tin rằng,
với Trần Thanh Mại, tuy có sai lầm vấp váp chút
ít đấy, vẫn không phải là những sai lầm do cố ý
mà ra, nên cũng chẳng có gì đọng lâu trong tư tưởng.
Mà bản chất anh trí thức thì ai mà chẳng cực đoan
ít nhiều trong sáng tạo. Không cực đoan, nghĩ ngợi
thật tròn trĩnh, biết che chắn rào trước đón sau
và nói những lời lấp lửng, thì đã là chính trị gia
sành sỏi chứ chẳng phải là trí thức thứ thiệt rồi.
Trần Thanh Mại chính là người chân thành trong
mọi ý nghĩ. Ông nghĩ sao làm vậy. Và vì chân thành,
nên ông không cố chấp, có sai và biết sai là sửa,
mà sửa cũng thoải mái nhẹ nhàng! Cũng phải nói mối
quan hệ gắn bó, thống nhất của Viện Văn học trong
những năm đó, dưới sự lãnh đạo của Đặng Thai Mai
và Hoài Thanh, là điều kiện để mỗi thành viên trong
Viện có bước tiến nhanh hơn trong học thuật cũng
như “nhất quán” trong phương pháp tư duy của mình
(Sau này, khi một trong những bậc đàn anh - ông
H. - tìm cách khéo léo gợi ý được với một vị cấp
trên lên tiếng bóng gió trong một vài cuộc hội nghị,
tỏ ý chê bai ông Hoài Thanh chỉ là nhà phê bình
mà không có lý luận (!), khiến ông buồn bã làm đơn
xin đi khỏi Viện, để cho 3 vị Viện phó trẻ lên thay,
nhân tố gắn bó của Viện đã biến mất, và trong một
thời gian dài chỉ còn là sự ngấm ngầm lục đục -
nhưng đấy cũng là cơ hội để mỗi Tổ và mỗi cá nhân
dần dần chủ động tìm lấy con đường và cách nhìn
nhận riêng cho mình trước các vấn đề văn chương-thời
sự bức xúc, chẳng biết nên buồn hay là nên vui?).
Còn nhớ khoảng đầu năm 1963, khi trình bày trước
lớp chuyên đề của Viện về Nguyễn Đình Chiểu, Trần
Thanh Mại có so sánh hơi chi ly sự khác nhau về
trình độ ngôn ngữ giữa Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn
Du. Buổi thuyết trình của ông khá đặc sắc nhưng
không vừa ý tất cả người nghe. Thế là nẩy sinh vấn
đề. Sóng gió bỗng đâu nổi lên trong khối người dự
thính, những cán bộ tuyên, văn, giáo, huấn ở các
cơ quan trung ương lúc ấy. Biết rằng nhà nghiên
cứu không phải cố tình đánh giá thấp toàn diện Đồ
Chiểu mà chỉ đi sâu vào một khía cạnh nào, nhà phê
bình Hoài Thanh - người từng có kinh nghiệm chua
cay trong quá khứ khi một lần nào đó đã ví việc
Nguyệt Nga nhảy xuống sông tự vẫn như một vận động
viên nhảy trên sân vận động - rất thông cảm với
Trần Thanh Mại, đã tạo điều kiện để ông hoàn thành
khẩn trương bài Nguyễn Đình Chiểu, lá cờ đầu của
dòng văn học yêu nước thời kỳ cận đại. Bài viết
được công bố ngay trên tạp chí [12] , và được bạn
đọc thích thú, về sau một nhà xuất bản in lại dưới
dạng một cuốn sách mỏng với số lượng lớn đến ngạc
nhiên [13] .
Nhưng Trần Thanh Mại dễ dàng nhận sai lầm khi ông
có sai lầm thật sự, còn khi ông đúng mà người khác
không đúng, thì ông lại cũng biết dũng cảm bênh
vực ý kiến của mình. Trong số những đề tài ông nghiên
cứu thì Miên Thẩm là một đề tài ông tự nguyện làm
thêm. Ông nói với tôi: "Đây cũng là do gợi
ý của Sơ thảo, vì cũng là lần đầu tiên, Sơ thảo
đã dám đề cập đến Miên Thẩm - dù chỉ có mấy dòng
- như một tiếng kêu uất ức của thế kỷ XIX"
[14] . Ông muốn qua Miên Thẩm góp chút tình cảm
cho quê hương yêu dấu, và trong công việc đó, tài
liệu ông tích lũy cũng đã được khá nhiều. Khổ nỗi,
Miên Thẩm là một nhà thơ hoàng phái. Nguồn gốc xuất
thân đó có làm e ngại một số người. Trần Thanh Mại
không phải không biết sự e ngại kia là có cái lý
của nó, bắt nguồn từ “hòn đá tảng” quan điểm giai
cấp mà ai cũng không được vi phạm, một cá nhân như
mình đâu có thể dễ “chuyển lay”. Ngay như trong
chiếc tủ tư liệu của Tổ tôi vào lúc đó vẫn chất
đầy những bài viết, do Viện đặt cho nhiều nhà nghiên
cứu “tên tuổi”, tuy không in ra nhưng là những bài
được xếp vào hồ sơ nghiên cứu, có ý nghĩa “điểm
tựa” cho việc viết văn học sử cận đại, mà bài nào
cũng mang dòng tít “sắt đá”: Nguyễn Văn Vĩnh và
Phạm Quỳnh chỉ là những con số không trong lịch
sử văn học (ĐĐH); Bộ mặt phản động của Trương Tửu
trong cuốn “mấy vấn đề văn học sử Việt Nam” (VT);
Trương Vĩnh Ký, nhà bác học hay là kẻ đóng vai đặc
vụ, tình báo, làm tay sai đắc lực cho thực dân Pháp
(MQ); Triều Nguyễn, một thời đại phản động và thoái
hóa trong lịch sử dân tộc (TC); Thơ văn Phan Thanh
Giản chỉ là tiếng thở dài của chủ nghĩa đầu hàng
(TC)... Về mặt lập trường tư tưởng, Trần Thanh Mại
cố nhiên cũng không khác gì những người đã viết
mấy bài vừa dẫn - và hàng loạt bài khác của nhiều
người khác nữa - vì ông làm sao mà khác đi được!
Trong cuộc “đấu tranh” chống Nhóm Nhân văn-Giai
phẩm ông cũng từng là người xông xáo như ai, nhờ
đấy mà có tấm “bằng son” để được mời về làm một
cột trụ ở Viện Văn học kể từ khi Viện bắt đầu thành
lập (1959) [15] . Tuy nhiên, với Miên Thẩm thì có
khác. Vốn đã nắm vững tư liệu, ông khẳng định Miên
Thẩm thủy chung là người khả thủ, là một nhà thơ
thực sự có giá trị. Và ông cứ kiên gan theo đuổi
công việc của mình. Ông dồn tâm sức để soi sáng
Miên Thẩm, để đối chiếu nhằm khu biệt mảng ngôn
từ nghệ thuật giàu sức sống và có ý nghĩa cách tân
của Miên Thẩm với những lớp ngôn từ vốn đã sáo mòn
của các nhà thơ quý tộc cùng thời đại, cũng để đặt
toàn bộ những áng thơ tố cáo, phê phán trực diện
và thâm thúy của Miên Thẩm trong bối cảnh phức tạp
những năm giữa và cuối thế kỷ XIX, trước tiếng súng
xâm lăng của chủ nghĩa thực dân... Ông viết mà chẳng
mong được in. Phải nể nang lắm Thư ký tòa soạn Hoài
Thanh mới giúp Trần Thanh Mại công bố được một chút
đỉnh gọi là “an ủi” ông [16] . Mà nói cho cùng thì
thế cũng phải. Trọng tâm công tác “đấu tranh chính
trị” những năm 63, 64, 65 đâu có cho phép một tờ
báo “nằm trong cơ chế” như tờ Tạp chí văn học làm
được nhiều hơn nữa. Số lớn độc giả của tờ báo lúc
bấy giờ là nhà giáo, là giới cán bộ tuyên truyền
các cấp từ tỉnh đến trung ương, đang gắn nhịp đập
của trái tim mình vào cuộc đấu tranh “giải phóng”
miền Nam, và họ đòi hỏi ở Tạp chí văn học những
đề tài gần gũi và thiết thực với họ hơn là câu chuyện
của một ông hoàng. Trong hoàn cảnh đó, Trần Thanh
Mại đành phải chấp nhận thực tế. Dù vậy ông vẫn
không bỏ cuộc. Ông càng thu thập tài liệu một cách
khẩn trương tích cực, với cái ao ước có vẻ như viễn
tưởng: rồi một cơ hội trong tương lai sẽ đến, biết
đâu đấy... Thì có ai ngờ, ông lại đã phải đột ngột
từ biệt vĩnh viễn mọi dự kiến của mình vào cái tết
năm 1965! Một trong những điều ông căn dặn lại anh
em là hãy tiếp tục nghiên cứu Miên Thẩm, hoặc khuyến
khích những ai đi vào Miên Thẩm. Bè bạn và học trò
dường như người nào cũng ngầm hiểu lời dặn ân cần
tha thiết của ông mang theo trong nó dư vị tiếc
nuối của một người đam mê công việc bỗng nửa đường
đứt gánh, nhưng không dễ mấy người đã hiểu đó cũng
là cách tỏ bày thái độ dứt khoát của một bậc hoa
tiêu từng trải, dù gặp bão bùng sóng gió vẫn nắm
rất chắc hướng đi và đích đến của con thuyền chèo
lái dưới tay mình.
Từ bấy đến nay tôi cứ để ý dò tìm mãi. Có ai đó
trên đất nước chúng ta đang âm thầm làm cái việc
vốn dĩ đã là niềm mơ ước của Trần Thanh Mại hay
không? Mãi cuối năm 1975, sau ngày đất nước thống
nhất, được vào Sài Gòn, tôi mới biết giới nghiên
cứu miền Nam đã công bố một công trình bề thế về
Miên Thẩm từ năm 1973. Lại hai năm sau nữa, nhân
đi công tác vào Bình Trị Thiên, trong cuộc tiếp
xúc với nhạc sĩ Trần Hoàn, Trưởng Ty Văn hóa, ông
cho chúng tôi hay: di sản văn học cổ của Bình Trị
Thiên đang được đẩy mạnh khai thác. Một trong những
nhân vật được chú ý trước tiên là Miên Thẩm. Thoạt
nghe tôi khôn xiết bùi ngùi! Tấm lòng chi chút của
Trần Thanh Mại đối với quê hương xưa kia nay đã
được quê hương đáp lại rồi. Thì ra ông vẫn tìm được
tri âm tri kỷ [17] .
*
Tôi cần phải nói thêm một kỷ niệm cuối cùng về
người Tổ trưởng cũ của tôi. Đó là kỷ niệm về cuộc
đấu tranh dai dẳng của ông với bệnh tật. Bệnh ông
mỗi ngày một tăng đến độ dễ sợ. Vào mấy năm cuối
cùng, Viện Văn học đã giải phóng cho ông khỏi các
việc sự vụ, bằng cách cử thêm một Tổ phó, là anh
Nguyễn Văn Hoàn mới từ Trường đại học Sư phạm Hà
Nội chuyển về. Nhưng ông vẫn không chịu ở nhà. Trái
lại, ông vẫn tham gia đều các sinh hoạt của Tổ và
Viện. Theo ông, chính trong những sinh hoạt phong
phú này mới có thể nảy ra sự sáng tạo. Vào khoảng
tháng 5 năm 1962, Viện tổ chức một chuyến viếng
thăm Côn Sơn, nơi ẩn cư của Nguyễn Trãi, để chuẩn
bị cho lễ kỷ niệm 525 năm ngày mất Nguyễn Trãi vào
tháng 9 sắp tới. Trần Thanh Mại nhất quyết cùng
đi. Dọc đường, cơn bệnh hành hạ ông và lên đến Côn
Sơn thì ông mệt nặng. Mặc dù vậy, ông vẫn cùng chúng
tôi đi thăm chùa Hun, thăm rừng trúc và Thạch Bàn,
nơi Nguyễn Trãi từng ngồi câu cá. Trong khi chúng
tôi nhảy xuống suối tắm thì Trần Thanh Mại mặt đỏ
gay, lê bước khó khăn trong rừng. Chiều đến, trên
con đường đất đỏ khá dài dẫn xuống núi để ra chỗ
đỗ ô tô, tôi tình cờ đi gần Trần Thanh Mại. Ông
bước đăm chiêu, chậm rãi. Tôi tưởng ông rất mệt.
Nhưng bỗng ông gọi tôi và nói: "Huệ Chi này.
Tôi nghĩ ra rồi”. Tôi đang ngạc nhiên thì ông nói
tiếp liền theo: "Đúng là trong hoàn cảnh vắng
vẻ, u tịch của Côn Sơn, ta mới hiểu được bài thơ
nôm Tích cảnh, số X, trong Quốc âm thi tập của Nguyễn
Trãi. Bài đó không phải là "ngôn chí",
cũng không phải "tiếc cảnh" hay khuyên
răn đạo đức chi hết thảy. Đó chỉ là bài thơ da diết
nhớ vợ mà thôi. Nhớ Nguyễn Thị Lộ đấy mà".
Tôi sững người! Đọc lại bài thơ, tôi thấy quả nhiên
như vậy:
Loàn đơn ướm hỏi khách lầu hồng,
Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng!
Ngoài ấy dù còn áo lẻ,
Cả lòng, mượn đắp, lấy hơi cùng.
Nếu ta thay một vài từ cổ bằng những từ thông dụng
tương đương (loàn đơn/mạo muội; cả lòng/rộng lòng)
thì bài thơ của Ức Trai hoàn toàn trở thành một
bài thơ tình hiện đại, một bài thơ tình mà nỗi nhớ
nhung còn táo bạo hơn cả nỗi nhớ nhung của người
vợ trẻ trong bài Lá thư thành phố [18] của Giang
Nam (cần lưu ý bạn đọc là trong thời gian làm bài
thơ tình như Trần Thanh Mại giả định này, Nguyễn
Trãi chủ yếu ở Côn Sơn còn Nguyễn Thị Lộ thì đang
nhận chức Lễ nghi nữ học sĩ ở Thăng Long. Ngoài
ấy là ngoài Kinh thành). Tôi đã thử đem bài thơ
này trình bày ở một vài lớp học, lứa tuổi khác nhau,
thì nói chung, không ai nghi ngờ gì về chủ đề “nhớ
vợ” của nó. Chỉ có điều, hôm nay tôi phải nói ra
đây cho sòng phẳng: đó chính là cách lý giải bằng
phương pháp liên tưởng của Trần Thanh Mại và chỉ
là của Trần Thanh Mại. Đó là kết quả bất ngờ của
một chuyến đi thực tế, đúng hơn là một cuộc chống
chọi với bệnh tật trên đường đi thực tế, thầm lặng
mà cũng rất can trường.
Trần Thanh Mại cứ chống chọi với bệnh tật kiên
nhẫn như thế cho đến cuối năm 1964 thì đành phải
vào bệnh viện sau một cơn đau kịch liệt kéo dài.
Không như các lần trước, vào bệnh viện nhiều lắm
là một tháng lại thấy ông trở ra, lần này ông nằm
liệt. Các bác sĩ bắt ông phải ở phòng cấp cứu, và
ông không tài nào gắng gượng để ra khỏi phòng cấp
cứu được nữa. Một buổi chiều, 3 ngày trước tết âm
lịch, chúng tôi vào thăm, thấy ông đang mổ thận.
Mổ ngay tại phòng cấp cứu, không thuốc mê vì bệnh
ông không dùng thuốc mê được. Khuôn mặt ông trắng
nhợt, nghiến răng để nhịn đau, mồ hôi từng giọt
ròng ròng. Phía dưới, các thầy thuốc đang bận rộn
dò tìm cái gì, phủ trên bụng là một tấm khăn trắng
lấm tấm đỏ. Bên kia giường, một người bưng mặt khóc:
bà Trần Thanh Mại. Chúng tôi không chịu đựng nổi
khi nhìn sự chịu đựng của ông, đành bỏ ra về. Mấy
hôm sau, đúng đêm mồng một tết thì ông qua đời!
Trong buổi chiều đưa ông xuống nghĩa trang Văn
Điển, trời lất phất mưa, tôi thẫn thờ đi sau quan
tài ông, cứ ngẫm nghĩ về đời người sao mà quá ngắn.
Khi mọi người đã ra về gần hết, tôi còn đứng nán
lại, thì bỗng thấy người con trai cả của ông, anh
Trần Tuấn Lộ, đi lại sát bên mình, trao cho một
tờ giấy gấp tư mà không nói năng gì. Hơi ngạc nhiên,
tôi vội mở ra, thì đó là lời trăng trối của Trần
Thanh Mại vào phút lâm chung, do Trần Tuấn Lộ ghi
lại bằng bút chì, nét chữ mờ và hơi nguệch ngoạc.
Chỉ có mấy câu vắn tắt: “Trao cho Huệ Chi tất cả
tư liệu về Hồ xuân Hương và Miên Thẩm. Mong Huệ
Chi cố gắng đi sâu vào hai văn nhân tầm cỡ này”.
Tôi rơm rớm nước mắt, đứng lặng hồi lâu, bồi hồi
trước niềm tin và cũng là vinh dự quá lớn ông đã
dành cho tôi. Hai cặp tài liệu về hai nhà thơ lớn
mà ông trao cho - qua anh Trần Tuấn Lộ mấy hôm sau
- trong đó có tập thơ chữ nôm Lưu hương ký đã được
sao ra thành 5 bản và phiên âm ra tiếng Việt trọn
vẹn, cùng một số chương khảo luận về Miên Thẩm ông
viết xong từ lâu nhưng chưa được công bố, tôi đã
giữ rất kỹ, đã đọc đi đọc lại nhiều lần và mang
theo bên mình khi cơ quan đi sơ tán vào ngày Mỹ
leo thang đánh phá miền Bắc. Cho đến năm 1967 thì
ông HTN đại diện Phòng Tư liệu Viện Văn học, đến
tận nơi tôi ở yêu cầu trao lại tất cả cho cơ quan,
theo một nghị quyết của Chi bộ Viện mới đưa ra.
Tôi nghe ông tuyên bố, hơi chưng hửng, đứng bần
thần một lúc lâu, nhưng rồi cũng lặng lẽ bắc thang
lên chạn nhà chủ lôi hai chiếc cặp trao lại cho
ông. Hai chiếc cặp rời khỏi tay tôi và về sau cũng...
biến mất khỏi Viện, không còn chút tăm hơi nào (?!)
[19] . Từ đó đến nay, mỗi lần nghĩ đến Trần Thanh
Mại tôi lại thấy bâng khuâng, lòng hơi se thắt,
cứ có cảm giác ân hận về những gì mình đã không
làm được như lời căn dặn thiêng liêng của người
Tổ trưởng bậc thầy gần gũi của mình.
*
Nhìn những bước lớn lên của Viện Văn học 20 năm
nay, nhớ đến những người đã nằm xuống, những Hà
Văn Đại, Trần Thanh Mại, Nam Trân, Nguyễn Đức Vân,
Cao Huy Đỉnh, Hoàng Ngọc Phách, cả những anh em
trẻ như Tiên Sơn Nguyễn Đức Vĩ, tôi lại cứ không
thôi nghĩ đến câu nói của Joliot Curie được nhắc
lại trong một bài báo của Ehrenburg: "Khoa
học vừa tiến lên không ngừng vừa gạt bỏ chính mình"
[20] . Những thế hệ các nhà nghiên cứu đã nằm xuống
kia chính là những người đã từng đóng góp vào bước
đi đầu của Viện, đã vun đắp cho sự lớn lên hôm nay
của Viện. Phát hiện và tìm tòi của họ, đáng khâm
phục biết bao, cũng khó khăn và trầy trật xiết bao!
Có thể rồi đây, những gì họ đã tìm ra lại sẽ bị
gạt bỏ, hoặc được nhìn nhận khác đi. Nhưng dù thế
chăng nữa thì việc họ làm phải đâu là vô ích. Phủ
định lại cũng chính là một hình thức khẳng định
- có hiểu vấn đề biện chứng như vậy thì mới thanh
thản, nhẹ nhàng trước cái quy luật tất nhiên của
sự tiếp nối, và cũng mới tìm ra lý do tồn tại của
chính mình, đúng như đoạn tiếp câu nói của Joliot
Curie: "Không phải bàn cãi gì nữa, kiệt tác
trong nghệ thuật vững chắc hơn tác phẩm khoa học.
Nhưng tôi tin chắc rằng nhà nghệ sĩ cũng như nhà
bác học đều cùng chịu sự chi phối của những động
cơ như nhau, và người ta đòi hỏi họ cùng chung tư
tưởng và hành động. Sáng tạo khoa học, khi nó đạt
đến đỉnh cao thì cũng là sự vỗ cánh tung bay. Có
nghĩa là nhà nghệ sĩ và nhà khoa học gặp nhau để
tạo nên cái đẹp và hạnh phúc trong những hình thức
khác nhau. Không có những cái đó thì cuộc sống chỉ
là một dãy cử động tẻ ngắt...”.
Viết xong tháng 12-1978
Sửa chữa và bổ sung tháng 12-2004
--------------------------------------------------------------------------------
[1]Do Trần Thanh Địch xuất bản, Huế, 1935.
[2]Nxb. Tân Dân, Hà Nội, 1941.
[3]Tức Sơ thảo lịch sử văn học việt Nam tập V của
Ban Văn sử địa, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1960. Đây là
cuốn sách đầu tiên phát hiện ra giá trị của phần
thơ chữ Hán của Cao Bá Quát, và đặt lại rõ ràng:
Cao Bá Quát trước hết là nhà thơ chữ Hán bất hủ.
Phần viết này do Nguyễn Đổng Chi, thân phụ tôi lúc
bấy giờ công tác ở Ban Văn sử địa, chấp bút.
[4]Bài này đã đăng trong phần “Phụ lục” cuốn Mấy
vấn đề về sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi do tác
giả bài viết này biên soạn; Nxb. Khoa học, Hà Nội,
1963.
[5]Đã đăng Nghiên cứu văn học, số 6-1961.
[6]Của Viện Văn học, tiếp tục cuốn thứ V, tập Sơ
thảo của Ban Văn sử địa, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1964.
[7]Viết chung với Hoàng Ngọc Phách và Kiều Thu Hoạch.
Nxb. Văn học, Hà Nội, 1965.
[8]Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1961.
[9]Xem Nghiên cứu văn học các số 4-1961; 3-1963;
Tạp chí văn học các số 4-1964; 10-1964; 11-1964.
[10]Do Ưng Linh xuất bản, Huế, 1938.
[11]Nxb. Huế, 1941. Cách ghi tên Hàn Mạc tử là của
Trần Thanh Mại.
[12]Số tháng 7-1963.
[13]Nxb. Phổ thông, Hà Nội, 1963.
[14]Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, tập V, Sđd.
[15]Những bài viết của Trần Thanh Mại phê phán Nhân
văn-Giai phẩm đã không được đưa vào Trần Thanh Mại
toàn tập, Nxb. Văn học, 2004. Tôi để ý thì thấy
hết thảy những bộ toàn tập của các tác giả được
Nxb. Văn học công bố mấy năm nay đều bỏ hẳn phần
viết này, và cả một số phần khác nữa. Như vậy thì
định nghĩa thế nào là “toàn tập”? Hay ông Nguyễn
Văn Lưu, Giám đốc, coi toàn tập chỉ là những gì
còn “ăn khách” được với hôm nay? Còn những “miếng
xấu hổ” “Khạc chẳng ra cho nuốt chẳng vào” thì thôi,
đành theo ý ai đấy giấu nhẹm để người ta quên đi
một thời người cầm bút phải thóa mạ nhau túi bụi
“cho vừa lòng bề trên” đúng như cha ông ta nói “Tốt
đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”? Có lẽ như thế cũng
là cách xử sự hữu lý chăng?
[16]Hoài Thanh chỉ in được cho Trần Thanh Mại 2
bài thơ dịch của thơ Miên Thẩm dưới đầu đề: Hai
bài thơ của Miên Thẩm về Cao Bá Quát, trên Tạp chí
văn học số 6-1964. 2 bài thơ dịch này được Sóng
Hồng chú ý, và phần nào đã giúp ông viết nên hai
câu đầu trong bài Đến Gia-các-ta, nhớ Cao Chu Thần
của mình:
Chu Thần xưa ở nơi đâu,
Để cho Miên Thẩm lên lầu không an.
[17]Thực ra, Trần Hoàn nói thế nhưng nhìn suốt
lại cho đến nay (2004), vẫn chưa thấy có một công
trình nghiên cứu hay dịch thuật nào thật dày dặn
về Miên Thẩm được công bố, trừ luận án Tiến sĩ của
Ngô Thì Đôn mới hoàn thành vài năm gần đây mà tôi
có may mắn được làm người phản biện thứ nhất, và
một vài tập sách tương đối mỏng như Thơ Tùng Thiện
vương của Lương An, Nxb. Thuận Hóa, 1994. Trong
khi đó thì như nói ở trên, tại miền Nam trước 1975
đã có công trình Phân tích những khuynh hướng tình
cảm đạo lý xã hội trong thi ca Tùng Thiện vương
của Ngô Văn Chương dày 422 trang, khổ 16x24, do
Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản năm
1973. Chứng tỏ, với một cơ chế mở, ngay người nghiên
cứu văn hóa cổ cũng có thể tìm ra nhiều “vùng đất”
dồi dào để khai thác, trong kho di sản của ông cha.
[18]Chúng tôi muốn lưu ý đến đoạn thơ sau đây trong
bài Lá thư thành phố:
Con nhớ anh nhiều đêm biếng ngủ,
Nó khóc làm em cũng khóc theo;
Anh gửi về đây manh áo cũ,
Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều.
Ở đây nỗi nhớ chồng của người vợ lính đã được che
giấu khéo léo đằng sau lời kể lể về đứa con nhớ
bố.
[19]Phần viết về Miên Thẩm của Trần Thanh Mại mà
tôi từng có trong tay nhiều hơn hẳn những gì mà
Hồng Diệu nói vừa mới tìm lại được. Xem bài giới
thiệu đầu Trần Thanh Mại toàn tập, Nxb. Văn học,
2004.
[20]Trả lời một bức thư. Tuần báo Văn học, 1960.
Nguyễn Huệ Chi

|