Mạn đàm
về Hán Việt trong Việt ngữ
Muốn hiểu thế nào là Hán Việt, nên
biết trước thế nào là Hán ngữ, tục gọi là Chữ Nho, là
tiếng Tầu. Hán ngữ là lối viết tượng hình được người
Trung hoa sử dụng nhiều thế kỉ; và hiện nay còn được
phổ biến rất rộng rãi tại toàn thể Ðông bộ Á châu..
Trải qua nhiều thời đại, Hán ngữ có nhiều lối viết,
và từ khi Cộng sản nắm chính quyền ở Trung quốc có hai
lối viết được biết đến hơn cả, là lối chính thể ở Ðài
loan và giản thể ở lục địa Trung hoa.
Riêng ở nước ta, các học giả ít người
biết lối giản thể, bởi vì từ rất xa xưa, chúng ta chỉ
viết theo lối chính thể. Văn chương Trung hoa đã thay
đổi rất nhiều với lối văn bạch thoại từ khi Tôn Dật-tiên
thành lập Trung hoa dân quốc, nhưng người mình vẫn trung
thành với lối văn cổ điển; hơn nữa chúng ta phát âm
Hán tự theo lối riêng của chúng ta. Kết quả là ông cha
chúng ta đã biến đổi mỗi chữ Hán ra một chữ Việt có
gốc Hán. Cũng như người Pháp, Anh, Ðức, hoặc Tây ban
nha, vẫn coi các từ có gốc Hi lạp hoặc La-tinh là tiếng
quốc gia của họ; chúng ta cũng có quyền nhìn nhận Hán
Việt là tiếng Việt Nam trăm phần trăm. Do đó vào thế
kỉ 20, có các ông Ðào duy Anh và Thiều Chửu có công
to, khi biên soạn các từ điển Hán Việt. Tuy nhiên Hán
Việt bao trùm toàn bộ các từ ngữ Trung hoa là thế, nhưng
mới là một phần của Việt ngữ mà thôi, cho nên nhóm Khai
trí ở Hà nội (1931), và gần đây nhất có hai ông Trần
văn Giáp (1898-1973) và Lê ngọc Trụ (1909-1979) đã cho
ra đời những cuốn từ điển gồm cả các từ có gốc Hán Việt
và các từ bắt nguồn từ ngôn ngữ dân gian. Mới xem dễ
ngờ là một bước tiến nhảy vọt; nhưng xét ra các từ điển
này chỉ tiếp tục công trình các soạn giả thuộc cuối
thế kỉ 19, chỉ khác ở điểm là các phần giải nghĩa ngày
xưa viết bằng tiếng Bồ, tiếng La-tinh, hay tiếng Pháp,
ngày nay đã được thay thế bằng tiếng Việt.
Phải nhận rằng: những cuốn từ điển
loại này rất cần thiết, vì sau một thế kỉ từ khi Hán
học bị sa thải, thành phần Hán Việt ở Việt ngữ đã nứt
nẻ trầm trọng. Chẳng hạn văn phạm Hán Việt cũng như
Hán ngữ, hoặc Anh ngữ đòi hỏi tĩnh từ đi trước danh
từ. Không ai viết “year new” hoặc “niên tân” mà phải
viết “new year, tân niên”. Thế mà hằng ngày trên sách
báo vẫn đầy dẫy những chữ như “Kinh thánh, điểm yếu’“
thay vì “Thánh Kinh và yếu điểm” mà không ngờ rằng “điểm
yếu” khi nó là hai từ có gốc dân gian thì có nghĩa là
“chỗ thua kém”: khác hẳn với “yếu điểm Hán Việt” có
nghĩa là vị trí quan trọng, nhất là khi bàn về quân
sự. Ðó là trường hợp từ kép gồm một tĩnh từ và một danh
từ. Khi từ kép mang hai danh từ thì thường thường danh
từ non kém thuộc “loại” (species) phải đi trước mà tựa
vào danh từ khoẻ hơn thuộc “giống” (gender) đứng ở đàng
sau. Tỉ như loài người là một giống mà có nhiều loại,
thì chữ “thân” gồm bất cứ ai có hình hài con người,
nhưng lại chia ra có kẻ làm cha, có kẻ làm mẹ. Cho nên
khi nói về người cha người mẹ, phải viết “ phụ thân;
mẫu thân”.
Kìa mẫu thân buồn khi tựa của,
Miệng hài nhi nhớ bữa mớm cơm;
Ngọt bùi thiếp đỡ hiếu nam,
Dạy con đọc sách thiếp làm phụ thân...
Sách báo Trung hoa cũng có danh từ
“thân phụ, thân mẫu”, nhưng đó là những từ kép thuộc
loại tĩnh từ đi trước danh từ đã nói ở trên, và lúc
này “thân” có nghĩa là “được yêu” và “thân phụ thân
mẫu” là bậc cha mẹ của vị đối thoại được người đương
phát biểu ý kiến tôn trọng yêu quý...Nhân tiện nên nói
thêm: văn chương Trung hoa tức là gồm cả Hán Việt có
thói gọi thân thích của mình bằng “gia” khi người thân
thích thuộc hàng trưởng thượng; và bằng “xá” khi người
có họ thuộc vai dưới. Do đó mới có những danh từ: Gia
phụ, Gia mẫu, Gia huynh, Xá đệ, Xá muội...
Một luật văn phạm khác đòi tránh những
từ kép gồm Hán Việt đi bên một từ bình dân. Chẳng hạn
“tân khách” là Hán Việt chính thống gồm hai từ đều có
nghĩa là “người tới thăm”ø , mặc dù “khách” đã biến
thể mà trở thành tiếng bình dân gọi kẻ tới nhà để thăm
hỏi. Nhưng không nên nói “vẽ hoạ, ngồi tọa thiền”...Bàn
riêng về danh từ Computer được cả thế giới gọi là Ðiện
não, Ðiện toán, mà có người kêu là “Vi tính” thì thực
là khó chấp nhận. “Vi tính” theo nghĩa Hán việt có nghĩa
là “tên họ rất nhỏ”. Nếu hiểu “Tính” theo nghĩa bình
dân tương đương với Hán Việt là “Toán” thì danh từ một
nửa là Hán Việt, nửa khác có gốc bình dân. Có đổi ra
Vi toán cũng vẫn chưa xuôi, bởi vì máy tính rất nhỏ
là thứ máy gì?
Như vậy, người ta thấy rõ: ai cầm bút
viết Việt văn trước tiên phải phân biệt từ nào có gốc
Hán Việt, từ nào có gốc bình dân. Jean Bonet soạn giả
cuốn Ðại Nam quốc âm tự vựng xuất bản năm 1899 ghi các
từ Hán Việt bằng một dấu hoa mai, để giúp phân biệt
với các từ có gốc bình dân. J. Génibrel soạn giả cuốn
từ điển khác xuất bản trước đó vào năm 1898 lại ghi
các danh từ có gốc bình dân bằng chữ “N” tức là “Nôm”.
Thế nào là “Nôm” ? Nói thực vắn tắt
thì “Nôm” là lối viết tiền nhân chúng ta rút một số
nét hoặc một chùm nét gọi là “bộ” từ lối viết Hán tự
của người Trung hoa để diễn tả vứa tượng hình vừa âm
thanh của các từ xuất phát từ dân gian Việt Nam. Chẳng
hạn để viết chữ “Năm” thì tiền nhân mượn âm thanh từ
chữ “Nam” của Hán Việt rồi chú thêm chữ “Niên” của Hán
việt vào bên cạnh chữ “Nam” khi muốn nói về “năm tháng
ngày giờ”. Nhưng khi viết số đếm “Năm”, thì chữ “Niên”
sẽ được chữ “Ngũ” thay thế...
Vào cuối thế kỉ 17, các nhà Truyền
đạo Thiên Chúa có các nhà nho Việt Nam góp sức , đã
căn cứ vào tiếng Bồ mà sáng tạo ra lối viết mới mà họ
gọi là “Chữ Quốc ngữ” , sử dụng các mẫu tữ La-tinh:
“a, b. c...” Lối chữ này đã được giáo sĩ Alexandre de
Rhodes hiệu đính để viết ra một cuốn từ điển. Chữ Quốc
ngữ rất dễ học dễ dùng, khiến cho suốt thế kỉ 20 không
còn ai nhớ tới chữ Nôm nữa. Mãi tới gần đây, người Việt
mới thấy Quốc ngữ chỉ diễn âm mà không diễn hình, cho
nên cần được chữ Nôm bổ túc, mới hiểu được các từ đồng
âm dị nghĩa có đầy dẫy trong tiếng Việt. Hơn nữa cần
có các học giả phanh âm ra Quốc ngữ các văn kiện tiền
nhân để lại viết toàn bằng Hán tự hoặc Nôm; do đó một
phong trào phục hồi Hán Nôm đã xuất hiện không những
trong nội quốc mà còn bành trướng ra khắp thế giới.
Năm ngoái Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm đã tham gia mấy
buổi học hỏi tại Hội thảo Hè ở Đại học Provence (Aix
en Provence) bên Pháp. Năm nay hội viên lại tham gia
Hội thảo Hè họp nhau ba ngày từ 26 đến hết 28 tháng
bảy tại trường Ðại học Maine ở campus Orono.
Trên đây có nói đến công trình “Phanh
âm” các bản Nôm ra Quốc ngữ. Trước đây người ta hay
nói “Phiên âm ra Quốc ngữ”, nhưng “phiên âm” có nghĩa
là chuyển dịch một âm thanh một ngoại ngữ ra âm thanh
quen thuộc với độc giả. Chẳng hạn tên thủ đô Hoa kì
là Washington được người Bắc Kinh viết ra ba chữ đọc
lên vừa na ná như âm thanh tiếng Mĩ, lại thuận tai của
họ; thì đó “phiên âm” . Còn khi diễn âm Bắc kinh bằng
mẫu tự la-tinh ra Hua-shèng-dùn thì lại là công trình
“Phanh âm”: âm thanh không thay đổi, chỉ có lối viết
là khác trước mà thôi.
Người Việt từ “ải Nam quan (than ôi!)
tới mũi Cà mâu” cùng nói một thứ tiếng, có điểm di biệt
thì cũng thứ yếu. Trước đây người Pháp cũng nói nhiều
thứ tiếng, bên cạnh ngôn ngữ của tộc Franc, còn có một
số thổ ngữ, phổ biến hơn cả là hai thổ ngữ Breton và
Provencal. Dần dần Pháp ngữ của Corneille, Racine và
Molière đã trỡ thành thông ngữ từ Calais đến Marseille,
mặc dầu đó đây còn vương vấn một vài vết tích các cổ
ngữ. Người Trung hoa đất rộng, nhân chủng tạp hợp: ngày
nay họ có chung một lối viết, nhưng dân Trung hoa nói
khá nhiều ngôn ngữ khác nhau. Rất nhiều người Hoa ở
hải ngoại nói tiếng các nguyên quán là Triều Châu và
Phúc kiến Trong nước có hai thứ tiếng được phổ biến
nhiều nhất là tiếng Quảng đông và tiếng Bắc kinh. Theo
gương nước Pháp, chính phủ mong muốn thứ tiếng Bắc kinh
sẽ tràn lan khắp nước, do đó tiếng Bắc kinh còn có tên
là tiếng “Phổ thông” (Pu tong).
Người Việt còn hay lẫn lộn khi họ gọi
chữ Hán là chữ Nho. Thực ra “Nho” là một thứ đạo làm
người phát xuất từ Trung hoa, không rõ là Hoa Bắc hay
Hoa Nam?. Học giả Kim Ðịnh lại quả quyết nó phát xuất
từ Việt Bắc ! Bởi vì Nho đạo truyền bá qua Hán tự, thành
ra thiên hạ dễ lẫn mà gọi chữ Hán là chữ Nho. Sau đó
mới có cụm từ “ông đồ Nho viết chữ Nho”.
Tới đây mới thấy là không dễ mà phân
biệt Nho với Hán; Hán tự với Hán Việt, tiếng bình dân
với chữ Nôm, Pin yin (Phanh âm) với Fan yin (Phiên âm);
Pu tong (Phổ thông) của Bắc kinh với Việt ngữ của Quảng
đông (có bộ Mễ) ; và Việt ngữ của Việt Nam (có bộ Tẩu)...Vì
Hoa ngữ quá phong phú, Người Trung hoa giỏi Hán tự tới
mức nào mặc lòng, khi đọc sách bao giờ họ cũng cầm một
cuốn Từ điển. Nếu tiếng Việt gồm cả Hán Việt và các
danh từ của dân gian, thì Việt ngữ còn phong phú gấp
đôi Hoa ngữ. Như thế chúng ta không nên ngại khi phải
dùng từ điển. Học “Chữ Nho” (!) sẽ rất khó nếu người
ta theo lối xưa chỉ biết dồi vào trí nhớ, nhưng ai quen
với các sách viết theo lối từ điển Khang Hi sẽ có thể
tự mình học tập Hán tự. Với tính nhẫn nại, họ sẽ thành
công. When in Rome act as the Romans do. Khi học Hán
Nôm hãy theo phương pháp của người Trung hoa.
Bài của
L.m. Anthony Trần văn Kiệm
|