Liên hệ

 
 


 

 

CỔ THI

400 BÀI THƠ ĐƯỜNG BẰNG CHỮ HÁN

90 BÀI THƠ ĐƯỜNG DO TẢN ĐÀ DỊCH
( Máy của bạn phải có font Arial Unicode MS mới đọc được chữ Hán )

300 BÀI THƠ ĐƯỜNG CỦA WEBSITE HOA SƠN TRANG

665 tác phẩm Đường Thi cùa MAIHOATRANG

 

 

TRẦN TẾ XƯƠNG(1870-1907)

CUỘC ÐỜI, THỜI ÐẠI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC:

Thương cả cho đời bạc (Nguyễn Huy Thiệp)

Thơ Trần Tế Xương I

Tên là Trần Duy Uyên, sau đổi là Tế Xương (còn có tên là Cao Xương, Kế Xương, Tú Xương). Sinh ngày 5-9-1870 (10-8 âm lịch). Quê làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, nay là phố Minh Khai, thành phố Nam Định.

Năm Giáp Thân, ông đi thi nhưng không đỗ. Đến khoa Giáp Ngọ mới đỗ tú tài. Sau đó tiếp tục đi thi cử nhân nhưng không đỗ. Dù thi hỏng mãi chỉ đỗ tú tài khi 24 tuổi, nhưng ông nổi tiếng văn học, nhất là về thơ trào phúng. Nhà nghèo, sống đạm bạc, bình dị, ông có lòng yêu nước, có tiết tháo. Thơ văn ông được tụng truyền nhiều, và cũng có nhiều giai thoại về cuộc đời ông.

Ngày 29-11-1907, ông đột ngột qua đời do bị nhiễm mưa lạnh khi đang trên đường về quê ngoại, lúc mới 37 tuổi.

Tú Xương sáng tác khá nhiều, chủ yếu là thơ Nôm, thường được truyền tay qua bạn bè và phổ biến trong công chúng, nhưng không được ghi chép lại nên bị thất lạc nhiều, hay bị lẫn với các tác giả khác như: Nguyễn Khuyến, Từ Diễn Đồng… Hiện đã tìm được trên 100 bài thơ của ông, viết bằng các thể thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, lục bát, song thất lục bát, phú…

Sáng tác thơ của ông phản ứng nhạy bén trước mọi biến động xã hội trong sinh hoạt của đô thị Nam Định đương thời, ghi lại những vụ việc bê bối trong đời sống xã hội (lễ xướng danh kỳ quặc, chuyện chồng chung vợ chạ, những thói tật lố lăng, sự suy đồi của phong hoá…). Thơ Tú Xương đạt đến trình độ cao về sử dụng ngôn ngữ: dễ dàng, linh hoạt mà tài tình, hấp dẫn, không theo bút pháp ước lệ cổ điển. Tú Xương thực sự là một thiên tài, một “Thần thơ Thánh chữ”.

Tú Xương góp vào nền thơ tiếng Việt truyền thống một sự cách tân lớn về việc xây dựng hình tượng. Ông được coi là một trong những bậc thầy của văn học trào phúng Việt Nam, Các nhà thơ trào phúng sau này đều tự nhận là môn đệ của ông, bắt chước ông để đặt tên như một dòng toàn là các ông Tú trào phúng.

Ngoài lối thơ trào phúng, ông cũng có nhiều bài thơ chứa chan lòng yêu nước, như các bài thơ tỏ niềm tưởng nhớ Phan Bội Châu, hoặc man mác trữ tình như bài Sông lấp Nam Định.

Chúc Tết

Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu:
Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu ?
Phen này, ắt hẳn gà ăn bạc
Đồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thì mua tước; đứa mua quan.
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc con:
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn.
Phố phường chật hẹp, người đông đúc,
Bồng bế nhau lên nó ở non.

Bắt chước ai ta chúc mấy lời
Chúc cho khắp hết ở trong đời
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước
Sao được cho ra cái giống người.

Sông Lấp Nam Định

Sông kia rày đã nên đồng

Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai

Đêm nghe tiếng ếch bên tai

Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò


Đi Thi Tự Vịnh
Tấp tễnh người đi tớ cũng đi,
Cũng lều, cũng chõng, cũng vô thi.
Tiễn chân, cô mất ba đồng lẻ;
Sờ bụng, thầy không một chữ gì.
Lộc nước cũng nhờ thêm giải ngạch (1)
Phúc nhà may được sạch tràng quy (2).
Bốn kỳ trọn vẹn thêm kỳ nữa,
Á, ớ, u, âu, ngọn bút chì.
*
(1) giải ngạch: số người lấy đỗ trong khoa thi (giải: phần thưởng; nghạch: hạng). (2) tràng quy: trường qui: phép tắc, thể lệ trường thi.


Thi Hỏng (1)
Mai không tên tớ, tớ đi ngay,
Giỗ Tết từ đây nhớ lấy ngày
Học đã sôi cơm nhưng chửa chín
Thi không ăn ớt thế mà cay.
Sách đèn phó mặc đàn con trẻ,
Thưng đấu nhờ tay một mẹ màỵ
Cống hỉ, mét xì, đây thuộc cả,
Chẳng sang Tàu, tớ cũng sang Tây.

Thi Hỏng (2)
Bụng buồn còn muốn nói năng chi,
Đệ nhất buồn là cái hỏng thi.
Một việc văn chương thôi cũng nhảm,
Trăm năm thân thế có ra gì.
Được gần trường ốc vùng Nam Định,
Thua mãi anh em cánh Bắc Kỳ.
Rõ thực nôm hay mà chữ dốt,
Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy.

Thi Hỏng (3)
Trách mình phận hẩm lại duyên hôi,
Đỗ suốt hai trường, hỏng một tôi.
Tế đổi làm Cao nên sự thế,
Kiện trông ra Tiệp hỡi trời ôi.
Mong gì nhà nước còn thi nữa,
Biết rõ anh em chẳng chắc rồi.
Ví phỏng còn thi còn học mãi,
Toi cơm tốn vải hại mà thôi.

Khoa Thi
Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường Hà (1)
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm ọe quan trường miệng thét loa
Xe kéo rợp trời: quan sứ đến;
Váy lê phết đất, mụ đầm ra.
Sao không nghĩ đến điều tu sỉ (2) ?
Ngảnh cổ mà xem lại nước nhà.
*
(1) Nam, Hà: Nam Định và Hà Nội. (2) tu sỉ: xấu hổ, thẹn thùng


Dặn học trò đi thi
Đi thi đi cử, các thầy nho,
ta dặn điều này phải nhớ cho.
Ra phố khăn ngang quàng lấy mặt,
Vào trường quần rộng xắn lên khô.
Câu văn hết ý, đừng ngui ngủi,
Chén rượu mềm môi, chớ gật gù.
Nghe nói khoa này nghiêm cấm lắm,
Đêm hôm phải sợ phép quan cò.

Đổi Thi
Nghe nói khoa này sắp đổi thi,
Các thầy đồ cổ đỗ mau đi.
Dẫu không bia đá còn bia miệng,
Vứt bút lông đi giắt bút chì.

Cái Chữ Nho
Nào có ra gì cái chữ nho,
Ông nghè ông cống cũng nằm co.
Sao bằng đi học làm thầy phán,
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò.

Con Hát Tuồng
Nào có ra gì lũ hát tuồng,
Cũng hò cũng hét cũng y-uông,
Dẫu rằng dối được đàn con trẻ,
Cái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn.

Than Cùng
Lúc túng toan lên bán cả trời,
Trời cười thằng bé nó hay chơị
Cho hay công nợ là như thế,
Mà vẫn phong lưu suốt cả đờị
Tiền bạc phó cho con mụ kiếm,
Ngựa xe chẳng thấy lúc nào ngơi.
Còn dăm ba chữ nhồi trong ruột,
Khéo khéo không mà nữa lại rơi !

Giời Nực Mặc Áo Bông
Bức sốt nhưng mình vẫn áo bông,
Tưởng rằng ốm dậy, hóa ra không.
Một tuồng rách rưới, con như bố,
Ba chữ nghêu ngao, vợ chán chồng.
đất biết bao giờ sang vận đỏ ?
Trời làm cho bỏ lúc chơi ngông.
Gần chùa, gần cảnh, ta tu quách;
Cửa Phật quanh năm vẫn áo sồng.

Nhớ Người Xa
Ta nhớ người xa cách núi sông.
Người xa, xa có nhớ ta không ?
Sao đương vui vẻ ra buồn bã ?
Vừa mới quen nhau đã lạnh lùng.
Lúc nhớ, nhớ cùng trong mộng tưởng;
Khi riêng, riêng cả đến tình chung.
Tương tư lọ phải là trai gái,
Một ngọn đèn xanh, trống điểm thùng.

Mất Ô
Đêm qua anh đến chơi đây
Giày dôn anh diện, ô tây anh cầm.
Rạng ngày sang trống canh năm,
Anh dậy em hãy còn nằm trơ trơ
Hỏi ô, ô mất bao giờ,
Hỏi em, em cứ ỡm ờ không thưa...
Chỉ e rày gió mai mưa
Lấy chi đi sớm về trưa với tình ?

Cái Học Nhà Nho
Cái học nhà nho đã hỏng rồi,
Mười người đi học, chín người thôị
Cô hàng bán sách lim dim ngủ,
Thầy khóa tư lương nhấp nhỏm ngồị
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo,
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôị
Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ ?
Trình có quan tiên thứ chỉ tôi (1).
*
(1) tiên thứ chỉ: tức tiên chỉ và thứ chỉ: người có địa vị nhất, nhì trong làng.

Khen Vợ
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ đàn con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ, thôi đành phận,
Năm nắng mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không.

Tự Trào
Vị Xuyên có Tú Xương,
Dở dở lại ương ương.
Cao lâu thường ăn quịt,
Thổ đĩ lại chơi lường.

Ba Thứ Lăng Nhăng...
Một trà, một rượu, một đàn bà,
Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta.
Chừa được thứ nào hay thứ ấy,
Có chăng chừa rượu với chừa trà !

Ông Cò
Hà Nam danh giá nhất ông Cò,
Trông thấy ai ai chẳng dám ho.
Hai mái trống Tung, đành chịu dột;
Tám giờ chuông đánh, phải nằm co.
Người quên mất thẻ, âu trời cãi;
Chó chạy ra đường, chủ phải lo.
Ngơ ngẩn đi xia, may vớ được,
Chuyến này ắt hẳn kiếm ăn to !

Đùa Ông Phủ
Tri phủ Xuân Trường được bốn niên,
Nhờ Giời hạt ấy được bình yên.
Chữ "y", chữ "chiểu" không phê đến,
Ông chỉ phê ngay một chữ "tiền".


Lắm Quan
Ở phố hàng Song thật lắm quan:
Thành thì đen kịt, đốc thì lang.
Chồng chung, vợ chạ kìa cô Bố;
đậu lạy, quan xin, nọ chú Hàn.

Hỏi Ông Tiến Sĩ Mới
Tiến sĩ khoa này được mấy người ?
Nghe chừng hay chữ có ông thôị
Nghe văn mà gớm cho văn mãi,
Cờ biển vua ban cũng lạ đờị

Giễu Người Thi Đỗ
Một đàn thằng hỏng đứng mà trông,
Nó đỗ khoa này có sướng không ?
Trên ghế, bà đầm ngoi đít vịt,
Dưới sân, ông cử ngỏng đầu rồng.

Ngẫu Hứng
Hán tự chẳng biết Hán,
Tây tự chẳng biết Tây.
Quốc ngữ cũng mù tịt,
Thôi thì về đi cày.
Trồng ngô và trồng đậu,
Cấy chiêm lại cấy mùa.
Ăn không hết thì bán,
Bán đã có Tây mua.
Được tiền thì mua rượu,
Rượu say rồi cưỡi trâu.
Cưỡi trâu thế mà vững,
Có ngã cũng không đau.
Ăn lương hàm chính thất,
Thôi thôi thế cũng xong,
Ví bằng nhà nước dụng.
Phải bổ toà canh nông.


.

Thiên cổ đoạn trường kim nhất tục.
Phiếm Đàm tòng thử kế Thừa sai.

Tìm kiếm tin đã đưa
Liên kết website



 

 

ĐIẠ CHỈ: WWW.HAINGOAIPHIEMDAM.COM.

EMAIL: HAINGOAIPHIEMDAM@YAHOO.COM

|Tại sao? | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu Du Lịch |Tiểu phẩm|Thư tín|TRÁI TIM HỒNG|CHĂN GỐI | Rừng cười |Ẩm thực |MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn|CỔ THI | Nhân vật |Đó Đây|KINH TẾ | Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ Đọc Truyện