|

Lượm lặt. . .Văn
chương.
Thể theo lời yêu cầu cuả rất nhiều độc giả
cuả Hải Ngoại Phiếm Đàm.
Từ hôm nay, 24 tháng 11 năm 2003 chúng tôi sẽ
bắt đầu đăng những truyện ngắn hay ở trong
nước. Vì tôn trọng các tác giả được chọn
đăng, chúng tôi sẽ đăng nguyên văn các truyện
ấy.
Những tác phẩm văn chương ấy, hoàn toàn không
mang mầu sắc chính trị, tuyên truyền, nhưng
sẽ không tránh khỏi các từ “ Việt Cộng” hoặc
những sự kiện không thích hợp. Xin các bạn
khoan thứ và thông cảm. . .
Hải Ngoại Phiếm Đàm

Chấm
dứt kiếp hoang
NGUYỄN DẬU
(Nhà văn Nguyễn Dậu từng có 17 năm sống bên hồ
Gươm, trong một căn gác nhỏ ở đền Ngọc Sơn và làm
nghề cắt tóc dạo. Những năm tháng ấy là dịp để ông
quan sát và viết bằng một cảm quan sắc sảo trước
muôn mặt đời sống diễn ra quanh đó. Chấm dứt kiếp
hoang là truyện ngắn cuối cùng của ông - một câu
chuyện như được chép ra từ đời thật của chính tác
giả.)
Căn buồng của tôi ở trong
đền Ngọc Sơn có bốn cửa sổ rất to. Hai cửa sổ trổ
ngay trên tường cạnh lối đi. Từ hai cửa sổ này tôi
có thể nhìn ra suốt cầu Thê Húc, nhìn thấy Nghiên
Đài và cả một khoảng mênh mông có Long Môn và Hổ
Bảng, có tháp bút với cổng ngoài cùng. Còn hai cửa
sổ hướng chính Nam, nhìn ra đình Trấn Ba, mặt hồ
Tháp Rùa và phố Hàng Khay. Nhờ bốn cửa sổ lớn đó,
tôi có thể ngắm thấy và nhận biết muôn ngàn sự kiện
đã xảy ra mỗi ngày ở trong khu Ngọc Đảo này.
Hôm ấy, tôi lưu ý đến một đứa trẻ khoảng mười
tuổi, đầu trọc lốc, áo sơ-mi cháo lòng, quần đùi
xanh sẫm đang ngồi ngủ gà ngủ gật ở đầu một phiến
xá cầu mé bên ngoài lan can gỗ. Sự việc và hình
ảnh ấy rất không bình thường, khiến tôi kinh hãi.
Những kẻ vào ngủ nhờ trong đền thì rất nhiều. Họ
ngủ trên thềm đình Chắn Sóng, ngủ ở phiến đá mé
sau có hai chữ "Phong Nguyệt", ngủ ở trên
Môn Lầu, hoặc nhiều trẻ bụi đời thường leo lên chạc
cây rất cao rồi ngủ say li bì giữa hai cành cây,
còn như ngủ ngồi mà lại ở mé ngoài thành cầu như
thế này thì tôi chưa từng thấy vì chỉ cần gật gù
một cái là lộn cổ xuống hồ ngay.
Vốn đã quen thuộc mọi mưu ma chước quỷ của lũ
trẻ "kiếp bụi", linh tính báo cho tôi
biết ở thằng bé đầu trọc này hẳn có một điều gì
là lạ đây. Thế là tôi không tập trung đầu óc vào
việc dịch sách Hán Nôm nữa, mà cứ hai bàn tay bíu
chặt song gỗ kiểu "con tiện" mà theo dõi
thằng bé lạ mặt đang ngủ với tư thế quái quỷ nọ.
Người ra vào đền quá đông. Mỗi lần có người qua,
ván gỗ lát cầu thường kêu lách cách. Thằng bé chỉ
mở hé mắt nhìn qua rồi lại lim dim ngủ. Lát sau
có một đôi thanh niên nam nữ qua cầu Thê Húc. Họ
khá sang trọng về cách ăn mặc và khá thơ mộng về
kiểu cách vắt tay qua lưng nhau mà thong thả đi
lên giữa cầu. Thằng bé đầu trọc quay hẳn mặt lại
nhìn họ chầm chậm. Thế rồi đột nhiên nó kêu "ối"
rồi rơi tõm xuống nước, chìm nghỉm. Thỉnh thoảng
nó lại vươn tay nhô đầu lên kêu cứu, sau đó lại
chìm mất tăm.
Anh thanh niên rời tay khỏi bạn gái. Anh chỉ kịp
tụt bỏ đôi giày da, để nguyên cả quần áo anh lao
xuống mặt nước đúng tư thế của kẻ giỏi bơi lội.
Anh túm ngay được thằng bé. Thằng bé túm chặt được
anh. Nó túm chặt lấy anh, đến nỗi anh không sao
bơi được. Anh loay hoay vừa đạp nước, vừa gỡ tay
nó ra. Sự lạ đã xảy ra, thằng bé đột nhiên biến
mất. Anh thanh niên bơi đi bơi lại, có lúc đã lặn
hẳn xuống đáy bùn mà tìm đứa trẻ bị chết đuối. Lát
sau thấm mệt, anh thanh niên liền ôm lấy cột bê-tông
chân cầu, miệng thở hổn hển, mắt vẫn nhìn động tĩnh
khắp mặt nước chung quanh để tìm tăm hơi đứa trẻ.
Cô bạn gái đứng trên cầu nhìn xuống nói những gì
đó cùng anh bằng âm thanh trong trẻo của phụ nữ.
Tôi vội khóa cửa buồng lại rồi chạy ra ngoài cầu,
và cúi xuống bảo anh thanh niên.
- Này, anh bạn trẻ tốt bụng. Anh bơi vào bờ đi.
Đầu tóc, quần áo ướt sũng, anh vẫn ôm lấy cột
cầu nói vọng lên:
- Còn thằng bé? Không sao tìm thấy nó! Tội nghiệp!
- Chính anh mới là kẻ tội nghiệp. Anh nghe tôi,
cứ vào bờ đi, rồi anh sẽ rõ. Nó không chết được
đâu.
Cô gái cùng giục chàng trai:
- Bác ấy đã bảo thế thì anh cứ bơi vào bờ đi.
Chần chừ ít giây sau, rốt cuộc chàng trai cũng
nghe lời tôi. Anh bơi vào phía Nghiên Đài, rồi mỏi
mệt bước lên bờ. Không rõ là từ lúc nào, chung quanh
chàng trai và cô gái đã có hàng chục đứa trẻ cả
trai lẫn gái, quần áo bẩn thỉu, mặt mũi câng câng
vừa cười rộ vừa nhảy nhót chung quanh, hai tay múa
may, miệng rúc lên như người Châu Phi.
- Rum! Ba-la-la... Rum! Ba-la-la...
Giận quá, tôi gầm lên với lũ trẻ:
- Chúng mày có nể tao không đấy, hả?
Lũ trẻ nhìn tôi rồi nháy nhau, huýt còi miệng
chạy về phía bên nhà Thủy Tạ cả.
Tôi ái ngại hỏi anh thanh niên:
- Anh sợ nó chết đuối à?
Vâng! Nó đã ngã xuống hồ. Nó không có tóc. Cháu
định cầm tay nó lôi vào bờ, thế là nó biến mất.
- Nó không biến mất đâu. Ngược lại anh thử xem
trên người anh có cái gì biến mất không?
- Chàng trai sờ nắn túi áo túi quần, mặt tái hẳn
đi:
- Thôi chết cháu rồi. Rơi hết cả kính, bút và
chiếc ví xuống hồ rồi.
Trong ví của cháu có nhiều giấy tờ và tiền bạc.
Cháu phải bơi ra lặn tìm...
Tôi gạt đi một cách dứt khoát:
- Vô ích! Chính thằng nhãi "lính mổ"
(ăn cắp) ấy đã "rủ" được anh xuống hồ,
rồi lột sạch của anh đấy. Bây giờ thì nó đã sang
phía Thủy Tạ từ lâu và biến rồi. Có giời tìm.
*
Lúc đầu tôi được biết đến thằng Hùng "sư
cọ" là như vậy. Tôi không phải là một bậc cao
vị, một nhà đạo đức, mà chỉ là một bác phó cạo tầm
thường nhưng xin phép độc giả cho tôi được phép
nói rằng hôm ấy tôi rất buồn. Vì thế là ở khu vực
tôi trú ngụ, hay nói rộng ra, là ở xã hội lại thêm
một cao thủ nữa trong nghề "hai ngón"
và mất đi một đứa trẻ thơ ngây, ở quanh khu bờ hồ
có rất nhiều trẻ bụi. Nhưng thủ đoạn bụi ở trình
độ cao cấp thế này quả thực tôi mới thấy lần đầu.
Cả ngày hôm sau ra đứng cắt tóc kiếm ăn mà lòng
tôi cứ nghĩ vương vấn về thằng Hùng "sư cọ".
Sóng gió cuộc đời cuốn nó từ miền nào tới? Nó ở
băng nào? Tôi đã gạn hỏi mấy thằng trưởng băng mấy
thằng đại ca khét tiếng như Hùng "chó",
Hùng "đá", Hùng "hổ", v.v. nhưng
chẳng đứa nào biết đến thằng lính "mổ"
mới toanh này cả.
Chiều hôm đó, tôi dắt xe thồ đồ nghề trở về đền
Ngọc Sơn thì trời đất ạ, ngồi lù lù ở ngay bậc thềm
cánh cửa buồng tôi chính là thằng Hùng "sư
cọ". Hình như nó cố ý đợi tôi nên vẻ mặt và
ánh mắt có nét lấp lánh, hồ hởi:
- Cháu chào bác ạ?
Tôi lừ lừ nhìn nó:
- Mày định bẻ khóa cửa buồng tao hả?
- Không ạ! - Đứa trẻ thành thực đáp. - Cháu mà
lại dám "dạt vòm" - (lẻn vào nhà) của
bác.
- Thế mày ngồi đây làm gì?
- Cháu đợi bác.
- Đợi ta làm gì?
- Những thằng lớn bảo cháu vào xin lỗi bác.
- Vì cái gì thế?
- Vì đã dám "múa may" ở nơi bác ngụ,
bác sẽ vặn cổ...
- Tao chưa hề vặn cổ ai cả.
- Nhưng chúng nó bảo bác "nghiêm" lắm.
- A, điều đó thì đúng đấy. Mày táo tợn quá, lột
ra lột. Thế hôm qua mày được bao nhiêu?
- Thề với bác là chẳng được cái mốc xì gì.
- Anh thanh niên cứu mày hôm qua nói là mất rất
nhiều tiền cả kính, cả bút nữa.
- Vâng. Nhưng bọn "nhớn" trấn hết của
cháu rồi.
- Ra thế. - Tôi mở khóa, đẩy xe vào buồng.
Thằng bé làm thân với tôi bằng cách nâng hộ bánh
xe sau, rồi nó theo tôi vào nhà. "Sẽ hỏi chuyện
cu cậu, đó là điều lý thú". Tôi thầm nghĩ vậy
và cứ để mặc nó.
- Giấy tờ của anh ta mày vứt đi đâu rồi?
Khi tôi rút khăn mặt lau mặt thì nó tự nhiên ngồi
xuống ghế như một khách quen:
- Cháu vứt ở... ở...
- Ở đâu? Đưa đây để tao trả lại cho người ta.
Mày nhớ là hơn chục loại giấy tờ là chuyện đau lòng
lắm. Người ta thà mất hết tiền còn hơn là mất giấy
tờ. Mày vứt ở đâu?
- ở... ở...
Tôi giận dữ thật sự, quát lên:
- Ở đâu?
- Ở trong túi quần của bác ạ.
- Bố láo!
- Bác thử sờ túi quần bác xem, cháu không dám
nói bậy với bác đâu.
Tôi thọc tay vào túi quần của mình và quả thật
đã rút ra được cả một cái ví dày cộm giấy tờ: Tất
cả hãy còn ẩm ướt!
- Mày nhét vào túi tao từ bao giờ thế này?
Hùng "sư cọ" chỉ nhoẻn miệng cười không
đáp. Tôi nhìn tên "đại bợm" với ánh mắt
đăm đăm. Kẻ gian phi, cứ một trăm đứa thì có một
trăm lẻ một cặp mắt giống nhau. Chúng nó đã quen
lừ lừ vì hằn học cuộc đời, đã quen nhìn xéo để dõi
theo túi áo và hành lý của mọi người, đã quen chớp
nhoáng đảo nhoàng để đề phòng cảnh sát và những
tên bất trị lớn tuổi hơn. Đằng này thằng Hùng "sư
cọ" không có kiểu mắt ấy. Mắt tròn, to, đen,
thiệt dễ thương trên khuôn mặt trắng trẻo tròn trịa.
ở nó chỉ có cái đầu sư cọ trọc lốc là đáng ngờ.
Giữa đỉnh đầu trọc nổi gồ lên một đường dài như
nóc nhà - nó nhiễm độc chưa nhiều, chưa nặng!
Tôi thăm dò nó:
- Tao cần đi tắm cháu ạ. Cắt tóc cả ngày, nhiều
tóc vụn bám vào người, ngứa ngáy quá.
- Thì bác cứ đi tắm đi: Bác để cháu trông nhà,
bác có sợ không?
- Sợ gì?
- Sợ cháu cuỗm cái gì của bác rồi biến.
Tôi quắc mắt:
- Tao chấp mày chạy trước ba ngày - Rồi tôi phì
cười bảo nó. - Bác tin cháu, rõ chưa. Nhưng phải
cài then cửa lại.
Thằng bé đại bợm nhìn quanh nhà tôi rồi hỏi:
- Cháu sẽ cài chặt then cửa. Nhưng bác cho cháu
mượn một cuốn sách cháu đọc. Bác lắm sách quá. Lại
cả sách Tây sách Tàu nữa...
- Có cuốn Không gia đình cháu có thích đọc không?
- Vâng!
Ra vậy! Nó còn thích đọc sách, có nghĩa là còn
uốn nắn được. Sau khi tôi đưa sách cho nó, nó bảo
tôi:
- Bác cứ khóa trái cửa lại.
- Không. Đã bảo tao tin cháu mà.
- Hay là...
- Hay là cái gì?
- Cháu cùng tắm với bác cho vui.
- Cũng được!
Đã từ lâu tôi cũng nổi tiếng là "ma hồ Gươm"
vì tài câu cá và tài bơi lội. Nhưng tôi giả đò ngờ
nghệch bảo nó:
- Hùng này, hai bác cháu mình bơi ra Tháp Rùa
rồi lại bơi về, đi!
- Xong béng!
Tôi nghiêm mặt mắng nó:
- Hùng, từ nay trở đi, trước mặt bác, cháu tuyệt
đối không được ăn nói kiểu "lính" đấy.
Thế nào là "xong béng".
- Vâng ạ! Chúng nó bảo bác nghiêm lắm, thế mà
đúng.
- Nào bơi đi!
- Bác thử đuổi cháu xem nào.
Thằng bé bơi thật êm, thật nổi và nhanh như nhái
bén. Song cố nhiên là tôi bắt kịp nó không mấy khó
khăn. Có điều, mỗi lần tôi gần tóm được cẳng nó
là nó lặn mất hút, không hề sủi tăm, sủi bọt, nó
đã hiện lên ở nơi xa lắc xa lơ và gào lên: "Xin
chào!".
Buổi tắm rất vui. Tôi vui vẻ như trẻ lên mười.
Thằng Hùng còn kỳ cọ cho tôi nữa. Điều đó khiến
tôi xúc động đến rớt nước mắt. Chao ôi, cả đời tôi
thui thủi, cô đơn, cô đơn, cô đơn...
Tắm rửa xong, tôi sửa soạn đi ăn cơm tối. Nó bảo
tôi:
- Cháu xin bác cái bánh mì.
- Đói à?
- Vâng, hôm nay cháu đói, vì... vì... xui xẻo
quá.
- Cháu có đói luôn không?
- Nhiều ạ. Có khi đói liền hai ba ngày.
Tôi ôm ghì thằng bé bụi đời vào lòng, áp má vào
đầu trọc của nó, rồi nói nhỏ.
- Hai bố con mình cùng đi ăn cơm bình dân, nhé!
*
Chúng tôi nghiễm nhiên trở thành hai bố con. Cũng
cần nói rằng trẻ con quanh mấy phố Hàng Dầu, Lò
Sũ, Hàng Bè, Hàng Vôi đều quen gọi tôi là "bố".
Nay có cậu đã bốn mươi, vợ con đàng hoàng râu ria
rậm rạp, vẫn còn gọi tôi là "bố" như hồi
xửa xưa "Bố Dậu hớt tơ" (hớt tóc) - bốn
tiếng giản dị và thân thương ấy, có hàng núi vàng
cũng không mua được.
Quán cắt tóc của tôi ở ngay sau lưng đền Bà Kiệu.
Hằng ngày, tôi bắt Hùng "sư cọ" tuân thủ
tuyệt đối bốn điều kiện: một, không "hai ngón"
nữa; hai: đọc truyện; ba: học văn hóa; bốn: tập
sự tay dao tay kéo. Thằng bé hoàn toàn ngoan ngoãn
vâng lời. Nó để tóc trở lại (vì có sợ bị túm tóc
nữa đâu), hiền lành ít nói và có thể nói rất siêng
năng trong việc học văn hóa cũng như học nghề. Đôi
khi có bọn đầu gấu đến dọa dẫm hoặc lôi cuốn nó
đi vào con đường cũ, song chúng đều ngại tôi, nên
thằng bé được yên thân.
Tiểu sử của nó có thể tóm gọn chưa đầy mười dòng
chữ. Gia đình ở xóm chài ven sông Cấm, Hải Phòng.
Hai tuổi, mẹ đi lấy chồng khác. Bố dượng độc ác
hay đánh đập thế là nó đi vào kiếp bụi, thường hoạt
động ở chợ Sắt, quán Bà Mau, phố Ga và bến Bính.
Hồi đầu năm mới mò lên Hà Nội kiếm ăn.
Cách quán cắt tóc của tôi chừng vài mét, ở gốc
cây đa có một quán hàng nước. Quán này rất đông
khách. Người ta ngồi nghỉ chân, ăn uống và chờ xe
khách đi Mơ, đi Hà Đông, đi Mai Động. Đôi khi Hùng
sang quán nước ngồi hóng chuyện hoặc nô đùa với
đám trẻ con bà hàng nước. Lúc đầu, tôi không bằng
lòng, hay khuyên nhủ hoặc cằn nhằn nó. Sau, nghĩ
kỹ, tôi thấy dù sao nó cũng là một đứa trẻ, nó có
thế giới riêng, nó có quyền được chơi, được nghịch.
Nghiêm khắc quá với nó là điều thiển cận và sai
lầm. Do đó, tôi đã lỏng lẻo với nó hơn trước. Đôi
khi tôi có nghe thấy những ông thợ khóa, thợ kính
và những người ngồi chờ xe kêu ca mất đồ nghề hoặc
mất tiền nong, hàng hóa, song tôi chẳng hề ngờ vực
gì nó cả. Nó vẫn học bài ở ghế đá cạnh tôi, hoặc
tí tách nhịp dao kéo cơ mà? Chỉ thỉnh thoảng, rồi
hầu như mỗi ngày, tôi lại thấy có một con bé khoảng
tám chín tuổi ở đâu đến gặp nó, thì thầm to nhỏ
điều gì đó. Sinh nghi tôi hỏi thằng Hùng về mối
quen biết đó nhiều lần, thì nó chỉ cười:
- Con gái bà hàng rau ở ngoài bờ sông. Trước đây
con có nợ của bà ấy ít tiền, nên bà ấy vẫn cho con
gái đến đòi.
- Con đã trả hết chưa?
- Con trả gần hết ạ.
- Con lấy tiền đâu mà trả?
- Thưa bố, ngày nào bố cũng cho con vài hào ăn
quà.
- Vậy ra con vẫn nhịn quà sáng?
Thằng bé đỏ mặt im lặng. Tôi hỏi nó:
- Cần bao nhiêu nữa để trả một lần cho hết đi?
- Bố cứ mặc con.
Tôi nghiêm giọng răn đe trước nó:
- Này, Hùng! Cẩn thận đấy. Nếu con vẫn chứng nào
tật ấy thì bố sẽ quyết liệt với con, bố không tha
đâu.
- Vâng ạ.
Nghe nó nói "vâng", song quả thực tôi
không yên tâm chút nào. Tôi liền nhờ một thằng cháu
lớn ở phố Hàng Dầu tên là Thành, theo dõi hộ tôi
xem con bé hay đến tìm nó nhà cửa ở đâu. Tôi nhận
được tin tức chính xác ngay. Con bé tên thật là
Gái, con bà hàng rau tên là Thuần ở ngoài xóm bãi.
Hùng "sư cọ" chẳng nợ nần gì bà Thuần
cả. Có điều hiện nay bà ấy đang ốm thập tử nhất
sinh. Nhà lại chỉ có hai mẹ con, nên túng quẫn lắm,
đến độ cơm chẳng có mà ăn.
Thế là tôi hiểu ra mọi nhẽ. Tối hôm ấy, Hùng cứ
bồn chồn ra đứng vào ngồi, không ôn được bài tập
nữa. Tôi liền hỏi nó:
- Con có điều gì lo buồn giấu bố thế?
Nó thú thực ngay:
- Vâng ạ.
- Có phải bà Thuần vừa ốm vừa đói không?
- Sao bố biết ạ?
- Thế đấy. Bố biết đủ thứ. Bố lại biết rằng lâu
nay con vẫn hay ăn cắp vặt của mọi người nữa, đúng
không?
Nó ngồi ngây ra, nước mắt lã chã, rồi khóc rống
lên:
- Con không ăn cắp.
- Thế gọi cái việc ấy bằng cách gì bây giờ?
- Con chỉ phân chia lại của cải thôi. Người thì
thừa mứa ra, người khác lại ốm đói.
- Vì sao con thương xót bà Thuần thế?
- Tại vì lúc con ốm đói, bà ấy đã nuôi con, bố
ạ. Cũng như bố đang thương con. Sau này nếu bố ốm
đau, con cũng đi ăn cắp về nuôi bố.
Lòng tôi vừa đau đớn vừa mềm nhũn. Tôi liền mở
ngăn kéo, rút ra năm chục đồng (tiền năm 1972) đưa
cho Hùng và dặn:
- Con đem tặng bà Thuần đi. Con gọi thêm cả anh
Thành đi cùng, kẻo bọn đầu gấu nó trấn mất.
Hùng sung sướng ôm ghì lấy tôi. Đôi mắt đen to
của nó cũng ươn ướt. Sau đó nó nhảy tâng tâng ra
ngoài cầu Thê Húc.
Hai hôm sau, tôi sửa soạn hành trang rồi dặn dò
Hùng:
- Bố có việc phải đi xa chừng hai hôm mới về.
Con ở nhà lúc nào cũng khóa trái cửa, cấm tuyệt
đối không được ra ngoài.
- Thế... còn phải đi ăn cơm chứ ạ?
- Con sẽ ăn với cụ Từ ở mé sau đền. Bố đã dặn
dò cụ rồi. Có làm được như lời bố dặn không?
- Thưa bố có ạ.
- Bố tin ở con đấy. Con sẽ ở nhà học bài, đọc
truyện...
- Vâng ạ!
Chuyến đi của tôi kéo dài từ hai thành bốn ngày.
Khi tôi về đến, dáng chừng nó nhớ lắm, nên cứ ôm
lấy tôi thật chặt, nước mắt ứa ra. Tôi cũng nghẹn
ngào xúc động ôm lấy bé Hùng. Lát sau, tôi mở túi
xách lấy ra hai bộ quần áo rất đẹp, đưa cho nó,
nói:
- Quà của con đây.
- Ôi bố ơi... Con có đủ rồi mà. Bố mua thêm làm
gì cho tốn tiền hả bố?
- Con mặc thử xem nào. Hơi dài rộng một tí. Sang
năm thì vừa xoẳn. Con trai là chóng lớn lắm đấy!
Bé Hùng nhìn tôi chòng chọc, đôi mắt to đen dường
như có tia lửa lấp lánh. Nó hỏi tôi một câu rất
thông minh:
- Có lẽ bố sắp đưa con đi đâu phải không?
- Con cho là như vậy à?
- Bố đưa con đi đâu?
Tôi ôm lấy nó. Hai bố con cùng lăn ra giường,
nằm sát bên nhau. Đầu nó rúc vào ngực tôi.
- Thế này, con nghe nhé, Hùng. Bố đã về Hải Phòng
xin được giấy chứng nhận con là con của liệt sĩ.
Bố lại lên trường Thiếu sinh quân gặp chú giám hiệu
là bạn cũ của bố để xin cho con vào đó. Chú ấy đã
nhận.
Hùng đột nhiên giãy nảy lên:
- Không! Con không đi thiếu sinh thiếu sủng nào
cả. Con ở với bố suốt đời.
- Nghe bố nói đây. - Tôi dỗ dành nó. - Bố cũng
không muốn xa con đâu. Nhưng bố đã nghĩ kỹ rồi:
vì tương lai của con bố phải làm thế. Đời con còn
dài, dài lắm, con phải được học hành, được dạy dỗ
chu đáo mai sau con sẽ phải trở thành một sĩ quan
hữu ích cho xã hội. ở cùng bố, con sẽ chỉ là một
người thợ cạo thôi. Thêm nữa, hoàn cảnh chung quanh
của xã hội là rất bất lợi đối với con. Con cần chấm
dứt kiếp hoang!
- Con không đi đâu cả.
- Con yêu bố cơ mà?
- Vâng!
- Bố cũng rất yêu con. Bố nghĩ gì thì chỉ là nghĩ
điều tốt lành cho con thôi. Con lên trường sẽ được
học hành sinh hoạt vui lắm. Chính bố ngày xưa trước
khi trở thành sĩ quan cũng đã theo học Thiếu sinh
quân đấy.
- Nhưng con sẽ rất nhớ thương bố.
- Bố sẽ luôn lên thăm con. Và có dịp, con sẽ về
đền thăm bố. Con đã có gan xa nhà từ lúc lên tám
tuổi con phải đi vào con đường sáng sủa, tốt đẹp.
Sẽ không bao giờ ốm đói, không đi ăn cắp, và cũng
không bị trấn lột nữa. Nhớn lên có đủ học vấn và
trí lực con sẽ có cách đúng đắn "phân chia
lại tài sản" thật công bằng cho xã hội, chứ
không phải như cách làm hiện nay.
- Hu... hu... hu... Bố ơi, con xa bố thật à?
- Không phải là xa hẳn. Chỉ là tạm biệt ít lâu
thôi.
Ít phút sau, thằng bé ngủ li bì. Còn tôi, tôi
cứ trằn trọc không sao chợp mắt được.
N.D.

XEM
TIẾP
|