| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Nhân
ngày mất của Nhà văn Phạm Duy Tốn ( 25- 2-1924
)

Con
người sở khanh -Phạm Duy Tốn
Nước
đời lắm nỗi... Phạm Duy Tốn
Sống
chết mặc bay - Phạm Duy Tốn

Những gì tôi biết
về bố tôi - Phạm Duy
Tôi mồ côi
cha từ khi mới lên hai. Tôi không có một chút kỷ
niệm nào sống với bố cả, ngoại trừ vài tấm bưu ảnh
mà bố tôi gửi về cho anh em tôi khi cụ đi dự Đấu
xảo Marseille... Đối với tôi, người bố thật là xa
lạ; khi còn bé, vì phép tắc gia đình, không bao
giờ tôi được nhắc tới tổ tiên, dòng họ và những
người quá cố; lớn lên, đi giang hồ, mẹ chết đi là
thôi, không bao giờ tôi được biết tường tận về bố
tôi cả.
Nhưng có một hôm, trong mớ giấy tờ hộ tịch, tìm
thấy tờ khai tử của bố tôi, tôi bỗng thương ông
vô cùng. Tờ trích lục khai tử đó ghi:
- Ngày chết: 25 tháng 2 năm 1924, 6 giờ 20
- Nơi chết: 54 Rue Felloneau (Hàng Dầu), Hà Nội
- Tên họ người chết: Phạm Duy Tốn
- Tuổi và nghề nghiệp: 43 tuổi, ký giả
- Là chồng của: Nguyễn Thị Hòa
- Ngày sinh của người chết: 1881
- Nơi sinh của người chết: 54 Rue Felloneau (Hàng
Dầu), Hà Nội
- Tên cha của người chết: Phạm Duy Đạt (chết)
- Tên mẹ của người chết: Nguyễn Thị Huê....
Tôi giật mình vì thấy bố tôi chết quá sớm: 43 tuổi.
Nghĩa là tính ra cụ chỉ có khoảng 20 năm để sống,
để yêu, để làm, để thành công, để thất bại... Và
tôi bắt đầu hỏi tra về cha tôi, hỏi các anh chị,
tra các sách báo, để biết thêm về tác giả bài "Sống
chết mặc bay", đồng thời cũng là tác giả đời
mình.
Khi còn nhỏ, tôi thường nghe người ta gọi gia đình
tôi là gia đình cụ Thiên. Tôi cứ tưởng đó là tên
ông nội tôi, nhưng về sau thì biết Thiên là Thiên
bộ (Chef de quartier) một chức vụ của ông nộị Bố
tôi là con trai độc nhất; chị của bố tôi (chúng
tôi gọi là cô) thì lấy một vị Án sát ở Bắc Ninh.
Gia đình tôi xưa làm nghề buôn bán dầu (trong nhà
có chôn rất nhiều chum lớn để đựng dầu) như hầu
hết các gia đình khác ở phố Hàng Dầu nàỵ Và chắc
bố tôi cũng được lớn lên trong một hoàn cảnh dễ
chịu, không bị thôi thúc vì đồng tiền. Sinh vào
năm 1881 là lúc nước nhà vừa bị mất trong tay thực
dân, khi trưởng thành chắc chắn bố tôi cũng phải
tranh đấu ghê gớm để quyết định làm những người
cuối cùng của Nho học hay chọn Tây học để làm những
người đầu tiên của phong trào mới...
Và như ta đã thấy, cùng với các cụ Trần Trọng Kim,
Nguyễn Văn Vĩnh, Đỗ Thận, vân vân... bố tôi đã đi
học ở trường Thông ngôn Hà Nội (Quai de Commerce)
vào những ngày cuối cùng của thế kỷ cũ... Tốt nghiệp
rồi, bố tôi được bổ đi làm tại tòa đại sứ ở Ninh
Bình, nhưng không biết vì lý do gì bố tôi lại thôi
việc và trở về với các nghề tự do khác. Hỏi một
vài người trong họ thì họ bảo rằng bố tôi chống
Pháp, nhưng tôi đoán có lẽ lý do giản dị hơn: cụ
là người thích bay nhảy.
Người gầy gầy, cao, mặt hơi rỗ, tính tình vui vẻ,
hay nói đùa, hút thuốc lá nặng, không biết nhạc,
không nghe nhạc... Đó là một vài nét về bố tôi qua
vài người đã biết và đang còn sống.
Bố tôi lấy mẹ tôi là con một cụ Đồ ở phố Hàng Gai.
(Bên họ ngoại tôi cũng sinh được một người có công
trong việc sưu tập văn học dân gian: Ôn Như Nguyễn
Văn Ngọc là anh họ tôi, con dì con già). Theo lời
mẹ tôi nói trong lúc răn dạy tôi khi còn bé thì
bố tôi là một người rất đam mê, nhưng chóng chán.
Làm đủ mọi việc nhưng không bao giờ làm hết một
việc. Tính tình đó đã cắt nghĩa được sự hành nghề
lung tung của bố tôi trong một quãng đời ngắn ngủi.
Thôi làm ở tòa sứ ra, bố tôi đi dạy học ở trường
Trí Tri phố Hàng Quạt Hà Nộị Đáng lẽ cụ phải thành
công trong nghề dạy học, vì lúc đó cụ là người đầu
tiên biết quốc ngữ và Pháp ngữ. Tại sao cụ lại bỏ
nghề để đi mở một tiệm cao lâu ở phố Cầu Gỗ?
Người anh họ tôi nói rằng cụ là người háo thắng.
Tiệm cao lâu của cụ là tiệm cao lâu đầu tiên của
người Việt Nam. Nghề mở tiệm ăn lúc đó nằm trong
tay Hoa kiều. Dám cạnh tranh với họ là một sự can
đảm. Nhưng cạnh tranh không nổi thì mang nợ vào
thân vì tiệm phải đóng cửa và bố tôi phải tìm một
nghề khác.
Bố tôi không biết lấy tiền ở đâu để đứng ra mở
một tiệm vàng lấy tên là Nam Bảo? Chắc lại đi vay.
Tôi vẫn nhớ suốt đời mẹ tôi là phải làm để trả nợ
cũ của chồng hơn là để nuôi con ăn học. Tiệm vàng
thất bại, bố tôi không tính đến chuyện gây cơ sở
nữa mà bắt đầu một cuộc đời lưu động.
Cụ cùng với một số bạn bè đi tìm mỏ ở Quảng Yên.
Tìm mỏ lúc đó không phải mất công nghiên cứu thử
thách địa chất như bây giờ. Hình như công việc tìm
mỏ của cụ lúc đó chỉ là đi tìm những đất hoang rồi
quây périmetre và xin chính phủ khai thác. Sau đó
khai thác hay không là tùy ý. Và nghe đâu cụ bán
những miếng đất đó cho họ De Monpezat.
Nhưng việc tìm mỏ chắc không đem lại cho bố tôi
những thích thú về tiền bạc hay tinh thần. Sau khi
bị thất bại liên tục trên mọi phương tiện sinh kế,
cụ được một người bạn Pháp giúp đỡ bằng cách cho
vào làm việc ở nhà băng. Cụ được gửi đi làm tại
chi nhánh của Banque d'Indochine ở Mông tự (bên
Tầu). Cụ ở đó cũng không lâu, và lại bỏ việc trở
về và đến lúc này thì hình như cụ đã quyết định
làm một nghề mà xưa nay cụ chỉ coi như nghề phụ:
viết văn, viết báo.
Là người đồng lứa với các cụ Phạm Quỳnh, Trần Trọng
Kim, Bùi Kỷ, vân vân... bố tôi không thể không dính
líu đến các hoạt động của các bạn. ít nhất thì cũng
phải gặp nhau luôn, sinh hoạt với nhau (ăn uống,
đi nghe hát ả đào...) rồi dính líu với nhau luôn
về công việc.
Vô hình chung các cụ ngày xưa đã tổ chức thành
một thứ văn đoàn và dù không sinh hoạt chặt chẽ
với nhau nhưng vẫn ràng buộc tinh thần với nhau
để tạo thành một phong trào văn học mớị Bố tôi viết
cho Nam Phong, Đông Dương tạp chí (bút hiệu Ưu Thời
Mẫn) ngay từ khi chưa thành một ký giả hay văn sĩ
thực thu.. Sau này, khi đã quyết định làm nghề báo,
cụ vào ở hẳn trong Nam để viết cho các báo Nông
cổ mín đàm (bút hiệu Đông Phương Sóc), Thực nghiệp...
Trong thời gian này, cụ làm được một việc đáng kể
là dùng báo chí để cổ động cho phong trào cứu trợ
nạn lụt ở miền Bắc. Ngoài ra cụ cũng có viết cho
tờ ổ tùng báo ở Huế.
Qua những bài báo, những truyện ngắn, nhất là qua
tập tuyển Tiếu lâm quảng ký (bút hiệu Thọ An) tôi
thấy bố tôi quả là một người có đầu óc phê phán
xã hội, một người sống trong một cái xã hội mà mình
không chấp nhận hoặc không nhập thế được. Đời sống
làm ăn của cụ đã chứng minh điều đó: Cụ không thể
nào thành công trong một cái xã hội mà cụ thực tâm
khước từ. Cuối cùng cũng chỉ biết dùng cây viết
để nói vào cái xã hội mà mình đang sống. Đọc những
bài "Sống chết mặc bay", "may cho
ta"... ta thấy cụ chống quan liêu, sỏ thực
dân, nhưng khi đọc "tiếu lâm" ta thấy
cụ giễu đủ mọi hạng người: lang băm, sư hổ mang,
gian thương, cường quyền... Người ta có thể cho
rằng bố tôi chỉ làm một việc sưu tập những chuyện
cười của dân chúng, nhưng tôi có thể tin rằng cụ
đã bịa ra nhiều chuyện rất độc đáọ Bài thơ nói về
Cóc uống trà tầu chắc chắn phải đi từ trong tim
óc của cụ chứ không hẳn phải từ dân chúng vô danh.
Nhưng dù sưu tập, phóng tác hay sáng tác chuyện
tiếu lâm, bố tôi, với bút hiệu Thọ An, cũng đã để
lại cho chúng ta ba tập truyện khôi hài rất lý thú.
Tôi có cái may mắn là hồi bé được đọc những bản
thảo của nhiều truyện tiếu lâm mà tôi không thấy
được in ra sau này.
Chẳng hạn truyện "Chồng mù vợ điếc" kể
chuyện hai vợ chồng gặp một đám rước. Chồng thì
kêu rằng đám rước là cái đám kêu "tùng bi li
bi li" còn vợ thì cãi rằng đám rước không kêu
mà chỉ có cờ đỏ tán xanh...
Hay là truyện "Ông không mồm", chuyện
của một ông nọ có râu xồm bị tụi trẻ con phê phán
là không có mồm, ông tức quá, vén râu xồm lên và
bảo tụi trẻ con: "Mồm hay là l... mẹ chúng
mày đây?".
Những truyện như "Lạy cụ đề", "Con
mắt dọc", "Thầy đề liếm đĩa", thì
chĩa mũi dùi vào các loại "thầy": Thầy
đề, thầy lang, thầy đồ. Cười đùa các vị đại diện
tôn giáo thì có truyện "Thi làm sư": Nhiều
vị sư được mời tham gia cuộc tỉ thí khá ly kỳ. Mỗi
vị sư phải ngồi lên một cái trống để thưởng ngoạn
một cảnh khiêu khích của mỹ nữ. Vị nào không kềm
chế được mình thì tự nhiên tiếng trống khua vang.
Khi tất cả mọi vị đều khua trống thì chỉ có một
vị im tiếng, mọi người thán phục và định tôn vị
đó làm sư trưởng.
Nhưng khi ngài đứng dậy thì té ra cái trống đã bị
đánh một cú mạnh đến nỗi tiếng trống thủng ngay
và im tiếng luôn. Truyện "Đẻ ra sư" thì
ghê gớm hơn: một chị mò cua bị cua cắp vào bẹn.
Một vị sư thương tình muốn cứu nhưng sợ uế tạp nên
không dùng tay mà dùng răng để gỡ cua... Ai ngờ
cua cắp lưỡi sư, và mọi người chạy ra hô to: Đẻ
ra sư, đẻ ra sư!!!
Chống quan liêu thì ngoài truyện "Bẩm quan
lớn ngài minh lắm" kể chuyện cái tăm lông voi
hay lông l... bà huyện, còn có chuyện quan huyện
hỏi văn anh lính "nâng bi" rằng tại sao
lại biết quan bà sẽ đẻ ra phượng hoàng? Anh lính
bèn quả quyết: Con biết lắm chứ, hôm qua khi bà
ngồi tắm, con thấy cái mỏ phượng hoàng nó thò ra...
Nói tóm lại, văn nghiệp của bố tôi khi đó, dưới
thời bảo hộ của Pháp là một thứ phê phán, đả kích,
chế giễu xã hội...
Thế rồi vào những năm cuối cùng của đời cụ, cụ
được cử vào làm hội viên của Hội đồng Thành phố
Hà Nộị Cụ được đi dự đấu sảo ở Marseille. Ra đi
hồi tháng tư 1922, cụ sống chuyến viễn du này trong
vòng nửa năm để rồi trở về nước với bệnh lao phổi
và chết đi vào hồi tháng hai 1924.
Gần năm mươi năm sau, bây giờ tôi mới có dịp ngồi
viết về bố. Cụ mất sớm quá. Phải chi cụ còn sống
thêm nhiều năm nữa, chắc cụ sẽ còn cho ta đọc nhiều
truyện "Sống chết mặc bay" tân thời và
nhiều truyện "Tiếu lâm" hay hơn...
Phạm Duy

|