Nguyễn
Huy Thiệp
CHúT
THOáNG XUâN HươNG
chành ra ba góc
da còn thiếu...
(Hồ Xuân Hương)
TRUYệN THứ NHấT
Tổng Cóc nhìn ra ngoài cửa. Ông
ngắm cái sân lát gạch Bát Tràng lâu ngày đã rỗ rạn.
Do cống thoát nước đã mấy năm nay tắc nên mưa là
nước tràn cả vào sân. Để thế, không những sân mà
cả ngôi từ đường cũng hư nát. Thông cống thì sức
nhà này không làm riêng được, cái cống đụng chạm
đến bao nhiêu nhà.
Tổng Cóc nghĩ ngợi, ông vớ lấy be
rượu sành, mở nút lá chuối rót ra chén. Đây là thứ
rượu Xuân Hương mang ở quê ngoại Kinh Bắc về nhà.
Tổng Cóc đăm đăm nhìn vào chén.
Hơi rượu thơm sực làm ông hắt hơi rịn cả nước mắt.
Ông bực mình lấy ống tay áo lau mắt rồi uống đại
một hơi. Ông chẳng bao giờ có được phong độ lịch
lãm như người. Trời sinh ra ông thô vụng xấu xí
thì đành chịu. Ông có cái lố cái hiệp của ông, dễ
gì ai có?
Tổng Cóc không chịu được cái vẻ
sạch sẽ gớm ghiếc của người đời. Nó chán chết. Ông
thích những gì ào ạt của cuộc sống thực trần tục.
Ông không được học hành nhiều, việc nhà thì bận
rộn. Ông sợ cái nghèo cái đói. Nhìn ra ông thấy
một lũ vô học và vô lương tâm vẫn đang nhởn nhơ
ăn sung mặc sướng. Như thể ông hoàng bà chúa. Ông
điên người. Ông cũng lao động quần quật, ông cũng
đã đổ mồ hôi nước mắt. Ông phải có quyền sung sướng
theo cách sắp xếp của ông. Tổng Cóc rót chén rượu
nữa. Ông biết thiên hạ coi ông chẳng ra gì. Thiên
hạ coi ông là thô lậu. Ông chẳng cần.
Ông khinh những kẻ không dám sống
thực, không dám lặn sâu xuống đáy cuộc đời. Ông
cũng khinh cả những kẻ lặn mình xuống đáy rồi ngập
ở đấy không sao lên được.
Ông hiểu sống cho giản dị là khó
vô cùng. Thế nào là phải? Sống phải cho mình là
đã sống phải cho thiên hạ. Làm điều gì đấy không
phải với mình thì sao ép người khác phải? Thiên
hạ uốn theo chiều gió, gió thổi bốn phương tám hướng
thì biết sao được? Bản tính người Việt là hay trông
ngóng, nhiều khi quên gốc ở ngay chính tim óc mình.
ăn cũng trông nồi trông hướng, nhưng cứ trông mãi
mà quên mất ăn thì chết. Cha chung không ai khóc
là thế, vì cứ ỷ nhau, ngóng nhau. Nhà này ông không
tự lo mà cứ trông vào họ hàng thì cũng sạt nghiệp
lâu rồi, đâu mà xây cất được cả dinh cơ như vậy?
Thiên hạ làng nước ghét ông, nó thấy ông cứ trần
lực, ông cóc cần gì ai cả, ông cứ lầm lũi lạnh lùng
xuyên lên như dao xuyên thịt. Nó nói xấu ông. Nếu
chúng cứ sống như ông, liệu mặt chúng có nhàu đi
như đúm váy rách?
Tổng Cóc thở dài. Đã từ lâu khi
ông ra đường ông đều xâu theo vài ba chuỗi tiền
Cảnh Hưng vào cạp quần, ông buộc nó cả vào bụng.
Ông coi tiền như rác bùn nhưng cũng coi nó như vua
chúa. Đồng tiền giúp ông hiểu rõ đời hơn theo cung
cách riêng của nó. Hôm ở hội Gióng có bà quận chúa
họ Trần nổi tiếng kiêu kỳ, võng lọng nghênh ngang,
coi người như rơm rác. Bà đánh bạc thua, sĩ diện
muốn gỡ bạc nhưng chẳng có tiền, cũng chẳng dám
vay các bậc công hầu. Ông thấy điều đó và giữa đám
hội ông thản nhiên di đến ghé vào tai bà nói nhỏ:
- Tâu lạy quận chúa, quận chúa sẽ
đủ tiền đánh cho hết hội.
Quận chúa đưa đôi mắt sắc như dao
nhìn kỹ Tổng Cóc, rồi kéo ông ra một góc:
- Nếu ông có cho ta vay thì ta cũng
chẳng có tiền để trả! Chồng ta là quan thượng thư
nhưng chẳng bao giờ cho ta tiền cả.
- Tâu lạy quận chúa, quận chúa có
thứ bán được tôi mua.
Quận chúa đỏ mặt, bà im một lát
rồi ỡm ờ:
- Thế ông mua gì mà trả thế nào?
- Tâu lạy quận chúa, nụ cười quận
chúa đáng tràm quan tiền. Tôi xin trả gấp hai lần
số đó.
Đêm đó, Tổng Cóc lần đầu được ngủ
với một bà lớn quyền thế nghiêng trời. Cành vàng
lá ngọc cũng chẳng khác gì con đỏ. Hôm sau hai người
gặp nhau. Quận chúa nửa đùa nửa thật:
- Ta ngủ với ông mà cứ kinh hoàng
tưởng như ông hiếp dâm ta!
Tổng Cóc đáp lại quận chúa:
- Tâu lạy quận chúa, việc mua bán
đã xong rồi!
Tổng Cóc uống chén rượu nữa. Ông
lấy cái tráp sơn đen đựng tiền dùng những ngón tay
thô ráp lần từng đồng. Ông chán ghê gớm. Trong cuộc
đời mình ông vất vả nhiều, ông đã buôn một bán mười,
đã thu tô cấy rẽ, đã toan tính từng nước cờ đời
nhưng trong mình vẫn cứ tê tái cảm giác thua cuộc
thế nào. Ông thấy trong đời toàn những thằng ác,
thằng hèn nhưng lại ranh khôn như cáo. Ông sợ nhất
bọn nho giả, sợ đám chiêu ấm và bọn tập tọng văn
chương. ở trong cuộc đời, chúng lấy lý đạo dồn ông
vào bẫy thiện tâm tín nghĩa, làm cho ông lơi cái
sắc cái lạnh vốn có ở ông. Đúng lúc mà ông do dự
thì chúng phỗng sạch, đôi khi đã dăm ba lần ông
suýt trở nên tay trắng. Sợ thật, ông thấy gai người.
Ông mà thất bại, ông mà ăn đất thì chết ráo hết
cả nhà. Ông chịu Xuân Hương ở chỗ bà luôn thất bại
ở trong cuộc đời mà vẫn thăng bằng, mà vẫn không
có cảm giác thua cuộc. Ông ngờ ngợ bà to lớn hơn
ông, bà mạnh mẽ hơn, sống có dũng hơn. Trong cõi
nhân gian, tất cả mọi sự nghiêm chỉnh cũng là khôi
hài, nên có cơ hội cần phải cười ngay, thế nhưng
không hiểu tại sao ông không cười được.
Tổng Cóc đứng dậy ra trước bàn thờ.
Ông hài lòng thấy bàn thờ sạch sẽ. Nải chuối trứng
cuốc bày trên đa sơn, một đa hoa trà cạnh bên tinh
khiết. Hôm nay mồng Ba tháng Ba. Chắc là Xuân Hương
đã dọn bàn thờ từ sáng sớm. Ông nhìn theo hút dải
khói mỏng mảnh. Ngoài ngõ bỗng có tiếng mõ vọng
vào:
Chiềng làng, chiềng chạ...
Trên ngược dưới xuôi
Làng ta có người
Không chồng mà chửa... ửa...
Tiếng rao rất khó chịu. Chắc cánh
hương lý bày trò gọt đầu bôi vôi đĩ Huệ dưới Đoài.
Tổng Cóc cau trán nghĩ ngợi rồi chạy ra ngõ:
- ơi mõ! - ông đưa tay vẫy. - Mày
đừng rao nữa mà chạy vể bảo Lý Cờ lại đây tao bảo.
Ông đóng sập cửa. Ông biết làng
này đố có thằng nào dám dây vào ông. Lý Cờ là hạng
đàn em. Tất cả lề luật làng này đều trong tay nó.
Nó cho mõ rao trước cửa nhà ông là nó nhằm gì không
biết. Đĩ Huệ ngủ hết với cánh đàn anh trong tổng.
Ông thấy thương nó. Dĩ Huệ phải
nuôi hai bố mẹ già, mảnh đất cắm dùi không có, nó
không bán trôn thì nó lấy gì mà sống.
Ông ra tràng kỷ ngồi đợi Lý Cờ.
Ông rót nước trong cái ấm đất nung ủ rơm ra chén
chiêu từng ngụm. Nước nụ vối nóng, Xuân Hương đã
bỏ vào đôi lát gừng nên có vi thơm là lạ. Rặng vối
nhà ông năm nay nhiều nụ, một nửa làng nây rồi sẽ
phải mua nụ vối nhà ông. Đây là món tiền dành Tết.
Lý Cờ mặc áo the đen lật đật đi
vào, trên tay cầm chiếc roi song. Tổng Cóc cười
thầm. Ông bỗng chợt nhớ trò chơi ú òa khi ông còn
nhỏ, ông, nấp một chỗ nhìn rõ địch quân hoang mang
rón rén lại gần.
- Vào đây! - ông giơ tay vẫy. Không
để cho khách ngồi yên ông đã phủ đầu.
- Chú làm việc công mà ngu như chó!
Chú cho gọt đầu bôi vôi đĩ Huệ. Ra trước hàng tổng,
nó khai hết bọn chú ra thì rồi có đẹp mặt không?
Lý Cờ há miệng, bộ ria mép khẽ động
đậy. Tổng Cóc rót nước mời khách, ông nheo mắt nhìn
khuôn mặt thẳng đuỗn của hắn, ngạc nhiên nhận ra
ở vành tai trái có nốt ruồi đỏ. Cái nốt ruồi này
tướng lạ.
- Đây là của các cụ... - Lý Cờ đỡ
lấy chén nước. - Không làm thì không giữ được lệ
làng... Sợ thiên hạ cười...
Tổng Cóc cười khẩy:
- Chú ngu lắm! Các cụ cũng ngu như
chú...
- Vậy ý quan bác thế nào? - Lý Cờ
nén giận, mắt hắn lừ lừ nhìn theo bàn tay Tổng Cóc
lần lần dưới áo - Quan bác thử nghĩ lại xem...
- Ta không bàn bạc với chú! - Tổng
Cóc ném lên mặt bàn mấy chuỗi tiền đồng. - Chú cầm
lấy chuỗi tiền này về làm bữa rượu bàn với các cụ!
- ông nhìn Lý Cờ, đôi mắt nảy lửa nhưng giọng nói
ông dịu lại. - Tha cho nó, cho nó ít tiền rồi bảo
nó lấy thằng mõ làm chồng.
Tổng Cóc đứng dậy. Lý Cờ điên ruột
nhưng vẫn phải cầm lấy mấy chuỗi tiền đồng giật
lui ra cửa.
Tổng Cóc tiễn hắn ra ngoài ngõ.
Ông bỗng bắt sang chuyện khác. Ông hỏi Lý Cờ:
- Thóc giống vụ này nhà chú khá
không?
Lý Cờ bắt chuyện. Đi đến hết ngõ
thì cả hai bên đều đã vui vẻ. Hai người biệt nhau
thân tình.
Tổng Cóc lững thững đi vào. Ông
nhìn rặng vối hai bên bờ ao thở dài: vụ vối năm
nay thế là chỉ đủ số tiền đưa cho Lý Cờ lúc nãy.
Ông ngắt một bông hoa nhài đưa lên mũi ngửi rồi
nhăn mặt. Ông bước lên bậc thềm nhà. Trên sập gụ,
một mâm bánh trôi vừa làm xong bốc nóng. Ông ngơ
ngác nhìn xung quanh ngôi từ đường tĩnh lặng để
tìm bóng của Xuân Hương...
TRUYệN THứ
HAI
ấm Huy đứng lẫn trong đám chiêu
ấm đang tụm ngoài sân công đường. Chàng chán ngấy
chuyện khoe khoang nhà cửa, ngựa xe, áo quần của
họ. Chốc chốc, vài ba nhóm người trịnh trọng mang
câu đối phúng từ cổng đi vào, đàn ông mặc áo the
đen, đàn bà mặc áo mớ ba mớ bảy. Chàng nhận ra được
rất ít người quen.
ấm Huy sửa lại vành khăn tang trắng
trên đầu rồi đi lững thững. Mấy bác lính lệ đang
vộí vã bắc thêm rạp. Chiếu hoa trải cả trên hè,
trên sân mà vẫn không đủ chỗ ngồi. Mấy bà già đang
têm trầu, đống trầu ngồn ngộn đầy mấy tráp sơn.
Đằng sau công đường ầm ĩ tiếng lợn kêu. ở giữa công
đường, hương khói mờ mịt. Câu đối phúng bằng vải,
bằng giấy treo đầy trên cột, trên vách. ấm Huy thấy
rất nhiều người đội khăn tang trắng, phải đến gần
một chục người vận áo xô gai. Chàng hơi ngạc nhiên,
chàng vẫn đi lại thường xuyên với anh họ mình sao
không gặp những người này. Chàng biết ông phủ Vĩnh
Tường giao du có chọn lọc lắm. Họ hàng đừng hòng
nhờ vả gì ông, không làm quan cầu lợi. ấm Huy rất
nể anh mình nhưng trong thâm tâm chàng thấy ông
cầu kỳ. Chàng trọng Xuân Hựơng vì bà sáng suốt hơn
chồng. Bà gieo ở lòng chàng một nỗi kính phục và
sợ hãi.
ấm Huy nhìn quanh. Chàng không thích
bầu không khí đầy đủ chỉn chu của đám tang này.
Chàng đã dự nhiều đám tang người khác, chính việc
tang gia bối rối làm chàng thấy yên tâm hơn về người
đã chết. Người ta lúng túng, công việc cứ lung tung,
thiếu cái này, thừa cái nọ, ai cũng thấy mình làm
được, giúp được dẫu rằng có khi chẳng giúp làm gì
cho tang chủ cả. Người ta xích lại nhau hơn. Tất
cả hướng vào một đích. Họ có thể nói về chuyện mùa
màng, công danh, thua lỗ, được bạc, đủ tất cả chuyện
thế thái nhân tình nhưng đều hướng về cái chết vô
nghĩa hay có nghĩa đang chờ đón họ. Sự hướng nhận
ấy vô thức, người chết nằm trong quan tài chỉ là
cái cớ gợi ý hướng ấy trong mọi người thôi. ở đây
không có điều ấy. ấm Huy ngạc nhiên hiểu rằng dù
chàng có mặt hay không có mặt ở đám tang này đều
không quan trọng. Thế mà ngoài Xuân Hương ra thì
chàng là thân thiết nhất với người đã khuất. Không
ai cần chàng. Có lẽ không cần cả Xuân Hương nữa.
Tất cả đã sắp xếp rồi. Ai có công việc người nấy.
Thời giờ đã được tính toán. Ngay cả tiếng kèn, tiếng.
phách của phường bát âm cũng được tính toán, khúc
khoan khúc nhặt cho từng người viếng ông phủ Vĩnh
Tường. ấm Huy đã biết là Xuân Hương đã giao cho
tri huyện Thặng đứng ra làm tang chủ lo toan công
việc. Hình thức đám ma chỉ là một chuyện. Có chuyện
gì dó liên quan đến cả ông phủ Vĩnh Tường, đến cả
Xuân Hương và những người đứng xung quanh đây nữa.
ấm Huy vòng ra sau dinh công đường.
Cách đây mấy tháng, ông phủ Vĩnh Tường đã vui Trung
Thu với những người quen ở đây. Cột nhà Thủy Tạ
vẫn còn vết xém do mấy đứa con của tri huyện Thặng
đốt nến. Trong đám quan lại, Thặng thuộc lớp người
kỳ cựu có nhiều thâm niên. Thặng không bon chen
nhưng lão khét tiếng đục khoét dân lành, cũng lạ,
trong hạt của lão không hề xảy ra loạn lạc, kiện
cáo như bao huyện khác. Lão coi làm quan chỉ là
một nghề. Lão bảo ông phủ Vĩnh Tường:
- Đệ phục quan bác không coi quan
trường là nơi kiếm sống. Đệ không làm được - Lão
lắc cái đầu múp míp và hổn hển cười - Đệ chỉ ăn
no ngủ kỹ, làm tròn bổn phận đối với triều đình.
Lính đệ bắt đủ. Thuế đệ nộp đủ. Thằng nào chống
lại đệ cùm.
- Nên phải lựa lời thuyết phục dân
lành, - ông phủ Vĩnh Tường bảo Thặng. - Dân ta tốt
lắm. Bậc cha mẹ dân phải nêu được nghĩa công bằng.
- Đệ có bảo dân xấu đâu... - Thặng
cười ha hả. - Đệ chỉ không thích được nghĩa công
bằng mâm cơm của đệ với chúng. Quan bác đã nhìn
mâm cơm chúng chưa, đệ mà ăn thế đệ chết lâu rồi...
Ông Phủ Vĩnh Tường im lặng. Ông
nể mặt Thặng lớn tuổi hơn. Thặng đã giúp ông từ
thuở hàn vi, thuở ấy ông chỉ có những hoài bão dự
định trong đầu và dăm cuốn sách thánh hiền.
- Dân ta cực khổ. Tôi trông vào
đâu cũng thấy xót xa. Phải lấy lý lẽ văn chương
và sự công bằng pháp luật hướng đạo dân mình. -
ông phủ Vĩnh Tường nói. - Tôi muốn sĩ phu và bậc
cha mẹ con dân phải hiểu...
- Đệ chịu khí chí của quan bác vậy,
- Thặng cười, - nhưng dân nó ghê gớm lắm, cứ bảo
một đằng nó làm một nẻo. Trong hạt của đệ có lão
Lý Hồng. Thằng ấy đệ phải phục nó. Đệ bảo gì nó
cũng gật nhưng mà về làng nó làm khác cả, nó dùng
mình làm ngoáo ộp để nó bóp hầu con đỏ. Dân kêu
nó bảo hỏi huyện. Đệ biết đệ phải ngậm tăm, nhiều
khi đệ phải học nó xử sự với đời...
- Ông phải cách cổ nó đi mà thay
thằng khác - ông phủ Vĩnh Tường bực bội - Luật của
triều đình thế còn thể thống cái gì?
- Đệ nghĩ chán rồi! Thay nó thì
thằng khác lên cũng thế. Thực ra dân nó chỉ lo làm
ăn nó có cần gì chúng ta bày vẽ... Đệ thấy trong
hạt của đệ nơi nào mình cứ mặc kệ thì đâu vào đấy,
nơi nào mình cứ xăng xái chỉ bảo nọ kia thì loạn...
- Tôi nghe đồn ông hách lắm phải
không? - ấm Huy xen vào, chàng biết Thặng cũng là
tay sâu mọt nhưng lão cũng có cái thực và sự hào
hiệp mà chàng vị nể.
- Hách chứ! - Thặng giơ ngón tay
như quả chuối mắn ra trước ấm Huy. - Không hách
thì để cho bọn văn chương các chú làm loạn cả à?
Văn chương là miếng đất nghịch!
- Dân có nghịch không?
- Không nghịch. - Thặng nói thản
nhiên như lão đã từng nghiền ngẫm điều này lâu lắm.
- Dân quen nô lệ, luật cứ ngặt nghèo nghiêm khắc
là xong. Không có bàn bạc gì cả...
Ông phủ Vĩnh Tường lo lắng nhìn
Thặng:
- Cách làm của ông không ổn... Các
bậc thánh hiền đều lấy nhân trị làm gốc. Phải lo
cho đến từng người...
- Đấy là các thánh. - Thặng không
chịu thua. - Đệ nghĩ nhân cũng ba bảy đường nhân.
Đệ không lo đến thân phận từng người trong hạt của
đệ. Không lo được! Người nào có thân thì lo. Đệ
chỉ lo việc triều đình, cũng là lo thân của đệ.
- Không ai lo đến thân phận từng
người cả à? - ấm Huy hỏi, chàng như ngồi trên đống
lửa.
- Đấy là việc của các chú, của chị
Xuân Hương. Văn chương mày lo được đấy! - Thặng
nháy mắt cười.
ấm Huy chỉ muốn hắt cả chén nước
cầm tay vào ngay mặt lão.
- Lũ người bé nhỏ chúng ta không
thể coi chốn quan trường là nơi để ta tiến hành
cách tân này nọ. - Thặng nói. - Quan trường khóa
ta vào trong guồng máy con Tạo xoay vần, ta không
thoát nổi miệng túi càn khôn đã định....
- Chí của tôi khác... - ông phủ
Vĩnh Tường nhiêm nghị. - Quan trường là nơi tôi
muốn sử dụng...
- Đệ hiểu quan bác muốn nói gì rồi.
- Thặng cười. - Quan trường nó sử dụng bác thì có...
Đệ không muốn nói nữa đâu! Đệ biết quan bác và chú
Huy đây khinh đệ, chữ nghĩa đệ nông cạn đệ nói thế
thôi. - Thặng quay lại chỗ Xuân Hương đang ngồi
với lũ trẻ con nhà lão. Nàng đang kể chuyện gì đó
và lũ trẻ con cười như nắc nẻ. Lão đứng nhìn mấy
đứa con thích thú.
ánh trăng vằng vặc lộng lẫy lạ lùng.
Lão bỗng quay lại chỉ ra ngoài trời vẫy gọi ấm Huy:
- Chú hãy lại đây... Tất cả những
trò bàn luận của chúng ta đều vô nghĩa hết. Thiên
nhiên không hề dối trá!
ấm Huy đi lại cúi dầu chào chị dâu
mình.
- Chị vốn công bằng. - Thặng bảo
Xuân Hương. - Chú ấm Huy đây lúc nãy còn muốn gây
sự với đệ. Chị bảo đệ đúng hay đệ sai?
- Đừng hỏi chị ấy, - ấm Huy xen
ngang câu hỏi, chàng rất trọng chị dâu và không
muốn Thặng đẩy bà vào cuộc. - ông đúng một cách
khốn kiếp, thế thôi. Tôi cũng công bằng lắm đấy.
- Thế ông anh họ của chú sai à?
ấm Huy dỏ mặt, máu chàng rần rật
trong người. Chàng nuốt nước bọt. Chú tinh tế lắm.
- Thặng cười ha hả. - Tôi xin báo trước cho chú:
tất cả mọi sự thanh cao hoang tưởng vẫn chết trong
cõi dung tục như thường!
- Điều ấy vẫn thế, - Xuân Hương
tham gia câu chuyện. - Tôi không ngờ ông tri huyện
tiên tri cho cả cuộc thế thời nay điều ấy.
ấm Huy bỗng nhăn mặt lại, chàng
thấy nhói ở nơi tim, chàng vẫn văng vẳng lời của
Xuân Hương hôm ấy. Đám tang hôm nay tựa như minh
chứng cho sự phũ phàng của vòng luân thế. Ông phủ
Vĩnh Tường ôm bao dự định tốt lành mà không làm
được. Chàng bỗng thấy thương ông quá. Chàng hiểu
ra rằng từ đây Xuân Hương sẽ lại bắt đầu chặng đường
cay đắng, bao nhiêu là ngọn gió hàn sẽ thốc thổi
vào lòng bà. Anh ấy cũng là bé nhỏ với bà nhưng
dù bé nhỏ cũng lấp được nỗi cô đơn ít nhiều nào
đấy.
ấm Huy sửa áo rồi lại đi về trước
dinh công đường. Trước sân công đường chật ních
người. Chàng len vào chỗ mấy người đào huyệt đang
kể lể gì với tri huyện Thặng:
- Chúng con đào đến ba lần mới được.
Lần đầu đào đến nửa chừng thì cộc: đụng phải tiểu
của người khác. Chúng con đào sang chỗ khác thì
lại thụt: mai thuổng cứ như đào vào chỗ trống.
Hóa ra tổ mối... Chúng con phải sang đến chỗ thứ
ba mới được, quan bảo thế có kỳ lạ hay không?
- Thiên di đấy! Thiên di! - Tri
huyện Thặng gật đầu. - Không sao cả đâu, thiên di
không độc. Bảo với mọi người là không sao cả. Linh
hồn ông phủ Vĩnh Tường vẫn còn muốn sống...
Lão chen ra ngoài, người lão chạm
vào ấm Huy.
- Này chú, chú đi đâu đấy? Chuẩn
bị đưa ma ra đồng rồi đấy! Đầu giờ Mùi rồi! - Lão
kéo ấm Huy ra một góc vắng.
- Chú coi chừng chị Xuân Hương!
- Lão lấy tay áo lau mồ hôi trán. Lão thở phì phì,
ghé cả cái miệng hôi hám vào mặt ấm Huy. - Mấy quan
trên xuống mà bọn khóc thuê và bọn mặc áo xô gai
đòi giả thêm tiền.
ấm Huy tái mặt, tay chàng bấu chặt
vào tay của lão:
- Sao khốn nạn thế. Họ hàng bà con
dâu cả?
Tri huyện Thặng cáu, lão rít nho
nhỏ vào tai của chàng:
- Chú ngu như chó! Ông ấy có cho
bà con họ hàng nhờ vả gì đâu... Ông ấy làm quan
nên coi mình là người thiên hạ... Trách nhiệm đám
tang hôm nay là của triều dình... - Thặng giằng
tay ra giận dữ. - Chú cứ mặc tôi! Chị Xuân Hương
giao thì tôi lo hết. Tôi có cách xử của tôi. Đáng
ra hay chữ như chú thì phải đứng ghi xem chúng nó
phúng viếng thế nào, thằng nào phúng sót thì chú
bảo tôi. Đằng này chú cứ như người ngoài cuộc...
Tôi không nể ehị Xuân Hương quý chú thì tôi cho
lính nó cùm chú lại...
ấm Huy bỗng trào nước mắt. Chàng
khóc hu hu. Mọi người xung quanh kinh ngạc nhìn
chàng. Tiếng thanh la bỗng vang lên báo hiệu chuẩn
bị đưa ma ra đồng, những hàng cờ phướn bắt đầu xếp
thành từng hàng ngoài cổng. Ai đó gạt ấm Huy ra
nhưng chàng vội vã chen lên phía chiếc quan tài
sơn son. Chàng cố chạm vào nâng quan tài len cùng
với bao nhiêu bàn tay khác nữa. Chàng hiểu đây là
cơ hội duy nhất trong đời chàng không bỏ được. Đây
là trách nhiệm bổn phận của chàng. Chàng hiểu cả
tri huyện Thặng, cả chàng, cả ngay ông phủ Vĩnh
Tường cũng sẽ chẳng là gì cả, tất cả chỉ là nhân
chứng cho sự tồn tại của một CON NGườI: nàng Hồ
Xuân Hương mặc áo xô gai đang nức nở khóc, đang
nức nở khóc cho nỗi cô đơn mênh mông của cõi đời...
TRUYệN THứ
BA
Khi đạo diễn giao cho anh sắm vai
Chiêu Hổ trong bộ phim viết về Hồ Xuân Hương, quả
thật anh bối rối vô cùng. Anh hiểu khó khăn của
nghệ thuật. Nghệ thuật đòi hỏi dốc lòng, sự trung
thực và nhiều thứ khác. Anh được trang bị đến đâu,
thực ra anhũng mơ hồ.
Việc giao cho anh sắm vai Chiêu
Hổ đơn giản như một trò đùa, một trò đùa ác. Anh
hỏi đạo diễn:
- Anh giao cho tôi đóng vai Chiêu
Hổ vì lý do gì?
- Cậu là thi sĩ. - Đạo diễn trả
lời. - Một thi sĩ trẻ có tài. Cậu hiểu vai trò của
cậu.
- Thôi đi... - Anh nhăn nhó nói.
- Thơ tôi nào có ra gì?
- Ban đầu đa số đều thế.
- Vì lý do khác phải không? - Anh
cố gặng hỏi để cho ra nhẽ.
- ừ - Đạo diễn trả lời. - Cậu có
dáng dấp một thằng trai điếm. Phụ nữ mê cậu. Trong
phim có cảnh Chiêu Hổ bóp vú các cô thôn nữ, cậu
vào vai ấy tuyệt vời.
Anh tái mặt, cổ họng tắc nghẹn.
Đạo diễn bỏ đỉ lát sau quay lại cầm tập bản thảo
và tờ công lệnh.
- Các cụ ngày xưa cũng du côn lắm...
Ra chỗ tài vụ lĩnh tiền rồi về nông thôn mà nghỉ.
Cậu được ba tháng chuẩn bị để quay chính thức.
Ba tháng trôi qua... Ngày mai anh
sẽ trở về thành phố. Anh thấy dứt khoát mình không
sắm nổi vai này. Anh đã thuộc làu kịch bản, một
kịch bản khốn nạn, văn không ra văn, chữ không ra
chữ. Anh thấy xót xa. Hình ảnh trong phim Xuân Hương
nhợt nhạt, bị hiểu sai lệch nhố nhăng. Người ta
đắp điếm cho nhiều nhân vật những thứ tư tưởng cao
siêu đáng ngờ. Đối thoại đầy rẫy ngôn ngữ hoa mỹ.
Diễn viên rất đẹp. Cảnh quay rất khéo. Anh biết
chắc chắn sẽ có nhiều đoạn thành công. Cảnh hội
làng... Cảnh đám ma... Có khi cả cảnh Xuân Hương
sáng tác... Một thứ hiện thực huyền ảo mung lung.
Anh đi men theo bờ đê, nhìn xuống
dòng sông. Bất chợt, anh thấy một con thuyền nhỏ
đậu ở ven bờ. Một thiếu phụ hì hục vác những bao
tải nặng từ bến xuống thuyền. Sắc chiều mùa đông
xám nhạt.
- Tôi muốn giúp chị được không?
- Anh bước lại gần con thuyền. Thiếu phụ ngẩng lên
nhìn anh. Anh bỗng sững sờ vì vẻ dẹp lôi cuốn của
chị. Vẻ đẹp tự nhiên, không ra ngây thơ, không ra
từng trải.
Anh xốc bao tải lên vai và nhận
ra bao chứa đầy ngô hột. Tất cả chừng độ chục bao.
Cả hai không nói năng gì. Anh cẩn thận bước trên
tấm ván chông chênh và cố gắng giữ để không thở
dốc. Đến bao cuối cùng, anh vấp vào mạn thuyền gỗ
làm cho bao ngô tung tóe, tấm ván bắc cầu trượt
xuống làm anh ngã ướt nửa người.
Thiếu phụ bật cười.
- Không hề gì. - Anh trèo vào thuyền
cố nén cơn đau. - Chị về đâu đấy?
- Tôi về ưới bến Tầm Xuân.
- Cho tôiđi nhờ thuyền với nhé...
- Anh ngồi xuống đi. Cứ để ngô đấy
cho tôi. Ngô mua cho lợn, có bẩn một chút cũng chẳng
hề gì.
Thiếu phụ ngồi ở mũi thuyền, khéo
léo điều khiển con thuyền trôi theo dòng nước.
Phía bên bờ đê, một đàn chim sẻ
bay ào xuống sát mặt sông, qua ngay trên dầu của
họ. Họ ngồi như thế một lúc khá lâu, chỉ nghe thấy
tiếng mái chèo khè khẽ. Anh rút một điếu thuốc lá
rồi châm lửa hút.
- Chị nghĩ gì thế? - Anh hỏi và
thoáng nhìn vào đôi mắt xa xăm của thiếu phụ.
- Anh không phải là người ở đây
phải không?
- Tại sao chị biết?
- Trông cách ăn mặc... cách anh
vác ngô thì biết.
- Chắc buồn cười ghê lắm phải không?
- Không phải người quen lao động...
Thiếu phụ lặng im vẻ như biết hối
vì lời nhận xét không đâu. Anh hơi mỉm cười. Đôi
mắt thật đẹp Anh nghĩ.
- Anh là thầy giáo phải không?
Cuối cùng sự tò mò đã thắng. -
Anh lại nghĩ tiếp: Đôi môi thật đẹp... Cái cổ cũng
đẹp...
- Đại để thế... ở đây thích thật.
Sông nước sao mà tuyệt thế.
- Cũng bình thường thôi!
- Tại chị quen đấy. Tôi thì tôi
thấy cảnh đẹp tuyệt vời. Chị mua ngô về cho gia
đình à?
- Cho trại lợn. Tôi ở trại lợn.
- Công việc chắc buồn phải không?
- Sao lại buồn? Tôi chẳng thấy buồn
gì cả.
ừ tại sao công việc lại buồn? Công
việc chỉ cần kết quả. Vui buồn với nó thảy đều vô
nghĩa. Chị có chồng chưa? - Anh đột ngột hỏi.
- Anh thử đoán xem.
- Có! - Anh lưỡng lự. - Không...
Chắc là chưa có. Chị hăm tám tuổi phải không?
- Tết này tôi băm hai đấy. - Thiếu
phụ nheo mắt và lắc mái tóc. Anh lặng người đi vì
vẻ nữ tính giản dị ở cử chỉ ấy. Một sợi tóc mai
vương trên đôi môi se khô.
- Tại sao anh nghĩ là tôi chưa chồng?
Nếu chị có chồng thì chồng chị không
hiểu chị. - Anh cười nhợt nhạt và cảm thấy đầu gối
nhói đau. - Chồng chị là người nông cạn. Anh ấy
chỉ tính toán thôi... Có lần anh ấy sắm cho chị
cái áo mặc rét thì là áo cũ... Thế là tan vỡ...
Chị ra trại lợn và ở một mình trong một căn buồng
tập thể có tám mét vuông...
Thiếu phụ cười gượng và tái mặt
đi. Cái chỗ chân đau buốt lạ. Anh vén ống quần và
hoảng hốt thấy đầu gối tím ngắt và ri rỉ máu.
- Anh sao thế?
- Đau...!
- Ôi trời! - Thiếu phụ gác chèo
và lại chỗ anh. - Chết thật! Khéo què thì khốn.
Thiếu phụ lôi dưới gầm thuyền ra
chai dầu hỏa.
- Anh đổ vào đấy rồi bóp cho nó
tan ra.
Anh nghe theo, lúng túng làm đổ
gần hết chai dầu.
- Không phải thế! - Thiếu phụ bực
mình cầm lấy chai dầu đổ từng tí một lên đầu gối
anh rồi xoa khe khẽ.
Anh nín thở. Anh nhìn chăm chú vào
cái lọn tóc loăn xoăn nơi cổ thiếu phụ rồi thở hắt
ra. Anh hơi chạm tay vào bên bờ cổ thiếu phụ nơi
có sợi gân nổi lên giần giật. Anh cảm thấy được
hơi âm lan ra từ đấy và khẽ rùng mình.
- Có đỡ không? - Thiếu phụ hỏi.
- Đỡ lắm...
Một con ong nhặng không biết từ
đâu cứ thế bất động bay trước mặt anh. Không dằn
lòng được, anh đưa tay vuốt từ cái ngấn cổ trắng
ngần xuống lưng thiếu phụ, cảm thấy gờ chíếc áo
lót dưới lần vải mỏng. Thiếu phụ oằn lưng nhìn thẳng
vào anh. Đôi mắt lạnh lùng giận dữ. Anh đỏ mặt.
Chị vùng đứng dậy ra chỗ đầu thuyền và gò mái chèo
để cho con thuyền khỏi trôi ra giữa tim sông.
Họ ngồi yên lậng. Sóng vỗ ở bên
mạn thuyền đều đều gây nên cảm giác xa vắng.
- Tôi xin lỗi... - Cuối cùng anh
lúng túng nói, mắt nhìn vào bàn tay mình như thể
nhận ra ở đấy một vật quái dị ở đâu gắn vào. - Tôi
ngu xuẩn quá...
Anh nhìn ra phía bờ sông bên lở.
ở đấy có một vạt đất vừa mới sụt xuống rào rào.
- Tôi xin lỗi chị. Tôi đã cư xử
thật tồi.
Thiếu phụ hướng mắt nhìn phía bờ
sông bên bồi. - Thôi đi... Đàn ông các anh ai mà
chẳng thế! Anh giúp tôi mấy bao ngô rồi đòi trả
ơn... Đàn ông các anh thế hết.
Anh thấy cổ mình dắng ngắt. Một
nỗi tê tái lan truyền ở toàn cơ thể. ở phía chân
trời có một cánh vạc đơn lẻ bay về. Họ lại lặng
im. Lát sau anh ngượng ngập hỏi:
- Chị không giận chứ?
- Hơi đâu mà giận! - Thiếu phụ trả
lời, khóe môi mím lại, đôi mắt nhìn anh không hề
khoan nhượng.
- Đàn ông chúng tôi đều đốn mạt
hết! - Anh buồn rầu nói rồi bỗng cáu lên. - Chị
không tha thứ thì mặc kệ chị! Chúng ta là gì ở thế
gian này? Trước sau thì tôi cũng chết! Chị cũng
chết! Đàn lợn của chị cũng đều chết ráo!
- Anh buồn cười thật. - Cuối cùng
thiếu phụ bắt đầu vui lại. - Lúc nãy anh bảo tôi
ở một mình trong phòng tập thể có tám mét vuông
là vì sao thế?
- Vì sao ư? Vì chị là người đàn
bà rất tốt. - Anh nói hơi thiếu tự tin. - Đàn ông
không chịu nổi những người bà rất tốt, tâm hồn của
người đàn bà phải hơi nhom nhem thì mới sống được.
Bao giờ cũng thế. Khi người đàn ông bất lực, thấy
những kẻ khác to lớn hơn mình thì họ gây sự, thế
thôi.
Thiếu phụ khe khẽ thở dài.
- Chị có tin lời tôi nói hay không?
- Không! - Thiếu phụ lắc đầu. -
Đàn ông các anh như trẻ con cả! Cũng giống hệt như
đàn lợn của tôi. Khi nào được ăn thì phởn... Cả
hai cười phá lên. Dòng sông êm ả tuyệt vời.
- Được trò chuyện với chị thật thích!
- Anh thành thực nói. - Chị không giận chứ? Thật
tôi ân. hận quá chừng...
- Không. - Thiếu phụ trả lời. -
Chúng tôi quen rồi. Làm hoa cho người ta hái, làm
gái cho người ta trêu...
Anh nhìn đăm đăm vào những xoáy
nước hút bên mạn thuyền rồi nói:
- Cuộc sống thật buồn. Nhưng nó
giản dị vầ đẹp Chị thấy thế không?
- Thỉnh thoảng, - thiếu phụ trả
lời.
- Được gặp những người đàn bà như
chị thật thích. Tất cả đàn ông chúng tôi đều muốn
sống mãi, chúng tôi đều sẽ tốt lên.
- Anh nói khéo lắm! - Thiếu phụ
cười khẽ, âm thanh giọng cười quyến rũ. - Thế sao
lúc nãy anh bảo nếu tôi có chồng thì chồng tôi sẽ
gây sự với tôi?
- Anh ấy sẽ gây sự... - Anh nói
sôi nổi và dầy thuyết phục. - Chắc chắn thế! Anh
ấy sẽ đau khổ. Anh ấy sẽ sa ngã, sẽ dánh bạc, sẽ
nghiện ngập... Anh ấy đuổi theo những người đàn
bà không đáng bằng cái gấu quần của chị. Anh ấy
thân tàn ma dại! Cái thằng chó ấy! Nó không biết
rằng khi nó mất chị thì nó mất cả cuộc đời!
Thiếu phụ hoảng hốt nhìn anh rồi
bật òa khóc. Anh sợ hãi. Anh nhìn chăm chú vào khuôn
mặt đầy nước mắt của thiếu phụ rồi chậm rãi nói:
- Rồi chị sẽ tha thứ... Phải không...
Rồi chị sẽ tha thứ... Mặc dầu chị biết điều ấy cay
đắng vô cùng... Anh khẽ thở dài rồi thử cử động
cái chân. Cái chân không còn đau nữa.
- Anh thật tốt quả... - Lát sau
chị nói khẽ.
- Sắp đến bến rồi...
Văn chương là thứ bỉ ổi bậc nhất!
- Anh cay đắng nghĩ. - Nó gây ra sự nổi loạn trong
cuộc đời thường. Cuộc dời trôi đi đơn giản. Day
đi dứt lại làm gì?
- Chị tên là gì? - Anh đột ngột
hỏi. - Tôi muốn đến thăm liệu có được không? Tìm
chị ở đâu?
- Tôi là Hương. Tôi cặp thuyền vào
để anh lên nhé. Tôi phải đưa thuyền vào dưới kênh
đào.
Anh gật đầu. Nỗi buồn tràn ngập
lòng anh.
- Chị Hương này! - anh nói khi bước
lên bờ. - Ngày xưa có một nữ sĩ tên là Hương đấy.
Chị có biết không?
- Có! - Thiếu phụ gật đầu và vẻ
hân hoan ngập tràn trong nắng chiều. - Thế đến bao
giờ anh lại thăm tôi?
Anh bước lên bờ mà chẳng trả lời.
Không. Tôi chẳng bao giờ đến thăm chị cả. - Anh
cay đắng nghĩ. - Nếu thế thì rồi mọi việc sẽ nghiêm
trọng mất. Tất cả những gì nghiêm trọng dành cho
người khác. Tôi là nhà thơ, tôi cũng đòi một chút
quyền... Anh bước một mạch lên trên mặt đê mà không
ngoảnh lại. Ngày mai anh về thành phố và sẽ bước
vào trường quay trong vai Chiêu Hổ. Có tiếng ai
gọi vang trên mặt sông nghe rất xa vời, anh chỉ
nghe rõ tiếng ơi.
Anh dừng lại, chụm tay hướng xuống
dòng sông và cũng trả lời hết sức nồng nhiệt.
- ơ.. ơi!
Anh vừa thu được và vừa đánh mất
một buổi chiều rồi. Có hề gì đâu? Thời gian thật
là hào phóng. Nhưng mà hãy vì sự hào phóng ấy ta
phải sống cho nhanh lên, có ích.
Với cuộc đời này.
Không chờ gì cả. Có lẽ ngày xưa chính là Xuân Hương
sống thế.
Một
số tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp
Tướng
Về Hưu, 1988
CHúT
THOáNG XUâN HươNG (Nguyễn
Huy Thiệp)
Chảy
đi sông ơi-Nguyễn Huy Thiệp
CHăN
TRâU CắT Cỏ-Nguyễn Huy Thiệp

Về trang chủ
XEM
TIẾP
|