| 

Nhân
ngày giỗ của VŨ TRỌNG PHỤNG ( 13 - 10 -1939 )
Xin mời đọc:
SỐ ĐỎ ( TRUYỆN DÀI)
Sao Mày Không Vỡ, Nắp Ơi!
(Tiểu phẩm )
Bệnh Lao Chữa Bằng Mồm ( Tiểu
phẩm)
TÌNH LÀ GIÂY OAN

VŨ TRỌNG PHỤNG: CÁI
NHÌN BẢO THỦỞ MỘT NGÒI BÚT GHI CHÉP LỊCH SỬ
Hai bộ mặt của quá trình hiện đại hoá xã hội
Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX trong tiểu thuyết Số
đỏ
Vương Trí Nhàn
Ấn tượng sâu sắc nhất mà có lẽ tất cả bạn đọc
đều chia sẻ khi đọc Số đỏ, ấy là cái sự nhố nhăng
nhảm nhí của đời sống được nhà văn phác hoạ theo
lối châm biếm. Nói như Lưu Trọng Lư, ngòi bút Vũ
Trọng Phụng đã “chế nhạo tất cả những cái rởm cái
xấu cái bần tiện cái đồi bại của một hạng người
một thời đại “ Trong con mắt của ông, xã hội đương
thời là hoàn cảnh lý tưởng cho những kẻ tầm thường
nhưng lại đầy tham vọng. Cái phần luân thường đạo
lý mà các thế hệ đi trước dày công vun đắp đã phai
lạt hẳn, người nào người nấy xoay xoả kiếm sống
và khao khát hưởng thụ. Cả kẻ vô học như Xuân lẫn
bọn có học như Văn Minh đều sống bằng lừa bịp, ai
giỏi lừa người đó thắng. Và cuộc sống của xã hội
hiện đại đồng nghĩa với sự tàn phá nhân cách, làm
hỏng con người. Thiếu hẳn những kẻ có tài năng cũng
như có tấm lòng, tức cũng là thiếu hẳn những con
người xứng đáng để chúng ta kính trọng.
Như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định, bức tranh
mà Vũ Trọng Phụng vẽ nên đó là sự phản ánh trung
thực xã hội đương thời đồng thời có tính cách khái
quát một phần bản chất cuộc sống. Thời nào, và nói
cho đầy đủ hơn, ở bất cứ xã hội nào, thì trong tấn
kịch nhân gian cũng cảnh những hồi, ở đó cuộc đời
hiện ra như một thứ hội hoá trang mà tác giả đã
miêu tả.
Thế nhưng liệu đã có thể nói đó là tất cả cái
cuộc sống trên đường hiện đại hoá được nói tới trong
Số đỏ? Có phải xã hội đương thời chỉ có tàn lụi
mục nát vô phương cứu vãn hay thực ra nó đang vận
động theo một phương hướng đầy triển vọng và chính
ngòi bút Vũ Trọng Phụng cũng đã tham gia vào việc
ghi chép lại cái quá trình đổi khác đó --- một việc
chắc chắn là chính ông cũng không ngờ tới ?
Hiện đại hoá là gì và ý nghĩa lịch sử của nó
Đặt xã hội VN nửa đầu thế kỷ XX trong toàn bộ
sự vận động chung của lích sử dân tộc, chúng ta
thấy nó là một bước rẽ ngoặt mà nội dung căn bản
là hình thành nên một xã hội kiểu mới khác hẳn xã
hội VN từ đó về trước. Trong cả sử học lẫn các bộ
môn khác của khoa học xã hội, trong đó có lịch sử
văn học, người ta thường gọi đó là quá trình hiện
đại hoá.
Trong bài viết Tìm nghĩa khái niệm hiện đại in
ở phần trên, chúng tôi đã có dịp trình bày cách
hiểu về quá trình này,dưới đây là mấy nét tóm tắt:
-- Đó là sự chuyển biến từ kiểu xã hội phong kiến
trung đại sang một xã hội công nghiệp hoá, có đô
thị phát triển. Bắt đầu từ cơ sở kinh tế, cuộc chuyển
biến này kéo theo hàng loạt biến động, nhiều quan
niệm của con người về bản thân mình cũng như về
thế giới có thay đổi. Đồng thời với sự trưởng thành
của ý thức xã hội thì con người cá nhân trong họ
cũng được giải phóng.
-- Bởi đây là sự chuyển biến từ một xã hội theo
kiểu phương Đông sang một xã hội xây dựng theo mẫu
hình phương Tây lúc ấy, nên người ta còn gọi nó
là Âu hoá. Thực chất của hiện đại hoá trong điều
kiện lịch sử đầu thế kỷ XX chính là Âu hoá. Không
chỉ ở VN mà ở Trung quốc và ở nhiều nước châu Á
khác, hiện đại hoá đều được sử dụng với nghĩa cụ
thể như vậy. (Còn tới cuối thế kỷ XX nó vẫn được
dùng nhưng có hàm nghĩa mới thì đó lại là chuyện
khác.)
-- Muốn hay không muốn cũng phải xem đây là một
bước tiến bộ. Tính đến hoàn cảnh đương thời, thì
đây là công thức duy nhất có thể đưa xã hội ra khỏi
điểm chết mà sự vận động của lịch sử trước đó đẩy
tới. Không phải hiện đại hoá hoàn toàn đối lập lại
quyền lợi chính đáng của dân tộc. Ngược lại, chính
trong hoàn cảnh hiện đại hoá mà ý thức dân tộc,vốn
có từ trong quá khứ, bắt đầu mang một nội dung mới
thích hợp hơn do đó trở nên hoàn thiện và có sức
thúc đẩy lịch sử tiến tới. Đặc biệt với công cuộc
công nghiệp hoá, ý thức dân chủ có dịp nảy nở mạnh
mẽ.
Một trong những tư tưởng cơ bản được trình bày
trong Văn minh tân học sách của nhóm Đông Kinh Nghĩa
Thục (tổ chức tập hợp những bậc trí giả thức thời
hồi đầu thế kỷ XX), đó là tình trạng lạc hậu cổ
hủ của xã hội VN trước khi tiếp xúc với văn minh
Tây phương. Đến một nhà yêu nước như Phan Chu Trinh
thì tư tưởng đó là cả một ám ảnh. Theo Phan Chu
Trinh, sự lạc hậu nếu không được nhận thức và được
khắc phục thì mọi nỗ lực dành lại độc lập đều vô
nghĩa. Trong Thư gửi chính phủ Pháp,ông viết “Nước
Nam đã lâu nay học thuyết sai lầm, phong tục hư
hỏng, không có liêm sỉ,không có kiến thức.. Trong
một làng một ấp cũng cấu xé lẫn nhau, cùng nòi cùng
giống vẫn coi nhau như thù hằn ; có dẫu ai có muốn
lo toan việc lớn,chưa kể rằng không có chỗ mà nương
thân, không có khí giới mà dùng, không có tiền của
mà tiêu, giá phỏng Chính phủ (đây là chính phủ thực
dân Pháp --- VTN chú) cho mượn dăm nghìn khẩu súng,
cấp đất vài tỉnh cho ở, không thèm hỏi đến,tha hồ
muốn làm gì thì làm, chẳng qua vài năm nếu không
báo thù lẫn nhau thì cũng tranh giành địa vị với
nhau, nếu không cướp đoạt tiền tài thì cũng giành
giật tước vị, tự chém gết nhau đến chết hết mới
thôi (...)”[1]
Có thể nói sự sáng suốt của những người vừa yêu
nước thương nòi vừa nhìn xa trông rộng và có tư
tưởng canh tân xã hội trên đây đã có sức chi phối
đối với sự phát triển của xã hội VN mà quá trình
hiện đại hoá nói ở đây là bằng chứng. Dù công cuộc
hiện đại hoá đó tiến hành dưới sự kiểm soát của
bộ máy thực dân, song vẫn phải ghi nhận một sự thật
dẫu sao quá trình đó đã xảy ra. Không có quá trình
hiện đại hoá này thì không có xã hội VN nửa đầu
thế kỷ XX như chúng ta đã thấy, không những không
có đô thị, nhà trường kiểu mới, đường sắt, bưu điện,
báo chí …, mà cũng không có sự tiếp xúc bình thường
giữa VN và thế giới. Nói cho hết lẽ, phải thấy không
có quá trình hiện đại hoá thì không có luôn cả sự
phân hoá giai cấp như các nhà nghiên cứu lịch sử
thường phân tích, không có giai cấp công nhân và
một bộ phận trí thức kiểu mới, không có sự du nhập
của ý thức hệ Mác Lê- nin, dẫn đến những biến động
có tính chất bước ngoặt từ sau Tháng Tám 1945.
Hiện đại hoá đã tự phát có mặt trong tác phẩm của
Vũ Trọng Phụng như thế nào?
Hãy bắt đầu bằng một chi tiết nhỏ trong chương
II của Số đỏ, cái đoạn tả cảnh xảy ra tại một bóp
cảnh sát khi một viên quản ngồi than thở sự đời
với một thày cảnh sát dưới quyền, thày min đơ (1002):
---Thày có tiếc cái thời buổi ngày xưa,cách đây
mười năm không ?
- --- Tiếc lắm! Mười năm trước đây, dân ta còn
ngu..
--- Ngày nay dân ta văn minh mất rổi rõ thảm hại!
Thày phải biết là xưa kia, xã hội tinh những du
côn với nặc nô, tinh những người bất lịch sự chỗ
nào cũng phóng uế,cũng đánh nhau. Hồi ấy có khi
bốn người ngồi một xe! Họ chửi nhau hàng nửa giờ,
đánh nhau vỡ đầu, nhà cửa của họ thì rác rưởi, nước
cống nước rãnh tung toé,ngập lụt. Chó của họ cũng
chạy ra ngoài đường nhông nhông... Xe đi đèo, hay
không đèn là nhan nhản. Bây giờ mọi sự đã thay đổi
cả (tr. 22)[2]
Điều bất ngờ là ở chỗ đằng sau câu chuyện mà tác
giả thuật lại để chế giễu tự nó có một ý nghĩa khác.
Không gì khác, cái thời buổi ngày xưa mà hai nhân
vật nói ở đây chính là xã hội VN trước hiện đại
hoá,với một nếp sống phải nói là lạc hậu và chẳng
có gì là đáng ước ao, nếu không nói rằng đáng từ
bỏ. Còn thay thế nó lại là xã hội nền nếp quy củ.
Và sự thay đổi mà các viên cảnh sát than phiền là
hỏng là đáng chê trách thì theo lương tri thông
thường, lại là một sự thay đổi theo hướng tiến bộ
hợp với tinh thần của nhân văn và đạo lý.
Nếu tiếp tục khảo sát tác phẩm theo hướng này,
người ta sẽ thấy Số đỏ vô hình trung đã phác hoạ
một khuôn mặt khác của xã hội trong một giai đoạn
lịch sử có những đảo lộn hàng trăm năm chưa từng
có. Từ đầu thế kỷ XX trong lòng xã hội phong kiến,
những nhân tố của một xã hội theo kiểu phương Tây
đã nảy sinh và tới những năm ba mươi có thể nói
cái nền nếp mới ấy đã trở nên ổn định thay cho nền
nếp xưa “thế là hết nhẵn nhụi” (tr 22). Đóng vai
trò đầu tàu cho lịch sử là những đô thị mới vừa
hình thành. Trong kiến trúc trong đường xá cầu cống
trong kiểu ăn ở đi lại.. của con người, chúng khác
hẳn so với cái gọi là đô thị thời trung đại. Phân
công lao động trong xã hội đã khá cao, nhiều nghề
mới nảy sinh, không phải chỉ có me tây đĩ điếm như
nhiều người thích bêu riếu, mà quan trọng hơn có
người đi du học, có luật sư bác sĩ, có các loại
cửa hàng và khách sạn đầy đủ tiện nghi, có cả các
loại sân thể thao được xây riêng trong từng gia
đình và thày dạy đánh quần vợt. Đặc biệt ý thức
công cộng của mỗi thành viên trong xã hội được nâng
lên một bước. Đằng sau cái câu nói đơn sơ “Lúc này
đến cả thằng phu xe cũng biết luật” (tr 22) là một
sự thật: xã hội đã vượt qua giai đoạn tự phát mạnh
ai nấy sống. Làm gì người ta cũng phải chú ý xem
phản ứng xã hội với mình là như thế nào. Báo chí
có mặt ở mọi nơi mọi chỗ.
Cũng nên lưu ý thêm là theo sự miêu tả của tác
giả thì Xuân tóc đỏ có lúc ăn vận theo kiểu hề Charlot
để gây chú ý (tr 75), cũng như ông Joseph Thiết
có nhắc đến Léon Daudet (tr 78), ấy là không kể
có cả một buổi hội thảo không chính thức về học
thuyết của Freud (đoạn đầu chương XIII). Những mẫu
hình của văn hoá hịên đại đã xuất hiện để thay thế
cho những khuôn vàng thước ngọc dẫn lại từ thời
Nghiêu Thuấn mà mọi người đều đã ngán đến tận cổ!
Ở trên chúng ta đã nói rằng con người trong Số
đỏ hiện ra với nhiều nét khó coi, ồn ào học đòi,
tham lam dâm đãng. Song suy cho cùng những thói
xấu ấy vẫn là bề ngoài. Nếu không xem các tiêu chuẩn
đạo đức vốn có từ thời phong kiến là bất biến mà
xét kỹ cái trình độ sống của con người, nhất là
văn hoá chung sống của những con người đó, cái ý
thức của họ về sự tiến bộ chung của xã hội, chúng
ta thấy gì? Rõ ràng, đặt bên cạnh những con người
đơn giản, sống cầm chừng, chậm rãi rời rạc của xã
hội trung đại, thì con người lúc này luôn hiện ra
với vẻ gấp gáp linh hoạt, sẵn sàng thích ứng với
mọi biến chuyển lúc nào cũng có thể xảy ra. Mọi
người, từ Xuân đến bà phó Đoan, từ vợ chồng Văn
Minh đến ôngTipphờnờ … và cả mấy người già như cụ
cố Hồng đều có ý thức về cuộc đời mà họ đang sống,
muốn sống theo những tiêu chuẩn mới mẻ mà họ tin
tưởng chứ không phải thế nào cũng được muốn đến
đâu thì đến.
Đây là lời bà Văn Minh giảng giải cho một khách
hàng về ý nghĩa của cửa hàng Âu hoá do hai vợ chồng
bà ta chủ trương:
--- Thưa bà chúng tôi chỉ tiến theo luật tiến
hoá chung của xã hội. Giữa buổi canh tân này cái
gì là bảo thủ thì bị đào thải đi. Bà có biết rằng
từ khi chúng tôi mở cửa hiệu này ra thì đã bao nhiêu
người vợ được cứu vớt,tìm thấy lòng yêu của chồng,
lại được hưởng hạnh hạnh phúc gia đình rồi đó không?
(tr 46)
Còn đây, cái quan niệm về ăn mặc mà cửa hàng của
bà ta noi theo:
--- Thưa bà,những nguyên tắc về y phục đã thay
đổi. Chúng tôi mà có chế ra kiểu này cũng là vì
theo cái quan niệm y phục của các nhà thợ may lớn
ở Tây phương. Quần áo để tô điểm,đẻ làm tăng sắc
đẹp chứ không phải để che đậy …(tr 48)
Đặt trong mạch chung của tác phẩm thì đây có vẻ
như lời lẽ mòn sáo của một kẻ học đòi. Nhưng thử
tách nó ra như một văn bản độc lập, chúng ta thấy
đây là những ý tưởng nghiêm chỉnh (một số điều đến
nay chúng ta cũng đang áp dụng). Con người bấy giờ
đặc biệt có ý thức về một cuộc sống khác với những
gì họ sẵn có chứ không một chiều nệ cổ. Họ đã nhìn
rộng ra cả thế giới chứ không chỉ chăm chăm quay
đầu về cái sân nhà mình hoặc cái làng con con của
mình. Họ lại đã có được ý thức đúng đắn về thời
gian và mối quan hệ giữa thời gian và bản thân mình.
“Nó cảm thấy đời nó từ nay mà đi dễ thường đã vào
một kỷ nguyên mới.” (tr.29) – Không nên một chiều
cười giễu cái câu tự nhủ ấy của Xuân tóc đỏ, ngược
lại nên ghi nhận ở nhân vật cả cái ý chí lập nghiệp
lẫn một sự tiên cảm chính xác về tương lai.
Số đỏ kết thúc bằng việc Xuân nhường chức vô địch
quần vợt cho đối thủ người Xiêm La. Câu chuyện có
vẻ hoàn toàn bịa đặt song đằng sau nó cần phải ghi
nhận một điều: một cá nhân như Xuân đã biết làm
chủ hành động của mình, và sự tính toán ở đây là
khá chính xác.
Trong khi làm lại cuộc sống, cố nhiên,trong tiềm
thức, con người VN nửa đầu thế kỷ XX tự hiểu rằng
mình có một quá khứ hết sức nặng nề. Trên mọi phương
diện, họ đều nhận ra một sự đối đầu giữa cũ và mới
(tr 136), giữa lối cổ và lối kim (tr.34). Nếu như
thường xuyên chúng ta bắt gặp ở họ cái vẻ huyênh
hoang thì chẳng qua cũng chỉ là một cách nói to
lên những điều lớn lao để tự động viên mình. Sự
thay đổi quá nhanh không khỏi dẫn tới những sự vội
vã ép uổng, những nét kệch cỡm, nhưng không phải
vì thế mà đáng sổ toẹt tất cả.
Có hai con người trong một Vũ Trọng Phụng
Âu hoá không chỉ là tên gọi của cái cửa hàng thợ
may nơi nhân vật Xuân trong Số đỏ đến học việc và
bắt đầu một cuộc tiến thân. Âu hoá cũng chính là
nội dung của quá trình chuyển biến của cái xã hội
nho nhỏ mà tất cả các nhân vật của cuốn tiểu thuyết
này – từ những nhà cải cách xã hội như vợ chồng
Văn Minh, các trí thức như ông Josef Thiết,ông đốc
tờ Trực Ngôn... đến lớp người mạt hạng như Xuân
cùng mấy ông thày bói mấy cô bán hàng mấy chị vú
em – bị cuốn hút theo.
Suy rộng ra, dễ ước đoán là qua cuốn tiểu thuyết,
tác giả muốn làm một cuộc tổng kết cơ bản, khái
quát cả quá trình chuyển biến của xã hội VN nửa
đầu thế kỷ XX.
Đã rõ là có hai tầng hiện thực khác nhau được
ghi nhận trong các trang sách của nhà văn họ Vũ:
một đằng là cái đời sống ở cái vẻ nó đập ngay vào
mắt mọi người ; và một đằng nữa là cái đời sống
ở bề sâu, cái phần ẩn giấu và chỉ bộc lộ ra một
cách tự phát, người đọc cũng dễ bỏ qua.
Thái độ của tác giả với hai mảng hiện thực ấy
cũng khác nhau rõ rệt. Có vẻ như với Vũ Trọng Phụng,
cái phần xấu xa của đời sống đương thời là đáng
quan tâm hơn cả. Ông tố cáo. Ông lên án. Toàn bộ
kiệt tác Số đỏ của ông được xây dựng trên cảm hứng
phê phán đó. Ngược lại, cái mảng hiện thực thứ hai
có vẻ nằm ngoài ý thức của ông. Ông chỉ nhân tiện
mà nói tới. Sự chểnh mảng của ông với cái phần đời
sống này rõ rệt đến mức mà người ta chỉ nắm được
nó bằng cách tách sự việc đứng riêng ra, để chúng
độc lập bên cạnh cái nhìn của các nhân vật vốn là
nhân vật phản diện, thậm chí độc lập với tác giả.
Có điều không phải vì thế mà nó cái đời sống ở
bề sâu ấy không hiện ra một cách rõ rệt. Bây giờ
mọi sự đã thay đổi cả (tr 22). Một câu như vậy quả
đã thâu tóm được quá trình biến đổi của xã hội,
và ở chỗ này có thể bảo Vũ Trọng Phụng là một người
chép sử trung thành, mặc dù ông không có ý thức
đầy đủ khi làm công việc ghi chép quan trọng ấy.
Đọc các nhà văn cổ điển cỡ như Balzac, người ta
đã được chứng kiến không ít trường hợp trong con
người nhà văn có sự đối lập, trong khi thái độ ông
ta đối với thực tế thế này thì bức tranh xã hội
được ông vẽ ra lại có ý nghĩa khác hẳn.
Trường hợp Vũ Trọng Phụng ở đây cũng có gì na
ná như vậy.
Thử giải thích cái nhìn và thái độ của Vũ Trọng
Phụng:
yếu tố chủ quan...…
Các nhà viết tiểu sử đã sớm ghi nhận Vũ Trọng
Phụng thuộc loại dân nghèo mới từ bỏ làng quê để
nhập tịch vào đô thị. Nhưng lên với Hà Nội ông và
gia đình vẫn sống rất thanh bạch. Thay cho cái nghèo
chân chất của người nông dân là cái nghèo nhếch
nhác luộm thuộm của đám người nằm ở dưới đáy của
Hà Nội băm sáu phố phường.
Có những người nghèo song cam phận, nhẫn nhục,
có cái nhìn nhân hậu đối với sự đời, song lại có
những người do nghèo mà sinh ra cay nghiệt hằn học
chỉ muốn đập phá hết cả. Vũ Trọng Phụng chính là
thuộc típ người thứ hai. Dù đã nhọc lòng đi tìm
sự thay đổi, song ông và những người như ông vẫn
không tìm thấy miền đất hứa để có thể tạm bằng lòng
với số phận mà sống trong thanh thản. Bởi vậy, ông
nhìn mọi biến thiên xảy ra trong xã hội như là những
chuyện vô lý. Sự đối mặt thường xuyên với mọi loại
sa ngã hư hỏng bất công giả dối khiến ông đớn đau
căm uất.
Nói cách khác, nhà văn thân yêu của chúng ta không
thoát khỏi mình để có một cách nhìn khách quan với
xã hội và xem tiến bộ xã hội như một tiêu chuẩn
đánh giá đời sống. Khách quan mà xét phải nói rằng
ông bảo thủ.[3]
Qua các hồi ức của những người quen biết riêng
với Vũ Trọng Phụng, từ lâu người ta đã biết rằng
tác giả Số đỏ là một người, trong sinh hoạt hàng
ngày, có nhiều phần nệ cổ chứ không mô-đéc như những
người bạn của ông mà Nguyễn Tuân là một ví dụ. Tới
đây chúng ta lại thấy ông nệ cổ cả trong cách nhìn
đời nói chung. Từ sự bảo thủ trong quan niệm đạo
đức tới bảo thủ trong quan niệm xã hội, kể ra cũng
là một bước đi tự nhiên, không thế thì mới là chuyện
lạ.
..... và yếu tố khách quan
Đặc điểm của hiện đại hoá ở VN là nó diễn ra không
bình thường. Nó không nảy sinh như một sự phát triển
nội tại mà là từ bên ngoài ấn vào. Mà yếu tố bên
ngoài đây lại là nước Pháp thực dân, lúc đó đang
đóng vai trò của một thế lực đi xâm lược. Một thời
gian dài, với người Việt Nam, chấp nhận hiện đại
hoá tức là chấp nhận hành động đồng hoá của bọn
xâm lược. Điều đó trái với tinh thần quật cường
chỗng ngoại xâm (bằng bất cứ giá nào đẩy các thế
lực ngoại nhập ra khỏi đất nước) đã thành một truyền
thống của lịch sử dân tộc.
Chẳng những thế, trong thực tế, công cuộc hiện
đại hoá diễn ra trong máu và nước mắt. Xã hội VN
cuối thế kỷ XIX đã quá trì trệ và con người quen
lặn ngụp trong sự lạc hậu rất ngại thay đổi. Đổi
mới đối với họ thường khi là một việc làm quá sức.
Bởi vậy (kết hợp cả hai yếu tố trên), người ta
không ngạc nhiên nhận thấy rằng ngay từ khi mới
bắt đầu, hiện đại hoá đã không được người VN tiếp
nhận một cách tích cực. Kẻ biết nhìn ra ý nghĩa
tiến bộ của nó rất ít. Trong lòng mọi người, sự
ngại ngần trở đi trở lại. Đủ thứ áo khoác mỹ miều
được lôi ra sử dụng để che đậy cho sự thù ghét và
sợ hãi cái mới. Đọc lại văn học VN đầu thế kỷ XX,
người ta thấy với Tú Xương rồi Tản Đà tiếp đó là
các nhà văn xuôi như Trọng Khiêm, Đặng Trần Phất
.., hiện đại hoá đều được miêu tả như một quá trình
gây ra đau khổ cho con người. Tiếp đó, nhiều ngòi
bút cùng thời với Vũ Trọng Phụng, những Nguyễn Công
Hoan, Lan Khai, Nguyên Hồng, Nam Cao … đều miêu
tả đời sống theo cái cách ít nhiều lên án hiện đại
hoá. Sự bảo thủ mà trên đây chúng tôi nói ở Vũ Trọng
Phụng suy cho cùng cũng là nét bảo thủ của khá nhiều
người, kể cả những người thuộc diện tinh hoa của
xã hội. Thậm chí còn có thể nói nó là một thứ vô
thức tập thể đang chi phối cách nghĩ một thời.Trong
trường hợp này, các nhà văn thực sự chỉ là công
cụ của lịch sử.
Đoạn kết
Chẳng những sinh thời Vũ Trọng Phụng, quá trình
hiện đại hoá xã hội VN nửa đầu thế kỷ XX được một
số người xem là có ý nghĩa tiêu cực mà ở nhiều thế
hệ tiếp theo, cho đến ngày hôm nay của chúng ta,
lối nhìn nhận đó vẫn đóng vai trò chủ đạo. Có lẽ
chính vì thế mà khi tiếp xúc với các tác phẩm ra
đời trong thời kỳ này, người ta thường chỉ đọc ra
cái phần có ý nghĩa phê phán, còn như cái phần mà
ngòi bút chép sử của các nhà văn đã hoạt động một
cách tự phát – như trong trường hợp của Vũ Trọng
Phụng với Số đỏ – thì lại bị đẩy vào bóng tối quên
lãng. Về phần mình, chúng tôi cho rằng nếu nhìn
nhận về hiện đại hoá như trong bài này và trong
một số bài viết trước đây chúng tôi đã thử đề nghị,
thì ngay với Vũ Trọng Phụng người ta đã có thể đi
tới những kết luận khác hẳn. Trong khi có vẻ làm
giảm hào quang ở ngòi bút nhà văn họ Vũ do chỗ bộc
lộ ở ông một ít yếu tố bảo thủ ---, thì đồng thời
cách nhìn nhận và đánh giá này làm cho ông, trước
mắt chúng ta, trở nên sâu sắc hơn và những trang
văn của ông cũng trở nên nhiều tầng nhiều lớp phong
phú hơn. Dù không cố ý, song nhà văn này đã làm
được cái thiên chức mà các nhà văn lớn của một thời
đại thường được giao phó, đó là phản ánh được một
phần, theo cái cách riêng của mình, những phương
diện cơ bản cùng là cái xu thế phát triển của thời
đại (xin hiểu thời đại nói ở đây là khái niệm thời
đại lớn mà nhà nghiên cứu văn học người Nga đồng
thời là nhà triết học M.M. Bakhtin đề nghị). Riêng
đối với con người VN hôm nay, trong một giai đoạn
mới của công việc hiện đại hoá -- trường hợp của
Vũ Trọng Phụng vẫn đang là một bài học, ít nhất
thì nó cũng có thể giúp chúng ta tham khảo rút kinh
nghiệm để có được một cách nhìn đúng đắn đối với
mọi biến thiên đang xảy ra trước mắt, phân biệt
được những biểu hiện bề mặt vốn nhiều rác rưởi và
cái xu thế lớn của lịch sử./.
2002
Đã in Tạp chí văn học, 2003, số 2
--------------------------------------------------------------------------------
[1]Dẫn theo Tuyển tập Phan Chu Trinh,Nguyễn Văn
Dương biên soạn,NXB Đà Nẵng 1995 tr 352, 353.
[2]Các dẫn chứng trong bài có ghi số trang đều
trích theo bản in Số đỏ trong Tuyển tập Vũ Trọng
Phụng ba tập, tập III, NXB Văn học, 1988.
[3]Thực ra đọc lại đoạn đối thoại giữa thày quản
và viên cảnh sát thì thấy những điều mà họ nói về
thời đại trước Âu hoá tự nó với nhứng người có lương
tri bình thường đã thành một sự phê phán và lời
than tiếc của họ “Cái thời tốt đẹp của các cụ nhà
ta không còn nữa” cất lên có chút gì đó ngớ ngẩn
và giống như một sự mai mỉa. Trong thực tế người
đời dù có cổ hủ đến mấy chắc cũng không ai ăn nói
như vậy. Liệu có thể nói rằng ý thức bảo thủ đã
vào sâu trong Vũ Trọng Phụng tới mức nó khiến ông
bất chấp cả sự thực và lô-gích thông thường?

|