| 
Trọng Miên
Một người bạn kỳ dị
Mỗi lần đến
thư viện thì tôi lại gặp hắn, như ngồi mãi một chỗ,
chăm chú vào cuốn sách để trước mặt. Vẻ lạnh lùng,
tóc bơ phờ, và nhất là đôi mắt kỳ lạ của hắn, ai
đã nhìn qua một lần thì không thể quên được - đôi
mắt tinh anh dị thường bao giờ cũng như nhìn vào
một chốn thăm thẳm.
Một hôm nhân cùng tìm một cuốn sách cổ quái, ít
ai đọc đến, chúng tôi thành quen biết. Hai tâm hồn
tương ứng xô đẩy chúng tôi lại gần nhau. Thế - người
bạn trong thư viện - và tôi thường chỉ có một câu
chuyện độc nhất để say sưa nói với nhau là thơ.
Từ địa hạt thơ tôi đã đi lần vào trong cuộc đời
thân mật của Thế. Anh ở một góc lầu cao, xa thành
phố, thường rất ít đi lại với ai.
Thú say mê nhất của Thế là thơ, triết lý và thuốc
lá. Thế hút píp và có hơn mười cái, đủ kiểu to nhỏ,
từ cái píp đầu lâu đến cái píp đầu thi sĩ Baudelaire,
và không biết anh đã tìm tòi mua được ở đâu những
cái píp quý giá như thế. Anh nâng niu píp như người
xưa chơi đồ cổ, hơn thế nữa, anh yêu thương chúng
như những sinh vật có linh hồn. Một hôm, Thế rủ
tôi đi uống rượu và nói một cách thương tiếc:
- Tôi vừa mất một người bạn thân.
Sau hỏi ra tôi mới hay rằng vì một cử chỉ vô ý,
anh đánh rơi gãy mất một cái píp đẹp.
Một sự ham thích khác nữa của Thế là chơi đầu lâu.
Mấy cái đầu lâu trắng tinh trang hoàng ở phòng mình,
Thế đã mua hai cái ở Hà Nội, thời kỳ học ở trường
thuốc, một cái mua ở Huế của cụ Ngáo, đao phủ thủ
tại kinh đô bán; cái đầu lâu sau này là của một
tướng cướp đào lăng vua bị chết chém. Còn một cái
nữa, không rõ Thế mua ở đâu, và ngoài ra, hai cái
đầu lâu khỉ.
Những cái đầu lâu ấy nổi bật hẳn trên màu đen của
gian phòng, và đây đó treo những bức thư ảnh của
các thi sĩ Thế yêu: Edgar Poe, Baudelaire, Byron,
Mallarme, Valéry.
Bạn khác thường của Thế còn có một con mèo đen
nhung chỉ thích được vuốt ve nằm trong lòng người
và một con quạ. Con quạ toàn đen này Thế đã tập
cho nó nói được và chỉ nói một câu như con quạ của
Poe: Không có gì nữa hết!
Người bạn dị kỳ của tôi chỉ sống để mà làm thơ
và đọc sách, đi. Nhưng con người phong vận, cốt
cách thi sĩ ấy lại không hề đả động tới đàn bà,
và tránh nói đến họ. Đó là sự bí mật ở Thế mà tôi
vẫn kiếm dịp để tìm hiểu.
Một buổi tối lành lạnh, tôi đến thăm Thế, vừa lúc
anh ngủ dậy, sau đêm thức suốt sáng đọc sách hay
viết. Thế sống khác với người thường, ban ngày ngủ
và đêm làm việc. Đêm mê say anh như hương thơm tách
cà phê đậm.
Dựa ngửa ra chiếc ghế lót đệm nhung, ngậm píp phì
khói tỏa mờ, Thế thì thầm ngâm thơ. Ngồi một bên,
tôi yên lặng nhìn đôi mắt xanh sáng của con mèo
đen, vuốt qua làn lông mịn màng như nhung. Trong
không khí thân mến, tôi khêu gợi đột ngột đến chuyện
tình và mơn man dò hỏi tâm sự bạn. Thế ngập ngừng
rồi dịu dàng bảo tôi:
- Tôi không muốn nhắc nhở đến dĩ vãng vì buồn lắm,
nhưng anh đã gạn hỏi, tôi không giấu giếm anh nữa,
và để cho anh hiểu tôi hơn.
Thế đứng dậy thổi tắt cây bạch lạp, vì anh vẫn
thích nói chuyện trong bóng tối, những lời nói sáng
tỏ hơn. Rồi với một giọng nhiều hơi, buồn buồn,
Thế bắt đầu nói:
- Trước hết, tôi cần nói rõ để anh biết về việc
bị chôn sống là vấn đề có liên lạc mật thiết đến
câu chuyện riêng của tôi sắp kể.
Bị chôn sống là một sự thật nguy hiểm, ghê gớm,
sự nguy hiểm to tát cũng như sự mê tối của loài
người. Tôi đã tra cứu, tìm tòi trong y học và đã
kinh nghiệm rằng nếu để trí suy xét thì không ai
có thể chối cãi được rằng trường hợp rùng rợn này
vẫn xảy ra. Có người may mắn tỉnh lại trước lúc
chôn để tránh khỏi sự lầm lạc tàn khốc, nhưng ta
phải nghi ngại rằng đã biết bao người bị chôn sống
mà không bao giờ ai biết đến.
Cái giới hạn chia hai sự sống và chết rất mù mờ
và tăm tối. Ai có thể biết rõ được rằng lúc nào
là hết sống và khi bắt đầu chết ? Vì trước và sau
khi chết, không có một sự phân biệt hiện ra trên
người. Mạch máu hay hơi thở ngừng không thể là bằng
chứng được. Không có một thời hạn bao lâu để chắc
quyết là chết, và trái tim đã ngừng, có thể chịu
vài ảnh hưởng trong thân thể rồi đập lại. Sự thực
nghiệm ấy khoa học và y học ngày nay đã nói đến.
Người chết thật rất chậm, không như ta tưởng. Trong
lúc bề ngoài đã chết, kẻ bất hạnh vẫn có thể đang
sống. Người chết nào cũng phải qua hai thời kỳ,
liên lạc với cái chết và chết thật, nhưng y học
còn chứng nghiệm rằng có khi gặp một thời kỳ khác:
chết bề ngoài. Thời kỳ này là lúc những cơ quan
nhận thấy rõ ở thân thể đều ngừng lại như bộ máy
nghỉ chạy rồi trong một khoảng thì giờ qua, vì một
nguyên nhân vô hình, người có thể trở lại với sự
sống. Những cơ quan trong người đều chia ra các
bộ phận riêng, tất cả dù là nương tựa vào nhau,
đều có sự độc lập liên lạc. Mỗi bộ phận có thể sống
biệt lập với cơ quan có dính líu đến. Cái chết không
phải là một sự thay đổi hoàn toàn và chạm đến những
bộ máy sống của thân thể. Bởi vậy khi người ta chết,
những bộ phận trong người chưa ngưng trệ hẳn, nên
rất khó khăn mà phân biệt được rằng cái chết của
người này chỉ là bề ngoài, và người kia chết thật.
Khoa học cũng phải công nhận rằng những trường hợp
này thật khó mà biết rõ ràng được - phần nhiều người
đều mặc số mệnh cho sự rủi may - và các vụ chôn
sống vẫn xảy ra. Những tiếng kêu gào thảm thiết
của người chưa chết hẳn mà đã bị chôn không được
ai nghe đến và chúng ta cũng mặc cho số phận mình,
nếu bất hạnh một ngày kia tỉnh dậy trong hòm.
Thế ngừng lại, lấy thuốc cho thêm vào píp, đốt
cháy rồi say sưa nói đến câu chuyện của lòng mình:
- Quãng đời hai mươi tuổi của người thanh niên
thường ít ra cũng có một cuộc tình ái điên cuồng
mà tốt đẹp, và kỷ niệm ấy bao giờ cũng để lại những
ấn tượng sâu sắc trong tâm tưởng: Tâm hồn giàu có
tình cảm như chúng ta lại hay gây nên những tình
duyên ly kỳ.
Năm năm trước đây, tôi đang ở trong thời kỳ phát
triển của tình cảm thì gặp và yêu một người con
gái tên là Bích Trăng. Trăng là một tiếng sét đã
làm sôi nổi tận đáy lòng tôi những tình cảm sâu
sắc và bền chặt nhất về yêu thương. Trăng có một
thứ nhan sắc châu ngọc mà tôi đã mường tượng trong
thơ. Với tôi, Trăng là một người yêu có cả tình
một người chị, một người mẹ hiền từ của phương Đông.
Chúng tôi yêu nhau với tất cả say sưa, nồng nàn
của tuổi hai mươi. Mặc dầu giữa Trăng và tôi có
những sự cản trở của hai gia đình cổ kính vẫn không
thích nhau. Thầy tôi làm quan, trên chức của thầy
Trăng. Tính tình cương trực của thầy tôi đã gây
nên một sự xích mích giữa hai người, và từ đó cả
hai nhà không bao giờ đi lại với nhau nữa.
Tự buổi đầu, Trăng và tôi cùng biết trước rằng
cuộc hôn nhân của chúng tôi sau này khó lòng mà
thực hiện được. Nhưng chúng tôi không thể không
yêu nhau được và khi người ta yêu... Tôi chăm chú
theo đuổi cái địa vị độc lập, chắc chắn mai sau,
trở nên một bác sĩ, và khi ấy Trăng cùng tôi sẽ
tự do lấy nhau, nếu hai gia đình vẫn không bỏ hiềm
khích cũ.
Thế rồi một hôm đang thời kỳ lưu học ở Hà Nội,
tự nhiên tôi thấy nóng lòng, băn khoăn rồi bỗng
nhận được dây thép của một người bạn ở Huế cho hay
tin Trăng chết. Cái chết đột ngột, dữ dội của Trăng
đã làm đảo điên cả người tôi, và tưởng như mình
đang mơ.
Tôi xin phép nghỉ học để trở về Huế ngay chiều
hôm ấy. Không muốn cho ở nhà biết, bước xuống xe
lửa, tôi lại ngay nhà người bạn. Về cái chết thình
lình của Trăng, tôi được hay thêm rằng nàng bị cảm,
đau luôn một tuần rồi chết. Và người ta đã chôn
nàng sáng ngày.
Trăng đã chết thật, không còn nghi ngờ gì nữa,
không còn gì nữa hết! Tự thâm tâm tôi hét lên một
tiếng ghê gớm như làm tan vỡ cả linh hồn: Trăng
ơi! Tất cả người tôi vang lên một điệu u trầm, ảo
não: Trăng ơi! Hình như trong hồn, trong máu, trong
phổi, trong tim tôi lúc bấy giờ đều chứa đựng toàn
những mạch tình trìu mến, yêu thương da diết, quấn
quít lấy Trăng.
Tối hôm ấy, tôi ngây dại ra đi trong trăng mờ lạnh.
Những tư tưởng điên cuồng nung nấu, sôi nổi cả người,
lý trí bị ám hoặc, một ý nghĩ ghê gớm nảy nở và
cắm rễ trong hồn tôi. Và như một cơn cảm hứng mãnh
liệt, ý nghĩ ấy cứ lấn át, chiếm cứ lấy linh hồn.
Tôi cuồng loạn theo uy lực của tình yêu bị kích
thích đến cực điểm. Qua bao la, của đêm trăng mờ,
tôi mê man theo sự xúc động điên cuồng, lần tìm
đến mồ Trăng. ý nghĩ dị thường vẫn bùng cháy như
một ngọn lửa: tôi rồ dại muốn nhìn thấy mặt Trăng.
Đứng trên đồi chôn Trăng, dưới trăng mơ hồ mà trước
kia tôi đã cùng Trăng say ngắm, đi qua chốn này,
hôn nhau lần đầu tiên, tôi đau đớn ngây ngất khi
nhìn thấy gò đất mới đã che lấp Trăng bên những
ngôi mả trắng. Cơn bão táp trong não cân lại nổi
lên ồ ạt, như một người điên, tôi vác cuốc đem theo
mờ loạn đào mồ chôn Trăng. Đất mới đắp còn mềm,
dễ bới, tôi say sưa với ý tưởng nhìn lại mặt Trăng,
không còn biết gì là mệt nhọc.
Nhớ lại khi ra đi đã khuya, đến lúc đào mồ Trăng
gần đụng hòm thì nghe gà gáy, tôi hoảng hốt vội
vã lên vì sợ trời sáng. Gió khuya ở trên đồi nghĩa
địa thổi lên từng trận đem tiếng chó sủa trăng ở
làng xa với những tiếng mõ canh lốc cốc. Trăng hạ
tuần gần sáng càng tỏ rõ, mây đen từng lúc bay qua.
Tôi mải miết đào, đất bắn khắp mình, quần áo lấm
đầy mồ hôi vì nóng, vì cảm động. Đất khỏa ra hai
bên người như mở con đường cho tôi đi đến với Trăng.
Một tiếng chạm vào gỗ làm cho tôi rung động đến
ngây người. Và chẳng bao lâu là tôi cạy mở được
nắp hòm. Tôi kéo tung đồ liệm lên, màu vải tang
đang còn mới ủ bốc lấy hơi người. Một cảnh tượng
đời đời ghi chặt trong trí tôi mỗi khi hồi tưởng
lại: nằm thẳng giữa đống đồ khâm liệm màu trắng,
dưới trăng lạnh, mặt nhợt nhạt của Trăng có một
vẻ thiên tiên lạ lùng. Những ý nghĩ điên cuồng,
sôi nổi dịu dần trong trí tôi khi nhìn thấy mặt
Trăng. Tôi đưa hai tay run rẩy cầm chặt lấy hai
bàn tay Trăng, hai bàn tay cứng lạnh xưa kia đã
ve vuốt đầu tóc bơ phờ của tôi. Những giọt nước
mắt của tôi từ từ rơi trên má, trên mắt, trên môi
nàng. Tôi mê man lặng ngắm Trăng rất lâu, lòng kêu
rên những cảm hoài vô tận. Tưởng chừng tôi chỉ muốn
ôm xác Trăng về cùng mình, vì không chịu thấu được
sự chia ly, hiu quạnh đời đời. Tôi nghẹn ngào gọi
tên Trăng trong lúc gió buổi hừng sáng thổi lướt
trên đồi. Mặt trăng mờ nhạt tỏa xuống bóng tôi đang
gục đầu trên ngực Trăng nằm trong chiếc hòm phá
vỡ.
Trời sắp sáng rồi. Tôi còn phải đậy hòm lại, lấp
đất lên. Lần cuối cùng, tôi hôn lên đôi mắt nhắm
kín của nàng - than ôi, đôi mắt không bao giờ còn
nhìn tôi nữa hết - rồi lấy con dao nhỏ đem theo
cắt lấy mớ tóc mịn màng của Trăng. Tôi vẫn tiếc
nuối không nỡ rời đi, ôm chặt lấy hai tay nàng.
Giờ phút ấy, tôi chỉ muốn trời đất tan sập đi, thành
hư không như người trở về với cát bụi.
Tôi còn ngây ngất trước cảnh tan nát xé dạ, thì
lạ lùng thay, tay Trăng như động đậy trên tay tôi.
Và, trước sự kinh ngạc của tôi, đôi mắt nhắm cứng
của Trăng bỗng từ từ mở ra nhìn tôi. Rồi tự nhiên
đôi môi của Trăng hé mở để lộ những răng trắng tinh.
Không phải vì tôi quá cảm xúc mà bị mê hoặc đâu!
Trăng bắt đầu uốn mình như người tỉnh dậy sau giấc
ngủ đầy mệt nhọc. Và đôi mắt Trăng mở trân trân,
ngạc nhiên khi nhận thấy mình đang nằm trong hòm,
giữa bãi tha ma, và bên nàng lại có tôi.
Cái ý nghĩ Trăng bị chôn sống thoáng qua trí tôi
đánh tan tất cả bỡ ngỡ, hãi hùng.
Thế châm diêm đốt cái píp đã tắt rồi nói tiếp:
- Tôi đã đến kịp để cứu Trăng ra khỏi cái trường
hợp tàn khốc, ghê gớm ấy. Tôi tin rằng có một sức
mạnh thiêng liêng, thần bí đã nhập vào hồn tôi.
Khi đã gỡ Trăng ra khỏi đống đồ liệm, tôi cởi áo
ra, đặt nàng nằm nghỉ cho tỉnh hẳn. Trong lúc ấy
tôi nhét đồ liệm vào hòm, đậy nắp lại rồi đắp đất
lên, không để lại dấu vết gì để ai có thể nghi ngờ
rằng xác chết bị mất trộm hay người chết trong hòm
đã sống lại.
Trời vừa sáng thì tôi đã dìu Trăng về đến nhà người
bạn. Trăng kêu khát và đói lắm vì đã ba ngày đêm
ngất lịm. Uống sữa vào tỉnh hẳn người, Trăng cặn
kẽ kể lại:
- "Em đang đau bỗng mê man, nói sảng luôn
mấy ngày, rồi đến lúc nguy kịch... Có buổi sáng,
lý trí trở lại với em một cách thình lình, nhưng
thầy thuốc chứng rằng mạch em đã yếu lắm. Em cũng
tự biết đến hồi nguy ngập và hấp hối. Thời kỳ cuối
cùng, em bắt đầu thấy không đau đớn nữa, mình nhẹ
nhàng đi vào một thế giới mơ hồ. Từng lúc em có
cảm giác rằng linh hồn được tự do bắt đầu thoát
ly. Trong một cuốn sách về y học của anh cho em
mượn đọc, em nhớ có nói rằng lúc gần chết, sức mạnh
tinh thần của ta không bị đụng chạm gì đến, và ở
những người mà tâm tính vẫn giữ được cứng cỏi thì
linh hồn được thêm năng lực. Khi cơn bệnh được yên
tĩnh đôi chút thì óc được tách ra làm việc như thường.
Em đã nhận thấy đúng như thế sau vài lúc mê sảng,
hoảng hốt như cuồng tâm.
"Sau mấy hôm lịm đi, thình lình em bỗng tỉnh
trí với tất cả sự sáng suốt. Trong giấc ngủ chết,
tuy mình mẩy cứng đờ, không thể cử động được nhưng
em vẫn nghe thấy lờ mờ chung quanh. Lúc ngất đi,
em còn nghe tiếng đồng hồ đánh mười giờ, rồi như
chớp, một sự đau đớn ghê gớm, chưa bao giờ cảm thấy,
ồ ạt đến chiếm lấy người em. Cảm giác ấy tới rành
rẽ và mau lẹ như một nhát dao đâm suốt qua xương
thịt, mà còn khiếp đảm hơn nhiều.
"Trong đêm đen tối, đột nhiên em nghe đồng
hồ đánh năm giờ. Trước hết linh hồn em chịu tất
cả những sự khó khăn để thoát khỏi chốn vô ý thức.
Rồi ý nghĩ của em lần lượt theo nhau trở lại và
như muốn giật lùi. Em cố cử động nhưng không một
chân tay nào theo sự sai khiến của lý trí. Em còn
ngờ nghệch trước cơn mê lịm của thể xác im lìm thì
linh hồn bỗng sôi nổi lên, suy nghĩ một cách mau
chóng lạ thường. Trong một chớp nhoáng của tâm thần
sáng suốt, em thấy rõ trước sự kinh đảm của người
chết. Trên hai sợi dây đưa quan tài xuống địa huyệt,
xác mình đụng vào săng, còn ở trên, những người
thân yêu vứt xuống nắm đất vĩnh quyết. Và trên hòm,
có tiếng nện đất, rồi đắp mộ xong, mọi người xây
lưng lại, trở về với cuộc đời. Em tưởng tượng ra
dưới tận chỗ ở cuối cùng hết sức chắc chắn và kín
đáo, sự lạnh lẽo ghê gớm của bóng tối bất diệt.
Em nghĩ đến anh, anh yêu dấu của em ở xa xôi không
hay biết gì hết.
"Em tưởng rằng trường hợp của em không phải
là khác thường và có lẽ lúc chết ta vẫn luôn luôn
có ý thức, linh hồn còn sáng suốt trong cái thân
xác cứng đờ, người chết có lẽ phải biết qua các
lúc tẩm liệm. Trong cảnh ngộ hãi hùng ấy, nghĩ đến
đêm lạnh đời đời dưới đáy huyệt âm u, linh hồn sẽ
tiêu tán theo xác thịt hay là về đâu? Em đau đớn
nghĩ đến anh bơ vơ, cô độc, đời anh không có em
thì buồn khổ, hiu quạnh biết chừng nào. Thế rồi
em ngất đi...."
Thế kể tiếp:
- Người nhà Trăng thấy tim nàng ngừng đập, da và
môi nhợt nhạt, hai mắt nhắm nghiền, thân thể cứng
lạnh, mạch đứng, nên cho là chết thật. Vì cái chết
bề ngoài của Trăng rõ ràng như thế, thì không ai
có thể nghi ngờ và không vin vào cớ gì để nghi ngờ
rằng Trăng chưa chết hẳn. Và sự chôn lầm người còn
sống bởi đây mà ra. Chính lúc tôi đào mồ Trăng lên
cũng thấy nàng nằm trong một dáng điệu của người
chết. Sự may mắn kỳ diệu là Trăng tỉnh ra giấc ngủ
chết, cái chết bề ngoài, nhằm lúc tôi phá hòm chôn
đựng nàng.
Sự sung sướng vô cùng của chúng tôi gặp lại nhau
trong một trường hợp dị thường như thế, loài người
không có thứ tiếng gì để tả nổi.
Tôi phải giấu giếm việc Trăng được cứu khỏi bị
chôn sống, đợi nàng thật lành mạnh rồi chúng tôi
bỏ Huế vào Sài Gòn, sống xa lạ hẳn để không ai tìm
biết được cuộc tình duyên lạ lùng của Trăng và tôi.
Tôi viết một bức thư về nhà nói mình vì thích phiêu
lưu nên đã xin làm dưới tầu đi ngoại quốc. Đối với
gia đình, tôi thấy có lỗi nhưng tôi biết rõ tính
tình cương quyết cực điểm của thầy tôi không bao
giờ cho phép tôi lấy con một người mà thầy tôi đã
khinh.
Chúng tôi sống cùng nhau được mười ba tháng thương
yêu tha thiết thì Trăng chết, và lần này chết hẳn
thật. Trái tim của nàng trước kia đã yếu vì lần
chôn sống càng yếu thêm, rồi mỗi ngày thêm nặng,
và nàng đã nhắm mắt trong tay tôi.
Im lặng một lúc, Thế kết luận:
- Bây giờ anh đã rõ tại sao tôi tránh không muốn
nói đến đàn bà. Người ta chỉ một lần yêu... Sau
Bích Trăng, đàn bà đối với tôi không có gì nữa hết!
Lời Thế vừa dứt, trong im lặng, đen tối, con quạ
của chàng lặp lại: Không có gì nữa hết!
Chúng tôi ngồi yên lặng giờ lâu, và trong lắng
chìm của bóng tối u huyền, vang ngâm giọng Thế đọc
theo nguyên văn bài thơ của nhà thi sĩ Mỹ:
"Một hôm giữa cảnh đêm khua rờn rợn ta đang
mỏi mệt gục đầu trầm ngâm đọc lại mấy cuốn sách
cổ kỳ dị không còn ai tìm đến. Trong khi ta lao
đao muốn ngủ, thốt nhiên, nghe tiếng động se sẽ,
như tiếng ai gõ nhẹ vào cửa phòng ta. Ta lẩm bẩm:
"Chắc ai lại thăm gõ cửa phòng ta; chỉ thế
thôi, và không có gì nữa hết".
"à, ta nhớ lại rõ ràng, đêm hôm ấy vào khoảng
tháng chạp lạnh lùng; mớ củi tàn xơ xác nằm chơ
vơ in bóng trên mặt đất. Ta thì nóng lòng chờ trời
mau sáng vì u sầu tràn ngập cả hồn, ta cố khuây
lãng trang sách mà không được. Ta buồn rầu tưởng
nhớ đến Bích Trăng không còn nữa, nhớ đến nàng yêu
kiều lộng lẫy mà thiên tiên kêu gọi là Bích Trăng,
chờ dưới trần gian không còn có ai gọi đến tên nàng
nữa hết.
"Tiếng mơ hồ, dìu dịu, rầu rầu của mấy tấm
màn điều lao xao thấm đượm, tràn ngập hồn ta những
rùng rợn gớm ghê, mà chưa bao giờ ta đã cảm rung
như thế, - đến nỗi ta phải nhắc nhở mình luôn cho
lòng bớt hồi hộp: "Chắc khách qua đường muốn
vào đây tạm nghỉ trọ, chắc vậy chớ không có gì nữa
hết".
"Tâm trí lần lần mạnh dạn lên, rồi tôi không
ngập ngừng lâu nữa: "Ông hay bà nào ngoài đó,
tôi xin thất lỗi, số là tôi đang chập chờn ngủ thì
ông hay bà lại gõ cửa, nhưng tiếng gõ khẽ quá, tiếng
gõ cửa phòng nhỏ quá, nên tôi cũng không rõ là có
ai gõ thật hay không". Nói rồi tôi mở toang
cửa ra - ở ngoài chỉ là bóng tối đen, và không có
gì nữa hết!
"Nhìn sâu vào bóng tối u huyền, tôi đứng lặng
giờ lâu, vừa kinh ngạc, sợ hãi, nghi ngờ, tưởng
tượng những chuyện lạ lùng mà chưa bao giờ kẻ trần
gian nào dám nghĩ đến; nhưng đêm vẫn im phăng phắc,
bóng tối quạnh hiu, và chỉ một tiếng lẩm bẩm: "Bích
Trăng". Chính tôi đã lẩm bẩm gọi tên nàng và
tiếng dội thì thầm "Bích Trăng!" - Chỉ
thế thôi, và không có gì nữa hết.
"Tôi trở vào phòng đóng cửa lại, tâm hồn nóng
hực, bỗng lại nghe tiếng gõ mạnh hơn lần trước.
Tôi tự bảo thầm: "Chắc có cái gì ở cửa sổ,
ta phải tìm ra sự bí mật này. Hãy để cho lòng bớt
hồi hộp, rồi tìm ra sự bí mật này" - chỉ là
tiếng gió thổi và không có gì nữa hết.
"Tôi mở cửa sổ ra, thì một con quạ đen lớn,
một con thần ô thiên cổ, sột sạt trên cánh cửa bay
vào. Nó không tỏ vẻ gì sợ hãi, cứ nghiễm nhiên mà
vào với vẻ mặt ông hoàng hay bà chúa, đậu trên cánh
cửa phòng tôi, ngay giữa đầu bức tượng vị nữ thần;
nó đậu yên đó, và không có gì nữa hết.
"Vẻ trịnh trọng, oai nghiêm của dáng điệu
và nét mặt con chim đen nhánh làm cho tôi đang buồn
cũng phải hóa cười. Tôi nói - "Này hỡi quạ,
giống chim quái gở tự đời nào từ chốn Hoàng tuyền
thăm thẳm đến đây, dẫu cho cái đầu ngươi đã bị cạo
gọt, nhưng ta chắc ngươi không phải là một con chim
nhút nhát - vậy ngươi hãy nói cho ta biết danh hiệu
cao quý của ngươi ở chốn Hoàng tuyền thăm thẳm là
gì? " Con quạ nói: "Không có gì nữa hết!"
Tôi lấy làm lạ rằng con chim xấu xa kia lại biết
nói rõ ràng như thế, tuy câu trả lời của nó không
được nhiều ý nghĩa và hợp thời cho lắm; nhưng thử
hỏi có bao giờ ai là người đã được trông thấy một
con chim trên cửa phòng mình mà xưng danh hiệu là
"Không có gì nữa hết".
"Con quạ đứng chơ vơ trên bức tượng lạnh lùng,
chỉ nói một câu đó thôi, hình như trong đó ngụ hết
cả tâm hồn tôi lúc bấy giờ. Nó không nói thêm gì
nữa hết, nó không rung động đến mảy lông - cho đến
khi tôi nghẹn ngào, se sẽ nói: "Bạn bè tâm
huyết của ta biết bao người đã bỏ ta mà đi xa rồi;
và đến sáng ngày người cũng sẽ bỏ ta mà đi nữa,
như những lời nguyện ước cũ". Con chim lại
nói: "Không có gì nữa hết!"
"Giữa im lặng, câu trả lời đúng hợp như thế
khiến tôi thất kinh tự bảo mình rằng: Tưởng chừng
con chim này chỉ biết nói có thế, nhưng chắc đã
học được câu này của một thi sĩ ba đào, bị thần
tai họa tàn ác đánh đuổi không ngừng, khiến nên
bài thơ nào cũng chỉ quay về một điệp khúc thảm
sầu tuyệt vọng: "Thế là hết, không có gì nữa
hết!"
"Nhưng lòng đang buồn tê tái nghĩ đến con
quạ cũng phải lấy làm lạ và buồn cười, tôi liền
kéo ghế đệm đến trước mặt con chim, bức tượng và
cánh cửa; rồi gục đầu trên nhung buồn, tôi ngẫm
nghĩ, mơ màng xa xôi để tìm cho ra vì đâu con vật
trầm triệu xấu xa, ốm yếu, con thần ô thiên cổ lại
đến đây mà kêu: "Không có gì nữa hết!"
"Trong khi tôi đang trầm ngâm thì con chim
với đôi mắt sáng quắc như soi thấu tận đáy lòng;
trong khi tôi cố xét đoán nghĩ đến ngàn vạn đường,
gục đầu trên làn nhung óng ả dưới ánh đèn, màu nhung
tím óng ả dưới ánh đèn, mà xưa kia nàng đã gối đầu
nhưng ngày nay không còn nữa, than ôi, không còn
gì nữa hết!
"Đang nhiên không khí hình như bỗng dịu dàng,
ngào ngạt hương thơm tỏa ra ở một đỉnh trầm do các
vị thiên tiên từ trời hiện xuống nhẹ nhàng lướt
qua nệm lót trong phòng. Tôi la lớn: "Hỡi nhà
thi sĩ khốn khổ! Trời đã động lòng sai thiên tiên
đem xuống cho ngươi ly rượu quên sầu đỡ tiếc thương
nhớ đến Bích Trăng. Vậy thì ngươi hãy uống đi, uống
đi ly rượu quên sầu, nhớ chi mãi đến Bích Trăng
mệnh bạc!" Con quạ nói: "Không có gì nữa
hết!"
"Hỡi giống tiên tri quái gở kia! Chim hay
là quỷ nhưng vẫn là tiên tri, ngươi do ác thần sai
đến hay là bị bão táp phiêu dạt lại đây! Nhưng ngươi
đã đến chỗ trầm luân khổ ải, nơi hoang lương rùng
rợn ám ảnh này, thì ta xin ngươi thành thật nói
cho ta biết rằng ở miền Cực Lạc có chăng, có chăng
hương vị để quên được hết u sầu? Nói đi, ta van
người làm ơn nói cho ta biết với!. Con quạ nói:
"Không có gì nữa hết!"
"Hỡi giống tiên tri quái gở kia! Chim hay
là quỷ nhưng vẫn là tiên tri, dưới bầu trời ngươi
với ta cùng sống, cùng thờ một đấng Thượng đế, xin
ngươi hãy nói cùng tâm hồn sầu khổ vô hạn này rằng
một ngày kia ở trên Thiên đàng vời vợi, ta có còn
lại được âu yếm người con gái thanh tiết mà thiên
tiên đã gọi là Bích Trăng, âu yếm một người con
gái yêu quý lộng lẫy mà thiên tiên gọi là Bích Trăng!
Con quạ nói: "Không có gì nữa hết!"
"Tôi dựng đứng người hét lên: "Thôi thôi
câu nói này là dấu vĩnh quyết giữa người và ta,
dầu ngươi là chim hay là quỷ! Ngươi hãy trở về trong
gió bão, chốn Hoàng tuyền thăm thẳm, ngươi đừng
có để lại một mảnh lông đen nào của ngươi như là
ghi sự láo xược, nguyền rủa đất trời của ngươi.
Hãy để mặc ta sầu thảm một mình, ngươi hãy rời khỏi
bức tượng ở phòng ta ! Ngươi đừng ở lại đây mà đâm
xé trái tim ta nữa! Hãy đi mau, ngươi đừng để cái
bóng đen nghì nghìn thu thiên cổ in hình lên cửa
phòng ta!" Con quạ nói: "Không có gì nữa
hết!"
"Nói thế rồi nó vẫn luôn luôn đứng yên trên
bức tượng nhợt nhạt của vị nữ thần, ngay trên cửa
phòng tôi. Hai con mắt của nó giống đôi mắt hung
thần đang nghĩ ngợi; ánh đèn trôi chảy trên mình
chiếu bóng nó xuống đất - và tâm hồn ta trong cái
bóng là là như nằm chết đó; không biết bao giờ bay
lên được nữa - không bao giờ nữa hết!"

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|