|
Kinh
Dị
Bồ Giang Tuyết Điểu
Căn Nhà Trên Đường An Địa
(Truyện này được chuyển ngữ từ truyện The House
on Stillcroft Street của Joseph Payne Brennan trong
tập truyện Mad Scientists - An Anthology of Fantasy
and Horror do Stuart David Schiff chọn lựa. Joseph
P. Brennan là một tác giả mới nhưng rất xuất sắc
trong lãnh vực viết truyện kỳ bí. Truyện của ông
thật đơn giản nhưng cũng thật lạnh xương sống. Không
giống với cách cấu kết của các truyện cùng thời,
truyện này viết về những loài thảo mộc, trong đó
cỏ cây trò chuyện với người chứ không phải ngừơi
nói với cây cỏ. )
Âm Ly là một
thị xã nhỏ, khuất nẻo mà một du khách bình thường
sẽ không bao giờ để ý đến. Vài năm trước đây còn
có con lộ chánh chạy ngang qua, nhưng bây giờ một
xa lộ bốn "lanes" đã được xây thêm cho
xe chạy với vận tốc nhanh hơn. Con lộ cũ trở nên
hoang vắng, hầu như không còn xe nào lui tới con
đường nhỏ có tấm bảng phai nhạt vì sương gió đề
tên "Lối rẽ vào thị xã Âm Ly".
Ông bạn Huỳnh Hắc mà tôi quen biết vì cùng là hội
viên của một câu lạc bộ, đã giới thiệu với tôi về
cái địa danh này. Ông ta sau khi chộp được một "cú
áp phe" lớn tại thị trường chứng khoán Wall
Street mấy năm trước, trở thành giầu có, dư giả
tiền bạc nên đã quyết định về hưu non, sống một
cuộc đời nhàn tản. Lúc đó tôi còn là một nhà văn
vô danh nghèo kiết xác so với ông bạn họ Huỳnh,
nhưng không hiểu vì lý do đặc biệt nào đó ông ta
tỏ vẻ rất ưa thích và muốn kết thân với tôi.
Chúng tôi thường gặp nhau trong các buổi ăn chiều,
đôi lúc ngồi nhâm nhi uống rượu đánh cờ và tán dóc
với nhau. Một hôm trong câu chuyện tôi nói về ý
định muốn đi nghỉ hè mà không biết đi đâu, ông Huỳnh
nêu ý kiến bảo tôi nên đến thị xã Âm Ly thử xem
sao. Ông nói một cách lơ đãng, như không để ý đến
điều mình nói cho lắm:
-- Âm Ly thật ra cũng chẳng có gì đặc biệt cả,
tẻ nữa là đằng khác. Nếu ông muốn đi nghỉ hè ở xa
thì chỗ này không thích hợp mấy vì nó chỉ cách đây
trên 40 dặm nhưng thật yên tĩnh và thanh bình. Tìm
chỗ trọ không khó. Nếu ông không để ý phiền hà thì
có thể nhập bọn với tôi trong khi chờ đợi đi tìm
chỗ trọ. Tôi có một căn nhà nhỏ ở đó. Hơi chật một
tí, nhưng cũng có phòng dành riêng cho khách. Ông
và tôi có thể ở tạm trong thời gian chờ ông tìm
được chỗ vừa ý.
Hai tuần sau, tôi lái xe theo con đường cũ hoang
sơ, quẹo vào nơi có tấm bảng đề chữ "Lối rẽ
vào thị xã Âm Ly", đi thêm vài dặm nữa thì
đến một tỉnh lỵ nhỏ kiểu như một tỉnh miền Tân Anh
Cát Lợi, xinh xắn và mơ màng như cô gái còn trong
cơn ngái ngủ. Thị xã này đã may mắn tránh khỏi cái
nạn bị đám người "nghỉ hè hằng niên" thường
rất ồn ào đến quấy nhiễu.
Cái "căn nhà nhỏ chật chội" của ông Huỳnh
thật ra là một căn nhà kiểu Georgian tuyệt đẹp,
có cổng vào xây bằng cột kiểu Doric.
Khoảng một giờ sau tôi đã tắm rửa sạch sẽ,ra ngồi
với chủ nhân ở sân sau ngó xuốn vườn kiểu Anh-Cát-Lợi
có rào che kín chung quanh.
Tôi ngồi xuống, yên vị trong cái ghế bành êm ái,
nhâm nhi ly rượu mạnh pha soda. Chỉ một lúc sau
cái cảm giác êm đềm dễ chịu từ từ lan ra khắp cơ
thể, xâm chiếm từng tế bào trong da thịt, tôi cảm
thấy muốn buông xuôi mọi ý chí năng động, thả mình
hưởng thụ cái nhàn hạ này. Tôi thấy không còn cần
phải đi đâu xa nữa, không cần phải kiếm chỗ trọ
nào khác và không còn có ý định vùi đầu vào viết
như đã định trước nữa.
Ông Huỳnh như đoán biết cái tâm ý của tôi, bèn
nói:
-- Tôi nghĩ rằng, nếu ông chịu được chật chội thì
không cần phải đi đâu nữa. Cứ ở đây. Tôi có một
bà giúp việc mỗi ngày đến lo cơm nước buổi sáng
và buổi trưa, còn buổi chiều thì chúng ta dùng bữa
tại quán Hắc Sư. Quán này tuy là nhà hàng duy nhất
ở Âm Ly nhưng làm đồ ăn khá lắm.
Tôi thật cảm động trước tấm thạnh tình của ông,
vì dù nằm mơ đi nữa tôi cũng không dám nghĩ đến
việc ông có thể chấp nhận một việc nhiều phiền hà
như vậy. Nhưng một lần nữa như biết được ý nghĩ
của tôi, ông nói một cách quả quyết làm tôi yên
tâm:
-- Không có gì phiền hà đâu. Trái lại chính ông
là người sẽ giúp tôi đấy chứ. Bây giờ tôi chẳng
có gì phải lo nghĩ cả, lúc nào cũng dư thì giờ,
thành ra cuộc sống đôi lúc cũng không có gì thú
vị lắm. Ông ở đây thì tuyệt, chúng ta có thể ngồi
đánh với nhau vài ván cờ thật hứng thú mà không
phải lo canh đồng hồ!
Rót thêm rượu vào ly cho tôi, ông tiếp:
-- Lẽ dĩ nhiên lúc nào ông muốn ngồi vào bàn viết
thì xin cứ tùy nghi. Tôi là người rất tôn trọng
nghề văn.
Thế là xong. Tôi hiểu ông sẽ tổn thương tự ái nếu
tôi bàn thêm về vấn đề tiền bạc trả cho việc ăn
ở này. Tôi nghĩ ra một cách là khi đến ăn tại quán
Hắc Sư tôi sẽ dành trả tiền để bù vào đó.
Mùa hè qua thật êm đềm. Thường ngày tôi ngồi viết
vài giờ đồng hồ vào buổi sáng sớm và dạo quanh tỉnh
vào buổi chiều. Tới giờ, về tắm rửa, ngồi uống một
vài ly rượu khai vị, tán gẫu với ông Huỳnh trước
khi đi ăn chiều tại quán Hắc Sư.
Sau bữa ăn trưa, tôi thường lang thang đi dạo dọc
theo những đường phố nhỏ đầy tàng cây bóng mát của
thị xã Âm Ly. Ở đây, cái cảnh sắc an bình, cái không
khí trong lành, cái cảm giác bền vững toát ra từ
những ngôi nhà cổ lâu đời làm tôi thấy như đang
sống đắm mình trong một thế giới mộng ảo nào khác.
Việc viết lách của tôi cũng tiến triển đúng theo
chương trình đã ấn định. Da thịt tôi trở nên hồng
hào, và tôi thường thắng nhiều hơn trước trong những
bàn cờ đánh với ông Huỳnh. May mắn cho tôi, ông
ta là người có tinh thần thể thao, tuy thua nhưng
không bao giờ nổi tánh xấu. Sự tiến bộ trong các
nước cờ tướng của tôi được ông coi như một thách
thức mới đầy thú vị, và tôi nhận thấy cả hai chúng
tôi đều đạt kỹ thuật cao hơn xưa. Đến bây giờ nghĩ
lại, tôi vẫn còn cảm thấy cái thích thú khi nhớ
tới những ván cờ sôi nổi kỳ phùng địch thủ này.
Một buổi trưa trời gắt nắng, đang lang thang đi
dưới hàng cây rợp bóng mát, tôi bỗng chú ý đến một
tấm bảng ghi: Đường An Địa. Cái tên đường là lạ
khêu gợi lòng hiếu kỳ của tôi#. Tôi quẹo vào. Con
đường này hoàn toàn không giống các đường khác tại
Âm Ly. Dọc theo hai bên đường toàn là những ngôi
nhà cổ thật yên tĩnh,chung quanh có vườn cây rợp
mát với hai hàng cây cổ thụ cành lá xum xê. Con
đường vắng lặng, không một bóng người qua lại. Đi
gần đến cuối đường, mới thấy đó là một con đường
cụt, muốn về, tôi phải quay trở ngược lại. Tôi đi
tới cuối đường, băng ngang qua lề bên kia để đi
trở về. Đó là lần đầu tiên tôi để ý đến ngôi nhà
ở cuối đường. Bề ngoài trông cũng bình thường, chỉ
là một ngôi nhà gạch hai tầng, nhưng điều khác là
chung quanh nhà mọc lan tràn những loài thảo mộc
đủ loại lớn nhỏ, hình dáng ngoại lai xa lạ, không
thấy có dấu hiệu được một bàn tay nào chăm sóc cả.
Tôi đặc biệt chú ý đến một loại cây leo trường
xuân có cành giây lớn bao phủ gần như toàn diện
mặt tiền ngôi nhà, lấp cả cửa sổ . Tất cả như bị
phủ kín, chỉ thấy được cửa ra vào. Tôi biết nhiều
giống cây leo nhưng chưa bao giờ bao giờ lại thấy
có cây leo to như vậy. Lá cây xanh tốt, phản chiếu
ánh nắng mặt trời rọi xuống xuyên qua kẽ lá, ánh
lên mầu tim tím.
Ngay lúc đứng ngắm nghía cái cây leo bất thường
này, tôi chợt thấy khuôn mặt một người đàn ông đầu
tóc bạc trắng, từ bên trong khung cửa sổ ở trên
lầu đang đưa mắt nhìn ra ngoài. Khung cửa sổ cũng
bị dây leo che khuất, trong tích tắc khi tôi nhìn
lại, thì khuôn mặt ấy đã biến đâu mất không để một
dấu vết nào cả. Tôi bỏ về và đi ngược trở lại ngược
theo đường An Địa ra trung tâm Âm Ly.
Buổi chiều vào giờ uống rượu khai vị , tôi nhắc
đến chuyện trên thì được ông Huỳnh cho biết:
-- Đó là căn nhà của ông Phạm Minh, một nhà thảo
mộc học có tiếng. Ông ta thường đi du hành khắp
thế giới mang về các loại cây hiếm. Ông ta có một
khu vườn cho khách thăm viếng, nhưng mấy năm gần
đây ông bị bịnh và bây giờ như ở ẩn vậy. Ít người
gặp ông ta. Ông đóng cửa ở trong nhà để kệ cây cối
mọc tùm lum. Tiếc thật.
Ông Huỳnh ngừng nói, nhấp một ngụm martini, một
lúc sau như để đắn đo rồi mới tiếp:
-- Ông ấy có họ xa với tôi, cho tôi giữ chìa khóa
để vào nhà đó nữa. Nhưng tôi không hề nghĩ đến việc
dùng nó. Tôi thích được để yên nên tôi cũng trọng
sự riêng tư của người khác.
-- Ông nói đúng, tôi bàn góp, nhưng ông có nghĩ
rằng ông ấy đã bỏ bê nhà cửa một cách quá đáng không?
Căn nhà này chả mấy chốc sẽ biến mất trong đám rừng
cây leo.
Ông Huỳnh nhún vai:
-- Tôi chủ trương là ai cũng có cái quyền điên
khùng theo ý riêng của mình, miễn là đừng đụng đến
quyền của người khác. Nếu me-sừ Minh muốn sống trong
cái rừng của ông ta thì đó là quyền của ông ta.
Tôi biết ý, không đề cập đến vấn đề này nữa, nhưng
cứ một hoặc hai ngày tôi lại thấy mình đi lơ vơ
về hướng đường An Địa, tôi cũng nghĩ rằng có lẽ
cái ông Phạm Minh già đáng thương kia đang nguyền
rủa sự phá quấy của tôi, như ruồi thấy mật bu lại,
làm phiền rộn ông. Nhưng căn nhà kỳ bí đầy cây phủ
kia có hấp lực lôi cuốn tôi như nam châm hút sắt
vậy.
Mùa hè nóng bức năm ấy không làm cho cây leo giảm
cường độ mọc mạnh thêm. Loại cây leo trường xuân
thường kỵ nắng, nhưng vì căn nhà luôn được bóng
mát của hai hàng cây du to lớn trồng hai bên đường,
nên cây leo này không phải chịu nắng rọi trực tiếp.
Các lá cây năm nhánh ngày càng rậm ra, che kín cửa
sổ, nên sau lần đầu, tôi chỉ thấy cái bóng đầu bạc
trắng một hai lần nữa mà thôi. Tôi rất thích thú
theo dõi cây cối thảo mộc tăng trưởng, tôi càng
kỳ thú hơn khi thấy một người tự cho phép để mặc
cho cây cỏ mọc tự do che khuất nơi mình ở.
Mùa hè đã trôi qua, Ông Huỳnh càng trở nên khó
tính hơn, tôi thấy hình như có cái gì làm bận tâm
ông. Một đôi lúc tôi bắt gặp ông bẳn gắt và tài
nghệ chơi cờ của ông xuống dốc thấy rõ. Cuối cùng
một hôm ngồi uống rượu mùi với tôi, ông lại đề cập
đến vấn đề:
-- Phiền nhiễu quá sức, ông biết không, tôi hơi
lo cho ông Minh này. Mấy người giao hàng chưa gặp
ông ấy cả tuần nay rồi. Thơ từ chất cả đống bên
ngoài.
Rồi quay sang phía tôi ông hỏi:
-- Ông có dịp đi ngang đường An Địa lúc gần đây
không?
Tôi biết rõ là ông cũng biết tôi thường đi xuống
phía đó, nên trả lời:
-- Cứ vài ngày là tôi thả bộ ngang. Cửa sổ bị cây
leo phủ kín mít, và tôi không thấy bên trong có
động tĩnh gì.
Tôi nhấp một hơi rượu rồi tiếp:
-- Lẽ dĩ nhiên là không ai có thể thấy gì trong
đó được. Cửa sổ với đám giây leo mọc một cách tham
lam che phủ kín mít như vậy thì dù cho bên trong
có tiệc tùng đông đảo cả trăm người đi nữa thì bên
ngoài cũng chẳng có ai biết đâu.
-- Chữ ông dùng lạ nhỉ.
-- Chữ nào?
-- Chữ tham lam ấy mà.
Ông ngừng ở đó, một lúc sau với tay lấy thêm rượu
rót vào ly cho tôi rồi nói:
-- Tôi nghĩ tôi phải làm một cái gì đây.
Tôi gật đầu đồng ý:
-- Tôi cũng nghĩ thế, tôi biết cái ý tưởng xâm
phạm đời tư người khác ông không ưa tý nào, nhưng
nếu chỉ đến coi ông lão có làm sao không thì có
gì là tai hại đâu.
Ông Huỳnh ngả người sau ra miệng ầm ừ:
Vậy thì ngày mai Ông và tôi đến đó,tôi sẽ gọi cửa,
nếu không ai trả lời thì tôi sẽ dùng đến cái chìa
khóa mà tôi có đây.
Ngày hôm sau, trời vẫn nóng nực như cũ. Sau bữa
ăn trưa nhẹ, chúng tôi kéo nhau đến nhà ông Phạm
Minh trên đường An Địa.
Mới một ngày qua đi mà tôi có cảm tưởng những lá
mầu xanh tím to lớn đã mọc dài thêm ra. Chúng bò
tràn lan khắp nơi. Leo theo máng xối, bò lên nóc.
Các rễ nhỏ bám chặt vào ống máng, dính vào vách
tường gạch, chui vào khung cửa sổ. Cả căn nhà như
được gói trong cái bọc dây leo dầy cộm.
Ông Huỳnh nhấn chuông nhưng không ai trả lời. Sau
khi đợi mươi phút, ông rút chiếc chìa khóa ra, miệng
lầm bầm:
-- Ông biết đấy, tôi không ưa làm như thế này chút
nào.
Chiếc cửa kêu lên răng rắc khi bị đẩy vào. Rễ cây
leo đã luồn qua khe cửa bít chặt ngay cả các khe
nhỏ giữa khung cửa và cánh cửa.
Lối vào xông lên một mùi ẩm mốc rêu phong. Ông
Huỳnh gọi lớn: "Minh ơi!". rồi lại tiếp
tục gọi sau mỗi lần chờ trả lời, nhưng vẫn im lìm.
Ông Huỳnh đưa tay đóng cánh cửa chính lại, bỏ chìa
khóa vào túi quần ông bảo:
-- Có lẽ mình phải lên lầu thôi.
Tôi theo sau ông Huỳnh đi lên cầu thang. Một mùi
hôi nồng nặc xông lên.Đến tầng trên, ông Huỳnh ngó
quanh quất, có vẻ như người lạc đường:
-- Mấy năm rồi chưa đặt chân đến đây. Quên mất
cái phòng mà ông Minh ở rồi.
Sau cùng ông chọn căn phòng cuối phía bên phải,
nằm ngó ra đường. Ông ta gõ cửa, nhưng vẫn không
có ai trả lời. Ông đập cửa đùng đùng kêu lớn tiếng:
"Minh! Huỳnh Hắc đây". Im lặng.
Ông vặn nắm cửa, cửa khóa: "Phải phá cửa ra,
chứ tôi không có chìa khóa các phòng này!".
Sau một phút ngần ngại, ông lùi ra sau lấy trớn,
dùng cái vai khổng lồ húc vào cánh cửa. Cánh cửa
mở bung ra sau tiếng gỗ và kim khí gẫy bể. Chúng
tôi bước vào trong căn phòng nửa sáng nửa tối, không
ai thốt lên được lời nào.
Trong đám mầu xanh lục, mờ mờ tranh tối tranh sáng
là hình thù một người lọt thỏn trong cái ghế bành
cách cửa sổ khoảng một thước tây. Cái hình thù này
bị lá cây leo năm cánh khổng lồ bao trùm lấy chỉ
thấy lờ mờ cái hình người. Khoảng một phút hay hơn
nữa, tôi như bị mọc rễ đứng cứng đơ tại chỗ vì khiếp
đảm, cái hình thù đó cũng không nhúc nhích. Rồi
tôi thấy nó cử động. Nó đứng lên với một tiếng rít
nhỏ thoát ra từ miệng nó.
Các lá cây leo mầu tím xanh giống như mầu da thịt
lập tức hướng về phía chúng tôi như bị nam châm
hút. Rồi cái hình thù ấy rơi trở lại ghế ngồi, nhưng
cái tiếng rít lanh lảnh, không giống tiếng người
kia vẫn phát ra không ngừng. Các lá cây leo tiếp
tục lao xao. Có thể do đầu óc tôi tưởng tượng, nhưng
tôi có cái cảm giác thật rõ rệt là nhánh cây leo
rời khỏi ghế, bò xuống dưới sàn, và bắt đầu trườn
về phía chúng tôi.
Ông Huỳnh chợt htỉnh, lấy tay xô tôi về phía cửa
và hét lên:
-- Đi ra nhanh lên! Chạy ra cửa mau!
Tôi đâm bổ ra cầu thang, ông Huỳnh chạy sát theo
sau. Kỳ lạ là ngay trong tình cảnh này, tôi chợt
thấy đây không phải là con người ông Huỳnh tôi thường
biết, hay nghĩ rằng mình đã biết. Khi ra tới ngoài
rồi, tôi quay lại bảo ông:
-- Trời đất ơi, ông Huỳnh ! Ông sắp làm cái quái
quỉ gì thế?
-- Rồi ông sẽ thấy.
Tôi đi theo ông vòng ra sau nhà, chật vật với đám
lá cây rậm rạp. Ông Huỳnh vừa đi vừa chửi thề, khua
tay chân vạch đám lá cây mở đường đi tới một căn
nhà nhỏ chứa đồ gì đó . Căn nhà nhỏ bé này cũng
bị cây phủ kín chung quanh trông như một hang động.
Ông Huỳnh mở cửa lách vào trong. Tôi đứng chờ, ngạt
thở trong đám cây cỏ dầy đặc. Một lát sau ông Huỳnh
trở ra trong tay cầm cái rìu nặng, tuy lưỡi đã rỉ
sét nhưng cái cán trông còn chắc lắm. Chúng tôi
vạch đám lá cây trở ra phía trước . Tôi có cảm tưởng
như cái đám cây leo xum xê ấy phủ chùm lên chúng
tôi. Đến khi trở lại trước cửa nhà, tôi mới hiểu
ý của ông Huỳnh. Ông len vào trong, xục xạo tìm
cho ra cái thân chính của cây leo. Tôi biết là vô
lý nhưng có cảm tưởng cái cây leo như biết được
ý đồ của ông Huỳnh. Những lá cây leo to bản như
những cái quạt phất vào mặt ông ta. Tôi nhìn thấy
rõ ràng một hoặc hai nhánh giây vươn ra cuốn chặt
vào vai áo ông Huỳnh. Lập tức ông vung rìu lê chém
mạnh vào thân cây. Tôi thấy ông giật bắn người lên,
bước lùi ra sau,ông ngó chừng chừng vào cái thân
cây bị chém sâu qúa nửa.Chùi mồ hôi đọng trên mắt,
tôi nhìn chăm chú hơn vào thân cây. Một giòng chất
lỏng đỏ thẫm như máu ứa ra từ thân cây leo Ông Huỳnh
tiếp tục vung rìu lên chém tới tấp không ngừng tay.
***
Ở Âm Ly, ông Huỳnh là người quen biết nhiều nên
đã dàn xếp tránh hết báo chí phỏng vấn, nhà chức
trách , điều tra phiền nhiễu. Chỉ có một mẩu tin
ngắn thông báo về cái chết của ông Phạm Minh vì
bệnh tim. Đám ma cũng rất đơn giản, chỉ có ít thân
nhân tham dự, và nắp quan tài được đóng kín. Ông
Huỳnh là người thừa kế gia tài, ông đã thuê người
chặt hết cây cỏ quanh nhà cho sạch tận gốc.
Mãi về sau, khi gặp lại tôi tại hội quán, ông Huỳnh
mới trở lại đề tài:
-- Ông biết không, mẫu các loại trường xuân khổng
lồ đó đã được gửi tới các phòng thí nghiệm thảo
mộc học khắp nơi trong nước, nhưng không chỗ nào
biết rõ xuất xứ! Có lẽ Phạm Minh đã lấy được nó
từ chỗ rừng sâu nước độc nào đó không ai biết. Trông
nó giống loại trường xuân bình thường Hedera canariensis,
nhưng lại có những cái khác biệt rùng rợn mà chúng
ta đã được chứng kiến. Nhánh rễ giây leo chui qua
các khe cửa sổ phòng ông Minh. Tôi chỉ đoán vì không
biết rõ thứ tự những gì đã xẩy ra. Có lẽ ông ta
bị lên cơn đau tim bất thình lình, ngồi sụm ngay
vào chiếc ghế bành gần đó, rồi ngồi luôn không đứng
dậy được nữa. Cây trường xuân khi len vào trong
nhà đã bò về phía ông Minh ngồi và những nhánh giây
leo đã bám vào người ông, các rễ giây leo nhỏ như
sợi tóc bắt đầu len vào da thịt ông. Lúc đó ông
vẫn còn sống,chắc là phải đau đớn lắm.
Ông Huỳnh ngừng nói rót rượu vào ly, nhấm nháp
một tý rồi nói tiếp:
-- Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng sự đau đớn này cũng
không kéo dài lâu. Ngay cả những cái chính mắt mình
nhìn thấy cũng có thể bị sai lầm đi nữa. Lúc chúng
ta bước vào thì ông Phạm Minh đã chết rồi.
Tôi lên tiếng phản đối:
-- Nhưng tôi thấy rõ ràng là ông ta đứng dậy từ
chiếc ghế bành mà.
Ông Huỳnh nhíu mày lại vẻ mặt không đồng ý:
-- Vâng, tôi có thấy. Nhưng... đúng đấy... ông
phải hiểu đó là một loại cộng sinh. Nói khác đi,
trên phương diện y học thì Phạm Minh đã chết khi
chúng ta đến nơi. Các rễ cây trường xuân đã bò vào
tới trong não bộ ông ta, kích thích các giây thần
kinh, làm giây thần kinh như sống lại. Nói khác
đi, ông ta như một xác chết biết đi, bị điều khiển
từ bên ngoài.
Tôi lắc đầu chưa chịu thua:
-- Khó tin những điều ông đang giải thích. Thế
còn tiếng kêu rít lên đó ... thì sao?
Ông Huỳnh gật đầu chấp nhận sự kiện tôi nêu ra:
-- Tôi biết. Nhưng ngay cả điều này cũng có thể
giải thích được. Cuộc giảo nghiệm tử thi cho thấy
các nhánh rễ nhỏ như sợi tóc đã ăn vào tới óc ông
ta và có thể kích thích trung tâm phát âm ở đó,
mặc dù ông ta đã chết rồi.
--Thế còn cái chất lỏng đỏ như máu ứa ra từ rễ
cây?
Ông Huỳnh nhăn mặt :
-- Biết thế nào ông cũng nêu câu hỏi đó. Chúng
tôi đã nhờ phòng thí nghiệm phân tích. Vâng, đó
là máu, có một phần máu người trong đó.
Tôi biết không thể tiếp tục bàn cãi thêm được nữa.
Ông Huỳnh, theo tôi nhận xét, đã kết thúc đề tài
này sau câu giải thích vừa rồi.
Tới bây giờ, mỗi lần đến nhà một người quen nào
có giây trường xuân leo trên bờ tường,tôi tức khắc
thúc chủ nhân phải nhổ bỏ đi. Có lẽ tôi vẫn còn
bị ám ảnh về chuyện này quá nhiều. Một số người
quen biết đã coi tôi là một người có đầu óc bỡn
cợt bất bình thường.
***

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|