

Bữa
Tiệc Nhân Sinh - Phạm Lưu Vũ
Đã
bao nhiêu năm lăn lộn trong nghề, kinh nghiệm và
sự từng trải đã rèn luyện cho ông không hề bị bất
ngờ trước bất cứ sự bất ngờ nào. Vậy mà hôm nay
ông kinh ngạc. Trước mặt ông là hồ sơ một vụ án.
Một vụ án nghiêm trọng mới xảy ra cách đây một tuần.
Có lẽ nào đó là điều có thật. Sao nó giống đến thế,
giống đến từng chi tiết... Cứ như thể có sự xui
khiến của định mệnh...
Cách đây ba mươi năm, ông là một chàng trai mới
bước chân vào nghề. Cũng như nhiều người khác, ông
có đủ tuổi trẻ, sự khôn ngoan và đầy tham vọng.
Bằng sự thông minh trời phú của mình, ông nhanh
chóng nhận ra rằng, con đường tiến thân nhanh nhất
là phải có thành tích, có chiến công. Lúc bấy giờ
con người đang ở vào cái thời mà sự hô hào có thể
làm mù cả lý trí, sự thăng tiến có thể bất chấp
cả lương tâm. Người ta bằng mọi cách thi nhau lập
thành tích, chiến công. Từ những nông dân suốt ngày
bì bõm sau đít con trâu đến những người lính xông
pha nơi chiến trường, từ những giáo sư đeo mục kỉnh
trên giảng đường đến những đứa trẻ chăn bò hay làm
liên lạc cho du kích... Phương châm là người người
chiến công, nhà nhà chiến công. Và, trong cái hội
chứng “chiến công” ngút trời ấy, những kẻ khôn ngoan
như ông không khó khăn gì mà không nghiệm ra rằng
cuộc đời này, cái gọi là “sự thật” không quan trọng
bằng những trang báo cáo, rằng người chứng kiến
những chiến công (nếu có) không quan trọng bằng
kẻ đọc báo cáo về nó. Rằng nó nhất thiết phải đi
từ công đoạn hiện hữu đến văn tự. Mà xem ra, cái
công đoạn văn tự lại tỏ ra quan trọng nhất. Thậm
chí, chỉ cần một sự hỗn độn vừa đủ, là có thể bỏ
qua cả sự thật, tiến thẳng đến văn tự. Một "chiến
công" chỉ có trong văn tự! Thì đã sao?
Thế là ông bắt đầu tưởng tượng ra một vụ án và tiến
hành lập hồ sơ về nó. Một vụ án quan trọng, có đầy
đủ các yếu tố từ tội ác đến chính trị, có ảnh hưởng
đến vận mạng, an ninh, sự tử tế của từng con người
đến cả thể chế... Tất nhiên, ông là người khám phá
ra, người duy nhất có thành tích lập ra cái "chiến
công" ấy.
Bằng tất cả năng lực của mình, ông tạo cho vụ án
tưởng tượng ấy một tính chất vừa nghiêm trọng, ly
kỳ, vừa như thật. Hồ sơ vụ án qủa thực không ai
có thể nghi ngờ bởi nó có đủ cả thời gian, địa điểm,
có đủ tính lôgic, sự suy diễn và qui nạp của một
tác phẩm hình sự.
Phần "văn tự" đã trọn vẹn. Vấn đề là phải
có "thủ phạm". Ông bỏ hàng tháng trời
để nghiên cứu. Lập ra hàng chục phương án khác nhau.
Cuối cùng, ông chọn một phương pháp tối ưu: Mua!
Ông sẽ mua thủ phạm. Một kẻ sẽ là thủ phạm, sẽ ra
tòa và sẽ lĩnh án. án càng nặng thì "chiến
công" của ông càng lớn.
Không biết do quỉ kế hay do vận may của mình, ông
đã thành công. Vụ án tưởng tượng đã có thủ phạm
bằng xương, bằng thịt. Phiên tòa đã diễn ra. Thủ
phạm đã lĩnh án. Nó lĩnh một trong hai hình thức
cao nhất: Chung thân.
Đã ba mươi năm trôi qua...
Vậy mà bây giờ, những điều tưởng tượng ngày xưa
ấy có vẻ mới xảy ra trong thực tế. Cấp dưới vừa
trình lên ông một tập hồ sơ. Ông đọc đi, đọc lại,
càng đọc, ông càng kinh ngạc. Vụ án xảy ra giống
hệt đến từng chi tiết, kể cả sự mô tả đặc điểm,
tên tuổi thủ phạm. Chẳng lẽ đây là sự trùng lặp?
Theo thói quen, ông bắt đầu nghi ngờ.
Hay là có một kẻ hậu sinh láu cá nào đó đã lặp lại
cái việc ngày xưa ông làm để cầu tiến thân? Nếu
vậy thì trong cuộc đời hoạt động của mình, ông đã
đọc bao nhiêu cái văn tự, bao nhiêu cái báo cáo
giả kiểu ấy rồi? Bao nhiêu kẻ đã tiến thân bằng
cùng con đường như ông?
Hay là ngày xưa, ông có một khả năng tiên cảm thiên
tài. Ông đã vô tình mô tả một vụ án sẽ diễn ra trong
tương lai, kể cả thủ phạm của nó? Nếu quả như thế
thì ngành lập pháp phải ghi thêm một trường hợp
hi hữu: Phiên tòa được mở trong quá khứ để xét xử
một vụ án xảy ra trong tương lai. Bộ môn triết học
phải bổ sung thêm một luận điểm: Quá khứ chịu hậu
quả của một sự việc diễn ra trong tương lai. Lôgic
nhân sinh của con người phải tin vào một sự thật:
người ta có thể đi tù trước rồi phạm tội sau!
Nói gì thì nói, nhất định ông phải cho kiểm tra
ngay tên tù chung thân ngày ấy.
Tên tù chung thân, kẻ "thủ phạm" mà ông
đã mua ngày xưa ấy bây giờ ra sao?
Suốt ba mươi năm qua, sự quan tâm duy nhất của ông
đối với nó là để ý gạt nó ra khỏi danh sách đề nghị
ân xá mỗi khi có dịp. Nói của đáng tội, đôi lúc
ông cũng cảm thấy day dứt. Song, ông lập tức gạt
ngay sự mềm yếu ấy đi. Nó, cái phần "sự thật"
duy nhất trong vụ án "chiến công" của
ông đã bị cầm tù, phải bị cầm tù. Còn ông, có thể
coi là hiện thân của sự lừa dối thì thỏa sức vùng
vẫy ngoài đời. Những lúc một mình, ông không ngần
ngại gì mà không thẳng thắn so sánh một cách thú
vị như vậy.
Thế nhưng bây giờ, cái "sự thật" bị cầm
tù ấy có nguy cơ sổ lồng. Ông sợ hãi. Cả sự nghiệp
mà ông theo đuổi có nguy cơ sụp đổ, sụp đổ tan tành.
Ông quyết định phải tới ngay trại giam X; nơi tên
tù chung thân ấy đang thụ án để tự mình xác minh.
* * *
Đã bao nhiêu năm ở trong tù rồi,
gã không còn nhớ nữa. Ngay cả tuổi của gã, gã cũng
quên nốt. Con số duy nhất mà gã nhớ được là số tù
mà gã đeo. Người ta thường đọc nó hàng ngày lúc
điểm danh. Gã đã trải qua bao nhiêu nhà tù, tiếp
xúc bao nhiêu hạng người. Có người ở với gã một
thời gian rồi biến mất, hoặc bị xử bắn, hoặc được
ân xá... Bây giờ, gã chỉ còn nhớ mang máng cái hồi
ấy.
Gã không cha, không mẹ, không nhà cửa. Thậm chí
gã không bao giờ tự hỏi làm sao mình có ở trên đời.
Gã sống bằng cách ngửa tay ăn xin và lê la nhặt
nhạnh ở các hàng cơm. Nơi trú thân của gã là cái
hốc cây ở góc công viên. Một hốc cây to tướng như
một cái hang. Ban ngày gã đi kiếm ăn, tối tối lại
chui vào đấy ngủ.
Thế mà gã rất sợ chết. Song, đối với một kẻ đầu
đường, xó chợ bẩm sinh như gã thì cái chết đe dọa
thường trực nhất chỉ là chết đói. Không hiểu tại
sao, gã lại có một sự tin tưởng mãnh liệt rằng con
người, đồng loại của gã không bao giờ để gã chết
đói. Chỉ cần có người khác nhìn thấy là không thể
bị chết đói nữa. Ngưới ta sẽ cứu...
Biết như thế nên gã rất sợ bị "chết đói quên'
trong hốc cây. Những đêm đói quá, gã phải lần ra
vỉa hè nằm ngủ để, nói vô phúc, có lên cơn hấp hối
vì đói cũng có người nhìn thấy.
Và quả tình có một lần như thế đã diễn ra. Lúc ấy
gã lả đi, mê man không biết gì nữa. Song, toàn bộ
cả thể gã thì chưa cam chịu. Tất cả chân tay, đầu
cổ của gã đồng loạt diễn cái động tác kêu cứu. Đồng
loạt chứng tỏ cho thiên hạ rằng chúng tôi sắp chết
đói đến nơi. Có một người đã cứu gã. Còn hơn thế
nữa, người ấy mang gã tới một hàng cơm.
Sau khi đã hồi sức, người ấy hỏi gã có muốn không
bao giờ chết đói nữa không? Tất nhiên là gã vô cùng
sung sướng. Có vẻ như gã đã tìm thấy ân nhân của
mình. Người ấy hứa sẽ làm cho gã không phải đi ăn
xin nữa, sẽ có cái mà ăn cho đến hết đời. Chỉ cần
gã phải nghe theo tất cả những gì người ấy yêu cầu.
Thế thì còn gì bằng, gã chỉ cần được sống thôi.
Gã đâu biết rằng, người ta sinh ra vốn có quyền
được sống.
Ngay sau đó, người ấy đưa cho gã một sấp giấy tờ,
bảo gã điểm chỉ vào. Xong xuôi, ông ta dặn gã cứ
về hốc cây mà ngủ, hôm sau sẽ có người tới lôi đi,
người ấy còn hứa rằng trước sau, người như gã cũng
sẽ được hưởng những bữa tiệc thịnh soạn, những bữa
tiệc mà gã không thể tưởng tượng là có ở trên đời.
Nghe ông ta tả về bữa tiệc đó, dù đã qua cơn đói
lả, gã vẫn thèm rỏ dãi, vẫn như bị thôi miên trước
những món ăn được vẽ ra. Và mặc dù không biết đến
bao giờ mới diễn ra cái bữa tiệc ấy, nhưng gã cứ
tin tưởng một cách mãnh liệt rằng trước sau, gã
cũng sẽ được ăn...
Sáng hôm sau, vừa chui ra khỏi hốc cây, lập tức
có hai người mặc sắc phục cảnh sát đợi sẵn túm lấy
gã và giải đi.
Gã bị tống vào một nhà giam. Thì cũng như gã ở trong
cái hốc cây là cùng chứ gì. Đến trưa, quả thực có
một suất cơm được đưa qua lỗ cửa. Gã thấy mừng hú.
Thế là người ấy đã thực hiện đúng lời hứa. Gã cứ
tự dưng có cái ăn, khỏi phải đi xin, khỏi phải lo
chết đói. Vậy thì còn gì mà không nghe lời người
ấy nữa kia chứ.
Ba ngày sau, gã bị dẫn đến phòng hỏi cung. Người
ấy đang ngồi sẵn đấy. Sau một hồi nói cái gì mà
gã không hiểu, người ấy dặn gã từ nay bất cứ ai
nói gì, hỏi gì cũng chỉ được trả lời hai tiếng:
"Vâng ạ"! Không được nói bất cứ từ nào
khác, chỉ được phép "vâng ạ" mà thôi.
Tất nhiên là gã ghi nhớ.
Một hôm, người ta đưa gã tới một ngôi nhà lớn có
cái trần cao vút, làm cho âm thanh cứ như từ trên
trời vọng xuống. Nói của đáng tội, cho đến tận bây
giờ, gã vẫn không biết nơi đó được gọi là "Pháp
đình". Có rất nhiều người ở trong đó. Người
ta đặt gã trước một lan can bằng gỗ cong cong. Những
gì tiếp theo thì gã không nhớ nữa. Chỉ biết rằng
hôm đó, đứng trước cái vành gỗ cong cong ấy, gã
chỉ có mỗi một việc là luôn mồm "vâng ạ"!
Rồi một người đứng lên đọc cái gì đó dài lắm, gã
không hiểu, chỉ nghe loáng thoáng hai tiếng cuối
cùng: "chung thân".
Kẻ láu cá ấy đã tìm được đúng gã, tên khốn nạn chung
thân để thực hiện mục đích của mình. Mà nó cũng
chẳng phải mất công tìm kiếm lâu la. Bởi vì mặc
cho những tuyên ngôn hùng vĩ, những sự đổi thay
của thế cuộc... cứ liên tục diễn ra, nhưng những
số phận khốn nạn chung thân như gã thì lúc nào mà
chẳng nhan nhản trên đời.
Bây giờ gã đã già, đã trở thành
một lão già run lẩy bẩy. Lão biết mình sắp chết.
Nhưng là chết già cũng như mọi người khác chứ không
phải chết đói. Cái bữa tiệc mà người ấy vẽ ra ngày
trước lão vẫn chưa được ăn. Lão còn nhớ như in từng
món. Lão chợt cảm thấy thèm, thèm ghê ghớm. Cả quãng
đời dài dằng dặc trong tù, lão có được ăn miếng
nào ngon đâu. Người ta còn có họ hàng, vợ con tiếp
tế, lão thì hoàn toàn không. Bao nhiêu năm chỉ triền
miên một món cơm tù. Chưa bao giờ lão thấy thèm
như lúc này. Lão liếm môi, chóp chép miệng rồi thiếp
đi.
Lão mơ thấy kẻ kia đã thực hiện lời hứa, mơ thấy
kết quả của sự “vâng ạ” ngày xưa. Trước mặt lão
là bữa tiệc ấy. Bữa tiệc mà lão hằng mơ ước suốt
ba mươi năm trong tù. Người ta đang mời lão ăn.
Cả một đống thịt ngồn ngộn, hấp dẫn. Mắt lão hoa
lên, bọt mép sùi ra và chân tay run rẩy. Cái dạ
dày réo sôi ùng ục, đòi hỏi, kêu gào... Lão lao
tới, vồ cả hai tay bốc lấy bốc để. Và... lão ăn.
Cứ như thể cái bữa “tiệc” kia là kẻ thù muôn đời
của những kiếp người như lão. Thế là lão ăn như
một sự trả thù truyền kiếp, ăn như một cuộc chiến
tay đôi... Cứ thế, những miếng thịt trần truồng,
những món ngon tưởng tượng ấy cũng tưởng tượng nối
đuôi nhau chui tuồn tuột vào cái miệng nhồm nhoàm
của lão...
Ôi! Đó chỉ là một giấc mơ. Nhưng có ai chứng kiến
cảnh lão đang chóp chép miệng, co quắp chân tay,
từng thớ thịt đang giãn ra vì ngon lành, vì hả hê,
thỏa mãn thì đều phải công nhận rằng lão đang "ăn"
thật sự. Và giấc mơ ấy, bữa tiệc trong mơ ấy, chao
ôi! mới nhân bản làm sao.
* * *
Trại giam X. nhận được tin cấp trên
sẽ tới kiểm tra. Cả ban chỉ huy vội vàng chuẩn bị
đầy đủ tài liệu, báo cáo và tập trung hết ở phòng
khách để chờ đón.
Ông xuống xe đi thẳng vào trong phòng. Chưa kịp
nhận xong những câu chào của cấp dưới, ông ra lệnh
ngay:
- Dẫn tên phạm nhân N lên ngay cho tôi gặp.
- Báo cáo! Có phải tên N mang số... bị án chung
thân không ạ? - Người trưởng trại hỏi lại.
- Chính hắn, tôi muốn biết tình trạng của hắn gần
đây ra sao.
- Báo cáo, tên N... người trưởng trại lúng túng.
- Tên N làm sao? - Ông giật thót mình, linh cảm
có điều gì đó, vội chồm người qua bàn hỏi giật giọng.
- Dạ thưa, nó đã chết cách đây một tuần rồi ạ.
- Nó chết rồi à? - Ông nhắc lại đoạn ngồi phịch
xuống ghế, rút khăn lau mồ hôi trán. - Các anh đã
làm thủ tục chưa?
- Báo cáo - Người trưởng trại tiếp tục - Sáng hôm
ấy không thấy nó dậy, chúng tôi vào kiểm tra thấy
nó đã chết từ đêm ạ.
- Thế pháp y kết luận ra sao, làm sao nó chết? -
Ông hỏi tiếp.
- Thưa, pháp y kết luận nó chết là do... bội thực
ạ...
Ông nghe mà nhẹ nhõm cả người. Thế là đủ. Ông đã
có thể yên tâm ra về và xếp vụ án vào kho lưu trữ.
Có điều ông quên không xem biên bản pháp y. Người
ta có mổ tử thi không? Lão bị bội thực cái gì? Thức
ăn hay sự lừa dối? Biết đâu người ta cũng chẳng
cần phải mổ nữa. Bởi vì chỉ cần nhìn cung cách chết
của lão, bất cứ ai đó, dù trình độ i tờ đến mấy
về y học cũng biết ngay rằng lão chết là do... bội
thực./.
Sài gòn - 1991
- Phạm
Lưu Vũ
Bữa
Tiệc Nhân Sinh - Phạm Lưu Vũ

|