 

Dương thu Hương
Tiếng Vỗ Cánh Của
Bầy Quạ Đen
Về chiến tranh, thi sĩ Trung Hoa xưa đã viết :
" Nơi vó ngựa chiến đi qua, mười năm sau cỏ
chưa mọc và gió thổi còn mang mùi máu... ".
Thơ của người xưa xa xót mà còn bâng khuâng, kinh
hoàng nhưng vẫn mơ hồ. Thời ấy, chưa có bom nguyên
tử và nhiệt hạch, chưa có chất độc hoá học và bom
vi sinh, chưa quá nhiều thứ ý nghĩa và các mục tiêu
ngầm ẩn sau mỗi cuộc chiến tranh. Thời ấy, con người
ưa thích sự kín đáo và trang phục nghiêm cẩn nên
nỗi đau khổ được mô tả thống thiết nhưng vẫn ngầm
tẩm trong lớp sương mù của những vẻ đẹp ước lệ và
vĩnh định : nỗi cô đơn, thây người bọc da ngựa,
hài cốt phơi nơi cát bụi, gió lạnh tuyết rơi và
nỗi u hoài... Nhiều thế kỷ đã qua, trang phục đã
đổi thay và cùng với sự thay đổi ấy, tâm lý con
người đã khác xưa. Con người đã dám cởi bỏ mọi thứ
áo quần, tự chiêm nghiệm nỗi đau cũng như ngắm nghía
thân thể mình một cách mạnh bạo. Bởi thế văn chương
thời nay không thống thiết lãng mạn như trước nhưng
chân thực hơn và tàn nhẫn hơn. Viết về chiến tranh,
người ta không chỉ khóc than cho những đứa trẻ mồ
côi ngơ ngác bên đường, những thiếu phụ giặt áo
bên sông ngóng đợi chồng, người ta đã tìm đến chốn
suối thẳm rừng sâu, nơi hàng sư đoàn lính cái bị
dồn vào phục vụ chiến tranh, tóc rụng da xanh, mất
kinh nguyệt thường xuyên, lên những cơn điên tập
thể và hoài vọng một chân trời dịu dàng vô tăm tích.
Văn chương cũng đã theo hàng vạn cô gái lỡ thì sau
chiến tranh, bị dồn tụ trong những lâm trường nông
trường hoang vu cằn lụi, nơi đời sống cùng khổ buồn
thảm đến mức điên rồ, nơi những người đàn bà hẩm
phận chẳng còn ước muốn nào hơn là ngóng đợi sự
xuất hiện bất thần của một gã đàn ông, dù là tên
cướp đường hay gã bán hàng rong hoặc kẻ tội phạm
bị thành phố và đồng bằng xua đuổi, mong được gã
hãm hiếp và trong lần chung đụng hiếm hoi ấy được
mang thai...
Nhưng dù cố gắng đến đâu văn chương cũng không đủ
gánh nỗi đau của con người, nỗi đau khổ tồn tại
trần trụi dưới ánh mặt trời cũng như trong bóng
đêm u ám. Chẳng nhà văn nào nhập thân được vào hàng
vạn đứa trẻ lang thang xin ăn hoặc ngày ngày chìa
bát lĩnh suất ăn hèn mọn trong các trại mồ côi.
Chẳng nhà từ thiện nào đủ can đảm và lòng kiên nhẫn
tìm đến hàng ngàn đứa bé dị tật quái thai, các tội
nhân bị kết án từ lúc chào đời, không được sống
kiếp người mà chỉ tồn tại như khối thịt vô năng
trong những căn buồng thiếu sáng để tránh ánh mắt
tò mò của láng giềng và trong tủi hổ của cha mẹ
chúng. Theo điều tra mới nhất, Thái Bình là nơi
có số lượng quái thai do các cựu binh nhiễm chất
độc da cam sinh ra nhiều nhất xứ sở. Nhưng dẫu sao,
những đứa bé dị hình ấy vẫn có thể được người đời
nhìn thấy và khi cần có thể được trưng bày như các
vật phẩm trong phòng triển lãm tội ác chiến tranh...
Tuy nhiên, chiến tranh không chỉ gieo rắc những
đau khổ nhìn được bằng mắt, những tội ác có thể
sưu tập và trưng bày. Nó còn những chiều kích đau
khổ khác. Và chính những chiều kích ấy mới là tổn
thất khủng khiếp nhất, đem lại sự đổ nát tinh thần
cho con người nói chung và từng dân tộc nói riêng.
Hạnh phúc của con người khác nhau và đau khổ cũng
khác nhau. Như thế, chiến tranh in lại trên các
vùng đất những dấu vết khác biệt. Thế chiến II,
Ilya Ehrenboug có viết : " ...Vào những hoàng
hôn, không còn nghe thấy nữa tiếng dương cầm thánh
thót tr ong các khung cửa sổ. Châu âu nghèo đi rồi...".
Câu văn ấy theo đuổi tôi từ thuở còn thơ cho đến
bây giờ, chẳng hiểu vì sao... Vào những năm gần
đây, có dịp qua vài thành phố châu Âu, tôi ngó nhìn
khuôn cửa sổ trên các ngôi nhà ven đường và chợt
hiểu vì đâu câu văn tầm thường kia bám riết tôi
gần nửa thế kỷ : câu văn đó mô tả chiến tranh ở
xứ khác, tàn khốc kiểu khác và ảnh hưởng tới số
phận những con người khác. Nó xa cách với những
gì diễn ra ở đây, Việt Nam, đất nước của tôi, quê
hương những dân cày lam lũ, nơi lịch sử đô thị ngắn
ngủi bấp bênh, nỗi hoài nhớ đồng quê ám ảnh và thống
trị tâm hồn những kẻ cư trú trong phố xá, nơi vang
vọng dưới ánh trăng thôn dã tiếng đàn bầu nỉ non
hoặc tiếng nhị rền rĩ ủ ê. Trên mảnh đất châu Âu,
thiết chế xã hội dân chủ đã được tạo dựng và củng
cố qua thời gian trở thành một bệ đỡ vững chãi.
Chiến tranh, dù khốc liệt đến đâu, dù các trại tập
trung và các nhà máy chế tác da thịt người của bọn
SS mọc lên như nấm, nhưng khi lò lửa thiêu người
đã tắt, khi bọn tội phạm chiến tranh hoặc bị kết
án hoặc trốn chạy, bão tố đạn bom ngưng lặng, xã
hội sẽ trở lại an bình và con người có cơ hội gây
dựng lại cuộc sống. Thiết chế của một xã hội văn
minh giống những bậc thềm, cho phép con người bước
lên tìm kiếm ngôi nhà hạnh phúc dẫu rằng hạnh phúc
chẳng chia đều cho khắp nhân gian. Những kí ức đau
thương hằn dấu trong tâm hồn các công dân châu Âu
khiến họ chín chắn hơn, cảnh giác mau lẹ hơn với
các biểu hiện mầm mống bệnh hoạn, với các chính
trị gia quá tả hay quá hữu, với các tổ chức tân
phát xít hoặc các nhóm khủng bố mới... Như thế,
trí khôn công dân gia tăng, quyền hạn công dân được
sử dụng tới mức tối đa với chiều hướng tích cực...
Như thế, khi tiếng súng ngưng lặng, chim bồ câu
ngậm cành ô-liu bay tới, đúng như biểu tượng truyền
thống của phương Tây, một hình ảnh không lãng mạn
nhiều lắm nhưng có giá trị chân xác và tồn tại lâu
bền trong thời gian. Sau Thế chiến II chừng một
thập kỉ, vào những năm 1955, 1956, người ta đã có
các cuộc thi vĩ cầm, dương cầm. Châu Âu hồi sinh.
Và vào những hoàng hôn, người ta lại nghe thấy tiếng
dương cầm thánh thót trong các khung cửa sổ...
Ở nước chúng ta, sau hai mươi nhăm năm, trong các
khung cửa sổ vẫn chưa vang lên tiếng dương cầm,
và dân chúng mới rón rén tập dượt những bài học
vỡ lòng về nền dân chủ trong những tình thế bức
bách khốn quẫn. ở đây chiến tranh vọng lại những
hồi âm khác. Chiến tranh không làm cho các công
dân chín chắn hơn, khôn ngoan hơn, sử dụng quyền
công dân mạnh bạo hơn mà ngược lại nó khiến đám
đông hèn nhát hơn, dễ thoả hiệp hơn với sự nhục
nhã, dễ cúi đầu hơn trước tội ác. Trong lịch sử
bất hạnh của dân tộc Việt có quá nhiều cuộc chiến
tranh khốc hại. Gần như toàn bộ lòng can đảm của
dân Việt tiêu xài trong các cuộc chiến tranh ấy.
Lòng can đảm cũng như mọi phẩm chất tinh thần khác
không phải một năng lượng vô hạn. Nó không phải
cơm trong nồi Thạch Sanh, cũng chẳng sinh trưởng
lu bù như loài tảo hay các sinh vật đơn bào. Nó
cũng giới hạn như món tiền xếp trong chiếc ví. Lòng
can đảm đã được huy động tối đa trong các cơn tai
biến của đất nước, và khi ra khỏi cơn tai biến ấy,
con người thường dễ cúi đầu chấp thuận trước mọi
điều kiện sinh tồn : dù khổ ải đến đ;âu, họ cũng
sẽ tự an ủi " còn chưa bằng thời mũi tên hòn
đạn ". Dù nhục nhã đến đâu, họ cũng dễ tặc
lưỡi : " Cũng hơn là chết "... Thói quen
coi thường sinh mạng trong chiến tranh khích động
tâm lý tội phạm nơi thiểu số, nhưng ngược lại, làm
gia tăng tình nhẫn nhục và sự chịu đựng nơi đám
đông. Bởi thế, các nhà Việt Nam học thường băn khoăn
trước nghịch lý này : một dân tộc dũng cảm biết
bao trong chiến tranh và hèn mọn biết bao trong
cuộc sống thời bình... Đối với tôi, chẳng có gì
đáng ngạc nhiên cả. Nơi thiết chế dân chủ chưa được
dựng lên, nơi con người chưa có đủ ý thức về quyền
làm người, bất cứ người lính can đảm nào cũng là
một công dân ngu đần và hèn nhát.
Chưa có tiếng dương cầm đâu, chỉ có giọng đàn bầu
hay tiếng nhị nỉ non thôi. Thứ âm nhạc an ủi những
tâm hồn ngu ngơ, những con người chỉ tìm ánh huy
hoàng nơi những chân trời đã mất tăm mất tích và
những chân trời mộng mị đó nâng đỡ họ bởi những
hồi quang xa lơ xa lắc giúp họ quên đi những cay
đắng thường trực hiển hiện trong cuộc đời hiện tại.
Chẳng cần suy nghĩ nhiều cũng biết kẻ cầm quyền
vừa tắm mình trong tâm lý đó vừa lợi dụng nó một
cách triệt để. Nói cách khác, chính quyền tồn tại
nương nhờ bóng ma chiến tranh, còn kẻ cầm quyền
vừa rốt ráo lợi dụng vừa chạy trốn bóng ma đó. Lại
thêm một nghịch lý nữa chăng ? ... Không, chẳng
nhiều nghịch lý đến thế trên cõi đời. Những hồi
ức chiến tranh gieo tâm lý yếu hèn, nhẫn nhịn vào
đám đông không nắm quyền lực bao nhiêu thì nó đào
bới lòng khát khao hưởng thụ nơi những kẻ cầm quyền
bấy nhiêu : nữa, nữa, và nữa... Lòng hám tiền thời
tiền tích luỹ của chủ nghĩa tư bản phương Tây đang
dịch chuyển tới mảnh đất Đông Dương bần hàn này,
sau một cuộc chiến lâu dài tàn khốc với đám người
cầm quyền phần đông là những kẻ găm trong óc những
nguyên lý cộng sản cực quyền và chảy trong mạch
dòng máu bọn cường hào thôn xã. Thần thánh đã mất.
Hộp đen đã mở thả đám quỷ tham tàn. Chỉ còn le lói
ánh hồi quang của chân trời xưa nhưng phía sau ánh
sáng le lói kia là nòng súng. Chính quyền xây dựng
trên nòng súng. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch
của nhà nước này. Chớ vội quên. Những cựu chiến
binh lãnh đạo phong trào nông dân Thái Bình đã lần
lượt chết trong bóng đêm câm lặng. Những cái chết
lặng câm vô tăm tích. Khi dư luận báo chí lãng quên.
Khi ống kính máy ảnh của các phóng viên nước ngoài
đã quay sang mục tiêu khác. Nào ai nghe được tiếng
kêu hấp hối của họ trong các trại giam phân tán
rải rác nơi hẻo lánh, giữa đám tù hình sự, những
tên trộm cướp nhà nghề và lũ giết thuê chém mướn.
Một trăm kiểu chết khác nhau. Và tất cả chìm lấp
trong tiếng hoan hô của các công trường ngày khởi
sự, trong âm nhạc ầm ĩ đón tiếp các nhà đầu tư Nam
Hàn, Nhật Bản, Hồng Kông, úc, Pháp... Những cựu
chiến binh Thái Bình, tỉnh có số liệt sĩ cao nhất
nước và có số trẻ quái thai nhiều nhất nước. Con
vật tế thần béo nhất trong cuộc chiến vừa qua. Hẳn
họ tưởng rằng chính quyền này vẫn là chính quyền
của họ. Chút lòng can đảm rơi rớt sau cuộc chiến
xui khiến họ hành động. ảo tưởng rằng máu đồng đội
và máu chính bản thân mình đổ xuống trong hơn ba
ngàn ngày bom đạn bảo đảm cho họ quyền lên tiếng
đòi công lý. Trí nhớ ngu ngơ của họ bồng bềnh thứ
hồi quang êm dịu, nhắc nhở rằng những kẻ cầm quyền
đã từng là đồng đội, là thủ trưởng thân thiết trong
cuộc chiến tranh chống Mỹ hào hùng dưới bóng cây
rừng Trường Sơn... Tội nghiệp thay những cựu chiến
binh tỉnh Thái, họ không biết câu nói nổi tiếng
này : " Cách mạng bao giờ cũng ăn thịt những
đứa con đẻ của mình ". ảo ảnh Trường Sơn dẫn
họ tới những cái chết im lìm trong các trại giam
tàn khốc và tăm tối.
Việt Nam không có Thiên An Môn. Nghệ thuật huyền
diệu của Việt Nam là ngâm tẩm những Thiên An Môn
trong axít lặng câm và quên lãng, xé Thiên An Môn
thành muôn ngàn mảnh vụn cho gió thổi bay vô tăm
tích cùng cát bụi. Riêng về điểm này những người
lãnh đạo Trung Hoa nên cắp sách tới học các nhà
lãnh đạo Việt Nam. Tôi bị ám ảnh bởi bóng ma của
các cựu chiến binh kia, không biết họ vẫn quẩn quanh
nơi đồng bằng hay đã quay lại Trường Sơn để tìm
trong bóng tối rừng xưa hình ảnh những ngày xưa
thân ái ?
Tổ tiên ta đã có từ lâu thành ngữ này : hòn vàng
thì mất, hòn đất thì còn. Nếu câu nói xưa đúng,
hẳn là chiến tranh đã cướp đi những con người cao
quý nhất, dũng cảm nhất, thành thực nhất và những
kẻ còn lại là bọn khôn ngoan luồn lọt, bọn ăn may,
đám người lẩn khuất trong bóng tối các hành lang,
bọn giỏi hò hét vờ vĩnh huơ gươm múa súng để lẩn
tránh nơi gian lao nguy hiểm... Trong tâm hồn bọn
người ấy liệu còn sót bao nhiêu lương tri ?... Liệu
còn sót bao nhiêu lương tri trong các băng buôn
lậu quốc gia, các ổ ăn cắp của đảng độc quyền, nơi
lũ con ông cháu cha quen cưỡi máy bay đi chơi điếm
ở Hồng Kông và quen ném vào mỗi ván đỏ đen hàng
trăm ngàn đô la Mỹ ?... Nơi nào không có ánh sáng
bóng tối sẽ lấp đầy. Nơi nào sự cao thượng không
còn, sự đểu cáng ti tiện xâm chiếm. Khởi nguyên
của mọi chính sách mọi ứng xử chẳng còn vì tinh
thần yêu nước mà chỉ tuân theo ham muốn và lợi ích
cá nhân. Lôgic của lợi lộc bất chấp mọi thứ lôgic
của lý trí và đạo đức. Để phục vụ cho mưu cầu lợi
lộc, quá khứ được sử dụng như ngôi đền dẫu không
còn linh thiêng nhưng vẫn quyến rũ và lừa mị được
những tâm hồn ngu ngơ, nhát nhúa và c hính quyền
xây dựng trên nòng súng giữ vai trò của cây búa
trong tay đao phủ sẵn sàng chặt phăng cổ những ai
vì uất ức hoặc vì tò mò muốn vén tấm màn che hậu
cung xem bọn cướp ngày chia chác phần xôi thịt ra
sao. Trong những nhóm dân chúng tụ tập trò chuyện
thì thầm vụng lén, người ta thường đố nhau xem mafia
Việt Nam đã cướp của dân gửi ra các nhà băng Thuỵ
Sĩ, Bangkok, Singapore... bao nhiêu tỉ đô la ?...
Và một câu đầu lưỡi : " Giá có một chính phủ
Aquino ở đây, chẳng hiểu số tiền của các loại vua
chúa An Nam nhiều hay ít hơn số tiền của vợ chồng
Marcos ? ". Những thứ chuyện thì thầm vụng
lén đó là một cách để xả ẩn ức, phần trôi nổi của
bề mặt dòng sông cuộc sống vẫn là tiếng độc thoại
oang oang không mệt mỏi không hổ thẹn của đảng cầm
quyền. Gần đây nhất, là những bài báo phản đối OTAN,
mà đầu sỏ đương nhiên là Mỹ. Những cuộc phát động
lòng căm thù trong đám đông dân chúng, kêu gọi đấu
tranh được dấy lên tới tấp. Tôi được nghe kể rằng
các nhà văn Việt Nam nhân dịp này đã bộc lộ lòng
nhiệt thành hăng hái hết sức ngoạn mục, nhiều người
đã ghi tên sẵn sàng tình nguyện lên đường sang Nam
Tư để ngh iên cứu tình hình và viết bài chống OTAN...
Lòng quả cảm đáng tuyên dương biết bao... Nhưng
tôi không hiểu vì sao các nhà văn này không tình
nguyện lên thượng nguồn sông Móng Cái để nghiên
cứu tình hình và viết bài ủng hộ đồng bào của họ
trước khi lên đường chống OTAN ?... Bởi vì người
đàn anh Trung Hoa đang tiếp tục xây đập chắn thượng
nguồn sông, làm thay đổi môi trường sinh thái của
vùng đất phía bắc, đẩy hàng triệu người Việt vào
tình cảnh mất kế sinh nhai, khốn khổ trong sinh
hoạt. Họ không biết sự thật hay họ cố ý tảng lờ
? Tình đoàn kết quốc tế vô sản trong quá khứ vẫn
đè trĩu con tim khiến họ bịt tai nhắm mắt hay ánh
nến slave và tiếng đồng ca của các tín đồ orthodoxe
quyến rũ họ hơn nỗi thống khổ của chính những người
cùng nòi giống ?... Cứ cho OTAN thực sự chỉ là lũ
sen đầm quốc tế xâm phạm chủ quyền nước khác nhưng
chí ít hành động đó vẫn còn một lý do bấu víu :
OTAN ủng hộ những người thiểu số Anbani, những kẻ
yếu hơn. Còn việc người đàn anh Trung Hoa lấn chiếm
các vùng biên giới, lãnh thổ và lãnh hải, xây đập
chắn sông là dựa trên lý do nào ?... Hãy tìm cho
cho được mảnh áo để nguỵ trang, chí ít cũng bằng
OTAN lấy lý do bảo vệ đám người Kosovo để che đậy
dã tâm xâm lược ?... Nhưng thôi, chẳng nên bàn đến
các nhà văn xứ này, thời nào đám ngựa cũng bị bịt
mắt và chỉ chạy theo con con đường của chủ. điều
tôi muốn quan tâm là việc dấy lên phong trào chống
OTAN như biểu tượng ám chỉ Việt Nam, ngọn cờ chống
Mỹ, lương tri của loài người đã chiến thắng Mỹ oanh
liệt, việc đó được thực thi một cách toàn diện triệt
để và vô cùng ầm ĩ trong khi cuộc kháng cự những
hành vi xâm lược ức hiếp ngang ngược của người láng
giềng phương bắc lại giống như tiếng kêu của một
đứa bé ngọng nghịu bị bóp mũi thổi tai. Báo Nhân
Dân chủ nhật ngày 28-3-1999 đăng ở trang 8 lời phát
ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam như sau : "...
Như chúng tôi đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam
có đầy đủ các bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý
để chứng minh chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh
tế và thềm lục địa của mình. Bất kì việc làm của
một nước nào khác đối với hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa cũng như trong vùng đặc quyền kinh
tế...". Tất thảy những người Việt quan tâm
đến vận mệnh đất nước đều biết mười mươi rằng chính
phủ Trung Quốc đã ngang nhiên cho quân đội tấn công
Trường Sa, Hoàng Sa và ngay sau chuyến thăm của
ông Lê Khả Phiêu đã ra lệnh cấm ngư dân Việt Nam
đánh cá vào tháng 7 và tháng 8 năm nay, 1999. Vậy
tại sao người phát ngôn của bộ ngoại giao lại ám
chỉ mập mờ : Bất kì việc làm của một nước nào...
Một thông báo ấp úng ỡm ờ như thế hẳn không đem
lại chút danh dự nào cho chủ nhân của chúng.
Nhiều khi tôi tự hỏi : phải chăng hành vi ứng xử
của một tập đoàn, một nhóm người cũng chịu chung
những qui luật như hành vi ứng xử cá nhân, quá nửa
phần bị vô thức điều khiển. Việc các nhà cầm quyền
Việt Nam ủng hộ chính phủ Nam Tư một cách cuồng
nhiệt như vậy là do tác động của nguyên tắc : đồng
thanh tương ứng, đồng khí tương cầu (Một bên đảng
trị, bên kia gia đình trị. Mafia là tính đồng nhất
cho các chính phủ dã man lấy lợi ích cá nhân làm
tiêu chí hành động. Một bên tàn sát người khác sắc
tộc, bên kia đàn áp những người chống cướp bóc,
đòi công lý...). Giả thuyết này có bao nhiêu phần
trăm xác thực ?... Tôi chưa đủ điều kiện và thời
gian minh xác nhưng chắc chắn đó là những liên tưởng
phổ biến trong đám người chịu suy nghĩ. Các nhà
báo nước ngoài vẫn thường thắc mắc về đường lối
chính trị của Việt Nam, họ vô cùng khó hiểu bởi
sau bao nhiêu cố gắng nhọc nhằn ve vuốt Mỹ và các
nước phương Tây, biểu hiện gần đây có vẻ như nghịch
lý... Thưa các nhà quan sát phương Tây, chắc chắn
các vị sẽ phải tốn phí thời gian và thử nghiệm mới
tìm được sự thật ở xứ sở này. Bởi các vị không hiểu
tâm lý những kẻ ăn đong. đối với đám người ăn đong,
không có lôgic cũng chẳng có nguyên tắc hành động.
Tâm lý của họ là tâm lý thằng bờm. Mục tiêu hành
động của họ là hòn xôi trước mắt. Tự hiểu mình vô
năng, không một chút phẩm chất tự thân để tồn tại,
họ phải đào bới quá khứ nương nhờ bóng ma của cuộc
chiến tranh chống Mỹ, nương nhờ hương khói ngôi
đền và sự ngu ngơ của dân chúng để kéo dài thời
trị vì. Bất cứ sự kiện nào có thể gợi tưởng đến
liều thuốc trợ lực này : đảng vinh quang dẫn dắt
dân tộc đến chiến thắng đế quốc Mỹ, họ sẽ khai thác
triệt để, OTAN là cơ hội gần nhất. Nhưng mặt khác,
vì không đủ sức đứng trên đôi chân của mình, không
đủ sức lật trang lịch sử và cũng chẳng muốn lật
trang lịch sử, họ phải quỵ luỵ túm lấy vạt áo kẻ
láng giềng, cố níu chặt mảnh ván xã hội chủ nghĩa
của con thuyền xưa đã bị gió bão đánh tan tành,
bởi chỉ nhờ trương lên tấm biển xã hội chủ nghĩa
họ mới có thể cướp bóc dân chúng một cách dễ dàng,
chuyển hoá tài sản quốc gia thành các ngân khoản
riêng ở các ngân hàng ngoài nước. Chính vì mối lợi
ấy họ phải cúi đầu ngậm miệng trước những cú tát
nổ đom đóm mắt của người láng giềng phương bắc.
Xưa nay, kẻ tham làm gì còn liêm sỉ. Nói cách khác,
tinh thần cao thượng và sự tự trọng là những khái
niệm hão huyền và xa lạ với đám người chưa đủ tư
cách để hiểu những ngôn từ ấy. Hỡi ôi, những tổ
tiên oanh liệt của người Việt, những Nguyễn Trãi,
Phi Khanh, Trần Bình Trọng, những Nguyễn Biểu, Mạc
đĩnh Chi, Giang Văn Minh1... Nếu những vong linh
xưa giờ đây còn có thể cất lời, hẳn sẽ phải thét
gào xé gan xé ruột hay tan thành bụi máu nếu chứng
kiến bộ dạng và hành vi của đám người dẫn dắt dân
Việt hôm nay...
Từ ngày 30-4-1975 đến nay, hai mươi bốn năm qua.
Xấp xỉ một phần tư thế kỉ nhưng những người nông
dân mặc áo lính vẫn đứng dưới ruộng bùn. Bóng cuộc
chiến tranh đổ xuống ngôi đền cho bọn cướp bóc trú
ngụ, còn đám người ngu ngơ nhát nhúa vẫn sống bởi
ánh hồi quang của những chân trời đã mất, bởi niềm
tự an ủi " sống khổ nhục còn hơn là chết ".
Và như thế, nền dân chủ càng bị đẩy lui về phía
xa, cơ hội xây dựng một xã hội văn minh càng mờ
mịt. đó, trái cây nhiệt đới sót mùa, hậu hoạ vô
hình và khủng khiếp nhất, dai dẳng nhất của chiến
tranh nơi xứ sở chúng ta. đó mới chính là sự què
cụt tinh thần, là quái thai trong đời sống tâm linh
của một dân tộc.
Ở đâu con chim bồ câu trứ danh của Picasso ?
Ở một phương trời khác, nơi tổ quốc của những con
người khác, những con người biết tôn trọng chính
mình, biết quý trọng máu mình đã đổ, biết giá trị
đời sống của bản thân và của đồng loại. Trên quê
hương họ, sau chiến tranh mười năm tiếng dương cầm
đã vang lên trong khung cửa sổ, lấp đầy không gian
những hoàng hôn.
Con chim thơ mộng kia chưa bay tới xứ sở của chúng
ta, những kẻ yên tâm lội dưới bùn, những kẻ thờ
ơ với chính máu mình đổ ra, ngoan ngoãn chịu đựng
mọi sự cướp bóc, hài lòng với bát cơm chan nước
mắm cua đồng, chưa bao giờ dám mở to mắt để ngắm
nhìn và ước ao cuộc sống như một giá trị đáng phải
có... Những con người có thói quen lim dim mắt trước
cuộc đời hiện tại và chỉ ngây ngất với ánh hồi quang
của những chân trời đã mất.
Sau chiến tranh ngót một phần tư thế kỉ, trên dải
đất này vẫn chỉ nghe rõ tiếng vỗ cánh của bầy quạ
đen trên các nghĩa địa nối dài từ bắc vào nam, từ
nam ra bắc.
Con chim ngậm cành ô-liu kia còn lẩn khuất nơi chân
trời mù sương nào đó. Trên dải bờ xa xôi. Và chờ
đợi bình minh.
Hà Nội, 5.1999
-----------------
1 Giang Văn Minh (1573-1637) : Văn thần đời Lê Thần
Tông, quê làng Mộng Phụ, huyện Phú Lộc, tỉnh Sơn
Tây. Năm Mậu Thìn 1628 làm đến tự khanh, tước hầu.
Năm 1637 được cử làm phó sứ sang nhà Thanh dâng
lễ cống. Theo sách đại Việt lịch triều đăng khoa
lục, khi đến nơi, đại thần nhà Thanh ra câu đối
: đồng trụ chí kim đài dĩ lục (Cột đồng đến nay
rêu đã xanh), ông đối lại : đằng giang tự cổ huyết
do hồng (Sông Bạch Đằng từ xưa máu còn đỏ). Người
Thanh giận, giết chết, tẩm xác vào thuỷ ngân, rồi
cho đưa về nước. Khi chết, ông tròn 64 tuổi, được
truy tặng tả thị lang Bộ Binh, tước Vinh quận công
[Nguyễn Q. Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân
vật lịch sử Việt Nam, nxb Văn Hoá, 1993].
Hết
TRO
VE TRANG TRUYEN ( HNPD)

|