| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Nhân
ngày mất của Nhà văn Nguyễn Công Hoan ( 06-6-1977
)
Nguyễn
Công Hoan
06-6- 1977: Ngày mất của nhà văn Nguyễn Công
Hoan. Ông sinh ngày 06.03.1903 tại Xuân Cầu, Nghĩa
Trụ, Văn Giang, Bắc Ninh (nay là Hưng Yên).
Ông tốt nghiệp sư phạm năm 1926. Bắt đầu viết năm
1922 trên các báo: An Nam tạp chí, Nhật Tân, Tân
văn, Cậu ấm, Tiểu thuyết thứ bảy...
Tác phẩm đầu tiên của ông là tập truyện Kiếp hồng
nhan, xuất bản năm 1923, lúc ông mới 20 tuổi. Qua
hơn 50 năm cầm bút, ông để lại cho đời hơn 200 truyện
ngắn và 30 truyện dài, nhiều bút kí, hồi ký, các
tiểu luận về ngôn ngữ, văn học. Một số tác phẩm
của ông đã được dịch ở Liên Xô cũ, Trung Quốc, Bulgaria,
Hungary, Albania, Cộng hoà dân chủ Đức, Cuba, Ba
Lan, Ấn Độ, Nhật Bản…
Ông là nhà vǎn hiện thực, "là người đặt những
viên gạch đầu tiên xây đắp nền móng cho vǎn xuôi
hiện thực phê phán Việt Nam". Sự nghiệp của
ông được tạo dựng trong chiều sâu bằng hàng trǎm
truyện ngắn và hàng chục pho tiểu thuyết, nổi lên
với những tập truyện "Kép Tư Bền" và tiểu
thuyết "Bước đường cùng" có nhiều giá
trị mang tính mở đường cho một dòng văn học. Tác
phẩm của Nguyễn Công Hoan là một sử liệu sống chân
thực, sinh động về xã hội Việt Nam phong kiến nửa
thuộc địa những nǎm đầu thế kỷ XX.
Các tác phẩm đã xuất bản: Chuyện Thế Gian, Tắt
lửa lòng, Kiếp hồng nhan, Lá ngọc cành vàng,
Những cảnh khốn nạn, Kép Tư Bền, Cô giáo
Minh, Bơ vơ,Tấm lòng vàng, Đào kép mới, Bước
đường cùng, Đống rác cũ, Thời viết văn của
tôi, Chuyện các nhà văn..
Chiếc
quan tài
Chiếc quan
tài ấy đặt trên tấm phản, giữa một túp nhà xiêu.
Một người đàn bà, quần áo nâu bạc, ngồi phệt ở bên,
úp mặt vào cánh tay khoanh cạnh ván thiên, thỉnh
thoảng hé vuông vải nhỏ mới, ghé ra ngoài xỉ mũi
xuống nước. Gần đó, một thằng bé con, chỉ mặc một
manh áo rách, thò cái gậy tre vừa đẵn, nghịch với
những tăm bọt sủi trên mặt lượt bùn.
Bỗng bốn người đóng khố, lực lưỡng, đẩy chiếc mảng
chuối áp đến hè, rồi cùng nhau vào, khỏa chân để
rửa, nói mấy câu, và đứng lên phản, bắt tay vào
cỗ ván.
Họ còng lưng, ưỡn ngực, để khênh cho thăng bằng.
Song, họ không thấy nhọc nhằn, vì chiếc áo quan
ấy nhẹ quá. Nó bằng gỗ tạp, lỗ chỗ những vết mọt
đen, mỏng vừa một đốt ngón tay. Họ chép miệng, phàn
nàn với nhau, thương hại anh Cu xấu số, khổ cho
đến lúc chết, chết ngay vào độ trời làm vỡ đường.
Mảng chuối chở chiếc quan tài lềnh bềnh theo tay
bốn người đẩy ra cổng. Chị Cu trùm khăn lên mặt,
khóc thảm thiết. Cứ cả quần áo thế, chị lội bì bõm,
đi sau chồng.
Giá không có mảnh vải trắng che mặt, đố người lạ
nào bảo chị là người nhà người chết. Và giá không
có tiếng khóc, đố ai đoán là ngoài đường có đám
ma. Thằng Cu thì chẳng biết gì. Nó thấy người ta
ghé lưng, bảo nó ôm cổ để cõng. Nó ngơ ngác làm
theo, hình như thích chí vì được đi lội.
Bốn người đẩy mảng, dò từng bước. Đi dưới nước
đã chậm, thế mà đường lại trơn. Những bọt nước tóe
bắn lên, làm tắt cả hương. Mấy cây nến cắm trên
khúc chuối, bị gió, không sao cháy được. Người ta
đã nhiều lần thắp lại cả hương lẫn nến, nhưng vẫn
tắt như thường.
Xung quanh, làn nước đỏ mênh mông, từ sáng đến
bây giờ, mỗi lúc lên một cao. Chị Cu gào mãi nên
rát cổ. Chị phải thôi khóc. Và cố bấm đầu ngón chân
xuống đất, cho khỏi ngã.
Mực nước chỗ thấp thì đến bẹn, chỗ cao thì đến
thắt lưng hoặc đến ngực. Cả làng chỉ còn có mỗi
một nơi cao nhất, là khu giữa vườn nhà ông Lý, may
quá, chưa bị ngập. Cho nên ngay từ khi anh Cu ngáp
cái sau cùng, chị Cu phải kiếm cơi trầu lên xin
với chủ đất, để nhờ chỗ chôn chồng. Ông Lý thương
hại, vui lòng nhận lời, lại khuyên chị nên đưa ngay
anh Cu "ra đồng" kẻo chỉ một giờ nữa,
vườn ông cũng tràn nốt. Thật thế, cả làng, hiện
nay chỉ có khu vườn ấy là hở. Còn thì từ ngoài đồng
cho đến khắp các xóm, chỗ nào cũng những nước là
nước. Nói đúng ra, giữa đồng cũng còn vài ba cái
gò là còn nổi lên. Nhưng những đường ra đấy, từ
khi mới có tin vỡ đê, tuần đã chặt tre rấp ngang
lối, vít kín cả lại rồi. Chỉ còn một lỗ con con
chui khe luỹ, người ta vẫn đánh trâu qua để thả
cho nó bơi đến các gò, đứng nắng và ăn bèo Nhật
Bản, thì lối ấy nhỏ quá. Vả trừ trâu ra, ai dám
bơi qua những nơi ruộng sâu đến một con sào.
Chiếc mảng lênh bênh độ một lát, thì quàng vào
ngõ xóm Trung. Tuy đường hẹp, nhưng lối đi cao dần.
Nước đến thắt lưng, sau đến bẹn, rồi sau đến đầu
gối. Rồi sau cùng, mảng chuối chịt lại, mắc cạn,
không đi được nữa.
Người ta ghé tay bê áo quan. Chị Cu vác vồ cuốc
lên vai, đi theo. Nước rẽ qua những cẳng chân đen
thủi, kêu rào rào, tóe bọt trắng sang hai bên.
Chị Cu giục mọi người mau tay lên, vì chị lo ngại
quá.
Quả nhiên, mới từ nãy đến giờ, nước đã láng gần
khắp vườn nhà ông Lý. Chỗ đất vừa đào cách đây độ
một giờ đã có những dòng nước ngòng ngoèo bò theo
nơi thấp, và rỉ vào, ngập đến lưng huyệt.
Bốn người rảo cẳng, rồi đặt quan tài xuống. Họ
nhảy vào hố, hai tay bốc nước, thoăn thoắt tát ra.
Nhưng vô ích. Nước ra bao nhiêu, lại vào bấy nhiêu.
Mà nước vào lại mạnh hơn nước ra. Tát cũng không
kịp.
Bốn người thất vọng, bảo nhau khênh bốn góc cỗ
ván. Hai người tiến, hai người lui, rồi cùng đứng
ngay ngắn ở hai đầu huyệt. Họ cúi lưng, đưa thấp
dần dần tay xuống. Chiếc quan tài hạ từ từ. Cảnh
đau đớn làm chị Cu đứt từng khúc ruột. Chị muốn
khóc cho hết nước mắt, gào cho hết hơi, để được
chôn theo chồng. Nhưng bỗng chiếc quan tài đứng
sững lại, không xuống được nữa. Nước ở dưới đội
nổi lên. Tiếng khóc im bặt.
Bọn người nhìn nhau lo sợ. Lúng túng. Làm thế nào?
Bàn tán hồi lâu, hai người nhảy xuống, đứng ở hai
đầu áo quan để lấy sức nặng, thì nó mới chìm được.
Nhưng nước vào huyệt đã nhiều, nên khi người ta
vừa nhảy xuống, nước ở dưới dềnh lên, tràn qua ván
thiên. Quan tài như chiếc thuyền đáy phẳng, nó bập
bềnh. Hai người mất thăng bằng, ngã khuỵu, thụt
cẳng xuống huyệt.
Cách ấy không được. ỳ ộp, mỗi người nói ra một
kế. Chỉ làm sao thắng nổi có mỗi một tí nước, mới
chôn được dễ dàng. Chị Cu tưởng tượng đến chồng
bị ngâm sũng, chị thút thít, kể lể, thương con người
đến chết còn vất vả.
Chẳng mấy chốc, chiếc quan tài vì nhẹ, lại tự nhô
lên đến gần mặt đất. Cả huyệt đầy những nước mất
rồi. Bây giờ mới là lúc khó khăn. Họ vẫn luẩn quẩn
bàn bạc.
Sau hết, ba người phải lấy lưỡi cuốc, hếch kẽ ván
cho nước ồ vào thực nhiều và cùng nhau đứng về một
đầu cho sức nặng đủ dận được xuống đất. Một người
lấy vồ chêm vào thành huyệt, ghì chặt lấy. Một người
cuốc đất, và chị Cu khuân vội vàng, vứt xuống hố.
Thấy thây chồng đầu cao đầu thấp, chị đau đớn lắm.
Nhưng biết làm thế nào?
Họ lèn đất vào thành huyết và áo quan, rồi quẳng
những tảng to lên trên. Cho đất đủ sức dìm một đầu
quan tài, họ lại đứng sang đầu bên kia. Và cũng
làm như trước. Họ thở ì ạch, khó nhọc như một cuộc
vật lộn. Khi cỗ ván đã bị chèn chặt hai đầu, họ
bèn rủ nhau lên, để hết sức đào đất cho nhanh chóng
mà quẳng xuống. Nhưng họ vừa bước chân khỏi, cỗ
áo quan đã bềnh lên theo. Song, được cái nó không
nổi cao quá. Biết rằng sức phấn đấu có công hiệu,
họ huỳnh huỵch làm một lúc nữa thật mau. Chiếc quan
tài lần này chịu nằm gí xuống tận đáy huyệt.
Bây giờ họ đã đỡ vất vả. Chỉ còn việc đắp đất lên
cho thành nấm mà thôi. ấy thế mà khi ngôi mả đắp
vừa xong, nước đã láng vào khắp vườn, không còn
hở một chỗ nào nữa.
Những con giun đất màu đen to bằng ngón tay út
nổi lềnh bềnh, dập dềnh theo đà sóng, trôi với đám
bọt rác.
+
+ +
Một giờ, lại một giờ. Mực nước lên cao dần, cao
trông thấy.
Xung quanh mả anh Cu, có những lá tre khô bám vào.
Rồi có bèo Nhật Bản. Rồi có cả bọt rác nữa. Thứ
này bám vào chốc lát, rồi bị sóng lôi đi. Thứ kia
ôm lấy nhau, nhảy nhót, chạm óc ách vào nấm đất
mới đắp. Nước dập dờn liếm mãi vào khe những mảng
đất, làm cho nó mủn ra. Rồi nó lở thành những cục
con con, lả tả rơi từng tý một.
Độ nửa ngày, nước tràn qua mặt mả.
Gió hiu hiu. Bụi tre cót két như nghiến răng. Những
lá vàng rào rào bay xuống, chạy trên mặt nước như
thuyền buồm thuận chiều. Lúc nào sóng cũng dập dờn
làm ải đất mả đắp dối. Hòn to không mấy chốc thành
hòn nhỏ. Hòn nhỏ không mấy chốc bị cuốn đi. Nấm
mồ bị vẹt dần. Rồi nó không cao hơn mặt vườn nữa.
Rồi chẳng bao lâu, tự nhiên, ở dưới, nhô lên một
tầng đất mới.
Tầng đất này cũng mỗi lúc một tý, bị sóng đánh,
bị ải, và bị cuốn đi. Rồi hết lượt này đến lượt
khác, đất ở dưới cứ nhô lên và cứ bị cuốn đi từng
hòn nhỏ cho đến hết. Rồi sau hết, ục một tiếng,
cả chiếc quan tài tự nhiên nổi bềnh lên. Nó nghiêng
đi, hất tảng đất cuối cùng trên mặt ván trơn bùn
như mỡ. Tảng đất rơi tõm xuống nước. Cỗ áo quan
tròng trành, rồi đứng yên trên huyệt như chiếc thuyền
bị cạn.
Chiếc quan tài nổi theo mực nước lên cao dần. Sóng
bập bềnh cứ vỗ mãi vào thành nó như cố đẩy nó đi.
Rồi sau, nó không bị vướng gì nữa. Nó quay đầu,
lừ lừ theo chiều gió và chiều nước, lênh đênh, lúc
trôi ngang, lúc trôi dọc.
Độ nửa ngày, chiếc quan tài đã tự đến góc vườn,
cạnh bờ lạch. Đến đây, nước phía ngoài chảy xiết,
hút nó bạt ngang vào rặng tre. Nó mắc ở đó. Rồi
một bè ngổ bám cạnh nó. Rồi một cụm bèo bám cạnh
nó. Rồi cả một mảng vừa ngổ, vừa dừa, vừa bèo. Cả
tảng bị nước đẩy ra lạch, nhưng không nổi.
Chiều gió đổi làm nhích dần mọi vật, mỗi lúc một
tý. Nhưng cỗ ván gặp cành giong tự nhiên, rúc đầu
vào bụi. Rồi lái ngang, hẩy mảng bèo ra cho nó chui
qua khe rặng tre và theo dòng lạch trôi nhanh như
mũi tên. Rồi một mình chiếc quan tài cựa quậy, như
cũng muốn tìm lối ra chỗ rộng. Nhưng nó nặng nề,
nên hết xoay dọc lại xoay ngang. Nó tiến rất chậm
chạp, vì thỉnh thoảng có gióng tre cản lại.
Nắng gay gắt làm cho khô đất bết trên mặt cỗ ván
và cong vênh một phần nắp lên. Cả người nằm trong,
trương phềnh ra, cũng hình như không chịu được chỗ
quá chật hẹp.
Chiếc quan tài như con thuyền không chủ, bập bềnh,
lách theo lũy tre. Lúc nó dừng lại. Lúc nó nhích
đi. Lúc nó giúi nghiêng, lại bạt vào bụi. Rồi sau
hết, nó tới một chỗ có khe rộng. Tự nhiên, nó lao
một cái, thích hai cạnh vào tre hai bên, rồi đâm
thẳng ra giữa lạch chảy xiết. Đến đây, nó quay mấy
vòng, rồi lừ lừ, nó trôi dọc theo dòng nước...
Tiểu thuyết thứ bảy số 180; 1937.

|