| THAM
KHẢO
(Những bài chọn đăng trong trang này của từ
nhiều phía, không nhất thiết là quan điểm của nhóm
Hải Ngoại Phiếm Đàm. . .)
Nước
Mỹ trước ngã rẽ chiến lược
Nhà sử học kinh tế Augus Maddison nói cách đây
200 năm, các Hoàng đế Trung Hoa từng cai trị gần
1/3 dân số thế giới và kiểm soát 1/3 tổng GDP toàn
cầu. Nhưng cuối cùng họ thất bại trước sự xâm nhập
của người Châu Âu. Sau 200 năm, nước Mỹ có thể đối
mặt với nguy cơ ấy từ châu Á nếu họ "chủ quan".
Người Mỹ đang bỏ lỡ một cuộc cách mạng?
Khắp vùng Thái Bình Dương, sự nổi lên của Trung
Quốc không chỉ làm thay đổi bộ mặt của nền kinh
tế Đông Á mà thay đổi cả thương mại, tài chính,
sản xuất toàn cầu. Thực tế này có thể gây ra nhiều
tranh luận, song điều đáng quan tâm ở đây chính
là những phàn nàn của mọi người trước tỉ giá đồng
NDT, nạn cướp bản quyền trí tuệ và cả ý định đầu
tư của Trung Quốc tại Mỹ. Tất nhiên một số than
phiền cũng khá hợp lý. Song nếu chỉ quan tâm tới
những lời phàn nàn ấy thì sẽ dễ khiến người ta nhầm
lẫn giữa "đồi trọc và dãy Himalayas".
Trung Quốc đang mở cửa với thế giới, hấp dẫn những
nước láng giềng nhiều khả năng tài chính và công
nghệ bằng chi phí sản xuất thấp và nguồn nhân lực
dồi dào. Nếu hợp lại, nó sẽ nhanh chóng tạo ra một
"Liên hiệp Châu Á" không chính thức, một
nền kinh tế hội nhập tại châu Á với tổng GDP bằng
mức của Mỹ, dân số gấp 6 lần Mỹ, có những thế mạnh
về tài chính, công nghệ tiên tiến và lợi thế về
chi phí của một cộng đồng kinh tế đang phát triển.
Lẽ dĩ nhiên, để tham gia cuộc cạnh tranh ấy, không
thể áp dụng những đạo luật bảo hộ, trừng phạt thuế
quan hay cấm đầu tư Trung Quốc. Thay vì vậy, Mỹ
cần một giải pháp chiến lược, vừa cân nhắc tình
trạng tăng trưởng dựa vào vay nợ, lại vừa khắc phục
những điểm yếu trong cạnh tranh đồng thời thay đổi
cách tiếp cận các thể chế tài chính và thương mại
toàn cầu.
Không một quốc gia nào có thể lãnh đạo thế giới
một cách tuyệt đối. Bản thân Trung Quốc đã có bài
học sâu sắc. Theo nhà sử học kinh tế Angus Maddison,
những vị hoàng đế đời nhà Thanh đã cai trị gần 1/3
dân số thế giới và kiểm soát 1/3 tổng GDP thế giới.
Họ có một lịch sử của những cuộc cải cách, mở rộng
phát minh tiền giấy, chế tạo chất nổ, in sách....
Họ coi vị thế bá chủ ấy là đương nhiên và vĩnh cửu.
Nhưng khi những nhà ngoại giao và thương gia châu
Âu bắt đầu đặt chân lên mảnh đất Trung Hoa vào những
năm 1790, các vị hoàng đế Trung Hoa cho rằng những
người này "không có gì đáng quan tâm".
Đó là sai lầm to lớn. Vận dụng các kỹ thuật tiên
tiến và chiến lược quân sự vô địch, người châu Âu
đã thống trị châu Á chỉ trong vài thập kỷ. Những
hoàng đế Trung Hoa đã thất thế và các nước chư hầu
của họ cũng tan rã. Quá trình suy tàn và nổi dậy
kéo dài gần 2 thế kỷ.
Nước Mỹ có thể không phải đối mặt với tương lai
ảm đạm như vậy. Nhưng điều họ đối mặt lúc này là
một thách thức to lớn. Đã gần 1 thế kỷ nay, Mỹ là
nền kinh tế dẫn đầu thế giới. Song nhiều nước khác
với diện tích và khả năng tương tự có thể đuổi kịp
nếu họ cố gắng và khi ấy Mỹ sẽ chỉ biết gặm nhấm
thời hoàng kim đã qua. Quy mô của nền kinh tế Trung
Quốc đã tăng gấp 3 kể từ năm 1980 và tiếp tục tăng
ở mức 9%/năm. Với tốc độ này, tới năm 2020, Trung
Quốc sẽ đuổi kịp Mỹ.
Không chỉ đạt tốc độ nhanh về tăng trưởng, Trung
Quốc cũng đang leo nhanh trên nấc thang công nghệ,
đầu tư mạnh vào xây dựng cảng biển, hệ thống đường
duyên hải, mạng lưới viễn thông, các trung tâm nghiên
cứu và trường đại học. Mỗi năm, Trung Quốc thu hút
50 tỉ USD từ vốn FDI, riêng năm 2004 đã đạt mức
kỷ lục 60 tỉ USD. Nước này vẫn tiếp tục chuyển đổi
và thu được nhiều kết quả bất ngờ. Lúc đầu Trung
Quốc chuyển từ việc xuất khẩu hàng công nghiệp nhẹ
cần nhiều sức lao động sang công nghiệp nặng và
công nghệ; giờ đây họ đang đảm nhiệm một vai trò
mới là nhà cung cấp tài chính và đầu tư ồ ạt ra
bên ngoài. Có được kết quả này là nhờ Trung Quốc
đã giải quyết đúng đắn những vấn đề lớn. Các nước
láng giêng của Trung Quốc đang đóng góp tích cực
đồng thời thu lợi từ thành công ấy và Mỹ có nhiều
nguy cơ không theo kịp.
Nước Mỹ: "Trông người mà ngẫm đến
ta"
Không chỉ riêng Trung Quốc, cả châu Á đang có những
bước chuyển lớn lao trong bối cảnh toàn cầu hoá.
Hãy cùng xem xét 3 xu thế:
Châu Á đang tập trung sức mạnh. Bất chấp có nhiều
ý kiến trái ngược ở Mỹ, đầu tư tại Trung Quốc vẫn
là một hiện tượng của châu Á. 3/4 trong tổng số
60 tỉ USD từ FDP của Trung Quốc năm ngoái xuất phát
từ Hongkong, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đông
Nam Á. Năm 2003, Bộ Thương mại Trung Quốc tính toán
rằng vốn đầu tư từ Châu Á đã giúp dựng xây dựng
20.000 cơ sở sản xuất ở Trung Quốc mỗi năm. Những
nhà máy này vừa có chi phí sản xuất thấp, lại là
nơi thu hút lực lượng lao động có kỹ thuật, công
nghệ tiên tiến và vốn đầu tư từ các nước láng giềng
giàu có hơn. Trung Quốc cũng có ý định mở rộng quan
hệ loại này thông qua các thoả thuận ưu đãi thương
mại chính thức với ASEAN, Ấn Độ, Pakistan, Australia
và có thể là Nhật Bản. Cho tới nay, Mỹ mới chỉ có
hiệp định thương mại tự do với Singapore, sau này
là với Thái Lan. Vai trò của Mỹ tại khu vực Thái
Bình Dương đang có nguy cơ bị suy yếu.
Châu Á đang tích cực nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực. Mỗi năm Chính phủ Trung Quốc xây dựng
khoảng 200 trung tâm nghiên cứu. Kể từ những năm
1980 trở lại đây, số sinh viên đăng ký theo học
bậc cao đẳng tại nước này đã tăng 1/4, lên 20 triệu
người. Hiện sinh viên đang theo học những chương
trình rất khó. Theo số liệu của Dự án hệ thống máy
tính, mỗi năm, các trường ĐH Trung Quốc đào tạo
ra 200.000 kỹ sư, các trường ở Nhật Bản đào tạo
được 100.000 và những nơi khác như Đài Loan, Hàn
Quốc, Hongkong, Singapore cũng cho "ra lò"
số lượng tương tự. Trong khi đó, Mỹ lại có ít kỹ
sư công nghệ "người bản địa" hơn so với
20 năm trước đây. Chỉ 60.000 sinh viên Mỹ tốt nghiệp
mỗi năm. Hiện, những hạn chế mới về visa đã làm
suy yếu khả năng cân bằng của Mỹ khi nó ngăn cản
những công nhân có kỹ thuật, những nhà khoa học
tài giỏi và các sinh viên có triển vọng tới Mỹ.
Kể từ sau vụ 11/9, số sinh viên nước ngoài đăng
ký học tại Mỹ đã giảm 30%.
Châu Á đang tiết kiệm. Số liệu thống kê cho thấy
các gia đình tại Trung Quốc tiết kiệm khoảng 40%
GDP. Tỉ lệ tiết kiệm ở Hàn Quốc, Đài Loan, Hongkong
và Nhật Bản cũng cao một cách đáng ngạc nhiên. Trong
khi ấy, Mỹ ngày càng trở thành con nợ khổng lồ.
Tỉ lệ tiết kiệm của Mỹ đã giảm xuống mức chỉ còn
chiếm 1-2% GDP kể từ năm 2001. Đây là mức của những
năm 1934. Tăng trưởng kinh tế của Mỹ phần lớn dựa
vào mức độ tiêu dùng và cơn sốt mua sắm mà Trung
Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản là "những nhà xuất
khẩu" chính. Điều này đã làm tăng đáng kể thâm
hụt tài khoản của Mỹ. Các cuộc thăm dò dư luận cho
thấy bất chấp 2 năm qua, kinh tế Mỹ tăng trưởng
mạnh, song người Mỹ rất lo lắng.
Bên cạnh 3 xu thế tích cực kể trên, châu Á cũng
có những điểm yếu. Thứ nhất là mối quan hệ giữa
các cường quốc trong khu vực như Trung Quốc, Nga,
Nhật Bản và Ấn Độ không đơn giản chút nào. Thứ hai,
dân số châu Á đang lão hoá với tốc độ nhanh hơn
Mỹ. Thứ ba, nhiều nước châu Á, đặc biệt là Trung
Quốc đang đối mặt với những yếu kém về tài chính,
quá tải về môi trường, mất cân đối nghiêm trọng
trong thu nhập, tỉ lệ nghèo đói vẫn khá cao và hệ
thống luật pháp tồn tại nhiều lỗ hổng. Trong khi
đó, Mỹ vẫn duy trì khá nhiều thế mạnh: từ hệ thống
chính trị vững chắc tới những trường ĐH hàng đầu
thế giới, từ những chính sách môi trường và sở hữu
trí tuệ kín kẽ tới những lợi thế đặc biệt về dược
phẩm và các lĩnh vực khoa học đời sống. Nhưng một
khi Mỹ không nhận thức được những điểm yếu của họ,
sức mạnh ấy có lẽ sẽ không đủ.
Đừng tự mãn!
Câu hỏi đặt ra là nước Mỹ nên làm thế nào? Mỹ cần
phải xây dựng một chính sách "đồng bộ"
để giải quyết thách thức đang nổi lên từ mọi khía
cạnh. Cụ thể, Mỹ có thể coi trọng 4 ưu tiên sau:
Thứ nhất, Mỹ cần giảm thiểu nguy cơ mất cân bằng
tài chính và thương mại toàn cầu. Mỹ tiết kiệm và
xuất khẩu quá ít nhưng lại tiêu thụ quá nhiều. Trong
khi đó, châu Á tiết kiệm rất nhiều và đầu tư ồ ạt
vào địa ốc cũng như các ngành công nghiệp xuất khẩu.
Tình trạng này sẽ tạo ra thách thức cho cả hai phía.
Do mức thâm hụt tài khoản hiện tại của Mỹ đang chiếm
trên 6% GDP và Mỹ phụ thuộc vào ngùôn vốn nước ngoài
để tăng trưởng, họ có thể gặp nguy nếu có cú sốc
về tài chính và sẽ đối mặt với những khoản nợ dài
hạn. Về phần mình, châu Á đang tích trữ một lượng
lớn đô la mà số tiền này có nhiều khả năng sẽ giảm
giá. Sự tăng trường của châu Á cũng phụ thuộc vào
"thái độ" của người tiêu dùng Mỹ. Vì cả
hai phía đều phải có trách nhiệm trước những biểu
hiện mất cân đối này, Mỹ và châu Á phải cùng nhau
giải quyết. Điều đó đòi hỏi việc nâng giá đồng NDT
ở Trung Quốc, giảm thâm hụt và tăng cường tiết kiệm
cá nhân tại Mỹ, tự do hoá bền vững tại Nhật Bản
và Hàn Quốc.
Thứ hai, Mỹ cần phát động "cuộc chơi"
ở ngay trong nước để tiếp tục duy trì vị thế là
nước đi đầu thế giới về công nghệ. Về mặt này, Mỹ
cần phải có chính sách thuế thật sắc nhọn, làm sao
tập trung khuyến khích cải cách. Đầu tư công phải
được cơ cấu lại theo hướng nâng cao chất lượng cơ
sở hạ tầng truyền thống và cơ sở hạ tầng công nghệ
cao. Cả chính phủ và khối tư nhân cần tăng đầu tư
vào nghiên cứu, đặc biệt là các lĩnh vực khoa học
thông tin và tự nhiên. Chi tiêu liên bang trong
các ngành khoa học cơ bản đã bị trì trệ gần 3 thập
kỷ nay và kể từ những năm 1970 đã giảm 37% tương
ứng với GDP. Chính phủ Mỹ cũng cần phải đổi mới
chính sách thu hút nhân tài, trước mắt bằng cách
thay đổi chính sách visa. Cụ thể, chính phủ nên
giảm bớt thời gian chờ đợi cấp visa đối với sinh
viên nước ngoài đăng ký học cao học tại Mỹ đồng
thời xoá bỏ những hạn chế trong visa làm việc của
các nhà khoa học và kỹ sư nước ngoài. Mỹ cũng cần
tạo ra một mạng lưới trường tiểu học và trung học
rộng khắp, tập trung vào các môn khoa học và công
nghệ.
Thứ ba, Mỹ cần phải duy trì vị trí trung tâm trong
vành đai kinh tế Thái Bình Dương. Hiệp định tự do
thương mại với Singapore và hiệp định đang đàm phán
dở với Thái Lan là bước khởi đầu nhưng rất quan
trọng. Bất kể Vòng đàm phán Doha của WTO cho kết
quả ra sao, Mỹ nên tiến hành đàm phán với các quốc
gia trong ASEAN, Hàn Quốc và Nhật Bản về các hiệp
định thương mại tham vọng. Thêm vào đó, Mỹ nên tăng
cường thắt chặt quan hệ kinh tế với Ấn Độ để đảm
bảo một sự hiện diện vững vàng tại châu Á.
Cuối cùng, Mỹ cần tái cơ cấu quan hệ kinh tế với
Trung Quốc và Trung Quốc cũng cần củng cố lại những
ràng buộc đối với thế giới. Về phía Mỹ, việc Quốc
Hội trong từng thời kỳ hướng sự chú ý tới những
vấn đề đặc biệt thông qua các cuộc tranh luận dường
như không đủ. Lo ngại về một chính sách thương mại
cụ thể nào đó của Trung Quốc cần phải được giải
quyết thông qua các cuộc đàm phán song phương, thông
qua WTO và dựa vào luật thương mại Mỹ. Kết hợp tất
cả sẽ tạo ra một ràng buộc lớn hơn với Trung Quốc
nói riêng và cả châu Á nói chung. Để làm được điều
này, Mỹ không chỉ cần xem xét lại chính sách, mà
cần cuộc cải tổ căn bản trong những thể chế kinh
tế toàn cầu, đặc biệt là G-8, ÌM và APEC.
Về phía Trung Quốc, là nền kinh tế lớn thứ 2 thế
giới, nhà xuất khẩu lớn thứ 3 thế giới, lại là nước
thu hút nhiều FDI nhất và dự trữ ngoại tệ lớn thứ
2 thế giới, Trung Quốc nên trở thành một thành viên
của G-8, chứ không phải chỉ là một khách mời không
thường xuyên như hiện nay. Hàn Quốc, với quy mô
nền kinh tế có thể sánh với Canada hay Italia, cũng
nên là thành viên của G-8.
Hiện việc phân bổ mức đóng góp của IMF cũng thấp
hơn tiêu chuẩn. Phần đóng góp của Trung Quốc vào
IMF hiện là 3%, tương đương với Canada và không
cao hơn Bỉ là mấy. Mức này thấp hơn so với mức độ
trách nhiệm mà Trung Quốc nên góp vào hệ thống thương
mại toàn cầu. Tương tự như vậy, APEC cũng cần một
sứ mệnh mới. Tổ chức này nên khởi động lại mục tiêu
ban đầu đặt ra, là "hướng tới một nền thương
mại tự do và mở cửa" ở khu vực Thái Bình Dương,
giải quyết 4 vấn đề lớn nhiều nước quan tâm: năng
lượng, thay đổi khí hậu, tình trạng lão hoá và tài
chính ở Thái Bình Dương.
Nhưng trước khi tiến hành tất cả những việc này,
cần phải có sự đánh giá đúng đắn từ phía chính quyền
Mỹ, Quốc hội, giới doanh nghiệp và cả công chúng.
Tất cả phải hiểu rằng nước Mỹ đang đối mặt với thách
thức cạnh tranh, một thách thức không thể quy kết
cho thương mại bất công bằng hay đồng đô la bị đánh
giá thấp. Thực tế là cuộc cạnh tranh ấy đang ngày
càng khốc liệt và nước Mỹ cần phải theo kịp. Để
thành công, nước Mỹ cần soi vào tấm gương thất bại
của các vị hoàng đế Trung Hoa cách đây 200 năm:
Đừng tự mãn!
Tân Huyền - (Theo Wall Street Journal)

|