| THAM
KHẢO
(Những bài chọn đăng trong trang này của từ
nhiều phía, không nhất thiết là quan điểm của nhóm
Hải Ngoại Phiếm Đàm. . .)
Ngày
"huyền thoại" Normandy
Normandy là địa danh chỉ cả một vùng duyên hải thuộc
Tây Bắc nước Pháp, được đặt theo tên của những người
Viking từ phía Bắc đi theo đường biển đến đây vào
thế kỷ thứ 9. Cách đây đúng 60 năm, quân Đồng minh
đã đổ bộ lên bãi biển Normandy, chính thức mở mặt
trận thứ hai nhằm tiêu diệt chủ nghĩa Đức Quốc xã.
Từ một bãi biển gần như vô danh, Normandy đã đi
vào lịch sử như địa điểm của một chiến dịch đổ bộ
quy mô lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Và hàng
năm cứ đến ngày 6/6, hàng vạn cựu chiến binh và
cả du khách từ khắp nơi trên thế giới lại đổ về
đây để kỷ niệm sự kiện này với tên gọi là D- Day.
Lựa chọn Normandy
Các
tư lệnh quân Đồng minh họp tại London tháng 2/1944.
Tại cuộc họp giữa Tổng thống Mỹ F. Roosevelt, Thủ
tướng Anh Winston Churchill và lãnh tụ Liên Xô Joseph
Stalin ở Tehran tháng 12/1943, Stalin đã lên tiếng
yêu cầu Mỹ và Anh nhanh chóng triển khai những cam
kết đưa ra từ trước về việc "mở mặt trận thứ
hai" tại Tây Âu. Lãnh tụ Liên Xô nêu điều kiện
nếu Mỹ và Anh chấp thuận tấn công Đức Quốc xã tại
Pháp, Liên Xô sẽ đồng ý phối hợp tấn công ở Đông
Âu và tiến đánh phát xít Nhật sau khi Đức Quốc xã
thất bại. Trên thực tế, người Anh không bao giờ
thích ý tưởng tiến hành một cuộc tấn công phát xít
Đức trực tiếp tại bờ biển Tây Bắc lục địa châu Âu.
Họ muốn một chiến lược gián tiếp như tấn công ở
Địa Trung Hải hoặc vùng Balkan. Tuy nhiên, dưới
sức ép của Tổng thống Mỹ và lãnh tụ Liên Xô, ông
Churchill đã chấp thuận kế hoạch mở mặt trận thứ
2 ngay tại Tây Âu với thời hạn xác định là tháng
5/1944.
Quyết định đưa ra tại hội nghị Tehran chính là
sự thể hiện quyết tâm của Mỹ - tiến hành một cuộc
tấn công qua eo biển Manches, đồng thời cũng là
thất bại lớn đối với Alan Brooke, tham mưu trưởng
của ông Churchill và là người phản đối một chiến
dịch chớp nhoáng. Theo quyết định này, tháng 1/1944,
Tướng Eisenhower trở thành Tư lệnh tối cao lực lượng
Đồng minh.
Về phía Đức Quốc xã, từ lâu Hitler đã biết rằng
lực lượng Mỹ - Anh sẽ tiến hành một cuộc tấn công
qua vùng Eo biển. Tuy nhiên do Đức còn đang phải
dồn lực lượng tại vùng Địa Trung hải và chiến dịch
của quân Đức tại Đông Âu vẫn cần tăng cường thêm
binh lực bất cứ lúc nào, Hitler đã coi nhẹ nguy
cơ này. Nhưng đến tháng 11/1943, Hitler xác định
rằng không thể "lờ" mặt trận Pháp lâu
hơn được nữa. Trong Chỉ thị Fuhrer số 51, Hitler
tuyên bố tăng cường lực lượng tại Pháp. Hitler cử
Tư lệnh chiến trường Erwin Rommel, cựu chỉ huy Quân
đoàn châu Phi trực tiếp kiểm tra quá trình phòng
vệ bờ biển Normandy và chịu trách nhiệm chỉ huy
Nhóm B canh giữ khu vực này.
Chuẩn bị
Tháng 1/1944, lực lượng Đồng Minh quyết định bổ
nhiệm một tư lệnh chiến trường, dưới quyền ông Eisenhower.
Tướng Bernard Law Montgomery vốn là đối thủ của
Tướng Rommel tại mặt trận Bắc Phi đã đảm nhiệm vị
trí này. Ngay lập tức, Montgomery đã đưa ra 2 yêu
cầu: 1) cử 5 sư đoàn tham gia đợt đổ bộ đầu tiên
và 2) mở rộng khu vực đổ bộ tới cửa sông Orne và
phía cuối bán đảo Cotentin. Cuối cùng, lực lượng
Đồng minh quyết định lực lượng đổ bộ sẽ bao gồm
5 sư đoàn bộ binh trong số đó 2 sư đoàn của Mỹ,
2 của Anh và 1 của Canada. Các sư đoàn này nhận
lệnh tới những bãi biển có mật danh Utah, Omaha,
Gold, Juno và Sword trải từ tây sang đông vùng Normandy
thực hiện một chiến dịch đổ bộ mang tên "Chiến
dịch Lãnh chúa" (Operation Overlord).
Lực lượng Đồng minh tham gia trận Normandy
Chỉ huy:
- Tư lệnh tối cao lực lượng Đồng minh - Tướng Eisenhower;
- Tư lệnh chiến trường - Tướng Bernard Montgomery.
Lực lượng:
- Mỹ: Quân đoàn 5 và 7; Sư đoàn bộ binh số 1, số
4; Sư đoàn không vận số 82 và 101. Đơn vị không
quân số 8 và 9; Lực lượng viễn chinh quân Đồng minh;
Nhóm đặc nhiệm phía Tây.
- Anh: Quân đoàn số 1, số 30; Sư đoàn Bộ binh số
3 và số 50; Sư đoàn không vận số 6; Sư đoàn bộ binh
Canada số 3.
Các lực lượng không quân hoàng gia Anh: Lực lượng
không quân chiến thuật số 2; các lực lượng hải quân,
Đơn vị đặc nhiệm phía Đông.
Đầu tháng 6/1944, hơn 2 triệu quân Mỹ đã tới khu
vực tập kết, cùng với 250.000 quân Canada. Mặc dù
được trang bị những vũ khí hiện đại, có hàng nghìn
máy bay, xe tăng yểm trợ song các sư đoàn của Mỹ
không được huấn luyện tốt về kỹ thuật tác chiến.
Về phía Anh, Sư đoàn thiết giáp số 79 đã được thành
lập gồm các phương tiện tối tân so với thời đó như
xe lội nước, xe tăng gỡ mìn...Toàn bộ các sư đoàn
chiến đấu của Anh và Canada đều nhận được sự yểm
trợ của sư đoàn số 79. Anh thậm chí còn ngỏ ý "trang
bị" cho quân Mỹ song Bộ tư lệnh tối cao Mỹ
đã từ chối, trừ loại xe tăng "DD" (Duplex
drive).
Trong khi đó, lính Đức quốc xã đóng tại khu vực
Normandy dưới sự chỉ huy của Tướng Erwin Rommel
đã tiến hành giăng dây thép gai và đặt các bãi mìn
tại vùng bờ biển nơi Đức dự đoán có thể xảy ra cuộc
đổ bộ. Bên trên, lính Đức nguỵ trang bằng cách xây
các ụ súng máy và pháo cối.
Việc giữ bí mật về cuộc đổ bộ đóng một vai trò đặc
biệt quan trọng. Để đánh lạc hướng Đức Quốc xã,
Anh đã khéo léo tạo ra những kế hoạch giả tạo, đáng
chú ý như "Chiến dịch Ngoan cường" (Operation
Fortitude). Thông tin nguỵ trang được truyền và
phát từ các trạm truyền thanh tại Kent tới tất cả
những kênh radio của lực lượng Mỹ đóng tại tây nam
và lực lượng Anh, Canada đóng tại phía trung nam
nước Anh. Bên cạnh đó, các trại huấn luyện quân
sự giả tạo, quy mô lớn tại Maidstone và Canterbury
đã lần lượt xuất hiện với hàng nghìn xe tăng, máy
bay "hình nộm".
Một trong những vị tướng "thích khoa trương"
nhất của lực lượng Đồng minh là George Patton đã
"thị sát" khu vực này. MI5 tìm cách "đánh
lạc hướng" mật vụ Đức Quốc xã bằng cách tung
tin đơn vị hùng mạnh nhất của quân Đồng minh, Sư
đoàn lục quân số 3 của Mỹ, sẽ tiến hành cuộc tấn
công dữ dội vào Pas de Calais. Chiến thuật này đã
phát huy tác dụng. Lính Đức bắt đầu tập trung đơn
vị mạnh nhất của chúng, Quân đoàn số 15 tại Pas
de Calais. Normandy chỉ đóng vai trò "thứ yếu"
trong kế hoạch của Đức, tuy nhiên, chúng vẫn cử
Quân đoàn 7 chốt tại đây. (Nếu Quân đoàn số 15 có
mặt tại Normandy vào ngày 6/6/1944, cuộc đổ bộ của
lực lượng Đồng minh có thể là một thảm hoạ).
D-Day: Ngày định mệnh
Mặc dù tháng 5/1944 đã được chọn là thời điểm tiến
hành cuộc tấn công, song do nhiều khó khăn về mặt
chuẩn bị lực lượng, kế hoạch này đã phải lui lại
tới tháng 6. Ngày 17/5, Tướng Eisenhower quyết định
sẽ tiến hành cuộc đổ bộ vào đúng ngày 5/6. Càng
đến gần thời điểm này, thời tiết càng trở nên xấu,
báo trước những khó khăn mà các đơn vị đổ bộ sẽ
phải đối mặt.
Cảnh
đổ bộ sáng ngày 6/6/1944.
Sau nhiều cuộc thảo luận căng thẳng, cuối cùng vào
buổi sáng ngày 5/6/1944, Tướng Eisenhower lợi dụng
cơ hội "thời tiết xấu" đã phát lệnh tấn
công. Chỉ trong vòng vài giờ, một hạm đội gồm 3.000
tàu đổ bộ, 2500 tàu chiến và 500 tàu hải quân cỡ
lớn bắt đầu rời các hải cảng Anh. Đêm đó, 822 máy
bay chở theo lính nhảy dù bắt đầu xuất kích nhằm
hướng Normandy. Đây là một phần trong phi đội 13.000
máy bay nhận lệnh hỗ trợ chiến dịch.
Trong khi đó, lính Đức hoàn toàn lơ đễnh, không
hề biết gì về bão táp sắp xảy ra. Tướng Rommel cứ
nghĩ rằng không thể xảy ra một cuộc tấn công trong
hoàn cảnh thời tiết quá xấu vì thế ông ta rời Normandy
về Đức từ buổi sáng ngày 5/6 để dự lễ sinh nhật
lần thứ 50 của bà vợ.
Các sĩ quan chủ chốt khác cũng lợi dụng thời tiết
xấu để tham dự trò chơi mô hình chiến tranh tại
Rouen trong khi viên chỉ huy của Sư đoàn Thiết giáp
số 21, đơn vị thiết giáp duy nhất của Đức đóng tại
khu vực bờ biển Normandy lại đi Paris thăm "bồ
nhí".
Đơn vị đầu tiên đổ bộ là các phi đội bay. Sư đoàn
không vận số 82 và 101 của Mỹ hạ cánh tại một vùng
ngập nước chân bán đảo Cotentin và chịu rất nhiều
thương vong, phần lớn do chết đuối. Tuy nhiên, họ
đã bảo toàn vị trí của mình. Sư đoàn không vận số
6 của Anh thì đổ bộ xuống đúng các mục tiêu đã định
trước tại đầu phía đông. Lực lượng đặc nhiệm thuộc
sư đoàn cũng tiếp cận được những cây cầu trọng yếu
phía trên kênh Caen và sông Orne.
Đúng 6h30' ngày 6/6/1944, các đơn vị hải quân Đồng
minh bắt đầu cập bờ. Lúc này lính Anh, Canada tại
bãi biển Gold, Juno và Sword đã vấp phải những sự
chống trả quyết liệt từ phía quân Đức. Tương tự,
tại Utah, quân Mỹ cũng khá vất vả khi đối phó với
quân đội phát xít. Cuộc chiến gay go nhất xảy ra
tại bãi Omaha giữa sư đoàn số 1 của Mỹ và các đơn
vị phòng vệ bờ biển số 352 của Đức. Buổi sáng ngày
6/6, việc đổ bộ của lực lượng Đồng minh tại đây
có nguy cơ thất bại, nhưng cuối cùng do sự yểm trợ
của lực lượng du kích địa phương, cuộc đổ bộ đã
thành công tốt đẹp. Lực lượng Đồng minh đã nhanh
chóng tiến sâu vào đất liền.
Các
tướng lĩnh Đức quốc xã họp bàn tại Paris tháng 5/1944.
Trong khi các sư đoàn đang dũng cảm chiến đấu tại
Normandy, giới lãnh đạo lực lượng Đồng minh tỏ ra
vô cùng lo lắng. Vào đúng đêm 6/6/1944, Thủ tướng
Anh Churchill gần như không ngủ được. Ông chúc vợ
ngủ ngon kèm theo câu nói: "Em có biết vào
buổi sáng khi ta tỉnh dậy, có thể 20.000 người đã
thiệt mạng?".
Cùng đêm ấy, Tham mưu trưởng lực lượng quân đội
hoàng gia Anh, Tướng Alan Brooke đã viết vào nhật
ký riêng dòng chữ: "...đó có thể là thảm hoạ
tồi tệ nhất trong toàn bộ cuộc chiến này. Cầu chúa
để mọi việc kết thúc tốt đẹp".
Vào lúc 22h đêm 6/6, Tư lệnh tối cao lực lượng
quân Đồng minh, Tướng Dwight Eisenhower đã có chuyến
thăm bất ngờ tới Sư đoàn không vận 101 tại sân bay
Greenham Common, gần Newbury. Lái xe riêng của ông
là Kay Summersby kể lại Tướng Eisenhower quá xúc
động, tới mức khi ông trở lại xe, hai vai ông rũ
xuống. Trước đó, ông Eisenhower đã viết một lá thư
nhận trách nhiệm hoàn toàn nếu cuộc đổ bộ ngày 6/6
thất bại. Còn Thủ tướng Anh thì cam kết rằng "hai
người sẽ cùng ra đi". Bộ tư lệnh tối cao lực
lượng Đồng minh dự đoán kể cả nếu cuộc đổ bộ thất
bại, con số thương vong có thể lên đến hàng chục
nghìn người.
Chiến thắng trong tầm tay
Tại bãi Gold, Juno và Sword, lực lượng quân đội
Anh và Canada nhận được sự yểm trợ của các xe thiết
giáp đặc chủng thuộc Sư đoàn thiết giáp số 79. Trên
cả 3 bãi biển này, lúc đầu các phòng tuyến của quân
Đức bị tấn công dữ dội và rất nhiều lính Đức thương
vong. Song với sự tiếp viện kịp thời của súng cối
Petard và xe tăng Crocodile, quân Đức đã đáp trả
mạnh mẽ khiến cho việc tiến sâu vào đất liền của
lực lượng Đồng minh trở nên khó khăn.
Trong lúc này, quân Anh và Canada lại nhanh chóng
tiếp cận mục tiêu và đánh sâu vào liền. Ở bãi Sword,
Sư đoàn số 3 của quân Anh đã vấp phải sự chống trả
quyết liệt của một mạng lưới phòng thủ Đức khi chỉ
còn cách Caen 4,8 km.
Bản
đồ các đơn vị quân Đồng minh đổ bộ tại Normandy.
Đài phát thanh quốc gia Đức đã phát bản tin lúc
7h sáng thông báo cuộc đổ bộ của quân đồng minh
tại Normandy và Hitler cam kết sẽ nhanh chóng "tiêu
diệt" lực lượng đổ bộ. Bản tin đặc biệt của
đài BBC được phát sau đó 2 tiếng rưỡi. Trên các
đài phát thanh Anh, John Snagge tuyên bố ngày "định
mệnh" đã tới và mọi việc diễn ra theo đúng
kế hoạch. 12 giờ trưa cùng ngày, Thủ tướng Anh Churchill
xác nhận thông tin này trong một bài phát biểu trước
Hạ viện Anh. Và bất chấp những lo lắng của Tướng
Eisenhower về tình hình đang diễn ra tại bãi Omaha,
vào giữa buổi chiều hôm đó, thế trận đang nghiêng
về phía lực lượng Đồng minh.
Khi Thủ tướng Churchill lần thứ hai phát biểu tại
Hạ viện lúc 18h tối, ông đã công bố chiến thắng
chớp nhoáng khiến thế giới gần như "sửng sốt".
Vậy là để bảo vệ công sự bên bờ biển nước Pháp,
lực luợng Đồng minh đã bị hao tổn 3.000 quân, và
tới 7.000 người bị thương, phần lớn là lực lượng
không quân đổ bộ xuống bãi Omaha. Con số thương
vong này thấp hơn rất nhiều so với dự đoán là nhờ
vào thời gian chuẩn bị công phu, kế hoạch quân sự
đầy mưu lược, biết lợi dụng thời cơ và cả "may
mắn".
Sau ngày "định mệnh" ấy, thế trận nghiêng
hẳn về phía lực lượng Đồng minh. Đến đầu tháng 9/1944,
gần như toàn bộ các vùng lãnh thổ nước Pháp được
giải phóng. Lực lượng Mỹ, Anh và Canada đã chiếm
lại Bỉ và một phần Hà Lan đồng thời tới gần biên
giới Đức. Chiến thắng hoàn toàn trước quân phát
xít đã nằm chắc trong tầm tay. Trận Normandy thực
sự đi vào lịch sử như một huyền thoại.
Một số người thường hỏi chữ D đứng trước chữ
Day trong cụm từ D-Day nghĩa là gì? Theo cách lý
giải thứ nhất, chữ D là dạng viết tắt của từ Deliverance
- phán quyết, D-Day nghĩa là Ngày phán quyết (số
phận của Đức quốc xã chăng). Còn theo cách lý giải
thứ hai, D nghĩa là Doom (Tận thế) cũng với ý nghĩa
tương tự. Có người còn giải thích D ở đây là Debarkation
( đổ bộ lên bờ)...
Thực ra chữ D trong cụm từ này chỉ được các
nhà quân sự dùng để chỉ từ Ngày nổ súng của một
chiến dịch. Khi một chiến dịch được dự kiến, thông
thường người ta không biết đích xác ngày tháng bắt
đầu, vì thế tạm đặt là ngày D. Ngày trước đó gọi
là D-1, ngày sau đó là D+1 v.v...
Ban đầu, D-Day của chiến dịch này dự kiến là
ngày 5/6, nhưng đến phút cuối cùng, do thời tiết
xấu nên phải hoãn lại ngày hôm sau. Ngoài thuật
ngữ D- Day, các nhà quân sự còn dùng cụm từ H- Hour
(Giờ khai hoả). Cụm từ D- Day được sử dụng trong
nhiều chiến dịch nhưng hiện nay chỉ còn để chỉ duy
nhất ngày Đồng minh bắt đầu chiến dịch đổ bộ lên
bãi biển Normandy (6/6/1944).
vnnet,Tân Huyền - (Tổng hợp)

|