|

Tham
khảo:
Nguyễn
Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn...
(Kỷ niệm 239
năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du (3-1-1765 -
3-1-2004)
Sự nghiệp
vĩ đại của Đại thi hào Nguyễn Du để lại trong kho
tàng văn học VN là vô giá. Chỉ riêng kiệt tác Truyện
Kiều đã được dịch ra hàng trăm thứ tiếng và Nguyễn
Du đã được UNESCO công nhận là Danh nhân văn hóa
thế giới vào dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông
. Nhân kỷ niệm 239 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn
Du (3-1-1765 - 3-1-2004), chúng tôi xin tổng hợp
những trang văn viết về Cụ
1. Nguyễn Du sinh năm nào?
Xưa nay có nhiều thư tịch, văn bản
đưa nhiều giả thuyết về năm sinh của Đại thi hào
Nguyễn Du nhưng tựu trung ở hai năm 1765 và 1766.
Vậy thực tế Nguyễn Du sinh năm nào?
Theo giáo sư Nguyễn Lộc "Từ
điển Văn học (tập II). Nhà xuất bản Khoa học Xã
hội, 1984, trang 54, 55 cho rằng: "Nguyễn Du
(3.I.1766? - 16.IX.1820). Nhà đại thi hào Việt Nam.
Tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên. Siinh năm Ất
Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng. Có tài liệu ghi ngày sinh
của Nguyễn Du là 23 tháng Mười một, tính ra Dương
lịch là 3.I.1766. Quê Nguyễn Du ở làng Tiên Điền,
huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An, nay thuộc tỉnh Nghệ
Tĩnh, nhưng lại sinh ở Thăng Long, và thời niên
thiếu chủ yếu cũng ở Thăng Long...".
Trong tác phẩm Truyện Kiều và Chủ
nghĩa hiện thực, giáo sư Lê Đình Kỵ lại viết: "Nguyễn
Du sinh ngày 3 tháng giêng năm 1766 tại làng Tiên
Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia
đình đại quí tộc và có truyền thống khoa cử lâu
đời. Họ Nguyễn Tiên Điền là họ danh vọng nhất thời
Lê Mạt, cho nên đương thời có lời truyền tụng:
Bao giờ Ngàn Hống hết cây
Sông Rum hết nước họ này hết quan
... Mẹ Nguyễn Du là Trần Thị Tần
(1740 - 1778) vợ trắc thất của Nguyễn Nghiễm, sinh
được 4 trai, 1 gái. Mồ côi cha từ năm 9 tuổi và
mồ côi mẹ từ năm 12 tuổi... Nguyễn Du có 3 vợ và
18 con. Sau khi Nguyễn Du chết , gia đình ly tán".
Rõ ràng năm 1766 là thuyết được
nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận. Nhưng năm 1765 lại
được nhiều người công nhận hơn
2. Vài nét về thân thế và sự nghiệp:
Nguyễn Du hiệu là Tố Như, Thanh
Hiên, con Nguyễn Nghiễm (1708 - 1775) làm tới chức
Tể tướng, quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân (Nghệ
Tĩnh) văn chương vượt hẳn bạn bè, nhưng học vị chỉ
là Tam trường (Tú tài).
Nguyễn Du gặp nhiều khó khăn hồi
còn thanh niên vì sớm mồ côi cha và mẹ nên ăn nhờ
ở đậu: hoặc ở nhà anh ruột (Nguyễn Khản), nhà anh
vợ (Đoàn Nguyễn Tuấn), có lúc làm con nuôi một võ
quan họ Hà, và nhận chức nhỏ: Chánh thủ Hiệu úy.
Do tình hình đất nước biến động, chính quyền Lê
Trịnh sụp đổ, Tây Sơn quét sạch giặc Thanh, họ Nguyễn
Tiên Điền cũng sa sút tiêu điều: "Hồng Linh
vô gia, huynh đệ tán". Nguyễn Du trải qua 10
năm gió bụi.
Năm 1802, ra làm quan với triều
Nguyễn được thăng thưởng rất nhanh, từ tri huyện
lên đến tham tri (1815), được cử làm chánh sứ sang
Tàu (1813). Ông mất vì bệnh thời khí (dịch tả),
không trối trăng gì, đúng vào lúc sắp sửa làm chánh
sứ sang nhà Thanh lần thứ hai.
3. Hoàn cảnh ra đời Truyện Kiều:
Theo Giáo sư Nguyễn Lộc, trang 455
viết: "Đoạn trường tân thanh... là một truyện
thơ Nôm viết bằng thể lục bát, dựa theo tác phẩm
Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài Nhân, Trung
Quốc gồm 3.254 câu thơ. Có thuyết nói Nguyễn Du
viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc (1814-20).
Có thuyết nói Nguyễn Du viết trước khi đi sứ, có
thể vào thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-09).
Thuyết sau này được nhiều người chấp nhận. Ngay
sau khi ra đời, truyện được nhiều nơi khắc in và
lưu hành rộng rãi. Bản in cũ nhất hiện còn là dưới
thời Tự Đức (1871).
4. Tác phẩm và đóng
góp của Truyện Kiều trong đời sống văn hóa:
Đoạn trường Tân thanh (Truyện Kiều); Văn tế thập
loại chúng sinh (Văn chiêu hồn) và hai bài tồn nghi
là Sinh tế Trường Lưu nhị nữ (Văn tế sống hai cô
gái Trường Lưu) và Thác lời trai phường nón.
Ngoài ra Nguyễn Du còn có ba tập
thơ chữ Hán có giá trị. Thanh Hiên tiền hậu tập;
Nam trung tạp ngâm; Bắc hành tạp lục. Cả ba tập
này, nay mới góp được 249 bài nhờ công sức sưu tầm
của nhiều người.
Một số bài như Phản chiêu hồn, Thái
Bình mại ca giả, Long thành cầm giả ca đã thể hiện
rõ rệt lòng ưu ái trước vận mệnh con người. Những
bài viết về Thăng Long, về quê hương và cảnh vật
ở những nơi Nguyễn Du đã đi qua đều toát lên nỗi
ngậm ngùi dâu bể.
Nguyễn Du cũng có gắn bó với cuộc
sống nông thôn, khi với phường săn thì tự xưng là
"Hồng Sơn liệp hộ", khi với phường chài
thì tự xưng là "Nam Hải điếu đồ". Ông
có những bài ca dân ca như Thác lời con trai phường
nón, bài văn tế như Văn tế sống hai cô gái Trường
Lưu, chứng tỏ ông đã tham gia sinh hoạt văn nghệ
dân gian với các phường vải, phường thủ công ở Nghệ
Tĩnh
Truyện Kiều đóng một vai trò quan
trọng trong sinh hoạt văn hóa VN. Nhiều nhân vật
trong Truyện Kiều trở thành điển hình cho những
mẫu người trong xã hội cũ, mang những tính cách
tiêu biểu như Sở Khanh, Hoạn Thư, Từ Hải, và đều
đi vào thành ngữ VN.
Khả năng khái quát của nhiều cảnh
tình, ngôn ngữ, trong tác phẩm khiến cho quần chúng
tìm đến Truyện Kiều, như tìm một điều dự báo. Bói
Kiều rất phổ biến trong quần chúng ngày xưa. Ca
nhạc dân gian có dạng Lẩy Kiều. Sân khấu dân gian
có trò Kiều. Hội họa có nhiều tranh Kiều. Thơ vịnh
Kiều nhiều không kể xiết. Giai thoại xung quanh
Kiều cũng rất phong phú. Tuồng Kiều, cải lương Kiều,
phim Kiều cũng ra đời. Nhiều câu, nhiều ngữ trong
Truyện Kiều đã lẫn vào kho tàng ca dao, tục ngữ.
Từ xưa đến nay, Truyện Kiều đã là
đầu đề cho nhiều công trình nghiên cứu, bình luận
và những cuộc bút chiến. Ngay khi Truyện Kiều được
công bố (đầu thế kỷ XIX) ở nhiều trường học của
các nho sĩ, nhiều văn đàn, thi xã đã có trao đổi
về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Đầu thế
kỷ XX, cuộc tranh luận về Truyện Kiều càng sôi nổi,
quan trọng nhất là cuộc phê phán của các nhà chí
sĩ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng phản đối phong trào
cổ xúy Truyện Kiều do Phạm Quỳnh đề xướng (1924).
5. Những trang văn
nhận định về Nguyễn Du và Truyện Kiều:
Nhà bình văn trong khu vườn lưu niệm Nguyễn Du
Trong Lời đầu sách ở Từ điển Truyện Kiều (1974),
Giáo sư Đào Duy Anh viết:
"Trong lịch
sử ngôn ngữ và lịch sử văn học VN, nếu Nguyễn Trãi
với Quốc âm thi tập là người đặt nền móng cho ngôn
ngữ văn học dân tộc thì Nguyễn Du với Truyện Kiều
lại là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học hiện
đại của nước ta. Với Truyện Kiều của Nguyễn Du,
có thể nói rằng ngôn ngữ VN đã trải qua một cuộc
thay đổi về chất và đã tỏ rõ khả năng biểu hiện
đầy đủ và sâu sắc... Nguyễn Du sinh quán ở Thăng
Long, tổ quán ở Nghệ-Tĩnh, mẫu quán ở Bắc Ninh,
đã nhờ những điều kiện ấy mà dựng lên được một ngôn
ngữ có thể nói là gồm được đặc sắc của cả ba khu
vực quan trọng nhất của của văn hóa nước ta thời
trước".
Giáo sư Lê Đình Kỵ,
người được xem là "chuyên gia Truyện Kiều"
đã có những trang văn nhận định thú vị: "Truyện
Kiều nổi lên so với những giá trị văn học đương
thời, và khiến sáng tác của Nguyễn Du gần với chúng
ta ngày nay, về cả nội dung và hình thức nghệ thuật.
Nhưng dù sao thì Nguyễn Du vẫn là người của thời
đại mình, không thể thoát ly hoàn cảnh xã hội, lịch
sử cụ thể, về cả hệ tư tưởng lẫn phương pháp nghệ
thuật, thể hiện ở xu hướng lý tưởng hóa, ước lệ.
Điều này khó tránh trong tình hình sáng tác chung,
trong trình độ tư duy nghệ thuật chung đương thời...
Trước sau Truyện Kiều vẫn là di sản vĩ đại, là tuyệt
đỉnh của nền văn học dân tộc quá khứ. Quan điểm
lịch sử cũng như đòi hỏi muôn đời của giá trị văn
học đều cho phép ta khẳng định điều đó".
Mộng Liên Đường Chủ Nhân (1820)
theo bản dịch của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, bình
luận: "...Lời văn tả ra hình như máu chảy ở
đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến
ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn
đứt ruột... Tố Như Tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã
khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không
phải có con mắt trong thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ
suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy".
Nhà thơ Nguyễn Công Trứ đã kịch
liệt phê phán Thúy Kiều:
"...Bạc mệnh chẳng lầm người
tiết nghĩa
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm
Bán mình trong bấy nhiêu năm
Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai
Nghĩ đời mà ngán cho đời".
Nhà thơ nguyễn Khuyến (1905) đã
Tống vịnh nàng Kiều rằng:
"...Không trách chàng Kim đeo
đẳng mãi
Khăng khăng vớt lấy một phần đuôi".
Nhà thơ Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu
(1916) tiếc thương:
...Tiền Đường chưa chắc mả hồng
nhan
Trơ trơ nắm đất bờ sông nọ
Hồn có xa nghe mấy tiếng đàn.
Nhà thơ T. H. đồng
cảm:
"...Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày".
Và Chế Lan Viên khẳng định: "Nguyễn
Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn".
Giáo sư Nguyễn Lộc nhận định: "Có
thể tìm thấy một sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tác
phẩm của Nguyễn Du từ Thơ chữ Hán đến Truyện Kiều,
Văn chiêu hồn. Nguyễn Du trở thành vĩ đại chính
vì Nguyễn Du là một nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa.
Mặc dù xuất thân từ giai tầng quý tộc, nhưng Nguyễn
Du lăn lộn nhiều trong cuộc sống của quần chúng,
đã lắng nghe được tâm hồn và nguyện vọng của quần
chúng...Thơ Nguyễn Du dù viết bằng chữ Nôm hay chữ
Hán đều đạt đến trình độ điêu luyện... Nguyễn Du
vẫn chỉ là một nhà thơ dừng lại trước ngưỡng cửa
của chủ nghĩa hiện thực".
Theo VNN

XEM
TIẾP
|