Năm mới nói
chuyện tôn giáo
Tại
Trung Quốc, tín đồ Công Giáo chỉ được phép cầu
nguyện trong những giáo đường nhà nước công nhận
Năm cũ đi, năm mới đến là dịp nghĩ về tôn giáo
và các vấn đề tâm linh. Quan hệ giữa quyền lực
chính trị và các tổ chức tôn giáo cũng đang
là một đề tài đầy tính thời sự.
Theo một số thống kê thì đa số cư dân trên địa
cầu có niềm tin tôn giáo hoặc tín ngưỡng, dù
đó không nhất thiết phải là niềm tin vào một
đấng tối cao duy nhất.
Số người không có niềm tin tôn giáo, không tin
vào Thượng Đế hay cho đó là điều 'bất khả tri'
hoặc tin vào truyền thống thế tục chiếm 850 triệu,
theo một thống kê năm 2002 do BBC đăng tải.
Nhà nước và tôn giáo
Đa phần các quốc gia trên thế giới có dân cư
theo nhiều hơn một tôn giáo. Tính đa nguyên tôn
giáo, do nguyên nhân lịch sử, di dân và văn hóa,
là một thực tế toàn cầu.
(Số tín đồ tôn giáo trên thế giới
Thiên Chúa Giáo 2 tỷ; Hồi Giáo 1,3 tỷ; Ấn Giáo
900 triệu; Phật Giáo 360 triệu; tín ngưỡng truyền
thống của Trung Quốc 225 triệu; Tín ngưỡng dân
gian 14 triệu; Tín ngưỡng châu Phi 95 triệu, đạo
Sikh 23 triệu; Vô thần, bất khả tri, thế tục 850
triệu... )
Kinh nghiệm lịch sử của châu Âu thời Trung Cổ
đưa đến sự phân tách nhà nước và giáo hội. Đây
là cách cùng tồn tại lành mạnh cho hai bên. Sự
phân tách được xây dựng trên tinh thần bao dung
mọi tôn giáo và tín ngưỡng.
Khi nắm quyền lực nhà nước trong tay, các nhà
lãnh đạo tôn giáo dễ lạm dụng cả thần quyền
và thế quyền, đưa đến chỗ không ai kiểm soát
được quyền lực.
Bởi nếu quốc vương cũng là giáo chủ thì ngôi
vị đó chỉ còn chịu trách nhiệm 'trước Thượng
Đế và lịch sử', chứ không phải trước nhân dân
nữa.
Cũng theo nguyên tắc đó, Anh Quốc có nữ hoàng
trên danh nghĩa là người đứng đầu Anh Giáo nhưng
quyền lực chính trị nằm trong tay thủ tướng và
nghị viện. Còn người điều khiển giáo hội là
tổng giám mục đại giáo phận Canterburry.
Ngược lại, khi chính quyền nắm tôn giáo trong
tay hay thúc ép tôn giáo chịu sự quản lý của
giới quan chức thì hậu quả cũng không kém phần
nguy hại.
Vô thần hay
hữu thần?
Đa
số dân Anh theo một đạo nào đó nhưng có tới 15%
lại nói nói không theo tôn giáo nào cả
Trên nguyên tắc, sự tồn tại của thuyết vô thần
không có hại gì cho xã hội. Rất nhiều nhà khoa
học lớn ở Phương Tây là người vô thần. Francis
Crick, nhà khoa học Anh được giải Nobel, người
cùng tìm ra cấu trúc di truyền DNA, là một người
như vậy.
Hơn nữa, giữa sự không tin vào tôn giáo đến thuyết
vô thần còn có nhiều mức độ tâm lý khác nhau.
Chẳng hạn như có nhóm người gọi là agnostics
không tin vào chuyện có Thượng Đế nhưng cũng loại
trừ khả năng là một đấng tối cao tồn tại.
Có những tôn giáo như Phật Giáo không tin vào
một thượng đế duy nhất kiểu như của Thiên Chúa
Giáo hay Hồi Giáo nhưng có một hệ thống tín
ngưỡng và triết lý về vũ trụ cùng con người.
Các tín ngưỡng dân gian thì thường tin vào nhiều
thần thánh hoặc sức mạnh của huyết thống cũng
như sự huyền bí của vũ trụ.
Nhưng nhìn chung nhu cầu hướng thiện, tìm đến
những gì cao siêu, vượt lên trên các vấn đề đời
thường có tác dụng tốt cho sức khoẻ theo. Đó
là kết quả một nghiên cứu của giáo sư Harold
Koenig từ Duke University Medical Center, Hoa Kỳ về
khả năng chống stress của những người cao tuổi
có niềm tin tôn giáo.
Câu chuyện Đông Âu
Nhà nước như ở Liên Xô cũ từng xây dựng mô hình
con người vô thần (atheist), không tin vào sự tồn
tại của Thượng Đế.
Chính quyền cho rằng tôn giáo cản trở sự phát
triển văn minh của xã hội và tìm cách loại trừ
các hội đoàn tôn giáo. Chính quyền bỏ ra rất
nhiều công sức để tấn công một điều hiển nhiên
là đa số dân chúng có nhu cầu tâm linh.
Nhưng như tác giả Alistair McGrath viết trên tờ
The Spectator cách đây không lâu, thuyết vô thần
ở Liên Xô lại trở thành một thứ niềm tin như
tôn giáo được nhà nước duy trì.
Quả
chuông Sa Hoàng bị Stalin phá hủy trong thập niên
1930 nay được nước Nga phục hồi lại
Càng bị đàn áp thì các tôn giáo càng tăng sức
hấp dẫn đối với quần chúng, các nhà hoạt động
tôn giáo dễ thành 'thánh tử đạo' và biểu tượng
của niềm tin. Như linh mục Jerzy Popieluszko ở Balan
bị công an đánh chết năm 1984, nay được phong á
thánh.
Sau khi Liên Xô sụp đổ, các tôn giáo khác nhau
được hoạt động tự do trở lại vùng Đông Âu. Nhưng
việc không cho các tôn giáo hoạt động công khai
một thời gian dài gây ra hai tác hại.
Thứ nhất, sau khi được hoạt động trở lại- như
đạo Chính Thống ở Nga nay còn được viện Duma
công nhận là quốc giáo-các tôn giáo truyền thống
mất đi một thời gian quý báu để tự hiện đại
hóa bản thân.
Các nhân vật tôn giáo có thể bị 'tụt hậu' và
ngỡ ngàng trước những biến đổi ồ ạt đến từ
thế giới bên ngoài. Họ có thể trở nên bảo thủ
hơn, vì chuyển từ vị thế cố thủ trước chính
quyền thời cộng sản sang một 'chiến hào' mới,
cố thủ trước các trào lưu tâm linh khác lạ.
Phản ứng của một số lãnh đạo tôn giáo vùng
Đông Âu, vì thế trở nên bất cập và có vẻ như
quay về quá khứ. Điều này không giúp gì cho chính
họ trong việc thu hút các tín đồ trẻ tuổi.
Chẳng hạn như tại Balan, số học sinh chủng viện
thời nay ít hơn hẳn so với thời cộng sản và
giáo lý của giáo hội không còn được lắng nghe
chăm chú như trước. Và xét về mặt xã hội thì
đây là sự thiệt thòi cho tất cả mọi người.
Thứ nhì, một khoảng trống tâm linh quá lớn trong
toàn xã hội sau nhiều năm nhà nước tìm cách
tiêu diệt hoặc hạn chế tôn giáo là cả một vấn
đề cho tương lai đất nước.
Vì không được thảo luận công khai, không được
quyền tìm kiếm đường đời có ý nghĩa tâm linh
trong nhiều thập niên, thanh niên mất đi khả năng
tự vệ trước những lối sống phù phiếm, thiên
về vật chất quá mức.
Phải đến năm 2002 người Di Gan ở Hungary mới có
bản Kinh Thánh đầu tiên in bằng tiếng Lovari của
họ
Người ta cũng dễ nhầm lẫn nhu cầu tâm linh với
các dịch vụ buôn thần bán thánh hay sự lôi cuốn
của nhiều giáo phái khá nguy hiểm.
Vì thiếu vắng sự giáo dục tôn giáo hay đạo
đức, quan hệ con người nhiều khi chỉ tồn tại
ở mức độ 'tiền trao cháo múc', mất tính nhân
bản và sự tin tưởng lẫn nhau.
Tội phạm vị thành niên, các vấn đề như ma tuý,
đĩ điếm v.v. cần được sự hợp tác để giải quyết
bởi cả ba phía: chính quyền-gia đình- các tổ
chức xã hội trong đó có tôn giáo.
Nhưng tình hình nhiều nước Đông Âu cho thấy mối
quan hệ tay ba này không được như ý. Đây cũng là
bài học cho nhiều nước khác trên thế giới.
Vấn đề toàn cầu
Không chỉ ở Đông Âu mà ngay tại Tây Âu, quan hệ
nhà nước với tôn giáo cũng đang là vấn đề thu
hút tranh luận. Xử lý quan hệ này không tốt dễ
gây ra xung đột nguy hiểm.
Những năm qua, số người đo lễ nhà thờ ở Anh,
Pháp và Đức đều giảm. Nhưng điều này không có
nghĩa là con người trở nên ít tính tôn giáo hơn.
Các thống kê ở Anh cho thấy nhu cầu tâm linh mang
tính cá nhân lại có vẻ tăng dù người ta không
đi lễ vào Chủ Nhật.
Quan hệ giữa cộng đồng Hồi Giáo và các tôn
giáo ngoài châu Âu với chính quyền cũng đang được
thảo luận tại Anh và Pháp, nhất là sau các vụ
kiện của học sinh nữ theo Hồi Giáo đòi choàng
khăn trùm đầu truyền thống khi đến trường.
Điều quan trọng rút ra từ các cuộc tranh luận
là, dù theo ý thức hệ nào, hay lấy đạo nào
làm quốc giáo, nhà nước cũng cần chọn một chính
sách đúng đắn đối với tôn giáo.
Hòa
thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối
đàn áp Phật Giáo thời T.TH. Ngô Đình Diệm
Đó là tạo môi trường tự do, công khai cho các
tôn giáo hoạt động bình đẳng, không can thiệp
vào nội bộ các tôn giáo bằng những lệnh cấm,
những quy định vô lý nhưng cũng không để cho các
tín đồ tôn giáo lấy trường học công làm nơi thể
hiện quan điểm riêng.
Mặt khác, hợp tác với các tôn giáo trong vấn
đề từ thiện, y tế và giáo dục là cách giúp
tôn giáo không bị rơi vào giáo lý cực đoan và
cho toàn xã hội thấy tổ chức nào thực sự đóng
góp cho cộng đồng dân cư, chứ không phục vụ mục
đích riêng tư của họ.
Nhu cầu tâm linh của từng cá nhân cũng phải được
tôn trọng và các tranh cãi giữa giữa chính quyền
(hành pháp) và tôn giáo phải được giải quyết
bởi bên thứ ba tức tòa án (tư pháp).
Nếu không, nhà nước dễ trở thành trọng tài
trong chính vụ việc của mình và gây mất niềm
tin nặng nề trong dân chúng vì mang tiếng thiên
vị một đạo nào đó hoặc ý thức hệ của nhà
cầm quyền. ( Theo BBC )
|