|
Phan
Huy Chú
Phan Huy Chú, danh sĩ đời Nguyễn, một trí tuệ,
tài nǎng Việt Nam,nhà bác học của dân tộc. Ông quê
ở Hà Tĩnh. Mặc dù chỉ đỗ hai lần tú tài, thực học,
thực tài của ông vẫn được khẳng định. Nǎm 1821,
vua Minh Mạng cho mời ông vào Huế giữ chức Biên
tu Hàn lâm viện. Sau đó ông được cử đi sứ sang Trung
Quốc. Nǎm 1828, làm Phủ thừa tỉnh Thừa Thiên, rồi
thǎng Hiệp trấn Quảng Nam. Sau lại đi sứ sang Trung
Quốc và lúc về bị cách chức. Nhưng sau khi đi phục
vụ một số đoàn Inđônêxia về ông được cử làm chức
Tư vụ Bộ công, nhưng đã ngán cảnh quan trường, ông
vin cớ đau yếu xin về dạy học cho đến lúc mất. Đứng
về phương diện vǎn hóa, Phan Huy Chú có những cống
hiến rất lớn ông đã để lại một loạt các tác phẩm:
Hoàng Việt dư trí, Hải trình chí lược, Lịch đại
điển yếu thông, Dương trình ký kiến... Đặc biệt
bộ: “Lịch triều hiến chương loại chí” đã nâng ông
lên hàng nhà bác học, cho mãi đến ngày nay giới
học thuật vẫn khen ngợi đó là công trình bách khoa.
Học
vị - học vấn - học thuật Phan Huy Chú
Trong "Thứ nam thực sinh hỉ phú" (bài
phú mừng sinh nhật con trai thứ 2 Phan Huy Thực),
tiến sĩ Phan Huy Ích viết: "Văn phái dư lan
cự cửu nguyên", tỏ ra rất tự hào về truyền
thống khoa bảng đỗ đầu của gia đình. Câu thơ trên
có nghĩa: dòng văn để lại đủ cả cửu nguyên. Phan
Huy Ích còn có lời chú rằng: "Phụ thân tôi
Phan Huy Cận, thi Hương, thi Hội 2 lần đỗ đầu (lưỡng
nguyên). Tôi thi Hương, thi Hội, thi Ứng chế ba
lần đều đỗ đầu (tam nguyên). Bác Hy Doãn (Ngô Thì
Nhậm) và chú Nhã Hiên (Phan Huy Ôn) em trai thứ
3 của tôi đều đỗ đầu thi Hương. Tất cả cộng lại
được chín lần đỗ đầu, gọi là cửu nguyên (trong "Dụ
am ngâm lục").
Phan Huy Chú (1782 - 1840) là con trai thứ 3 của
Phan Huy Ích, xuất thân trong gia đình có truyền
thống khoa bảng dòng Phan Huy Sài Sơn, ngay từ nhỏ
đã có tiếng thông minh. Ông để lại cho hậu thế nhiều
tác phẩm có giá trị, nổi bật nhất là bộ "Lịch
triều hiến chương loại chí" gồm 49 quyển, khảo
cứu về lịch sử, phân chia theo từng loại hiến chương
một cách khoa học từ lập quốc đến cuối triều Lê,
gọi là chí: dư địa chí, nhân vật chí, lễ nghi chí,
khoa mục chí, quốc dụng chí, hình luật chí, văn
tịch chí, binh chế chí, quan chức chí, bang giao
chí. Ông sưu tầm, tích luỹ tư liệu, khảo cứu sách
vở, đối chiếu, sắp xếp, trình bày mạch lạc, có tầm
khái quát cao, lại cô đọng, cụ thể, sinh động, súc
tích... Ông là nhà bác học lớn của Việt Nam.
Phan Huy Chú là tấm gương lớn về hoạt động học
thuật, với ý chí lao động kiên trì để thực hiện
lý tưởng, để vượt qua mọi khó khăn gian khổ, mọi
trở ngại hoặc hình thức danh vị nơi quan trường.
Ông đọc nhiều, tích luỹ, thâu tóm được nhiều đầu
mối, điển tích, điển chương, tinh hoa cổ học, sự
kiện trong sách sử nên trở thành uyên bác, xuất
chúng.
Dù "học tài thi phận" không được khoa
bảng như cha ông, song thực học, thực tài của Phan
Huy Chú không chịu dừng lại. Ông thực hiện công
việc nghiên cứu bằng lao động khoa học miệt mài,
bằng tâm huyết lớn. Ông viết: "Nước Việt ta
tiếng khen lễ nghĩa đã hơn nghìn năm, vốn có thư
tịch đã từ lâu lắm. Kể từ Đinh, Lê dựng nước đối
địch với Trung Hoa, mệnh lệnh từ chương dần dần
rõ rệt. Đến Lý, Trần nội trị, văn vật mở mang, về
tham định thì có những sách điển chương điều luật,
về ngự, chế thì có các thể chiếu sắc thi ca. Trị
bình đời nối, văn nhã đủ điều. Huống chi, nho sĩ
đời nào cũng có, văn chương nảy nở như rừng, sách
vở ngày càng nhiều, nếu không trải qua binh lửa
mà thành tro tàn... Than ôi! Sách vở các đời đã
từng tản mát, sách mất đã khó sưu tầm, sách còn
lại nhiều sai lẫn, đằng đẵng ngàn năm, biết theo
vào đâu mà khảo xét? Nhưng sự học ở các nhà nho
quý ở tìm rộng, có sách vở để làm bằng. Tôi bèn
xét tìm sử cũ, tham khảo các nhà..." (Trích
quyển XLII Lịch triều hiến chương loại chí). Một
thoáng như vậy để thấy tầm suy xét của Phan Huy
Chú khi bắt tay vào thực hiện pho sách đồ sộ này.
Công trình "Lịch triều hiến chương loại chí"
được thực hiện trong mười năm, từ 1809 lúc ông 27
tuổi, đến khi hoàn thành vào năm 1819, chưa kể thời
gian trước do ông từ nhỏ vốn ham học, ham đọc sách
và chăm chú ghi chép, sưu tầm tích luỹ những điều
đọc được trong sách vở để làm học thuật. Ông dành
nhiều thời gian lao động khoa học để tạo thành công
trình học thuật cá nhân đồ sộ với hình thức độc
đáo, nội dung lớn lao. Theo ông, đây là "một
bộ sách thường đọc của một đời". Đây cũng là
một điểm đặc sắc trong lịch sử văn hoá nước nhà.
Phan Huy Chú xuất thân trong dòng dõi gia thế:
ông nội là tiến sĩ Phan Huy Cận, ông ngoại là Ngô
Thì Sĩ, cha là Phan Huy Ích, bố vợ là Nguyễn Thế
Lịch, bác là Ngô Thì Nhậm, chú là Phan Huy Ôn, anh
là Phan Huy Thực... Tác động của dòng dõi tài danh,
hiếu học, của môi trường xã hội, những quan hệ trí
tuệ ảnh hưởng đến Phan Huy Chú, dẫn dắt tinh thần,
tính cách nhà khoa học Phan Huy Chú. Ngoài tác phẩm
lớn "Lịch triều hiến chương loại chí"
ông còn có các tác phẩm khác như: "Hoàng Việt
dư địa chí", "Hoa thiều ngâm lục",
"Bình định quy trang", "Dương trình
ký kiến", "Hoa trình ngâm lục", "Hải
trình chí lược"... Có thể gọi Phan Huy Chú
là nhà tri thức, nhà khoa học, nhà tư tưởng, nhà
thơ, nhà sử học mang khuynh hướng bách khoa.
Con đường 10 năm làm quan của ông bắt đầu từ năm
1821, khi vua Minh Mạng biết đến tài năng của Phan
Huy Chú với tiếng đồn nức tiếng xa gần. Được triệu
vào Huế giữ chức Hàn lâm Biên tu, ông dâng bộ "Lịch
triều hiến chương loại chí" lên vua Minh Mạng,
được vua thưởng 30 lạng bạc, 1 áo sa đỏ, 30 cây
bút và 30 thỏi mực. Năm Minh Mạng thứ 4 (1823) ông
làm "Lang trung bộ Lại", năm Minh Mạng
thứ 6 (1825) được sung vào sứ bộ sang Trung Quốc.
Năm 1828 làm Phủ thừa phủ Thừa Thiên. Năm 1829 làm
Hiệp trấn Quảng Nam, sau đó bị giáng. Năm 1831 được
cử làm Phó sứ sang Trung Quốc lần 2, khi về bị cách
chức. Năm 1832 đi Biên lực ở Giang Lưu Ba (nay là
nước Inđonesia). Xong nhiệm vụ trở về ông được khôi
phục giữ chức Tư vụ bộ Công... Nhưng rồi chán cảnh
quan trường, ông lấy cớ đau yếu xin về nghỉ và dạy
học ở Thanh Mai thuộc huyện Tiên Phong, tỉnh Sơn
Tây (nay là xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây)
rồi mất tại đó.
Tiến thân trắc trở, 25 tuổi thử vận 2 lần khoa
cử chỉ đạt tới học vị bình thường là tú tài, đến
tuổi tứ tuần mới nhận chức quan, trôi dạt trong
cảnh quan trường thăng giáng, mờ tỏ. Vinh quang
của Phan Huy Chú đặt ở con đường học thuật. Với
ông "Sách vở là để gom góp muôn việc vào đấy"
và "Văn minh của loài người đều chứa trong
sách vở". Ông dồn tâm huyết làm sách bách khoa
về văn - sử - địa, các loại chí về đất nước. Ba
cái Học ở ông thật lạ: Học vị thì thường, Học vấn
thì rộng, Học thuật thì thật lớn lao. Ông sinh năm
Nhâm Dần 1782 và mất năm Canh Tý 1840. Sau Lê Quý
Đôn (1726 - 1784) thì Phan Huy Chú nổi lên với tài
danh sử học như nhà bách khoa thư. Phan Huy Chú
là một danh nhân văn hoá Việt Nam. Học vấn và học
thuật của ông đốt cháy cả học vị lẫn chức vị quan
trường, để lại cho đời nhiều tác phẩm vô giá.
Nhà thờ Phan Huy Chú toạ lạc tại quê nhà Sài Sơn,
huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Ngày 24 tháng 11 năm
2000 Bộ Văn hoá - Thông tin đã xếp hạng nhà thờ
ông là Di tích Lịch sử - Văn hoá. Ngày 15 tháng
4 năm 2001 tại đây đã tổ chức lễ đón nhận bằng Di
tích Lịch sử - Văn hoá đông vui, trọng thể trong
niềm tự hào của dòng họ, bà con ở địa phương và
nhân dân cả nước.
Nguyễn Văn Chiến

|