| ₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪
NGƯ TIỀU Y THUẬT VẤN ĐÁP * Nguyễn Đ́nh Chiểu ₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪ |
1. Ngày nhàn xem truyện
"Tam công",
Thương người hiền sĩ sinh không gặp đời.
Cuộc cờ thúc quư đua
bơi,
Mấy thu vật đổi sao dời, than ôi !
5. Kể từ Thạch Tấn ở ngôi,
U
Yên mấy quận cắt bồi Khiết Đan,
Sinh dân nào xiết bùn than,
U Yên trọn
cũng giao bàn về Liêu.
Theo trong người kiệt rất nhiều,
10. Ôm tài giấu
tiếng làm tiều, làm ngư.
Nước non theo thói ẩn cư,
Thờ trên nuôi dưới, nên
hư mặc trời.
Lại thêm Phật, Lăo đua lời,
Nghĩ ḷng người với đạo đời thêm
thương.
15. Nhà năm ba gánh cương thường,
Phận ai nấy giữ, trọn giường
thời thôi.
Đời vương đời đế xa rồi,
Nay Di mai Hạ biết hồi nào an.
Năm
trăm vận ở sông vàng,
20. Nước c̣n đương cáu, khôn màng thánh nhân,
Đă cam
hai chữ "tỵ Tần",
Nguồn Đào t́m dấu, non xuân ruỗi miền.
Có tên rằng Mộng
Thê Triền,
Tuổi vừa bốn chục, nhân duyên năm lần,
25. Nhà nghèo ở núi Bạch
Vân,
Dẹp văn theo vơ, tách thân làm tiều.
Ngày ngày đốn củi rừng
Nghiêu,
Hái rau non Thuấn, phận nhiều lao đao.
Đông Xuyên lại có người
hào,
30. Tên rằng Tử Phược, họ Bào, làm ngư.
Trong (thông ?) minh ba chục
tuổi dư,
Sinh con mười đứa bé thơ thêm nghèo.
Ngược xuôi trên nước một
chèo,
Nay doi mai vịnh, nghề theo lưới chài,
35. Họ Bào họ Mộng ḥa
hai,
Trước theo nghề học đều tài bậc trung.
Chẳng may gặp buổi đạo
cùng,
Treo kinh dẹp sử, lánh ṿng loạn ly.
Người nam kẻ bắc phân
đi,
40. Nước non rẽ bạn cố tri bấy chầy.
Cách nhau mười mấy năm
nay,
T́nh cờ lại đặng một ngày gặp đây.
Ngư, Tiều mở tiệc vui vầy,
Ngâm
thơ, uống rượu, đều bày chí xưa.
Tiều ngâm thơ rằng:
Non
xanh mấy cụm đội trời thu,
Sưu thuế Tây Liêu chẳng đến đầu.
Tên đă gác
ngoài sân thúc quư,
Minh liền dầm giữa suối Sào, Du.
Vui ḷng bạn cũ thơ
vài cuốn,
Rảnh việc ngày nay rượu một bầu.
Chút phận riêng nương hơi núi
rạng,
Trăm năm ra sức dọn rừng nhu (nho).
Ngư ngâm thơ
rằng:
Nghênh ngang trên nước một thuyền câu,
Chèo sóng buồm
giong,trải mấy thu.
Ngày xế tấm mui che gió Tấn,
Đêm chầy bếp lửa chói
trời U
Mặc t́nh sở ngộ đời trong đực,
Vui thú phù sinh bến cạn
sâu.
Trăm tuổi trọn nhờ duyên cá nước,
Dù ḷng ngao ngán giữa ḍng nhu
(nho).
Tiều rằng: Sinh chẳng gặp thời,
Thân đà đến ấy, nghe thơ
thêm phiền.
Lênh chênh chữ phận, chữ duyên,
Lỡ Tiên, lỡ Phật, lỡ nguyền
nho phong.
Nhớ câu "quân tử cố cùng",
50. Đèn trăng, gió quạt, non sông
phận đành.
Ngư rằng: Hai chữ công danh,
Hoàng lương nửa gối, đă đành phôi
pha.
Thương câu "thế đạo đồi ba",
Ngày nay chưa biết mai ra lẽ nào
!
Uống thêm vài chén rượu giao,
Ngâm thơ hoài cổ, để rao tiếng
đời.
Ngư, Tiều hoài cổ ngâm ngụ ưu đạo ư (thử xướng, bỉ
họa):
Từ thuở Đông Chu xuống đến nay,
Đạo
đời rậm rạp mấy ai hay
Hạ Thương đường cũ gai ḅ lấp,
Văn Vũ nền xưa lúa
trổ đầy.
Năm bá mượn vay, nhân nghĩa mọn .
Bảy hùng giành xé, lợi danh
bay,
Kinh Lân mong dẹp tôi con loạn,
Sử Mă khôn ngăn mọi rợ bầy.
Dùi mơ
Mặc, Dương thêm chộn rộn,
Tiếng chuông Phật, Lăo rất vang ngầy.
Lửa Tần,
tro Hạng vừa nguôi dấu,
Am Hán, chùa Lương lại réo dầy,
Trong đám cửu lưu
đều nói tổ,
Bên đường tam giáo cũng xưng thầy.
Khe Đào, động Lư nhiều đoàn
trốn,
Rừng Trúc, đ́nh Lan lắm bạn say.
Phép báu Thi, Thư ḍng mực
nát,
Màu xuê Lễ, Nhạc nhiễm sương bay,
Mấy ḍng biển nghiệt chia nguồn
nước,
Trăm cụm rừng hoang bít cội cây.
Hơi chính ngàn năm về cụm
núi,
Thói tà bốn biển động vàng mây.
Ngày nào trời đất an ngôi cũ,
Mừng
thấy non sông bặt gió tây.
Thơ rồi Ngư mới hỏi
Tiều:
Việc nhà con vợ ít nhiều đặng hay ?
Tiều rằng: Triền rất chẳng
may,
60. Năm lần cưới vợ, c̣n nay một người.
Nằm hoài biếng nói, biếng
cười,
Rề rề đau máu, da tươi bàu nhàu.
Bốn người trước thác theo
nhau,
Người đau sản hậu, người đau thai tiền,
65. Khiến thêm nghèo khổ cho
Triền,
Bán bao nhiêu củi về tiền thuốc thang,
Thầy hay thời ở xa
đường,
Tin theo thầy tục, giúp phương hại người.
Ngư rằng: Phược cũng như
người,
70. Hôm mai lận đận về mười đứa con.
Chí lăm nuôi đặng vuông
tṛn,
Chung tư trập trập, nhà c̣n phúc ghi.
Nào hay tạo hóa tiểu
nhi,
Rủ bầy con nít đều đi bỏ ḿnh.
75. Đứa thời đau chứng cấp
kinh,
Đứa thời cam tích, bụng b́nh rĩnh ra,
Đứa thời hai mắt quáng
gà,
Đứa thời túm miệng, khóc la rốn lồi,
Đứa thời đau bụng lăi
cḥi,
80. Đứa thời iả kiết, rặn ḷi trôn trê,
Đứa thời sài ghẻ, nóng
mê,
Đứa thời hoa trái, độc về hông, vai.
Rủ nhau thỉnh thoảng chết
hoài,
Đứa đôi ba tháng, đứa vài ba năm.
85. Trời đà hao tốn tiền
trăm,
Thương con chạy bậy, lầm nhằm thuốc nhăng.
Đến nay c̣n sót hai
thằng,
Nhờ trời khoẻ mạnh, đặng ăn chơi thường.
Cảm ơn kẻ sĩ du
phương,
90. Dắt ta, điềm chỉ vào đường Y lâm.
Thê Triền nghe nói mừng
thầm,
Hỏi rằng : Thầy ở Y lâm tên ǵ ?
Ngư rằng: Chưa biết tên
chi,
Nghe người nói đó là kỳ Nhân Sư.
95. Tiều rằng : Chữ gọi Nhân
Sư,
Tiên hay là Phật, bậc ǵ công phu ?
Ngư rằng: Vốn thật thầy nhu
(nho),
Ḷng cưu gấm nhiễu, lại giàu lược thao.
Nói ra vàng đá chẳng
xao,
100. Văn ra dấy phụng, rời giao tưng bừng.
Trong ḿnh đủ chước kinh
luân,
Thêm trau đạo đức, mười phân rơ ràng,
Chẳng may gặp thuở nước
loàn,
Thương câu "dân mạc" về đàng Y lâm.
105. Ẩn ḿnh chôn ngọc, vùi câm
(kim),
Người con mắt tục coi lầm biết đâu.
Ta nhân bệnh trẻ đi cầu,
Có
nghe du sĩ đọc câu thơ rằng:
Du sĩ độc nhân sư thi:
Xe ngựa
lao xao giữa cơi trần,
Biết ai thiện tử, biết ai thần?
Nhạc thiều tiếng
dứt khôn trông phụng,
Sử Lỗ biên rồi khó thấy lân !
Khỏe mắt Hi Di trời
ngũ quư,
Mỏi ḷng Gia Cát đất tam phân
Công danh chi nữa, ăn rồi
ngủ,
Mặc lượng cao dày xử với dân.
Tiều rằng: Mừng gặp hiền
nhân,
110. Nghe bài thơ ấy, thật trân bảo đời !
Bấy lâu những tưởng không
người,
Nào hay hang trống c̣n dời tiếng rân.
Thi danh trước có Đường
thần.
Tài như Lư, Đỗ muôn phần khá thương.
115. Thấy nay cũng nhóm văn
chương,
Vóc dê, da cọp khôn lường thực hư,
Tiếc thay đời có Nhân
Sư,
Lại theo bốn chữ "vô như chi hà".
Nhớ xưa tiếng đại hiền ra,
120. "
Rằng trời muốn trị, bỏ ta, ai dùng ?"
Thôi thôi ngươi hăy gắng công,
Đem
ta tới chỗ, học cùng Nhân Sư.
Ngư rằng: Nhắm chốn Đan Kỳ,
Éo le khúc nẻo,
đường đi chẳng gần.
125. Nhiều non, nhiều núi, nhiều rừng,
Nhiều đèo,
nhiều ải, nhiều chừng động hang.
Chút công khó nhọc chẳng màng,
Phần lo
hóc hiểm một đàng Nhân Khu.
Nhân Khu ải ấy ở đầu,
130. Nẻo lành, nẻo dữ,
cạn sâu khôn lường.
Tiều rằng: Ta dốc t́m phương,
Xin phân cho rơ cái
đường Nhân Khu.
Ngư rằng: Một ải Nhân Khu,
Lấy da bao thịt, làm bầu hồ
lô.
135. Trở thông chín nẻo ra vào,
Mười hai kinh lạc chia đào dọc
ngang.
Ngoài thời sáu phủ Dương Quan,
Trong thời năm tạng, xây bàn Âm
Đô.
Hai bên tả hữu vách tô,
140. Có non nguyên khí, có hồ huyết
quan.
Có nơi hồn phách ở an,
Có ngôi thần chủ, sửa sang việc ḿnh.
Rước
đưa có đám thất t́nh,
Có vườn ngũ vị nuôi h́nh tốt tươi.
145. Lại nghe du
sĩ trao lời,
Rằng trong ải ấy lắm nơi hiểm nghèo,
Có làng Lục Tặc nhóm
theo,
Chia phần đón ngách, giữ đèo Tam Thi.
Hôm mai rũ quến nhau
đi,
150. Xui ḷng nhân dục, nhiều khi lang loàn,
Hoặc theo bên động B́
nang,
Thắm trêu hoa mẫu mơ màng gió xuân.
Hoặc theo bên động Tôn
Cân,
Nhem thèm cho săi về dân, bỏ chùa,
155. Thêm bầy quỉ quái theo
lùa,
Nhóm non Thập Ác, tranh đua khuấy đời,
Ngửa xem ngoài cửa sáng
giăng,
190. Thấy trên biển ngạch chữ rằng "Tam Công".
Bước vô trong miếu
lạnh lùng,
Thấy treo ba bức song song họa đồ.
Nhân Sư ngồi giữa xem
đồ,
Thấy ta han hỏi, dở hồ linh đan.
195. Lấy ra thuốc đỏ hai hoàn,
Cho
về cứu trẻ khỏi cơn tai nàn.
Ta nhân một thuở vội vàng,
Gặp thầy chưa kịp
hỏi han việc ǵ.
Tiếc thay đă đến Đan Kỳ,
200. Mùi thơm chưa dính chút chi
vào ḿnh.
Tiều rằng: Xin hỏi nhân huynh,
Trước quen du sĩ, tính danh cũng
tường ?
Ngư rằng: Kẻ sĩ du phương,
Tên Châu Đạo Dẫn, đem đường cho
ta.
205. Đang khi bối rối việc nhà,
Nào rồi hỏi việc trải qua cùng
chàng.
Chỉ nghe Đạo Dẫn thở than,
Rằng bầy Lục Tặc, biết toan lẽ nào
!
Tiều rằng: Lục Tặc làm sao ?
210. Xin phân sáu ấy, âm hao cho
rành,
Ngư rằng: Tai mắt nhiều tinh,
Tai tham tiếng nhạc, mắt giành sắc
xinh.
Mũi thời tham vị hương hinh,
Miệng thời tham béo, ngọt, thanh, rượu,
trà,
215. Vóc thời muốn bận sô sa,
Bụng thời muốn ở cửa nhà thếp
son.
Cho hay Lục Tặc ấy c̣n,
Khiến con người tục lần ṃn hư thân.
Tiều
rằng: Nghe tiếng ngọc phân,
220. Chạnh ḷng muốn tách cơi trần chơi
mây.
Phải chi gặp Đạo Dẫn đây,
Ta xin theo dấu, t́m thầy Nhân Sư.
Ngư
rằng: Phược nguyện đem đi,
Anh về sắm sửa lễ nghi sẵn sàng.
225. Vả nay
vừa tiết xuân quang,
Hẹn năm ngày nhóm hành trang cho rồi
Thê Triền từ tạ,
chân lui,
Về nhà thấy vợ ngùi ngùi đau rên,
Nhờ ơn nhạc mẫu ở bên,
230.
Dặn ḍ gửi vợ, lại lên họ Bào.
Thứ này hai họ nghĩa giao,
Sắm đồ hành lư
những bao, những hồ.
Bao thời đựng cá tôm khô,
Hồ thời đựng rượu, trường
đồ thẳng xông,
235. Trải qua bờ liễu, non tùng,
Trời hiu hiu thổi gió đông
đưa ḿnh,
Mặt nh́n trong tiết Thanh minh,
U Yên đất cũ, cảnh t́nh trêu
ngươi,
Trăm hoa nửa khóc nửa cười,
240. Như tuồng xiêu lạc gặp người cố
hương.
Cỏ cây gie nhánh đón đường,
Như tuồng níu hỏi Đông hoàng ở đâu
?
Bên non đá cụm cúi đầu,
Như tuồng oan khúc, lạy cầu cứu sinh.
245.
Líu lo chim nói trên cành,
Như tuồng kể mách t́nh h́nh dân đau.
Gió tre
hiu hắt theo sau,
Như tuồng xúi dục đi mau t́m thầy.
Dưới non suối chảy
kêu ngầy,
250. Như tuồng nhắn hỏi sự này bởi ai ?
Hai người nh́n thấy than
dài,
Cho hay non nước nhiều loài trông xuân,
Mưa sầu gió thảm biết chừng
nào thanh !
255. Mảng xem cảnh cũ thương t́nh,
Nào hay lạc nẻo lộ tŕnh ải
xưa.
Cùng nhau ngơ ngẩn ngày trưa,
Lại may gặp bạn cỡi lừa ngâm
thơ.
Hai người dừng gót đứng chờ,
260. Lắng nghe du sĩ lời thơ ngâm
rằng:
Trời đông sùi sụt gió mưa tây,
Đau ốm ḷng dân cậy có
thầy,
Phương cũ vua tôi ǵn trước mắt,
Mạng nay già trẽ gửi trong
tay.
Trận đồ tám quẻ c̣n non nước,
Binh pháp năm mùi sẵn cỏ cây.
Hỡi
bạn Y lâm ai muốn hỏi,
Đ̣ xưa bến cũ có ta đây.
Ngâm rồi thoạt thấy Tiều,
Ngư,
Vội vàng Đạo Dẫn trụy lư cười ngầm.
Chào rằng: này kẻ tri âm
!
Ngày nay lại đến Y lâm cầu ǵ ?
265 Ngư rằng: Đem bạn cố tri,
Đồng
ḷng t́m đến Nhân Sư học hành.
Dẫn rằng: Hai chữ "phù sinh"
Người non, kẻ
nước, phận đành tiều, ngư.
Bấy lâu sao chẳng tầm sư,
270. Đến nay lại có
công dư học nghề ?
Tiều rằng: Thời vận bất tề,
Thêm lầm thầy thuốc làm bê
việc nhà.
Ngư rằng: Ta nghĩ giận ta,
Bởi thương con vợ mới ra hết
tiền.
275. Dẫn rằng: Trong cơi trần duyên,
Hay người chưa trả rồi tiền nợ
vay.
Người xưa ba chuyến găy tay,
Tức ḿnh học thuốc, mới hay làm
thầy,
Tiều rằng: Mấy cụm rừng y,
Đều noi đường cái Hiên Kỳ trổ ra.
285.
Một ngày suối chảy một xa
Rốt ḍng lại có chính tà khác nhau.
Ngư rằng:
Cách trở bấy lâu,
Đường đi ngày trước lạc đâu khôn tầm.
Dẫn rằng: Đây thật
Y lâm,
290. Nhân khu ải khỏi, nào lầm chớ e!
Ngư rằng: Dặm cũ vắng
hoe,
Ḿnh tuy có thấy, không nghe biết ǵ.
Dẫn rằng: Đó chớ vội
đi,
Ngày nay chưa gặp Tôn Sư ở nhà .
295. Đến am Bảo Dưỡng theo
ta,
Nghỉ chơi vài bữa, rồi qua Đan Kỳ.
Ngư, Tiều theo Đạo Dẫn đi,
Ở am
Bảo Dưỡng một khi vui vầy.
Ba người kết bạn đông tây,
300. Chuyện tṛ sách
thuốc, lối này hỏi nhau.
Ngư rằng: Trước ải Nhân Khu,
Mười hai kinh lạc,
cạn sâu chưa tường,
Dẫn rằng: Ba âm, ba dương,
Ba ba số bội, chia đường
hai bên,
305. Tay chân tả hữu hai bên,
Âm dương đều sáu, dưới trên buộc
ràng.
Thập nhị kinh lạc ca (Bài ca về mười hai kinh lạc)
Dịch
nghĩa:
Kinh Thủ Thái dương thông với ruột non,
Kinh Túc Thái dương
thông với bọng đái,
Kinh Thủ Dương minh thông với ruột già,
Kinh Túc Dương
minh thông với dạ dày,
Kinh Thủ Thiếu dương thông với tam tiêu,
Kinh Túc
Thiếu dương thông với mật,
Kinh Thủ Thái âm thông với phổi,
Kinh Túc Thái
âm thông với lá lách,
Kinh Thủ Thiếu âm thông với trái tim,
Kinh Túc Thiếu
âm thông với thận,
Kinh Thủ Quyết âm thông với màng tim,
Kinh Túc Quyết âm
thông với gan.
Hựu hữu ca (Lại có bài ca rằng)
Dịch
nghĩa:
Kinh Thái dương thuộc thủy, úng với Th́n,Tuất,
thông với ruột
non, bọng đái,
Kinh Dương minh thuộc kim, ứng với Măo, Dậu,
thông với ruột
già, dạ dày,
Kinh Thiếu dương thuộc hỏa, ứng với Dần, Thân,
thông với tam
tiêu và mật,
Kinh Thái âm thuộc thổ, ứng với Sửu, Mùi,
thông với phổi và
lá lách,
Kinh Thiếu âm thuộc hỏa, ứng với Tư, Ngọ,
thông với tim và
thận,
Kinh Quyết âm thuộc mộc, ứng với Tỵ, Hợi,
thông với màng tim và
gan.
Ngư rằng: Kinh lạc là tiêu,
Chỗ nào khí huyết ít nhiều biết
đâu.
Dẫn rằng: Khí huyết nhân khu,
310. Ta từng coi sách, thấy câu ca
rằng:
Thập nhị kinh lạc khí huyết đa thiểu ca
(Bài ca về khí
huyết nhiều ít của mười hai kinh lạc)
Dịch nghĩa:
Nhiều khí, nhiều
huyết, anh nên nhớ:
Kinh Thủ Dương minh tức ruột già, và
Kinh Túc Dương
minh tức dạ dày.
Ít huyết, nhiều khi, có sáu kinh:
Tam tiêu, mật, thận,
tim, lá lách, và phổi.
Nhiều huyết, ít khí chia ra bốn kinh:
Bọng đái,
ruột non, màng, tim và gan.
Ngư rằng: Kinh lạc nhiều
đàng,
Người đau nhiều chứng, biết toan lẽ nào ?
Dẫn rằng: Chớ hỏi thầy
cao,
bệnh nào thuốc nấy đem vào đường kinh.
315. Tiều rằng: Xin hỏi tiên
sinh,
lệ trong năm tạng, ghi h́nh trạng sao ?
Dẫn rằng: Tổ có lời
rao:
Tạng can thuộc mộc, cây rào mùa xuân.
Sắc xanh, con mắt là
chừng,
320. Hoa ra giáp móng, dày gân buộc lèo.
Giấu hồn, đựng máu, tiếng
kêu,
Vị toan, nước mắt, mạch nêu chữ Huyền.
Quyết âm kinh túc ấy
truyền,
Hợp cùng phủ đảm, ngôi liền ngoài trong.
325. Tạng tâm thuộc hoả,
mạch Hồng,
Mùa hè, sắc đỏ, chừng trong lưỡi này.
Giấu thần, nuôi máu, ở
đây,
Đắng mùi, tiếng nói, nước vầy buồn hôi.
Thiếu âm kinh thủ phải
rồi,
330. Hợp cùng ngoại phủ, rằng ngôi tiểu trường.
Tạng tỳ thuộc thổ sắc
vàng,
Vượng theo tứ quư, đều tàng ư vui.
Miệng chừng, nước dăi, ngọt
mùi,
Tiếng ca, mạch Hoăn, hay nuôi thịt h́nh.
335. Thái âm kinh túc đă
đành,
Hợp cùng phủ vị, ngôi giành trung châu.
Tạng phế thuộc kim, mạch
Phù,
Vị cay, sắc trắng, mùa thu, phách ṛng.
Giấu hơi, nuôi khắp da,
lông,
340. Mùi chừng, tiếng khóc, nước trong mũi thường.
Thái âm kinh thủ
cho tường,
Hợp cùng ngoại phủ đại trường ấy thông .
Tạng thận thuộc thủy,
mùa đông,
Sắc đen vị mặn, chi dùng nuôi xương,
345. Tiếng rên, nước nhỏ
hôi ươn,
Hai tai chừng đó, giữ phương mạch Trầm.
Phần về kinh Túc Thiếu
âm,
Hợp bàng quang phủ, ǵn cầm hóa nguyên.
Tiều rằng: Nam tạng đă
biên,
350. Ḱa như sáu phủ, xin liền nói ra.
Dẫn rằng: Cái mật người
ta,
Tượng theo xuân mộc, kinh là thiếu dương.
Đảm ngoài làm phủ cho
can,
Tóm vào muôn mối, việc toan lo lường.
355. Mấy chiều ruột nhỏ tiểu
trường,
Tượng theo hạ hỏa, thái dương kinh cầm.
Ở ngoài làm phủ cho
tâm,
Nước trôi đem xuống đặng dầm nguồn sinh.
Vị là kinh Túc Dương
minh,
360. Đựng theo đất chứa, việc ḿnh uống ăn,
Bao nhiêu nước, xác chứa
ngăn,
Phát ra các chỗ, chịu bằng quan ty.
Ở ngoài làm phủ cho tỳ,
Cái
bao tử ấy thật ghi công dày.
365. Đại trường ruột lớn liền đây,
Dương minh
kinh thủ, tượng vầy thu câm (kim).
Ngôi theo nhờ phế hơi cầm,
Vật ăn bă
xác xuống hầm phẩn ra,
Bàng quang thật bọng đái ta,
370. Tượng theo đông
thủy, kinh là thái dương.
Ngôi theo ngoài chốn thận hương,
Hóa hơi nước
xuống, làm đường niệu tân.
Tam tiêu phủ ấy ba tầng,
Kiêm trên, giữa, dưới,
gọi rằng tam tiêu.
375. Trên thâu ăn uống, nạp nhiều,
Giữa chia trong đục,
dưới điều gạn ra.
Làm đường nước xác trải qua,
Nhờ ba hơi ấy tiêu ḥa máu,
hơi.
Trước sau bủa khắp ba hơi,
380. Thiếu dương kinh thủ thật nơi dinh
người.
Tiều rằng: Kinh lạc mười hai,
Tạng phủ mười một biết hài thế
sao?
Dẫn rằng: Trước có lời rao:
Quyết âm kinh thủ, tâm bào lạc
nêu.
385. Tâm bào cùng phủ tam tiêu,
Trong ngoài hai ấy chia đều âm,
dương.
Muốn làm thầy đặng chữ "lương",
Bệnh trong tạng phủ phải lường thực
hư.
Rồi đây hỏi lại Nhân Sư,
390. Xin phân chứng thực, chứng hư cho
rành.
Ngư rằng: Ḱa bến Ngũ Hành,
Chia ra nẻo khắc, nẻo sinh làm ǵ
?
Dẫn rằng: Trên, dưới hai nghi,
Có năm hành ấy, hoa ky (cơ) xây
vần.
395. Mộc, kim, thủy, hỏa, thổ phân,
Sinh: phần ấy tốt, khắc: phần ấy
hư.
Muốn cho rơ lẽ nên hư,
Coi lời sinh khắc tổ sư ca rằng:
Ngũ
hành tương sinh ca
(Bài ca về ngũ hành tương sinh)
Dịch
nghĩa:
Mộc sinh hỏa chừ, hỏa sinh thổ,
Thổ sinh kim chừ, kim sinh
thủy,
Thủy sinh mộc chừ, năm mối sinh,
Trong khoảng trời đất đều tốt
lành.
Ngũ hành tương khắc ca
(bài ca về ngũ hành tương
khắc)
Dịch nghĩa:
Mộc khắc thổ chừ, thổ khắc thủy,
Thủy khắc hỏa
chừ,hỏa khắc kim,
Kim khắc mộc chừ, năm mối khắc,
Trong khoảng trời đất
thảy tai ương.
Ai mà rơ lẽ ngũ
hành,
400. Việc trong trời đất dữ lành trước hay.
Trên thời mưa móc, gió
mây,
Dưới thời non nước, cỏ cây muôn loài.
Giữa thời nhà cửa, đền
đài,
Năm hành tóm việc ba tài nhỏ to.
405. Ví dù tạo hóa mấy ḷ,
Hóa
công mấy thợ, một pho ngũ hành.
Muốn coi phép ấy cho tinh,
Đồ thư Hà Lạc,
Dịch kinh rơ bàn.
Ngư rằng: Nơi ải Thiên Can,
410. Có non Ngũ Vận để toan
việc ǵ ?
Chưa hay chủ vận là chi ?
Lại thêm khách vận, sách ghi rộn ràng
?
Dẫn rằng: Mười chữ thiên can,
Anh em thứ lớp, rơ ràng chẳng sai.
415.
Anh em một gái, một trai,
Âm dương chia khác, lâu đài năm
phương,
Giáp, Ất: mộc, ở đông phương,
Bính,
Đinh: hỏa, ở nam phương tỏ tường.
Mậu, Kỷ: thổ, ở trung
ương,
420. Canh, Tân: kim, ở tây phương ấy
thường.
Nhâm, Quư: thủy, ở bắc phương,
Đều rằng chủ vận, sử
đương việc trời.
Năm ngôi chủ vận chẳng dời,
Ngôi nào theo nấy, có lời thơ
xưa.
Chủ vận thi
(Bài thơ về chủ vận)
Dịch nghĩa:
Mộc
vận bắt đầu từ tiết Đại hàn ;
Hỏa vận bắt đầu từ ba ngày trước tiết Thanh
minh;
Thổ vận bắt đầu từ ba ngày sau tiết Mang chủng;
Kim vận bắt đầu từ
sáu ngày sau tiết Lập thu ;
Thủy vận bắt đầu từ chín ngày sau tiết Lập
đông;
Hết ṿng rồi trở lại từ đầu, muôn năm vẫn như vậy.
425. Năm
nhà đều có túc duyên,
Vợ chồng phối hợp, tách miền theo nhau.
Anh Giáp,
chị Kỷ cưới nhau,
Hóa ra vận thổ, trước sau chẳng lầm.
Ất, Canh hợp lại
hóa câm,
430. Đinh, Nhâm hợp lại hóa trầm mộc cây.
Bính, Tân ḥa thủy nước
đầy,
Anh Mồ, chị Quư hóa vầy hỏa quang.
Muốn coi năm hóa tạo đoan.
Gọi
rằng khách vận, này chàng nghe thơ.
Khách vận thi
(Bài thơ về
khách vận)
Dịch nghĩa:
Giáp Kỷ hóa ra thổ, Ất Canh hóa ra Kim,
Đinh
Nhâm hóa ra mộc, tất cả thành rừng,
Bính tân hóa ra thủy, chảy đi cuồn
cuộn,
Mậu Quư hóa ra hỏa, bốc lên thành ngọn lửa ở phương Nam.
435. Kể từ năm ấy hóa
ra,
Làm năm vận khách xây mà theo niên.
Trọn mười hai tháng một
niên,
Noi theo khách vận, thay phiên đi liền.
Giả như Giáp, Kỷ chi
niên,
440. Hóa ra hành thổ, thật truyền vận sơ.
Thổ sinh kim ấy vận
nhi,
Kim sinh thủy ấy, lại tŕ vận ba.
Thủy sinh mộc, vận thứ tư,
Mộc
sinh hỏa vận, luận từ năm nay.
445. Mỗi vận bảy mươi hai ngày,
Lại dư năm
khắc, cứ vầy tính qua.
Lấy năm Giáp, Kỷ suy ra,
Bao nhiêu năm nữa đều là
như đây.
Lại xem vận khách đổi xây,
450. Thái quá bất cập, lẽ này cho
minh.
Năm Giáp, Bính, Mậu, Nhâm, Canh,
Thật năm thái quá, đă đành dương
phân.
Năm Đinh, Ất, Kỷ, Qúy, Tân,
Thật năm bất cập, về phần âm
can,
455. Thái quá trước tiết Đại hàn,
Mười ba ngày chẵn, giao bàn tiên
thiên.
Bất cập sau tiết Đại hàn,
Mười ba ngày chẵn giao bàn hậu
thiên.
Cho hay trời có hậu, tiên,
460. Mười can trên dưới, liền liền xây
đi.
Ngư rằng: Ḱa ải Địa Chi,
Có non Lục Khí, đường đi lộn nhầu.
Chưa
hay chủ khí ở đâu,
Lại thêm khách khí, để âu việc ǵ ?
465. Dẫn rằng:Trong
ải Địa Chi,
Có mười hai chữ, thứ đi xây vần.
Dần, Măo thuộc mộc, mùa
xuân,
Tỵ, Ngọ thuộc hỏa, ở chưng mùa hè.
Mùa thu Thân, Dậu, kim
khoe,
470. Mùa đông Hợi, Tư, nước be dũng tuyền.
Th́n, Tuất, Sửu, Mùi :
đất liền,
Vượng theo tứ quư, chở chuyên bốn mùa.
Vậy nên sáu khí ấn
bùa,
Khí phong thứ nhất, thổi lùa gió xuân,
475. Thứ hai, khí hỏa lửa
phừng,
Thứ ba, khí thử nóng hừng viêm oai,
Thứ tư, khí thấp ướt
bày,
Thứ năm, khí táo ráo bay hơi nồng,
Thứ sáu là khí hàn chung,
480.
Sắp ra thứ lớp, giữ trong bốn mùa.
Kêu rằng chủ khí bốn mùa,
Có bài thơ
cổ, để tua thuộc ḷng.
Chủ khí thi
(Bài thơ về chủ khí)
Dịch
nghĩa:
Khí đầu tiên là khí Quyết âm (phong mộc) bắt đầu từ tiết Đại
hàn.
Khí thứ hai là khí quân hỏa, bắt đầu từ tiết Xuân phân.
Khí thứ ba là
là khí Thiếu dương (tướng hỏa), bắt đầu từ tiết Tiểu măn.
Khí thứ tư là khí
thái âm (thấp thổ), bắt đầu từ tiết Đại thử.
Khí thứ năm là khí Dương minh
(táo kim), bắt đầu từ tiết Thu phân.
Khí thứ sáu là khí Thái dương (hàn
thủy), bắt đầu từ tiết Tiểu tuyết.
Sáu hơi chủ khí chẳng
dời,
Năm nào theo nấy, tại trời ở an.
485. Mỗi năm từ tiết Đại
hàn,
Chính trong ngày ấy giao sang khí đầu.
Hơi b́nh chẳng trước, chẳng
sau,
"Tề thiên" hai chữ, sách Tàu rơ biên.
Kêu rằng "binh khí chi
niên",
490. Cho hay hơi chủ, chính chuyên giữ pḥng.
Kể từ sáu cặp đối
xung,
Định ngôi khách khí, xây ḍng chia ra.
Tư đối với Ngọ
một toà,
Làm ngôi quân hỏa, ở nhà Thiếu âm.
495. Sửu, Mùi
cặp đối Thái âm.
Làm ngôi thấp thổ, thấm dầm năm phương.
Dần,
Thân cặp đối Thiếu dương,
Làm ngôi tướng hỏa, sử đương việc
ḿnh.
Măo, Dậu cặp đối Dương minh,
500. Làm ngôi hàn thủy,
băng sương trầm trầm.
Tỵ, Hợi cặp đối Quyết âm,
Làm ngôi
phong mộc, rầm rầm gió cây.
505. Sáu ngôi khách khí đổi xây,
Giữ trời giữ
đất, từ đây chia miền,
Giả như Tư, Ngọ chi niên.
Thật ngôi quân hoả, việc
chuyên giữ trời,
Lấy hai năm ấy làm lời,
510. C̣n mười năm nữa, cũng dời
như nhau.
Khách khí thi
(Bài thơ về khách khí)
Dịch
nghĩa:
Năm Tư, năm Ngọ, khí Thiếu âm quân hỏa giữ trời,
C̣n khí Dương
minh táo kim giữ đất.
Năm Sửu, năm mùi, khí Thái âm thấp thổ giữ trời,
C̣n
khí Thái dương hàn thủy giữ đất, mưa liên miên.
Năm Dần, năm Thân, khí Thiếu
dương tướng hỏa giữ trời,
C̣n khí Quyết âm phong mộc truyền ở trong
đất
Năm Măo, năm Dậu th́ ngược lại với năm Tư, năm Ngọ,
Các năm Th́n,
Tuất, Tỵ, Hợi, cũng vậy.
(Th́n Tuất ngược lại với Sửu Mùi ; Tỵ Hợi ngược lại
với Dần Thân).
Cho hay quân hỏa giữ trời,
Táo kim giữ đất, hai nơi
cầm quyền.
Một khí ở trên tư thiên,
Hai khí tả hữu xen liền theo
bên...
515 Một khí ở dưới tư tuyền,
Hai khí tả hữu xen liền theo
bên.
Trên dưới sáu khí chia miền,
Mặt nam, mặt bắc, cầm quyền một
niên.
Giả như Tư, Ngọ chi niên.
520. Đất xen bên tả, làm truyền khí
sơ,
Trời xen bên hữu, khí nh́,
Tư thiên, ngôi chính, ấy th́ khí
ba,
Trời xen bên tả, tư ra,
Đất xen bên hữu thật là khí năm,
525. Tư
tuyền làm khí sáu chung,
Bốn mùa hơi khách thay ḍng đổi xây.
Một khí là
sáu mươi ngày,
Tám mươi bảy khắc nửa rày hữu cơ.
Ta nêu hơi khách đầu
bờ,
530. Ḱa lời yếu quyết xưa thờ rất vui.
Mỗi niên thoái lại hai
ngôi,
Nhận làm làng khách, cứ xuôi đến liền.
Loại như ngôi Tư tư
thiên,
Thoái về ngôi Tuất, ấy biên khí đầu.
535. Hai heo, ba chuột, bốn
trâu,
Năm hùm, sáu thỏ, trọn xâu tư tuyền.
Lại như ngôi Măo tư
thiên,
Thoái về ngôi Sửu, dấy truyền khí sơ.
Hai hùm, ba thỏ, bốn
rồng,
540. Năm rắn, sáu ngựa, trọn công tư tuyền.
Lấy hai năm ấy lệ
biên,
Bao nhiêu năm nữa, cũng truyền có phiên.
Như năm thấp thổ tư
thiên,
Thời ngôi hàn thủy tư tuyền, là phiên,
545. Như năm hàn thủy tư
thiên,
Thời ngôi thấp thổ tư tuyền, đôi phiên,
Như năm tướng hoả tư
thiên,
Thời ngôi phong mộc tư tuyền, đến phiên,
Như năm phong mộc tư
thiên,
550. Thời ngôi tướng hỏa tư tuyền trọn niên.
Lại coi khách khí dưới
trên,
Chính hoá, đối hoá, hai bên chẳng đồng.
Sáu năm chính hóa gốc
trồng,
Ngựa, dê, gà, cọp, heo, rồng lung tung,
555. Sáu năm đối hóa ngọn
duồng,
Chuột, trâu, khỉ, thỏ, rắn, muông đua giành.
Chính hóa theo gốc, số
sinh,
Đối hóa theo ngọn, số thành, thực, hư.
Cho hay chữ "thực", chữ
"hư",
560. Rằng "tiêu", rằng "bản" đều từ ấy ra.
Sau rồi dở sách y
tra,
Tiềm tâm mới thấy lời ta tỏ bày.
Tiều rằng: Trời đất máy xây,
Năm
vận, sáu khí, nghe nay tỏ tường.
565. C̣n e khách, chủ hai đường,
Theo
niên chộn rộn, khó toan rẽ ṛi.
Dẫn rằng: Vận lấy vận coi,
Khí theo khí
xét, có ṃi sách biên.
Giả như Giáp tư chi niên,
570. Khách vận, khách
khí, chia quyền một năm.
Giáp làm thổ vận mối cầm,
Tư làm quân hỏa, khí
thầm xây đi.
Khách gia trên chủ, chẳng v́,
Chủ ḷn dưới khách, hóa khi
ngưng tà.
575. Thời trời bởi ấy chẳng ḥa,
Trái theo hơn thiệt, mới ra bất
tề.
Mùa xuân hơi ấm chẳng về,
Lại thêm hơi gió thê thê, ớn ḿnh.
Mùa hè
hơi nóng chẳng lành,
580. Khí âm núp ở, nóng giành ngôi dương.
Mùa thu
chẳng trọn khí lương,
Dầm dề mưa khổ, đi đường kêu than.
Mùa đông chẳng
vẹn khí hàn,
Xen hơi nóng rực, giá tan keo h́nh.
585. Phong hơn thời đất
rêm ḿnh,
Hỏa hơn thời đất quánh h́nh sượng câm,
Thử hơn thời đất nóng
hầm,
Thấp hơn thời đất ướt dầm bùn ô,
Táo hơn thời đất ráo khô,
590.
Hàn hơn thời đất nứt mô, lở về.
Nhớ câu: "khí hậu bất tề",
Nhiều hơi độc
ác, đổ về dân đau.
Cho hay chủ khách sinh nhau,
Gọi rằng "tương đắc",
trước sau ḥa lành.
595. Chỉn e khách khí khắc giành,
Rằng "không tương
đắc", mới sinh bệnh tà.
Ngũ hành con soán ngôi cha,
Gọi rằng "bất đáng"
mới ra lẽ ngầy.
Tiều rằng: Khí vận biến vầy,
600. Mấy năm thuận, nghịch,
xin thầy chia riêng.
Dẫn rằng: Y họcrơ biên,
Năm nào vận khắc tư
thiên, nghịch tầm,
Tư thiên sinh vận, thuận tầm,
Vận đồng với khí, rằng
năm thiên phù.
605. Sáu mươi năm giáp một chu,
Mười hai năm gọi thiên phù
rơ phân.
Loại như Mậu tư, Mậu dần,
Mậu thân, Mậu ngọ, Bính Thần, Tuất
chi.
Cùng năm Kỷ sửu, Kỷ vi,
610. Măo Dậu hai Ất; Hợi, Tỳ hai Đinh,
Cho
hay vận khí đồng t́nh,
Mười hai năm ấy thật danh thiên phù.
Vận lên ngôi
khí ở sau,
Gọi rằng tuế hội, đếm đầu tám chi.
615. Loại như Kỷ sửu, Kỷ
v́,
Giáp th́n, Giáp tuất, thổ vi thổ làm.
Đinh măo mộc, Ất dậu câm
(kim),
Bính tư, Mậu ngọ, nước ngâm lửa dầu.
Thiên phù, tuế hội hợp
nhau,
620. Gọi rằng thái ất thiên phù, bốn chi.
Loại như Kỷ sửu, Kỷ
vi,
Ất dậu, Mậu ngọ, hơi đi một bờ.
Lấy năm coi tháng, ngày,
giờ,
Tháng, ngày, giờ cũng có cờ tư thiên.
625. Giả như Mậu ngọ ngày kiên
(kiến),
Vận đồng với khí, là duyên thiên phù.
Cho hay tuế hội, thiên
phù,
Gặp ngày năm ấy, bệnh đau khó lành.
Ta nay ước nói việc
Kinh,
630. Máy trời lắm chỗ gập ghềnh sâu xa.
Mười hai năm gọi bất
ḥa,
Bởi vận khắc khí, mới ra bất b́nh.
Mười hai năm gọi thiên
h́nh,
Bởi khí khắc vận, đua giành tai nguy.
635. Vận mà sinh khí, lỗi
nghi,
Gọi rằng tiểu nghịch thị phi nhộn nhàng.
Khí mà sinh vận thời
an,
Gọi rằng thuận hóa, muôn ngàn cơi vui.
Nhiệm mầu chẳng những vậy
thôi,
640. Can chi c̣n có hai ngôi đức phù.
Lại đồng tuế hội, thiên
phù.
Vận đi suy tỵ phải âu xét bàn.
Nội kinhcâu chữ rơ ràng
:
"Cang hại, thừa chế", khuyên chàng gắng coi.
645. Hữu dư, bất túc rẽ
ṛi,
Xuất, nhập, thăng, giáng, hẳn ḥi chẳng ngoa.
Mỗi năm trước vẽ đồ
ra,
Xét so vận khí chính, tà thời hay.
Như vầy mới phải gọi thầy,
650.
Giúp công hóa dục, nuôi bầy dân đen.
E người học đạo chẳng chuyên,
Vào tai
ra miệng, luống phiền ḷng ta.
Tiều rằng: Kinh nghĩa kín, xa,
Một
câu "cang hại..." nghe qua chưa tường.
655. Dẫn rằng: Đây gặp giữa
đường,
Nói phô kinh sách, mang trương khó ḷng.
Muốn cho biết lẽ tinh
thông,
Lần vào cửa đạo, hỏi ông Đan Kỳ.
Học cho thấy chỗ u vi,
660.
Phép mầu ư nhiệm, rộng suy giúp đời.
Ngư rằng: Xin dạy cạn lời,
Trong rừng
Bản thảo nhiều nơi chưa tường.
Ḱa mười hai bộ đan phương,
Mấy mùi,
mấy tính, mở đường từ ai ?
665. Dẫn rằng: Bản thảo nhiều loài,
Kể
ra cho hết chuyện này vả lâu.
Một bộ kim thạch ở đầu,
Trăm ba mươi
tám giống sưu đá vàng.
Một bộ thảo thượng giàu sang,
670. Chín mươi
lăm giống, rơ ràng hột hoa.
Một bộ thảo trung nối ra,
Chín mươi bảy
giống gốc, chà, lá cây.
Một bộ thảo hạ rộng xây,
Trăm hai muwoi có
ba loài củ căn.
675. Một bộ mộc thụ giăng giăng,
Một trăm sáu chục
bảy, rằng giống cây.
Một bộ nhân ấy thuốc vầy,
Có hai chục vị đủ
xây cho dùng.
Một bộ thú vật thuốc sung,
680. Chín mươi mốt giống
mật, ḷng, da, xương.
Một bộ cầm điểu thuốc thường,
Ba mươi bốn
giống, đều đường cánh lông.
Một bộ trùng ngư thuốc chung,
Chín mươi
chín giống, non sông khắp vời.
685. Một bộ mễ cốc nuôi đời,
Ba mươi
tám giống, nơi nơi vun trồng.
Một bộ quả phẩm thanh phong,
Có bốn
mươi giống trái nồng hơi hương.
Một bộ sơ thái khắp phương,
690.
Sáu mươi hai giống, lá vườn thơm thơ.
Cộng mười hai bộ toán cho,
Một ngh́n
bốn vị, đều ḷ hóa công
Từ xưa có họ Thần Nông,
Thay trời trị vật, tấm
ḷng yêu dân.
695. Trải đi nếm vị khổ tân,
Một ngày hơn bảy mươi lần trúng
thương.
Thử rồi muôn vật âm dương,
Dọn làm Bản thảo để phương cứu
đời.
Thuốc tuy nhiều vị, khác hơi,
700. Chẳng qua sáu tính, ở nơi năm
mùi.
Năm mùi dưới đất nên h́nh,
Trên trời cho tính, rộng vinh theo
mùa,
Đắng, cay, ngọt, lạt, mặn, chua,
Năm mùi hơi giúp, khá tua chia
bàn.
705. Cay thời hay nhóm hay tan,
Chua hay thâu góp, mặn ăn nhuyễn
bền.
Đắng thời hay dội nóng lên,
Ngọt hay lơi chậm, lạt nên lọc
lường.
Vị cay, ngọt, lạt thuộc dương,
710. Vị chua, đắng mặn tỏ tường
thuộc âm.
Có vị dương ở trong âm,
Âm trong dương, ấy máy cầm nhiệm
thay,
Khác nhau hơi mỏng, hơi dày,
Hơi trong, hơi đục, chỗ thay chẳng
đồng.
715. Trọn ǵn sáu tính linh thông,
Gọi rằng "thăng, giáng" ấy cùng
"ôn, lương",
Bổ hư, tả thực mọi giường,
Cho hay tính thuốc nhiều đường sâu
xa.
Xưa chia năm vị ấy ra,
720. Làm binh sáu cửa, ngăn tà sáu
dâm.
Phong ṃn cày gió ầm ầm.
Có mùi cay mát giữ cầm nửa phong.
Lửa
hừng cửa nhiệt nóng hung.
Có mùi mặn lạnh, chỗ pḥng nhiệt môn.
725. Đất
trong cửa thấp ướt dồn,
Có mùi cay nóng giữ dồn thấp quan.
Vàng nằm cửa
táo khô khan,
Có mùi đắng ấm giữ đàng táo hương.
Nước là cửa lạnh băng
sương,
730. Có mùi cay nóng giữ đường hàn môn.
Lại thêm sang độc một
môn,
Nhóm mùi thuốc ghẻ, đóng dồn ngoại khoa.
Phải coi năm vị ấy
ra,
Gọi là uư ố, gọi là phản nhau.
735. Có mười tám vị phản nhau,
Lại
mười chín vị úy nhau chẳng hiền.
Sách y xưa có lời biên,
Phản cùng úy ố
nhà truyền lời ca.
Thập bát phản ca
(Bài ca về mười tám vị
thuốc trái nhau)
Dịch nghĩa:
Bản thảo nói rơ mười tám vị
thuốc trái nhau:
Bán hạ, Qua lâu, Bối mẫu, Bạch liễm, Bạch cập đều trái với Ô
đầu.
Hải tảo, Đại kích, Cam toại, Nguyên hoa đều trái với Cam thảo.
Các
loại sâm (Nhân sâm, Huyền sâm, Đan sâm, Khổ sâm...), Tế tân, Bạch thược đều trái
với Lê lô.
Thập cửu úy ca
(Bài ca về mười chín vị thuốc sợ
nhau)
Dịch nghĩa:
Lư hoàng vốn là tinh tuư của lửa,
Một khi gặp Phác
tiêu liền tranh nhau.
Thủy ngân chớ để gặp Tỳ sương.
Lang độc rất sợ Mật
đà tăng.
Ba đậu là vị tính dữ nhất,
Riêng không thuận t́nh cùng Khiên
ngưu,
Đinh hương chớ để gặp Uất kim.
Nha tiêu khó hợp cùng Kinh tam
lăng.
Xuyên ô, Thảo ô không thuận với tê giác.
Nhân sâm rất sợ Ngũ linh
chi.
Quan quế điều ḥa khí lạnh rất hay,
Nhưng nếu gặp Thạch chi sẽ mất
công hiệu.
Phàm chế thuốc phải xem tính thuận nghịch của các vị.
Nếu
nghịch th́ bào chế đừng để lẫn với nhau.
Ngư rằng: Xin cạn lời
trao,
740. Lệ xưa dùng thuốc dường nào đặng tinh ?
Dẫn rằng: Gắng sức học
hành,
Rộng xem sách thuốc, gẫm t́nh dùng phương.
Nhớ câu đối chứng lập
phương,
Quân, thần, tá, sứ đo lường chớ sai.
745. Vua tôi hoà hợp theo
loài,
Đừng cho phản uư làm tai hại người.
Mở ra mấy cửa chỉ ngươi,
Bảy
phương đă sẵn, lại mười tễ dư.
Phương là đại, tiểu, ngẫu, cơ,
750. Phức,
cùng hoăn, cấp, sờ sờ khá trông.
Tễ là bổ, tả, tuyên, thông,
Trọng, khinh,
hoạt, sáp, táo cùng thấp thôi.
Bảy phương, mười tễ biết rồi,
Mặc trau
thang, tán, mặc dồi hoàn, đan.
755. Làm thang, làm tán, làm hoàn,
Ít nhiều
cân lượng dón bàn phân minh.
Phải coi vị thuốc cho rành,
Gạn màu thật,
giả, xét h́nh mới, lâu.
Lại xem bào chế phép mầu,
760. Khuyên đừng lỗi
tính, nào cầu khéo tay.
Sẵn dùng muối mặn, gừng cay,
Dấm chua, mật ngọt,
rượu say, đồng tiền (tiện).
Coi theo vị thuốc chế liền,
Hoặc sao, hoặc
nướng, hoặc chuyên nấu dầm.
765. Chớ cho vị độc hại thầm,
Khiến vào kinh
lạc chẳng lầm mới hay.
Mật ong vào phế là thầy,
Muối kia vào thận, dấm này
vào can.
Nước gừng vào chỗ tỳ quan,
770. Rượu cùng nước đái vào đàng tâm
kinh.
Cho hay mấy vị dẫn kinh.
Muốn nên công hiệu, phải tinh chế
dùng.
Vị nào dùng sống, sạch tinh,
Vị nào dùng chín tốt h́nh mới
nên.
775. Lại ǵn năm cấm chớ quên,
Răn người uống thuốc cho bền cữ
ăn.
Mặn thời máu chạy làm nhăng,
Hỡi ôi bệnh huyết chớ ăn mặn ṃi.
Cay
thời hơi chạy chẳng thôi,
780. Hỡi ôi bệnh khí chớ giồi ăn cay.
Đắng thời
hay chạy xương ngay,
Hỡi ôi cốt bệnh đắng rày chớ ăn,
Chua thời hay chạy
gàn săn,
Hỡi ôi cân bệnh chớ ăn chua nhiều.
785 Ngọt thời thịt chạy có
chiều,
Hỡi ôi nhục bệnh chớ nhiều ngọt ăn.
Thánh xưa cặn kẽ bảo răn,
Hễ
bưng thuốc uống, vật ăn phải dè.
Vật ăn nhiều món khắt khe,
790 Miệng thèm
chẳng nhịn, thời e hại ḿnh.
Giả như thuốc có Truật, Linh,
Thấy mùi tỏi,
dấm thật t́nh chẳng ưa.
Uống trà thời chớ ăn dưa,
Hoàng liên, Cát cánh
phải chừa thịt heo.
795 Thường sơn, hành sống chẳng theo,
Địa hoàng, củ
cải, lại chèo nhau ra.
Thịt trâu, Ngưu tất tránh xa,
Xương bồ, Bán hạ
chẳng hoà thịt dê.
Vật ăn khắc thuốc bộn bề,
800 Mỡ, dầu, thịt, cá ê
hề...noi dai.
Trái cây rau sống nhiều loài,
Cữ kiêng thời khá, kèo nài
thời đau.
Ta xin đón nói một câu :
"Bệnh ṭng khẩu nhập", phải âu giữ
ḿnh.
805 Phép dùng thuốc muốn cho tinh,
Hợp theo nước, lửa, sinh, thành
số dương.
Như vầy mới thật tiên phương,
Mới rằng tâm pháp rộng đường xưa
nay,
Sau rồi coi sách thời hay,
810 Lời ca thi quyết ta nay truyền
ḷng:
Dựng dược tổng quyết
(Tổng quyết về phép dùng
thuốc)
Dịch nghĩa:
Các vị làm quân, làm thần phải ḥa hợp, không trái
nghịch.
Bảy phương mười tễ đều có phép tắc,
Hoặc sắc thành thang, viên làm
hoàn, tán làm bột, luyện làm đan, liệu mà châm chước.
Các vị thuốc thực, giả,
mới, cũ phải xem xét tỉ mỉ.
Theo phép tắc mà bào chế, chớ cậy khéo léo,
Vị
chín th́ thăng, vị sống th́ giáng, phép cũ định rồi.
Cho uống kịp thời, lại
phải biết những điều kiêng kỵ,
Dùng cho đúng và hợp, không sơ sót, đó là
thuốc tiên.
Chế dược yếu phương
(Những điều quan trọng
trong việc chế thuốc)
Dịch nghĩa:
Nguyên hoa vốn lợi thủy, nhưng không
sao dấm không thông.
Đậu xanh vốn giải độc, nhưng để nguyên vỏ không công
hiệu,
Thảo quả chữa đầy bụng, nhưng để vỏ lại sinh tức ngực,
Hắc sửu để
sống lợi thủy, gặp Viễn chí thành có độc,
Bồ hoàng để sống thông huyết, dùng
chín th́ bổ huyết.
Địa du là thuốc cầm huyết, nhưng dùng ngọn th́ huyết không
cầm.
Trần b́ chuyên chữa khí, nếu để cả màng trắng th́ bổ vị.
Phụ tử là vị
cứu dương, nếu dùng sống th́ chữa được bệnh phong ngứa.
Thảo ô chữa phong tê,
nhưng dùng sống lại gây bệnh.
Nhân ngôn đốt qua hăy dùng.
Các loại đá th́
phải nung,
Ngâm dấm th́ mới tán nhỏ được,
Lề lối phải cho khéo.
Xuyên
khung phải sao bỏ chất dầu, v́ dùng sống sinh tê đau.
Dược hữu cửu
trần ca
(Bài ca về kinh nghiệm dùng chín vị thuốc)
Dịch
nghĩa:
Trần b́, Bán hạ với Hương nhu,
Chỉ thực, Chỉ xác, Ngô thù
du,
Kinh giới, Ma hoàng cùng Lang độc,
Muốn hay, cần phải để cho
lâu.
Tiều rằng: Xuân, hạ, thu,
đông,
Bốn mùa dùng thuốc chữa thông đạo thường.
Dẫn rằng: Trời bốn khí
thường,
Xuân ôn hạ nhiệt, thu lương, đông hàn.
815 Theo mùa dùng thuốc
thời an,
Mùa nào khí nấy, phải toan nhớ dồi.
Mùa xuân thời khí nóng
bồi,
Hốt trong thang thuốc gia mùi thanh lương.
Mùa hè thời khí nóng
thương,
820 Hốt trong thang thuốc thêm lương cho nhiều,
Mùa thu khí mát
hiu hiu,
Gia vào vị ấm mới điều hơi dương.
Mùa đông khí lạnh thấu
xương,
Gia vào vị nóng ngăn đường tà âm,
825 Nào lo trị bệnh, thuốc
lầm,
Bốn mùa tay thước đều cầm ở ta.
Kinhrằng : "Vật phạt thiên
ḥa,
Tất tiên tuế khí" ấy là lời ngay.
Đạo thường giữ vậy thời hay,
830
Dù nhằm bệnh biến mặc tay dùng quyền.
Làm thầy há dễ một thiên,
Ḷng hay
chế biến cho chuyên mới ṛng.
Tiều rằng: Tinh thuốc bằng thông,
Cứ theo
Bản thảo xây dùng nên chăng ?
835 Dẫn rằng: Bản thảo ó
ngằn,
Coi kinh Tố vấn bệnh căn mới tường :
Biết đau bởi khí nào
thương,
Thừa theo tính thuốc, dựng phương ra dùng.
Hỡi ôi học thuốc dày
công,
840 C̣n nhiều phép bí ở ông Đan Kỳ.
Ngư rằng: Mối đạo rừng Y,
Nối
qua mở lại, tên ǵ xin nghe ?
Dẫn rằng: Ta chẳng nói khoe,
Lớn thay đạo
thuốc chống bè hóa công.
845 Viêm Hoàng là họ Thần Nông,
Dọn ra Bản
thảo,thật công mở đầu.
Có vua Hoàng Đế ráp sau,
Cùng ông Kỳ Bá hỏi
nhau nạn đời.
Nội kinh từ ấy nên lời,
850 Văn trời, lư đất, bệnh
người đủ biên.
Nhờ câu "y đạo đại nguyên",
Một pho Tố vấnlưu truyền
xưa nay.
Hai mươi bốn quyển rơ bày,
Trong chia tám chục một rày thiên
danh.
855 Mấy lời đại luận rất tinh.
Phép màu, ư nhiệm máy linh không
cùng.
Vẽ đường kinh lạc ngoài trong,
Xây năm vận khí, cách chồng theo
năm,
Trị ngoài có phép biếm châm,
860 Trong thời thang dịch sửa cầm mạng
dân.
Từ Hiên, Kỳ thị xuống lần,
Đời nào cũng có bậc thần thánh ra.
Như
ông Biển Thước nhà ta,
Tám mươi mốt quyển gọi là Nạn kinh
865 Như
ông Hoàng Phủ tài lành,
Dọn Kinh Giáp Ất để danh thơm đời,
Hán,
Đường nhẫn xuống nhiều đời,
Ông Trương Trọng Cảnh mấy người dám tham ?
Coi
pho Kim quỹ ngọc hàm
870 Trong, ngoài, hư, thực, phép làm rộng
xa.
Hà Gian Lưu tử nối ra,
Bệnh nguyên, yếu chỉ,sách nhà hai
pho.
Đông Viên ông Lư trời cho,
Mười pho bạt tụy, ư ḍ thẳm sâu.
875
Đan Khê lại có thầy Chu,
Nhóm kinh sách thuốc đặng pho đại thành.
Ấy đều
nơi gốc Nội kinh,
Diễn ra làm sách tinh anh cứu người.
Y thư kể hết
các nơi,
880 Buồn trâu đầy cột, sách đời biết bao.
Tiều rằng: Sách thuốc chào
rào,
Bọn ta tính học bộ nào cho hay ?
Dẫn rằng: Đạo thuốc xưa nay,
Hơn
trăm bộ sách, đều tay thánh hiền.
885 Người sau lấy việc công truyền,
Tới
trong có chỗ chú biên lỗi lầm.
Hỡi ai muốn trọn đạo tâm,
Xét nguồn, tỏ
gốc, rộng tầm trong Kinh.
Nghĩa là Kinh biết đặng tinh,
890
Chỗ hay nương lấy ư ḿnh suy ra.
Lại coi các sách bách gia,
"Chiết trung"
hai chữ, mặc ta học đ̣i.
Đạo đời ai dễ giấu ṃi ?
Dón nơi đại khái, hẳn
ḥi chỉ cho.
895 Trước coi Bản thảo làm đ̣,
Sau xem Tố vấn,
chín so bệnh t́nh.
Muốn sai vị thuốc hành kinh,
Lôi công Bào chế
phép linh để ḷng.
Muốn xây thang dịch cho ṛng,
900 Phép ông Y Doăn, tới
trong lo lường.
Bệnh người ngoại cảm nhiều phương,
Học ông Trọng Cảnh một
đường cho chuyên.
Nội thương học phép Đông Viên,
Bao nhiêu chứng nhiệt học
quyền Hà Gian.
905 Ḱa như tạp bệnh nhộn nhàng,
Đan Khê phép cũ, khuyên
chàng sử đương.
Mạch kinh đọc sách họ Vương,
Sự thân đọc sách ông
Trương Tử Ḥa.
Hỡi ơi nghề thuốc lắm khoa,
910 Kể cho hết sách, nói ra
bướu thừa.
Sách nhiều mà lư càng thưa,
Phương nhiều mà phép so xưa lỗi
ḍng
Muốn cho nguồn sạch ḍng trong,
Nêu ngay bóng thẳng, ghi ḷng lời
ta.
915 Ngư rằng: Miếu tổ một toà,
Thờ trong bài vị ấy là bậc chi ?
Dẫn
rằng: Trong miếu rừng y,
Tổ xưa vốn họ Phục Hy làm đầu.
Thiên nguyên
ngọc sách trước trau,
920 Mười đời tới Quỷ Du Khu đọc truyền.
Linh
khu, Tố vấn noi biên,
Nối theo vua thánh, tôi hiền dạy ra.
Họ tên kể
đặng mười ba,
Đều người thượng cổ y khoa mở ḍng.
925 Nho y bốn chục một
ông,
Đều người kinh sử dày công học hành.
Theo trong khoa mục là
ḿnh,
Trương, Tôn bọn ấy dơi danh trên đời.
Minh y chín chục tám
người,
930 Tần, Sào bọn ấy tài tươi sáng ḷa.
Thế y hai chục sáu
nhà,
Lâu, Từ bọn ấy nối cha nghiệp này.
Đức y mười có tám thầy,
Từ,
Tiền bọn ấy ḷng đầy yêu thương.
935 Tiên y như bọn Trường Tang,
Có mười
chín họ, truyền phang nhiệm màu.
Tính danh cộng đếm trước sau,
Hai trăm
một chục năm đầu tiên sư.
Tiều rằng: Trước họ Phục
Hy,
940 Chưa hay nghề thuốc tên chi mở đàng ?
Dẫn rằng: Người thuở Tam
hoàng,
Có ông Tựu Thải mở mang mối đầu.
Dạy ông Kỳ Bá học sau,
Huyệt do
kinh lạc, phép mầu cứu châm.
945 Ngư rằng: Trong phép cứu châm,
Chẳng chờ
thuốc uống mà âm dương ḥa.
Xin lời vàng ngọc nhả ra,
Sách ông nào bí, vẽ
ta học hành.
Dẫn rằng: Muốn học máy linh,
950 Coi chừng trời đất trong
h́nh người ta.
Độ trời giáp một năm qua,
Ba trăm sáu chục lẻ ra năm
ngày,
Ḿnh người kể khắp chân tay,
Ba trăm sáu chục năm vài lóng
xương.
955 Đếm theo kinh lạc âm dương,
Ba trăm sáu chục năm đường huyệt
danh,
Khá coi Hoàng Phủ Châm kinh,
Cảnh Khôi Cứu pháp cùng Minh
Đường đồ
Huyệt nào sâu cạn phải đo,
960 Bệnh nào bổ tả phải ḍ cho
thông,
Nhớ câu "đoạt dược chi công",
Phép châm cứu ấy chẳng đồng phương
thơ (thư).
Tiều rằng: Ta hăy c̣n mờ,
Ngoại khoa phép bí, biết thờ ông chi
?
965 Dẫn rằng: Từ thuở Hiên, Kỳ,
Có ông Du Phủ khôn b́ ngoại
phang,
Bệnh người chẳng dụng thuốc thang,
Xẻ đầu, mổ bụng, rửa gan, cạo
trường,
Hoa Đà sách cũng khác thường,
970 Hùng kinh chi cố, nhiều phương
rất kỳ.
Cho hay mấy bậc thần y,
Để kinh sách lại thiếu ǵ ngoại
khoa.
Đan Khê sau nhóm các nhà,
Bổ di một bộ ngoại khoa thêm rành.
975.
Khuyên ngươi gắng đọc Nội kinh,
Sờ sâu, ṃ kín, tỏ t́nh ngoài,
trong.
Ngư rằng: Ḱa bốn lầu
song,
Chưa hay bốn ấy để pḥng coi chi ?
Dẫn rằng: Tâm pháp nhà y,
980.
Vọng, văn, vấn, thiết, chữ ghi bốn lầu,
Vọng là xem sắc người đau,
Văn là
nghe tiếng nói màu thấp cao,
Vấn là hỏi chứng làm sao,
Thiết là coi mạch
bộ nào thật hư.
985 Sau rồi thong thả học sư,
Bốn lời yếu quyết ta chừ đọc
cho.
Quan h́nh sát sắc
(Xem h́nh dáng, xét khí sắc)
Dịch
nghĩa:
Thứ nhất là xem thần khí, sắc của người bệnh,
Xem nhuận hay khô,
gầy hay béo, dậy cùng nằm thế nào.
Nhuận th́ sống, khô th́ chết, béo là
thực,
Gầy là hư yếu, xưa nay vẫn truyền.
Lom khom là trong lưng đau, nh́n
biết ngay.
Chau mày là nhức đầu, chóng mặt.
Tay không nhấc lên được là vai
và lưng đau.
Bước đi khó nhọc là đau trong khoảng ống chân,
Chắp tay đè
trước ngực là trong ngực đau,
Đè trước rốn là đau trong vùng bụng,
Trở dậy
không ngủ được là đờm và nhiệt;
Thích ngủ là v́ lạnh và hư khiến nên,
Quay
mặt vào vách nằm co ro, phần nhiều là v́ lạnh.
Ngửa mặt nằm sóng soải là v́
bị nóng nung nấu.
Mặt, trên người và con mắt có màu vàng là bị bệnh thấp
nhiệt.
Môi xanh, mặt xạm đen cũng là bị lạnh như trên.
Thính
thanh âm
(Nghe giọng, xét tiếng cười)
Dịch nghĩa:
Thứ hai là
nghe xem tiếng trong hay đục;
Xét xem người bệnh nói thật hay nói
xàm.
Tiếng đục biết ngay là bị đờm vướng lấp;
Tiếng trong, đó là v́ bị
lạnh ở bên trong,
Lời nói rơ ràng th́ không phải là thực nhiệt;
Nói bậy và
kêu gào th́ bệnh nhiệt đă sâu lắm rồi.
Nói chuyện ma quỷ, lại c̣n trèo tường,
leo mái nhà,
Đó là ngực bụng có đọng đờm, gọi là bệnh điên.
Lại có thứ
bệnh kéo dài đă lâu ngày,
Bỗng nhiên mất tiếng, th́ mạng ôi thôi
!
Vấn chứng
(Hỏi chứng lạnh)
Dịch nghĩa:
Thử hỏi
đầu ḿnh có đau hay không,
Nóng lạnh không ngớt th́ rơ ràng là bệnh ngoại
cảm.
Bàn tay nóng, ăn không biết ngon,
Đó là nội thương v́ ăn uống hay
nhọc mệt quá sức.
Trong ḷng bồn chồn lại thêm bị ho,
Người gầy g̣, đó là
chứng âm hư hỏa động.
Trừ ba chứng ấy ra, c̣n th́ các chứng khác,
Như sốt
rét, kiết lỵ đều có tên.
Từ đầu tới chân phải hỏi cho rơ.
Chứng bệnh tương
tự, cần nghe cho cặn kẽ.
Tạng phủ định vị
(xác định vị trí
các tạng phủ)
Dịch nghĩa:
Tay trái là tim, ruột non, gan, mật, thận
;
Tay phải là phổi, ruột già, lá lách, dạ dày và mệnh môn.
Tim và ruột non
ứng với bộ Thốn tay trái.
Gan, mật cùng hội về bộ Quan tay trái.
Mạch thận
nguyên ở bộ Xích tay trái.
Bàng quang là phủ của thận cũng ở đấy.
Phổi
cùng ruột già ứng với bộ Thốn tay phải.
Lá lách, dạ dày xem ở bộ Quan tay
phải.
Màng tim sóng đôi với tam tiêu, hợp với bộ Xích tay phải.
Đó là bí
quyết cho kẻ mới học nghề y.
Tiều rằng: Xem bệnh tử
sinh,
Phép ông nào trọn, xin rành dạy ta ?
Dẫn rằng: Xưa có Thúc
Ḥa,
990. Xem h́nh, xét sắc, ít nhà dám chê.
Chẳng chờ miệng nói tai
nghe,
Mấy ṃi sống thác khôn che mắt thần.
Nay trau con mắt phong
trần,
Coi lời ca quyết sáng ngần hơn châu.
Vương Thúc Ḥa quan bệnh
sinh tử hậu ca
(Bài ca về phép xem triệu bệnh sống chết của Vương Thúc
Ḥa)
Dịch nghĩa:
Bệnh sắp khỏi, vè mắt có sắc vàng (vị khí đă lưu
hành).
Vành quanh mắt th́nh ĺnh trũng xuống, biết chắc là chết (ngũ tạng
tuyệt).
Tai, mắt, mũi, miệng nổi sắc đen,
Đă lan vào đến miệng th́ mười
phần có đến tám là khó cứu (thận khí chế vi khí),
Mặt vàng, mắt xanh thường
do uống rượu quá say,
Dể gió tà xông vào vị nên mất mạng (mộc khắc
thổ).
Mặt đen, mắt trắng là mệnh môn hỏng.
Trong người lại thấy quá nhọc
mệt, th́ tám ngày chết.
Trên mặt th́nh ĺnh thấy có sắc xanh,
Nếu như dần
dần trở thành màu đen là chết, khó cứu (can và thận tuyệt).
Mặt đỏ, mắt
trắng, lại thở kḥ khè th́ rất đáng sợ,
Đợi qua mười ngày sẽ rơ sống hay chết
(hỏa khắc kim).
Sắc vàng, đen, trắng nổi lên chạy vào mắt,
Vào cả mũi,
miệng là có tai vạ (thận chế tỳ).
Nếu lại thêm mặt xanh, mắt vàng th́ giờ Ngọ
sẽ chết,
C̣n lại th́ cũng chỉ sống trong vài ngày là cùng (mộc khắc
thổ).
Mắt không có tinh thần, lợi răng có sắc đen (tâm và can tuyệt).
Mặt
trắng, mắt đen cũng là tai vạ (phế và thận tuyệt)
Miệng mở ra như miệng cá,
không ngậm lại được (tỳ tuyệt),
Thở ra mà không hít vào th́ mạng lên tiên
(can và thận đă tuyệt trước).
Vai xo lên, mắt trợn ngược, môi khô,
Mặt
sưng lên, mắt trợn ngược, môi khô,
Mặt sưng lên lại có sắc xám hay đen cũng
khó thoát chết.
Nói xàm bậy bạ hay không nói ǵ,
Hơi thở nặng mùi như xác
chết, biết là không thọ (tâm tuyệt).
Nhân trung đầy hết lên, miệng và môi
xanh,
Nên biết là ba ngày mạng không c̣n (mộc khắc thổ).
Chỗ giáp lưỡng
quyền (hai g̣ má) đỏ, là bệnh tim đă lâu.
Miệng há, thở ra th́ mạng khó sống
(tỳ và phế tuyệt).
Chân đau, ngón sưng, đầu gối sưng to như cái đấu,
Nên
biết là khó giữ mạng sống trong mười ngày (tỳ tuyệt).
Gân cổ lỏng lẻo biết
chắc là chết (mạch Đốc tuyệt).
Trong ḷng bàn tay không c̣n ngấn vết cũng
sống không lâu (màng tim tuyệt).
Môi xanh, ḿnh lạnh, nước tiểu cứ són ra
(bọng đái tuyệt).
Thấy đồ ăn thức uống th́ quay mặt đi, hẹn trong bốn ngày sẽ
chết (can tuyệt)
Móng chân, móng tay đều xanh đen,
Xương sống đau, lưng
nặng, trở ḿnh khó,
Đó là xương tuyệt, năm ngày rồi xem.
Ḿnh nặng, nước
tiểu đỏ lại són ra không ngớt,
Đó là thịt tuyệt, sáu ngày là chết.
Móng
chân, móng tay xanh, thường chửi rủa la thét,
Đó là gân tuyệt, khó qua được
chín ngày.
Tóc cứng như sợi gai, nửa ngày là chết (ruột non tuyệt).
Lần
áo, nói chuyện chết, mười phần biết là hỏng (tâm tuyệt).
995 Ngư rằng: Mạch lư u
vi,
Chưa hay h́nh trạng mạch đi ít nhiều ?
Dẫn rằng: Tên mạch rất
nhiều,
Hai mươi tám trang sách nêu rơ ràng.
Chẳng qua hai chữ âm
dương,
1000 Muốn cho phân biệt coi thường lề biên.
Chu mạch thể
trạng
( H́nh trạng các mạch )
Dịch nghĩa:
Mạch Phù ấn
xuống thấy yếu, nâng lên thấy mạnh,
Mạch Trầm ấn xuống thấy mạnh, nâng
lên th́ không thấy,
Mạch Tŕ, một hơi thở đến ba lượt.
Mạch
Sác một hơi thở đến sáu lần.
Mạch Hoạt như chuỗi hạt trai và
đi, lại mau,
Mạch Sắc đi lại vướng như róc da tre.
Mạch
Đạiấn nổi th́ đầy ngón tay, ấn ch́m th́ không có sức
Mạch Hoăn
so với mạch Tŕ nhanh hơn chút,
Mạch Hồngnhư nước lụt nổi sóng
lên.
Mạch Thực ấn thấy găng tay, mạnh khác hẳn.
Mạch Huyền
thẳng rẵng như giương dây cung.
Mạch Khẩn như là mới kéo dây, vặn
chạc.
Mạch Trường qua ngón tay, ra ngoài bộ.
Mạch Khâu hai
đầu có mà giữa thưa không.
Mạch Vi như tơ nhện, khá dễ xét.
Mạch
Tế đi lại như sợi chỉ càng dễ coi,
Mạch Nhu không có sức không
ưa ấn.
Mạch Nhược th́ như muốn đứt, nửa có, nửa không,
Mạch
Hư tuy mở rộng song không chắc,
Mạch Cách, rất bền vững, như ấn
vào da trống.
Mạch Động như hạt đậu lăn, không có đi, lại,
Mạch
Tán chốc chốc mới thoáng tới đầu ngón tay.
Mạch Phục ấn xuống
sát xương mới thấy.
Mạch Tuyệt th́ không có hẳn, t́m cũng uổng
công,
Mạch Đoản ngay trong bộ cũng không tới.
Mạch Xúc đến
mau gấp, dần dần khoan đi là đáng mừng.
Mạch Kết đi chậm, thỉnh thoảng
lại dừng.
Mạch Đại cũng dừng giữa chừng mà không trở lại
được.
Tiều rằng: Tên mạch đă
trao,
Mạch nào chuyên chủ bệnh nào xin nghe.
Dẫn rằng: Chẳng mếch chẳng
phe,
Mạch nào chứng nấy, tay đè th́ hay.
1005 Xiết bao trong sách nhiều
thầy,
Sẵn lời ca quyết ta rày vẽ ngươi.
Chư mạch chủ
bệnh
(Các bệnh thể hiện qua h́nh trạng mạch)
Dịch nghĩa:
Phù là
bệnh phong, Khâu là bệnh huyết, Hoạt là nhiều đờm,
Thực là bệnh nhiệt, Huyền
là bệnh lao, Khẩn là bị đau đớn.
Hồng là bệnh nhiệt, Vi là bệnh hàn, đều tích
tụ dưới rốn.
Trầm là đau v́ khí, Hoăn th́ da tê.
Sắc là bị tổn tinh âm,
hại huyết.
Tŕ cũng là bệnh lạnh, Phục là bệnh ở cách quan.
Nhu thường bị
toát mồ hôi, riêng người già thường mắc.
Nhược là tinh khí thiếu, xương và
thân thể ê ẩm,
Trường là khí tốt, Đoản th́ khí bị bệnh.
Tế là khí ít, Đại
là khí suy.
Xúc là bệnh nhiệt cùng cực, Kết là tích tụ.
Hư là bệnh kinh
giật, Động là thoát bị ra máu liên tiếp.
Sác là bệnh trong ḷng buồn bực, Đại
là bệnh đang tiến.
Cách là bệnh di tinh, băng huyết, cũng lạ lùng
thay.
Tiều rằng: Thầy thuốc nói
thường,
Thất biểu, bát lư, chín đường mạch chi ?
Dẫn rằng: Ấy thật tục
y,
1010 Thấy đâu nói đó, biết ǵ Mạch kinh,
Ta từng coi sách
Mạch kinh,
Chín đường, biểu, lư, không danh mục đề.
Mạch
kinh đă chẳng nêu đề,
Đến ông Trọng Cảnh ṛng nghề nào biên.
1015 Ngư
rằng: Gốc bởi ai truyền,
Cớ sao sách thuốc c̣n biên làm ǵ ?
Dẫn rằng:
Sách thuốc thiếu chi,
"Hăn ngưu sung đống" câu ghi trước tường.
Gốc ra từ
họ cao Dương,
1020. Đặt tên mạch ấy mạo Vương Thúc Hoà.
Nối sau, họ Đới
đồng ra,
Mạch thư san ngộ cứu tra dọn rồi.
Đan khê chẳng nỡ bỏ
trôi
Để cho hậu học làm dùi chiết trung.
1025. Hỡi ôi mạch lư nhiều
ông,
Ông nào ư nấy, rồng rồng đua nhau.
Những kiêm nhau với giống
nhau,
Coi vào mạch lư lộn nhầu như tương.
Nói cho rộng chước y
phương,
1030. Rọt đồng hồ, cũng về đường tứ tông.
Phù, Trầm, Tŕ, Sác, tứ
tông,
Tóm coi ba bộ cho ṛng thời hay.
Ngh́n xưa bốn mạch đón thay
!
Lời ca tâm pháp ta nay thuộc ḷng:
Tổng Khan tam bộ mạch
pháp
( Tổng quát về phép xem mạch ba bộ )
Dịch nghĩa:
Mạch hội ở
kinh Thái âm, xem ở đó có thể biết sống chết,
Thốn, Quan, Xích đủ cả t́nh
h́nh âm dương.
Bằng ba cách ấn nổi, ấn giữa, ấn ch́m mà biết mạch đi tŕ hay
sác.
Thuận hay nghịch, thực hay hư đều ứng với ngũ hành.
Nào cửu hậu,
nào thập biến, rất là phiền phức
Nhưng đều do tạng phủ hợp lại mà thành
ra.
Mạch ba bộ mà đủ th́ dễ biết bệnh,
Nhưng nếu khi đến, khi không đến
th́ thật khó có bằng cứ.
Mạch lên, xuống, đi, lại đều có dấu vết,
Nên
t́m mạch, tay phải cứng và nằm ngang.
Duy có mạch Thiên ḥa th́ không
ứng,
Nhảy gấp khác thường là thuộc kỳ kinh.
Một mạch mà biến hai lần
chớ lo là lạ,
Nam hay nữ cũng vậy, nếu thấy nó giữa giờ Dần chớ lo sợ
hăo,
Năm mươi là số chót của phép Thái diễn,
Theo ngôi chủ tiên thiên mới
biết là thiêng liêng.
Bốn mùa đều lấy khí của vị làm gốc,
Sáu Giáp kế
tiếp nhau như anh với em.
Gọn gàng thay phép tứ mạch để lại cho ngàn
đời,
Lập ra then chốt để xem động tĩnh thật giản dị và rơ ràng.
Chẳng
cần hỏi ở kinh nào hay tạng phủ nào,
Chỉ cần đinh ninh xét rơ mạch mạnh hay
yếu.
Muốn rơ gốc nguồn, không có sự khéo léo nào khác,
Chỉ cốt là khi xem
mạch th́ tâm thần phải trong sạch.
1035. Phép hay nhóm một
thiên này,
Ư sâu, nghĩa kín, vốn thầy bách gia.
Thêm c̣n Y quán dọn
tra
Kiêm lời tiểu tự biên ra hẳn ḥi.
Cứ theo thiên ấy tóm coi,
1040.
Thực hư ba bộ, biết ṃi tử sinh.
Lạ thay mấy mạch kỳ kinh,
Thiên hoà,
chẳng ứng nhiều anh dốt ngầm.
Ngư rằng: Tấm biển Y lâm,
Chữ "Tam Công" ấy,
chủ cầm ư chi ?
1045. Dẫn rằng: Bốn chữ phép kỳ,
"Vọng, văn, vấn, thiết",
bậc ghi ba tầng.
Thượng công là chữ "vọng văn",
Trung công chữ "vấn" chủ
rằng thông minh.
Hạ công chữ "thiết" đă đành,
1050. Trong ba bậc ấy tài
lành khác nhau.
Ba công nghề nghiệp lau làu,
Coi kinh Tố vấn thấy
màu thợ hay.
Ngư, Tiều, đều dậy ṿng tay,
Rằng : Xin lạy tạ gặp nay lời
lành.
1055. Tuy chưa đến cửa cao minh,
Trước dà nghe dạy mở tranh lấp
rào.
Mấy hồi ḷng chịu miệng trao,
Phá ngu phát rậm, biết bao nhiêu
lời.
Bấy lâu ngồi giếng xem trời,
1060. Ḍm beo trong ống, đạo đời biết
đâu.
Dẫn rằng: Bằng hữu giúp nhau,
Miễn cho trọn nghĩa theo câu ngũ
thường.
Phần ta học hăy tầm thường,
C̣n nhờ một bạn tê Đường Nhập
Môn.
1065. Nhập Môn học có tiếng đồn,
Rộng thông kinh sử, trí khôn vượt
bầy.
Nhà nho đèn sách công dày,
Tài kiêm tám đấu, sách đầy năm xe.
Văn
chương ai cũng muốn nghe,
1070. Phun châu, nhả ngọc báu khoe tinh thần.
V́
câu " sinh bất phùng thần",
Dẹp nghề cửa Khổng theo phần kỹ lưu.
Đan Kỳ đồ
đệ trước sau,
Đều nhường tên ấy ở đầu y sinh.
1075. Ngư, Tiều nghe nói tỏ
t́nh,
Nh́n rằng tên ấy tiền tŕnh vốn quen,
Nhớ xưa cũng bạn sách
đèn,
Nước loàn nên mới thân hèn ĺa nhau.
Tấm ḷng mơ tưởng bấy
lâu,
1080. Chưa hay tông tích ở đâu đi tầm (t́m) .
Ngư, Tiều đang lối mừng
thầm,
Xảy nghe ngoài cửa tiếng ngâm thơ rền,
Gió trong đưa dắt hơi
lên,
Trước am Bảo Dưỡng nghe rền lời thơ.
Nhập môn ngâm thơ
rằng:
Hoa cỏ ngùi ngóng
gió đông,
Chúa xuân đâu hỡi, có hay không ?
Mây giăng ải bắc trông tin
nhạn,
Ngày xế non nam bặt tiếng hồng.
Bờ cơi xưa đà chia đất khác,
Nắng
sương nay há đội trời hung,
Chừng nào thánh đế ân soi thấu
Một trận mưa
nhuần rửa núi sông
1085. Nghe rồi Đạo Dẫn vội vàng,
Bước ra trước
cửa rước chàng Nhập Môn.
Ngư, Tiều nh́n thấy Nhập Môn,
Chạnh ḷng bạn cũ,
bôn chôn hỏi chào,
Miệng cười mà nước mắt trào,
1090. Mừng thương giao
cách, biết bao nhiêu t́nh.
Mừng là mừng gặp bạn lành,
Thương là thương đạo
ở ḿnh hèn lâu.
Luống ôm báu tốt minh châu,
Ở nơi nước tối, ai hầu biết
ai.
1095 Cách nhau mười mấy năm dài,
Gặp nhau một thuở, dễ phai ḷng
này.
Việc nhà ấm lạnh rủi may,
Cùng nhau trót đă tỏ bày căn duyên.
Môn
rằng: Cám cảnh bạn hiền,
1100 Người sông, kẻ núi lưu liên bấy chầy.
Từ năm
dứt hội rồng mây,
Những ngờ chúng bạn theo bầy tinh chiên.
Buồn xem trong
đất U Yên,
Y quan xưa hóa nón chiên áo cầu.
1105 Người so cầm thú khác
nhau,
V́ noi lễ nghĩa, giữ câu cương thường.
Tuy rằng ở cuộc tang
thương,
Tấm ḷng ngay thảo nào thường đổi xây.
Hai người tài trí vượt
bầy,
1110 Chẳng tham danh lợi buổi này khá khen
Dẫn rằng: Mấy mặt như
sen,
Đứng trong bùn lấm, mà bèn sạch trơn.
Chưa hay trong ư cao nhơn
(nhân),
Lời thơ ngâm trước c̣n hờn, trông chi ?
1115 Môn rằng: Ta đọc sách
y,
Thấy trong vận khí xây đi nhiều ṭa,
Trời đông mà gió tây qua,
Hai
hơi ấm mát chẳng ḥa, đau dân.
Nhớ câu "vạn bệnh hồi xuân",
1120 Đ̣i ngày
luống đợi Đông quân cứu đời.
Tiều rằng: Nào xiết lo đời,
"Vinh, khô" hai
chữ, mặc trời chủ trương.
Thánh kinh c̣n chữ "xuân vương",
Trong, ngoài,
há dễ lộn đường Hoa, Di.
1125 Đạo đời có thịnh có suy,
Hết cơn bế bĩ, đến
kỳ thái hanh.
Ngư rằng: Gặp thuở thái hanh,
Bọn ta cũng đặng rạng danh
nước nhà,
Chỉn e đời xuống càng xa,
1130 Tấm ḷng nhân dục đắm sa lở
bờ.
Dẫn rằng: Gặp bạn Thi,Thư,
Luống bàn lư sự, bao giờ cho xong.
Ai ai
cũng có tấm ḷng,
Biển sâu chưa hẳn đục trong lẽ nào.
1135 Nay xin mở tiệc
tửu hào,
Phú thi vài lối tầm phào nghe chơi.
Ngư, Tiều, Môn, Dẫn bốn
người,
Cùng nhau ăn uống vui cười ngỏa nguê.
Môn rằng: Nam, bắc, đông, tê
(tây),
1140 Gặp nay thơ biết cảnh đề ra chi ?
Dẫn rằng: Nào phải trường
thi,
Ra đề hạn vận, một khi buộc ràng !
Trượng phu có khí ngang
tàng,
Rộng cho phóng tứ làm bàn thi tiên.
1145 Noi theo đạo cũ kim
liên,
Cùng nhau xướng họa đoản thiên nối bài.
Mặc dù hai chữ tả
hoài,
Việc xưa được mất bởi ai, cớ ǵ ?
Người xưa sao có thị phi ?
1150
Đạo đời sao có thịnh suy chẳng đồng ?
Học theo ng̣i viết chí công,
Trong
thơ cho ngụ tấm ḷng Xuân Thu.
Họ Đường mở vận xướng đầu,
Sau Châu Đạo Dẫn
nối theo họa liền.
Nhập môn xướng rằng:
Đời hoàng rồi đế, đế
rồi vương,
Từ dấu vương sau bá dọn đường.
Ai cấm đỉnh Chu người Sở
hỏi,
Máy trời đă mở tiệm giày sương.
Đạo Dẫn họa
rằng:
Ngh́n năm có một hội minh lương,
Vua thánh tôi hiền vững bốn
phương.
Nhớ thuở khóc lân treo bút đạo,
Mặc t́nh trời đất với quân
vương.
Nhập môn xướng rằng:
Tà thuyết đua ra lấp nẻo
đường,
Bủa lời Dương, Mặc, nét Thân, Hàn.
Sự đời bóng rối cười ông
Lăo,
Nợ nước khô lâu khóc họ Trang.
Tiều họa
rằng:
Nửa ngh́n chưa gặp vận sông Vàng,
Năm nhạc, hơi che một chữ
quang,
Khổng thánh c̣n mang lời hạ quỷ,
Mạnh hiền luống chịu tiếng Tàng
Thương.
Nhập môn xướng rằng:
Kiếm phù Hán tổ đăi Hàn
công,
Nệm gối Đường tông sánh vợ chồng.
Hai chữ cương thường như thế
ấy,
Dầu lân, điềm phụng, vội khôn trông.
Ngư họa
rằng:
Bạo Tần dọn chỗ sẵn cho Lưu,
Trời khiến bầy hùng dấy đuổi
hươu.
Lửa đốt A Pḥng đền lửa sách,
Hầm chôn hàng tốt trả hầm nhu
(nho).
Đạo Dẫn ngâm rằng:
Thuở nào năm ngựa lội sông
nam,
Lắm bậc tài danh mấy có làm
Người Địch chống chèo thề cũng
luống,
Họ Đào vận bịch sức c̣n tham.
Nhập môn ngâm
rằng:
Công danh bọn trước rủi xiêu bè,
Biển bụi lênh đênh sóng gió
đè.
Rồng phụng Kinh Châu c̣n mắc núp,
Chó gà Tề khách chớ nên
khoe.
Tiều ngâm rằng:
"Mông thỏ, cung chim" tiếng trước
de,
Tôi người họ Lục chở đầy xe,
Kén tơ kéo hết ra thân nhộng,
Hơi
tiếng kêu c̣n nhọc sức ve.
Ngư ngâm rằng:
Tàu ngựa cầm
trâu, trước lỗi ngh́.
Năm Hồ roi dấu lấp đường đi.
Việc đời hỏi tới người
ṃ rận,
Nạn nước trông về kẻ bán ky.
Nhập Môn ngâm
rằng:
Cuộc cờ thúc quư ngựa xe đua,
Nay chúa, mai tôi, lộn ấn
bùa.
Một núi ông Đoàn riêng trốn khách,
Năm triều ngươi Đạo nhọc thờ
vua.
1155 Bốn người họa xướng
thơ rồi,
Thứ này Đạo Dẫn phản hồi Đông Thanh.
Dẫn rằng: Bên quán Đông
Thanh,
Ngày mai đă đến giờ lành luyện đan.
Ta xin về chốn luyện
đan,
1160 Ngư, Tiều ngươi phải theo Đường Nhập Môn.
Hai ngươi nay gập Nhập
Môn,
Theo nhau cho trọn một phồn nho y,
Phần ta theo việc tiên y,
Ngày
sau cũng tới Đan Kỳ hợp nhau.
1165 Ngư, Tiều nghe nói dàu dàu,
Muốn theo
Đạo Dẫn trước sau vuông tṛn.
Riêng hiềm một nỗi vợ con,
Trần duyên chưa
măn, khó ḷn động tiên,
Trót đà chịu phép chân truyền,
1170 Ở am Bảo Dưỡng
hỏi biên năm ngày.
Tuy chưa đủ thấy nghề hay,
Song nhờ dạy vẽ, công dày,
ơn sâu.
Nửa đường đây lại chia nhau,
Khiến ḷng bịn rịn, mặt sầu chẳng
vui.
1175 Rót ba chén rượu phụng bồi,
Lễ đưa Đạo Dẫn, một hồi tạm
ly.
Tiều rằng: Chưa đến Đan Kỳ,
Mười phần đường thuốc, mới đi năm
phần.
Mấy ngày nghe đạo truân truân,
1180 Như ḿnh ngồi giữa gió xuân hơi
ḥa.
Xưa rằng : "Ích hữu có ba",
Giúp ta lành ấy cũng là ngô sư.
Môn
rằng: Đạo Dẫn đă đi,
Bữa nay cũng vắng Đan Kỳ thầy ta.
1185 Nhân khi gặp
tiết thưởng hoa,
Bạn hiền mời nhóm chơi toà Thiên Thai.
Mỗi phen chơi cảnh
Thiên thai,
Cầm, kỳ, thi , tửu, tiệc dai quên về,
Thầy đi chưa hẹn ngày
về,
1190 Xin hai người hăy đề huề theo ta.
Theo ta tới chỗ riêng nhà,
Ở
chờ vài bữa rồi qua Đan Kỳ.
Ngư, Tiều theo Nhập Môn đi,
Tách am Bảo Dưỡng
đến Y quán rồi.
1195 Từ nay Y quán lần hồi,
Đến nhà thong thả tiệc bồi vui
say.
Họ Bào, họ Mộng lối này,
Ở nơi đường thị lâu ngày học riêng.
Sẵn
sàng nghề nghiệp thầy truyền,
1200 Vầy nhau bàn luận, hỏi biên phép
mầu,
Lại đem vấn đáp chuyện đầu,
Tra vào sách thuốc, câu câu chẳng
lầm.
Môn rằng: Bạn cũ thanh khâm,
Mừng nay đặng chữ đồng tâm giúp
đời,
1205 Chi lan thơm cũng một hơi,
Chớ chê bỉ thử, mờ lời keo
sơn.
Nhớ câu "Thủ thiện phụ nhân",
Nhờ người biết trước mở lần biết
sau.
Mấy lời Đạo Dẫn vẽ đâu.
1210 Chỗ nào sót ư, phải âu xét bàn,
Miễn
cho thấy đạo rơ ràng,
Chớ e hỏi dưới ngỡ ngàng hổ ngươi.
Tiều rằng: Muốn
học làm người,
Đă đi cầu đạo, sợ cười chê chi.
1215 Chưa hay trước cơi
rừng Y,
Có truông Âm Chất, việc ǵ kể ra ?
Môn rằng: Thứ nhất y
khoa,
Chữ kêu "âm chất", thật là âm công.
Xưa rằng : Thầy thuốc học
thông,
1220 Thể theo trời đất một ḷng hiếu sinh.
Giúp đời chẳng vụ tiếng
danh,
Chẳng màng của lợi, chẳng ganh ghẻ tài,
Biết không, không biết mặc
ai,
Chuyên nghề làm phải, chẳng mài thiệt hơn.
1225 Trọn ḿnh noi nghĩa ở
nhơn (nhân).
Bo bo giữ việc ra ơn, làm lành.
Bệnh nào cho thuốc chẳng
lành,
Nhỏ ḷng lo sợ, xét ḿnh phải chăng.
Vốn không theo thói tham
nhăng,
1230 Nhân khi bệnh ngặt, đ̣i ăn của nhiều.
Cũng không ghé mắt coi
dèo,
Chỗ giàu trân trọng, chỗ nghèo đảo điên.
Đời nhiều thầy thuốc bất
thiên,
Đủ tiền đủ vị, thiếu tiền hốt vơ.
1235 Mở coi trong sách y
thư,
Nêu thiên Âm chấtchỗ nhờ sinh linh.
Phong, lao, các chứng
thiên h́nh,
Gặp thời thương xót, bệnh t́nh khôn toan.
Chẳng nên láu táu
khoe khoang,
1240 Lấy tiền ăn trước, cuốn đàng chạy sau.
Thấy người đau,
giống ḿnh đau,
Phương nào cứu đặng, mau mau trị lành.
Ăn mày cũng đứa
trời sinh,
Bệnh c̣n cứu đặng, thuốc đành cho không.
1245 Tổ xưa thuốc điểm
mắt rồng,
Thuốc châm môi cọp, khổ công dường nào,
Chữ Kinh "ngô dữ
ngô bào".
Nghĩ dân cùng vật lẽ sao cũng đồng.
Nhớ câu "Y tích âm công
",
1250 Ta nên chứa phúc để dùng lâu thay !
Hỡi ai có bụng như vầy,
Đạo
y ngày sáng, tiếng thầy nào hư.
Ngư rằng: Nhà đạo chẳng hư.
Bởi thầy trước
để phúc dư đă đành.
1255 Đến như người tục làm lành,
Chưa hay âm chất có
thành cùng chăng?
Môn rằng: Âm chất không ngần,
Việc làm lành ấy, há ngăn
người nào ?
Giàu thời bắt chước xưa hào,
1260 Nợ lâu đốt khế, lúa vào đong
ra,
Con ai cô quạnh mẹ cha,
Lớn khôn chọn gả, bé nhà ǵn nuôi.
Thấy
người đói khó chớ nguôi,
Chỗ cho cơm áo, chỗ giồi tiền lương,
1265 Chỗ
thời thí dược, thí quan,
Chỗ thời giúp táng, trợ tang vuông tṛn.
Bạn
nghèo chôn bạn giùm con,
Nhà con vợ sẵn hầu non cho về.
Vàng quên, của gửi
trả về,
1270 Thế thường, thay nạp, người bia nhờ ḿnh.
Sang thời bắt chước
xưa minh,
Án từ rửa sạch t́nh h́nh dân oan.
Noi câu "xuất tội hoạt hàng
",
Cứu tai muôn họ, dấy đàng lợi sinh,
1275 Nghèo thời bắt chước xưa
thanh,
Gặp nàn trút đăy, cứu sinh mạng người.
Tập theo nghề thuốc cứu
người,
Cứu đui, cứu ngọng, ai cười trối thây.
Phóng hư, phóng hạc theo
bầy,
1280 Bắc cầu đưa kiến, làm thầy quạ đau.
Hèn thời bắt chước xưa
tu,
Vá giày, vá dép, công phu lợp nhà.
Hoặc khi khâm liệm, khiêng
ma,
Việc người khó nhọc, thảy ra sức giùm.
1285 Ấy là âm chất cả
dùng,
Lấy câu "vi thiện" kể chung phẩm người.
Đến như âm chất gốc
trời,
Ở câu hiếu thuận, đời đời bia son.
Người xưa giữ vẹn đạo
con,
1290 Thảo nhờ cha mẹ, thuận tṛn nghĩa thân.
Sống thời bắt chước thầy
Tăng,
Hôm mai nuôi miệng lại phăn nuôi ḷng.
Thác thời bắt chước Chu
công,
"Lành noi lành nối", dấu ông chú rằng.
1295 Thường thời bắt chước
vua Văn,
Sớm khuya thăm hỏi, bữa ăn kính hầu.
Biến thời bắt chước họ
Ngu,
Lần lần dỗ dắt, khỏi câu gian tà.
Chuyện khôn xiết kể trăm
nhà,
1300 Kia làm con thảo, sinh ra cháu lành.
Hễ như mấy kẻ có
danh,
Hai mươi bốn thảo, tiếng lành đồn xa,
Bằng ai bắt chước nhà
va,
Hết ḷng thảo thuận, ấy là âm công.
1305 Cho hay gốc lớn vững
trồng,
Vậy sau ḍng lớn mới không mối dường.
Coi pho Vĩnh loại kiềm
phương,
Thể nhân vị lục, thời tường các danh.
Tiều rằng: Hỏi
việc bất b́nh,
1310 Xưa nay nhiều kẻ làm lành làm duyên.
Những người cùng
Phật, cùng Tiên,
Cất chùa, cất miễu, bạc tiền đua nhau.
Những người đắp
sửa đường cầu,
Làm chay hát bội, của giàu thí ra,
1315 Ta nghe làm phúc
nhiều nhà,
Cớ sao mắc họa lại ra bần xừ ?
Môn rằng: Đời lắm danh hư,
So
câu "tích thiện hữu dư " sao nhằm ?
Kẻ giàu muốn đặng ngh́n trăm,
1320 Cho
vay một vốn, bốn năm mười lời,
Kẻ sang cậy thế lấn hơi,
Tham lam của quấy,
ăn chơi mấy ngày
Lấy câu hăn huyết chi tài,
Cúng cho chùa miễu, nào ai
chứng ḷng.
1325 Trong ḿnh thảo thuận vốn không,
Gọi là làm phước, phước
trồng vào đâu?
Coi câu "Thiện ác đáo đầu..",
Lành đâu có trả, dữ đâu có
đền.
Người tua xét lại hai bên,
1330 Ít lành, nhiều dữ,chẳng nên trách
trời.
Tiều rằng: Trước Đạo Dẫn mời,
Đến am Bảo Dưỡng kề nơi truông
này.
Chưa hay Âm Chất truông này,
Có am Bảo Dưỡng ở vầy theo chi ?
1335
Môn rằng: Chỗ dạy nhà y,
Đă tu âm chất phải v́ tấm thân.
Tiếc yêu hai chữ
"tinh thần",
Nhảy ṿng thực sắc, theo phần đắm lung.
Dù không biết chước
ǵn long,
1340 Theo bề Lục Tặc hại trong lẽ trời.
Ở ḿnh đă tối lẽ
trời,
Làm thầy cứu mạng giúp đời sao xong,
Muốn cho thần sáng, tinh
ṛng,
Giữ nuôi khí huyết, ngăn ḷng dục sâu,
1345 Thử coi Tố vấn
thiên đầu,
Kỳ Hoàng tôi chúa hỏi nhau rơ ràng,
Kỳ Hoàng xưa đẵ mở
đàng,
Sách y nay có lời bàn Thiên chân.
Thiên chân tiết giải
rơ phân,
1350 Coi vào thấy gốc, giữ thân nuôi ḷng.
Muốn bề ăn ở đặng
xong.
Rượu trà có bữa, việc pḥng chớ dâm.
Người nào đàm hỏa hư âm,
Lời
bàn Nhự đạm phải tầm (t́m) chín coi,
1355 Người nào t́nh dục không
soi,
Lời bàn Âm hỏa phải coi cho ṛng.
Cho hay thực sắc đắm
ḷng,
Người nhiều thèm muốn, khá pḥng khá răn.
Ta nghe thánh trước bảo
răn :
1360 "Đau hay cầu thuốc, chi bằng ngừa đau".
Biết người trước khỏi
bệnh đau,
Máu hơi đầy đủ, tuổi đầu sống dai.
Tiều rằng: Xưa ấy sống
dai,
Nay nhiều chết trẻ, cũng loài vi nhân.
1365 Cớ sao thọ yểu khác
phần,
Hoặc là thiên quư độ lần sai chăng ?
Nhập môn giây phút than
rằng:
"Xưa nay một lẽ", thầy hằng dạy ta.
Người xưa ăn ở thật thà,
1370
Ít ai đắm rượu tham hoa quên ḿnh.
Vốn không làm quấy nhọc h́nh,
Nào lo
mắc bệnh thất t́nh, lục dâm.
"Thiên niên" hai chữ trọn cầm,
Vừa chừng trăm
tuổi mới trầm về quê.
1375 Người nay ăn ở khác bề,
Rượu dầm trong bụng,
sắc kề bên thân.
No say rồi lửa dục hừng,
Đốt trong khí huyết, tinh thần
c̣n chi ?
Chịu đau lấy chứng nan y,
1380 Bốn năm mươi tuổi chết đi uổng
đời,
Coi thiên Bảo dưỡng mấy lời,
Biết người thọ, yểu, số trời nào
riêng,
Thường nghe thiên quư số biên,
Con trai, con gái, xưa truyền như
nay,
1385 Gái sinh, bảy tuổi răng thay,
Tóc lần lần rậm, phần đầy
hơi âm.
Hai bảy thông mạch Xung Nhâm,
Gọi "thiên quư chí", mở trầm
nguyệt kinh.
Ba bảy hơi thận quân b́nh,
1390 Răng cùng mọc đủ,
trong ḿnh mới sung,
Bốn bảy gân cốt đều sung,
Tóc đen dài tóc,
h́nh dung tráng ph́.
Năm bảy Dương minh mạch suy,
Tóc dài hầu rụng,
diện b́ hết non.
1395 Sáu bảy hơi dương trên ṃn,
Tóc râm mặt ngấn,
ít c̣n như xưa.
Bảy bảy Xung Nhâm mạch hư,
Gọi "thiên quư kiệt" mới
từ đường kinh.
Hỡi ôi ! phận gái chữ trinh,
140 Bốn mươi chín tuổi, hết
sinh đẻ rồi.
Con trai tám tuổi thận bồi,
Răng thay, tóc rậm, vừa
ngôi tiểu đồng,
Hai tám hơi thận mới sung,
Rằng "thiên quư chí"
mạch thông, tinh đầy.
1405 Ba tám răng cứng, tóc mây,
Bốn
tám xương đá, gân dây, mạnh kỳ.
Năm tám hơi thận mới suy,
Tóc
răng hầu mỏi, diện b́ hầu tiêu.
Sáu tám tóc rụng răng xiêu,
1410
Bảy tám xương mỏi, gân teo, da dùn.
Tám tám tạng phủ đều
thun,
Rằng "thiên quư kiệt" lạnh lùng hơi dương.
Cho hay thiên quư số
thường,
Con trai, con gái, một đường xưa nay,
1415 Bằng ai bảo dưỡng thời
may,
Ngoài tuần thiên quư c̣n bày gót lân.
Bằng ai tửu sắc quá
chừng,
Dầu c̣n thiên quư trong tuần, cũng hư.
Tiều rằng: Rơ lẽ nên
hư,
1420 "Dưỡng sinh" hai chữ tinh như lời này,
Cớ sao c̣n kẻ chơi
mây,
Ĺa đời, dứt thói, gọi thầy tu tiên ?
Môn rằng: Một việc tu
tiên,
Xưa vua Hoàng Đế phép truyền gây ra.
1425 Sau rồi phép ấy sai
ngoa,
Đời sau phương sĩ lấy tà hoặc nhân.
Vậy thà theo lẽ an phần,
Trăm
năm nhờ mạng trong thân có trời.
Coi Vương Bao tụng mấy lời,
1430
Sáng giơ đường chính, dạy đời báu to,
Làm chi nghiêng ngửa duỗi co,
Như
ông Bành Tổ riêng ḷ hóa công.
Làm chi như họ Kiều, Tùng.
Thổ hà, x́ hít
hơi hung luyện h́nh.
1435 Xin ḷng nhân dục cho thanh,
Trau ḿnh nào phải
đọc kinh Hoàng đ́nh.
Xin ḷng luân lư cho minh,
Nuôi ḷng nào phải
đọc kinh Âm phù.
Cho hay Tiên, Phật rằng tu,
1440 Cũng trong bảo dưỡng
đương đầu trổ ra.
Cả than Đạo Dẫn bạn ta,
Học y một cửa, nay đà tách
thân.
Ḷng va muốn chữ xuất trần,
Để câu phụ tử quân thần mặc ai.
1445
Tiếc đời ôm đức cưu tài,
Sĩ đều có khí khôn nài đó sao.
Ngư rằng: Thời vậy
nài sao.
Dù Tiên, dù Phật, bề nào cũng xong.
Nay ta c̣n chỗ nghi
ḷng,
1450 Nghề y, nghề bốc, khác ḍng nhau xa.
Cờ sao ba tượng trong
ṭa,
Tiên thiên đồ ấy treo ra làm ǵ ?
Môn rằng: Tám quẻ Bào Hy,
Kiền,
Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.
1455 Tiên thiên, một bức đồ khai,
Để
coi phương hướng muôn loài hóa sinh.
Kiền, tây bắc, Tuất, Hợi đ́nh,
Khảm
phương chính bắc, ngôi đành Tư cung,
Cấn, đông bắc, Sửu, Dần thông,
1460
Chấn ngôi đương Măo, chính đông phương trời.
Tốn, đông nam, Th́n, Tỵ
vời,
Ly cung đương Ngọ, hướng trời chính nam.
Khôn : Mùi, Thân, phía tây
nam,
Đoài đương ngôi Dậu, chính nhằm tây phương.
1465 Xét trong tám hướng
âm, dương,
Máy trời xây bủa, bốn phương năm hành.
Hậu thiên Ly, Khảm vẽ
h́nh.
Cho hay khí huyết trong ḿnh chủ trương.
Ly là hơi, lửa, thuộc
dương,
1470 Khảm là nước, máu, lẽ thường thuộc âm.
Song mà Ly trống vốn
âm,
Khảm cung đầy giữa, thật cầm chân dương.
Ấy chia hư thực âm
dương,
Nước đầy, lửa trống, khôn lường máy sâu.
1475 Mạnh thời nước lửa,
hoà nhau,
Yếu thời nước lửa chia đau trong ḿnh.
Đạo y nửa ở Dịch
kinh,
Chưa thông lẽ Dịch, sao rành chước y.
Tổ rằng "Muốn học
Hiên Kỳ,
1480 Trước tua đọc quẻ Bào Hy mới tường ".
Tiều rằng: Một tượng
Minh Đường,
Một đồ khí hậu chủ trương việc ǵ ?
Môn rằng: Trên dưới hai
ngh́,
Giữa th́ người vật, tóm ghi một đồ.
1485 Vẽ mười ṿng nhóm một
đồ,
Để coi khí hậu xây bồ ứng nhau.
Năm ngày một hậu đến xâu,
Ba hậu
một khí, cứ đầu toán ra.
Hai khí một tháng kể ra,
1490 Giáp mười hai
tháng, ấy là một niên.
Một niên chia bốn mùa riêng,
Hai mươi bốn tiết,
theo liền dựng giao.
Đoanh xây hai chục tám sao,
Trải ba mươi sáu cung nào
chẳng xuân.
1495 Mỗi năm khí hậu xây vần,
Mười ṿng lớn nhỏ, có chừng thuỷ
chung.
Việc nguời, lẽ vật ở trong,
Một hồ trời đất, mười ṿng tóm
giơ.
Lặng ḷng coi bức đồ thơ (thư),
1500 Ba ngàn thế giới, thấy bờ cơi
xinh.
Sách châm lại vẽ ba h́nh,
Ba h́nh người ấy gọi Minh Đường đồ.
Một
h́nh nằm sấp để đo,
Thái dương kinh túc, huyệt ḍ sau lưng.
1505 Một h́nh
nằm ngửa làm chừng,
Dương minh kinh túc, huyệt ngưng trước ḿnh,
Một h́nh
ngồi mé hông trinh,
Thiếu dương kinh túc, huyệt hành hai bên.
Ba h́nh tóm
lại một nền,
1515 Ba trăm sáu chục năm tên huyệt rời.
Rộng coi kinh lạc
nơi nơi,
Minh người đủ ứng độ trời một niên,
Dón coi thủ túc đôi
bên,
Trong ba âm, với ngoài liền ba dương.
1515 Mười hai kinh huyệt chia
đường,
Sáu du, sáu hợp, chỗ thường phép châm.
Bệnh nào đau ở kinh
âm,
Huyệt du cấp cứu, khỏi lầm tai ương.
Bệnh nào đau ở kinh
dương,
1520. Cứu theo huyệt hợp ngăn đường tà đi.
Cứ theo du hợp phép
ghi,
Chân trời kíp tỉnh, bệnh ǵ c̣n lo.
Kinh dương sáu phủ đếm
cho,
Bảy mươi hai huyệt, đủ ḍ tay chân,
1525 Kinh âm, năm tạng có
chừng,
Sáu mươi chỗ huyệt, tay chân chia đều.
Kể mười hai huyệt tóm
nêu,
Có lời toát yếu, đặt điều thơ ca.
Sáu âm, sáu dương đă ca,
Lại
thêm khí huyết theo ra sáu bài,
Kể thơ, mười có tám bài,
Âm dương khí
huyết theo loài quán thông.
Muốn cho châm cứu phép ṛng,
Huyệt kinh phải
đọc thuộc ḷng thi ca.
* HẾT *